talawas blog

Chuyên mục:

Leszek Kołakowski – Chủ nghĩa xã hội còn lại gì

31/07/2010 | 12:00 chiều | 27 Comments

Tác giả: Trần Quốc Việt

Category: Tư tưởng
Thẻ: > >

Trn Quc Vit dch

Li người dch: Leszek Kołakowski (1927-2009) là một triết gia Ba Lan nổi tiếng thế giới, có ảnh hưởng rất lớn đến phong trào phản kháng ở Đông Âu, đặc biệt tại Ba Lan. Ông bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Ba Lan năm 1966 và bị cấm dạy tại Đại học Warsaw năm 1968, sau khi ông phê phán chủ nghĩa Stalin qua các bài viết được lưu hành bí mật. Từ đó ông bắt đầu cuộc đời lưu vong, và lần luợt giảng dạy tại các đại học như Berkeley, Yale, Chicago, và cuối cùng Oxford. Trong năm thập niên, ông viết hơn 30 cuốn sách, chủ yếu về triết học, nổi bật nhất và có tầm ảnh hưởng lớn nhất là bộ sách 3 tập, Main Currents of Marxism: Its Rise, Growth and Dissolution (1976). Tác phẩm này là “giấy khai tử” về trí thức của tư tưởng Mác-xít viết ra 13 năm trước khi chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu đi vào nghĩa trang lịch sử năm 1989. Các nhà lãnh đạo phong đoàn Công đoàn Đoàn kết tranh đấu bền bỉ dựa trên các tư tưởng chống Mác-xít của ông. Ông nhận được rất nhiều giải thưởng lớn, là người đầu tiện nhận Giải thưởng John W. Kluge, trị giá 1 triệu đô-la, được xem như là Giải Nobel cho các ngành nhân văn và xã hội. Ông là “người đánh thức hy vọng của con người” và là một Socrates của Ba Lan trong thế kỷ hai mươi .

_______________

Karl Marx – một khối óc lớn, một người rất thông thái, và là một tác giả Đức có tài – mất cách đây 119 năm. Ông sống trong thời đại hơi nước; trong đời mình ông chưa bao giờ nhìn thấy xe hơi, điện thoại, hay bóng đèn điện chứ đừng nói gì đến những máy móc kỹ thuật sau này. Những người hâm mộ ông và những tín đồ của ông đã thường nói và một số người hiện giờ vẫn hay nói: điều đó không quan trọng, những lời dạy của ông vẫn còn hoàn toàn quan hệ đến thời đại của chúng ta vì hệ thống ông  phân tích và đả kích, tức chủ nghĩa tư bản, vẫn còn hiện diện ở đây. Chắc chắn Marx vẫn đáng đọc. Tuy nhiên, vấn đề là: Phải chăng lý thuyết của ông thực sự giải thích được bất kỳ điều gì trong thế giới của chúng ta và phải chăng lý thuyết ấy tạo ra một cơ sở cho bất kỳ sự tiên đoán nào? Câu trả lời là: Không. Một câu hỏi khác là đã có một thời các lý thuyết của ông có ích lợi hay không. Câu trả lời, rõ ràng là: Có; những lý thuyết này đã hoạt động thành công như là một loạt khẩu hiệu được xem là để biện minh và tôn vinh chủ nghĩa cộng sản cùng với sự nô lệ tất yếu đi kèm với nó.

Khi chúng ta hỏi những lý thuyết đó giải thích được gì hay Marx khám phá được gì, chúng ta có thể chỉ hỏi về những tư tưởng riêng của ông, chứ không phải những chuyện tầm thường thiết tưởng ai cũng hiểu. Chúng ta không nên biến Marx thành trò cười khi gán cho ông sự khám phá rằng trong tất cả các xã hội không nguyên thuỷ có những nhóm xã hội hay giai cấp do có các quyền lợi xung đột nhau nên đấu tranh lẫn nhau; điều này các nhà lịch sử thời cổ đại đã biết đến. Chính Marx cũng không dám tuyên bố đã khám phá ra điều này; như ông viết trong lá thư gởi Joseph Weydemeyer vào năm 1852, ông không khám phá ra đấu tranh giai cấp, mà đúng hơn là đã chứng minh rằng đấu tranh giai cấp dẫn đến chuyên chính vô sản, rồi cuối cùng lại dẫn đến xoá bỏ các giai cấp. Ta thật không thể nào khẳng định được tại đâu và bằng cách nào ông “đã chứng minh” được lời tuyên bố to tát này trong các tác phẩm của ông vào trước năm 1852. Để “giải thích” điều gì là đặt các sự kiện hay các quá trình vào các định luật; nhưng “các quy luật” hiểu theo nghĩa của Marx lại không phải là các định luật trong các môn khoa học tự nhiên, là nơi các định luật được hiểu như là các công thức khẳng định rằng trong các điều kiện được xác định rõ ràng, các hiện tượng được xác định rõ ràng luôn luôn xảy ra. Những gì Marx gọi là “các quy luật” thực ra chỉ là những khuynh hướng có tính lịch sử. Do vậy trong các lý thuyết của ông không có sự phân biệt rạch ròi giữa giải thích và tiên đoán. Ngoài ra, ông tin rằng ta có thể hiểu được ý nghĩa của cả quá khứ lẫn hiện tại nhờ suy ra từ tương lai, mà ông tuyên bố biết trước được. Vì thế, đối với Marx, chỉ những gì không (chưa) tồn tại có thể giải thích những gì hiện đang tồn tại. Nhưng ta nên nói thêm rằng đối với Marx, tương lai hin đang tồn tại, theo cách nhìn biện chứng Hegel kỳ lạ, cho dù tương lai ta chẳng thể nào biết được.

Tuy nhiên, tất cả các tiên đoán quan trọng của Marx hoá ra đều không đúng. Đầu tiên, ông tiên đoán sự phân cực giai cấp ngày càng tăng và sự biến mất của giai cấp trung lưu trong các xã hội dựa trên nền kinh tế thị trường. Karl Kautsky nhấn mạnh đúng rằng nếu sự tiên đoán này sai, toàn bộ lý thuyết của Marx sẽ sụp đổ tan tành. Rõ ràng điều tiên đoán này chứng tỏ là sai, hay ngược lại thì đúng hơn. Giai cấp trung lưu ngày càng phát triển, trái lại giai cấp lao động theo nghĩa Marx muốn nói đã co dần lại trong các xã hội tư bản đang ở giữa thời tiến bộ về kỹ thuật.

Thứ hai, ông tiên đoán sự bần cùng không chỉ tương đối mà còn tuyệt đối của giai cấp lao động. Điều tiên đoán này đã sai ngay chính trong đời ông. Thật ra, ta nên lưu ý rằng tác giả của bộ Tư bn đã cập nhật trong lần tái bản lần thứ hai những số liệu và thống kê, nhưng không phải những số liệu và thống kê liên quan đến tiền lương của công nhân; giá mà được cập nhật, những số liệu đó sẽ mâu thuẫn với lý thuyết của ông. Ngay cả những người theo chủ nghĩa Marx giáo điều nhất trong những thập niên gần đây cũng không cố gắng bấu víu vào điều tiên đoán rõ ràng là sai này.

Thứ ba, và quan trọng nhất, lý thuyết của Marx tiên đoán sự tất yếu của cách mạng vô sản. Một cuộc cách mạng như thế chưa từng bao giờ diễn ra ở bất kỳ đâu. Cuộc cách mạng Bolshevik ở Nga chẳng liên quan gì đến những lời tiên đoán của Marx. Động lực của cuộc cách mạng ấy không phải là sự xung đột giữa giai cấp lao động công nghiệp và tư bản, mà đúng hơn là được tiến hành theo những khẩu hiệu không có nội dung xã hội chủ nghĩa, chứ đừng nói đến nội dung chủ nghĩa Marx: Hoà bình và rung đt cho nông dân. Thiết tưởng không cần nhắc rằng những khẩu hiệu này về sau đã bị đảo ngược lại. Trong thế kỷ hai mươi, biến động được xem là gần giống nhất cuộc cách mạng của giai cấp lao động là những sự kiện diễn ra ở Ba Lan từ năm 1980 đến 1981: phong trào cách mạng của những công nhân công nghiệp (vốn được giới trí thức ủng hộ rất mạnh) chống lại những kẻ bóc lột, tức là nhà nước. Hơn nữa trường hợp duy nhất này của cuộc cách mạng của giai cấp lao động (thậm chí nếu ta xem đây là cuộc cách mạng) là nhằm chống lại nhà nước xã hội chủ nghĩa, và được tiến hành dưới dấu thánh giá, kèm theo sự ban phúc của Đức Giáo hoàng.

Thứ tư, ta phải nhắc đến điều tiên đoán của Marx về sự suy giảm tất yếu của tỷ suất lợi nhuận, một quá trình được xem là cuối cùng sẽ dẫn đến sự sụp đổ của nền kinh tế tư bản. Không khác với những tiên đoán khác, tiên đoán này cũng hoàn toàn sai lầm. Ngay cả theo lý thuyết của Marx, đây không thể nào là một tỷ suất cố định bình thường hoạt động tất yếu, vì chính sự phát triển kỹ thuật làm giảm đi một phần tư bản khả biến trong chi phí sản xuất cũng làm giảm đi giá trị của tư bản bất biến. Vì thế tỷ suất lợi nhuận có thể vẫn không thay đổi hay thậm chí còn tăng lên, nếu điều mà Marx gọi là “lao động sống” cho một sản phẩm giảm. Và ngay cho dù “quy luật” này có đúng chăng nữa, cơ chế mà qua đó sự hoạt động của nó sẽ gây ra sự suy yếu và tàn lụi của chủ nghĩa tư bản cũng không thể nào khả thi được, vì sự sụp đổ tỷ suất lợi nhuận có thể xảy ra một cách hợp lý trong những điều kiện mà số lượng tuyệt đối của lợi nhuận đang tăng lên. Tuy có thể không có giá trị, song điều này đã được Rosa Luxemburg lưu ý đến, và bà đã nghĩ ra một lý thuyết của riêng mình về sự sụp đổ không thể nào tránh được của chủ nghĩa tư bản, nhưng rồi lý thuyết ấy cũng chứng tỏ sai không kém.

Khía cạnh thứ năm của chủ nghĩa Marx đã chứng tỏ sai lầm là điều tiên đoán rằng thị trường sẽ cản trở sự tiến bộ về kỹ thuật. Rõ ràng hoàn toàn ngược lại mới đúng. Các nền kinh tế thị trường đã chứng tỏ cực kỳ hữu hiệu trong việc kích thích sự tiến bộ về kỹ thuật, trái lại “chủ nghĩa xã hội hiện thực” hoá ra trì trệ về kỹ thuật. Do không thể nào phủ nhận được rằng thị trường đã tạo ra sự dư thừa của cải lớn nhất chưa từng được biết đến trong lịch sử nhân loại, một số người Tân Mác-xít đã buộc lòng thay đổi cách nhìn của họ. Một thời, chủ nghĩa tư bản tưởng chừng đáng ghê sợ vì nó tạo ra cảnh bần hàn khốn khổ; về sau, nó cũng lại đáng ghê sợ vì nó tạo ra cảnh dư thừa đến mức giết chết bản sắc văn hoá.

Những người Tân Mác-xít hay than vãn về điều họ gọi là “chủ nghĩa tiêu thụ” hay “xã hội tiêu thụ”. Trong nền văn minh của chúng ta quả thực có nhiều hiện tượng đáng báo động và đáng than phiền liên quan đến mức tiêu thụ gia tăng. Tuy nhiên, vấn đề là nền văn minh mà chúng ta biết như là một sự lựa chọn khác với nền văn minh này còn cực kỳ xấu xa hơn nhiều. Trong tất cả các xã hội cộng sản, những cải cách kinh tế (nếu may ra có đạt được kết quả gì chăng nữa) đều luôn luôn theo cùng một hướng: khôi phục phần nào thị trường, nghĩa là, thị trường của “chủ nghĩa tư bản”.

Về cái gọi là quan niệm duy vật về lịch sử, cách hiểu này đã cho chúng ta một số gợi ý và thấu hiểu bất ngờ lý thú, nhưng nó không có giá trị giải thích. Theo cách giải thích cứng ngắc, kiên định về quan niệm này, mà ta có thể thấy được đề cao đáng kể trong nhiều tác phẩm kinh điển, quan niệm này ám chỉ rằng sự phát triển xã hội phụ thuộc hoàn toàn vào cuộc đấu tranh giai cấp mà cuối cùng, qua trung gian của những “phương thức sản xuất” thay đổi, được quyết định bởi trình độ kỹ thuật của chính xã hội ấy. Hơn thế nữa, quan niệm này cũng ám chỉ rằng luật pháp, tôn giáo, triết học, và những nhân tố khác của văn hoá hết thảy đều không có lịch sử riêng của mình, vì lịch sử của chúng là lịch sử của các mối quan hệ về sản xuất. Đây là một tuyên bố hoàn toàn vô lý, hoàn toàn thiếu cơ sở lịch sử.

Nếu, mặt khác, lý thuyết ấy được hiểu theo nghĩa hời hợt, hạn hẹp, thì nó chỉ nói lên rằng lịch sử văn hoá phải được nghiên cứu sao cho ta nên xem xét đến các cuộc đấu tranh xã hội và đến các quyền lợi xung đột, rằng các thể chế chính trị, phụ thuộc, một cách ít ra là tiêu cực, phần nào vào sự phát triển kỹ thuật và vào các xung đột xã hội. Tuy nhiên, điều này lại là chuyện tầm thường chẳng đáng tranh cãi mà người ta đã biết trước Marx từ lâu. Và vì thế, quan niệm duy vật về lịch sử hoặc là vô lý hoặc là tầm thường.

Một nội dung khác trong lý thuyết của Marx cũng thiếu khả năng giải thích là lý thuyết lao động của ông. Marx đã thêm hai điều quan trọng vào các lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo. Thứ nhất, ông cho rằng trong mối quan hệ giữa công nhân và tư bản, công nhân bán sức lao động, chứ không bán lao động; thứ hai, ông phân biệt giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Cả hai lý luận này đều không có bất kỳ cơ sở thực nghiệm nào, và cả hai cũng không được cần đến để giải thích các cuộc khủng hoảng, sự cạnh tranh, và xung đột quyền lợi. Các cuộc khủng hoảng và các chu kỳ kinh tế có thể hiểu được bằng cách phân tích sự vận động của giá cả, và lý thuyết về giá trị của ông không đóng góp thêm gì vào sự hiểu biết của chúng ta về những điều này. Có vẻ như giả sử Marx không sinh ra đời thì khoa kinh tế thời ông, phân biệt với ý thức hệ kinh tế, cũng sẽ chẳng khác gì nhiều với khoa kinh tế thời nay.

Những khía cạnh mà tôi đề cập đều không được chọn một cách ngẫu nhiên: chúng tạo thành cái sườn của học thuyết Marx. Mà nghĩ lại, trong chủ nghĩa Marx hầu như chẳng có điều gì khả dĩ đưa ra lời giải cho nhiều vấn đề trong thời đại của chúng ta, chủ yếu vì cách đây một thế kỷ các vấn đề này không cấp bách như hiện nay. Về vấn đề sinh thái, ta sẽ tìm thấy ở Marx chỉ một vài điều tầm thường lãng mạn về sự thống nhất giữa con người với tự nhiên. Còn các vấn đề dân số thì hoàn toàn vắng bóng, ngoại trừ việc Marx từ chối tin rằng các vấn đề như bùng nổ dân số theo nghĩa tuyệt đối lại có thể xảy ra. Những vấn đề lớn lao bất ngờ của Thế giới thứ Ba cũng chẳng thể tìm thấy được lợi ích gì từ trong lý thuyết của ông. Marx và Engles rất tôn sùng châu Âu; họ coi thường các nền văn minh khác, họ còn ca ngợi những thành quả tiến bộ của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc (ở Ấn Độ, Algeria, và Mexico). Đối với họ điều quan trọng là sự chiến thắng của nền văn minh phát triển cao hơn đối với các nền văn minh lạc hậu; lý tưởng về quyền tự quyết dân tộc đối với Engels chỉ là trò hề.

Điều chủ nghĩa Marx ít có khả năng giải thích nhất là chủ nghĩa xã hội toàn trị, cái chủ nghĩa đã phong Marx là đấng tiên tri của nó. Nhiều người Mác-xít phương Tây thường nói rằng chủ nghĩa xã hội như đã tồn tại một thời ở Liên Xô chẳng liên quan gì đến lý thuyết của Marx, và dù có thể đáng bị lên án, nhưng nó được giải thích tốt nhất theo những điều kiện cụ thể ở Nga. Nếu điều này đúng, làm sao có chuyện là rất nhiều người trong thế kỷ mười chín, nhất là những người theo trường phái vô chính phủ, đã tiên đoán khá chính xác rằng chủ nghĩa xã hội dựa trên các lý luận của Marx rồi cuối cùng sẽ biến thành – cụ thể, chế độ nô lệ nhà nước. Proudhon qua lý lẽ đã khẳng định rằng lý tưởng của Marx sẽ biến con người thành tài sản của nhà nước. Còn theo Bakunin, chủ nghĩa xã hội của Marx sẽ là sự cai trị của những kẻ phản bội lại chính giai cấp cai trị, và nó sẽ dựa trên sự bóc lột và áp bức còn tàn tệ hơn những gì con người đã từng biết qua. Hay theo nhà công đoàn chủ nghĩa chủ trương vô chính phủ người Ba Lan Edward Abramowski, nếu nhờ phép lạ nào đấy, chủ nghĩa cộng sản sẽ chiến thắng được trong những điều kiện đạo đức của xã hội đương thời, thì nó sẽ dẫn đến sự phân chia giai cấp và sự bóc lột còn tàn tệ hơn nhiều những gì tồn tại vào thời ấy (vì những thay đổi về thể chế không thay đổi những động cơ con người và hành vi đạo đức.) Benjamin Tucker tuyên bố rằng chủ nghĩa Marx chỉ biết một cách chữa cho các độc quyền, đó là một độc quyền duy nht.

Những tiên đoán này được đưa ra vào thế kỷ mười chín, hàng chục năm trước cuộc Cách mạng Nga. Phải chăng những người này có tài nhìn thấu đến tương lai? Không. Đúng ra, ta có thể đưa ra những lời tiên đoán như thế một cách hợp lý, và từ bao kỳ vọng của Marx ta có thể suy đoán ra được chế độ nô lệ toàn xã hội ấy. Tất nhiên, thật vô lý khi cho rằng đây là ý định của đấng tiên tri này, hay chủ nghĩa Marx là nguyên nhân, tác nhân đã sinh ra chủ nghĩa cộng sản trong thế kỷ hai mươi. Chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản Nga là kết quả của một loạt sự kiện ngẫu nhiên phi thường. Nhưng ta có thể khẳng định rằng lý thuyết của Marx đã góp phần rất lớn vào sự ra đời của chủ nghĩa toàn trị, và đồng thời ban cho nó hình thức ý thức hệ. Lý thuyết ấy đã dự trù trước sự quốc hữu hoá phổ quát tất cả mọi thứ, và như thế quốc hữu hoá luôn cả con người. Chắc chắn, Marx lấy từ những người theo trường phái Saint-Simon khẩu hiệu là trong tương lai sẽ không còn nhà nước, mà chỉ còn quản lý sự vật; tuy nhiên, ông không chợt nghĩ xa hơn rằng ta không thể quản lý sự vật nếu không dùng người cho mục đích đó, vì thế quản lý toàn bộ sự vật có nghĩa là quản lý hoàn toàn con người.

Điều này không có nghĩa là tác phẩm của Marx không đáng đọc; tác phẩm của ông là một phần văn hoá châu Âu mà ta nên đọc như ta đọc nhiều tác phẩm cổ điển khác. Ta nên đọc các tác phẩm bàn về vật lý của Descartes, nhưng quả là phi lý khi đọc các tác phẩm này như là sách hướng dẫn có giá trị về cách nghiên cứu vật lý thời nay. Tuy hiện giờ ở các nước cộng sản cũ, người ta ghét cay ghét đắng Marx và các sách vở Mác-xít, nhưng sự ghét này theo thời gian rồi cũng có thể qua đi; thậm chí cuối cùng những tác phẩm của Marx vẫn sẽ có người đọc như tàn tích của một thời quá khứ. Một trong những nguyên nhân khiến chủ nghĩa Marx được ưa chuộng nhiều trong giới có học là ở chỗ rằng chủ nghĩa Marx, dưới một hình thức đơn giản, lại rất dễ hiểu; đến cả Sartre cũng nhận thấy rằng những người Mác-xít là lười biếng. Đúng vậy, họ thích có một chiếc chìa khoá mở tung ra tất cả cánh cửa; một sự giải thích có thể áp dụng phổ quát cho tất cả mọi thứ, một công cụ giúp họ có thể nắm vững toàn bộ lịch sử và kinh tế mà chẳng thật sự phải nhọc công học môn nào.

Phải chăng cái chết của chủ nghĩa Marx mặc nhiên đồng nghĩa với sự cáo chung của truyền thống chủ nghĩa xã hội? Không nhất thiết như vậy. Mọi sự, dĩ nhiên, đều phụ thuộc vào ý nghĩa của từ “chủ nghĩa xã hội”, và những ai vẫn còn dùng đến từ ấy để bày tỏ tín ngưỡng của mình đều miễn cưỡng nói lên điều họ muốn nói, ngoại trừ những điều chung chung trống rỗng. Do thế ta cần có một số phân biệt. Cái khó là niềm ao ước phát hiện ra “những quy luật lịch sử” đã làm cho nhiều người tưởng tượng “chủ nghĩa tư bản” và “chủ nghĩa xã hội” là hai “hệ thống” toàn cầu, hoàn toàn đối chọi lấn nhau. Nhưng chẳng có gì so sánh. Chủ nghĩa tư bản đã phát triển một cách tự nhiên và hữu cơ từ sự mở mang thương mại. Chẳng ai đặt kế hoạch cho nó và nó cũng chẳng cần đến một ý thức hệ bao trùm lên tất cả, ngược lại chủ nghĩa xã hội là một sự kiến tạo ý thức hệ. Cuối cùng, chủ nghĩa tư bản là bản chất con người đang phát tác, tức là lòng tham của con người được cho phép đi đến tận cùng con đường của nó, trái lại chủ nghĩa xã hội là một cố gắng thể chế hoá và áp đặt tình huynh đệ. Đến giờ đây, tưởng chừng như hiển nhiên rằng một xã hội mà trong đó lòng tham, bất chấp tất cả các khía cạnh ghê tởm và đáng lên án của nó, là động cơ chính của những hành vi của con người, thì vẫn cực kỳ tốt hơn một xã hội dựa trên tình huynh đệ cưỡng bức, dù trong chủ nghĩa xã hội dân tộc hay trong chủ nghĩa xã hội quốc tế.

Quan niệm về chủ nghĩa xã hội như là một “xã hội thay thế” cho chủ nghĩa tư bản chung quy vẫn là quan niệm về chế độ nô lệ toàn trị; việc xoá bỏ thị trường và quốc hữu hoá toàn diện không thể tạo ra bất kỳ kết quả nào khác đi được. Niềm tin rằng ta có thể tạo dựng nên sự bình đẳng hoàn toàn trong xã hội bằng biện pháp thể chế cũng độc hại không kém. Thế giới từng biết đến nhiều nơi có sự bình đẳng tự nguyện, được duy trì ở trong những tu viện nào đó và ở trong một số các hợp tác xã thế tục. Tuy nhiên, bình đẳng dưới sự cưỡng bách tất yếu phải dùng đến phương cách toàn trị, mà chủ nghĩa toàn trị lại hàm nghĩa sự bất bình đẳng cực độ vì nó đưa đến sự bất bình đẳng về quyền được có thông tin và quyền được có quyền lực. Thực tế mà nói, bình đẳng trong việc phân phối hàng hoá vật chất cũng không thể nào có được khi mà quyền lực chỉ được tập trung vào tay của một thiểu số nắm quyền đứng trên luật pháp. Vì vậy bình đẳng là điều xa vời chưa từng bao giờ tồn tại trong các nước xã hội chủ nghĩa. Lý tưởng này vì thế tự chuốc lấy thất bại. Chúng ta biết rõ tại sao nguyên tắc kế hoạch toàn diện là thảm hoạ về mặt kinh tế, và có quá đủ các bằng chứng từ kinh nghiệm của tất cả các quốc gia cộng sản không có ngoại lệ để khẳng định những chỉ trích của Friedrich von Hayek về điểm này. Chủ nghĩa xã hội theo ý nghĩa này có nghĩa rằng sự trấn áp ngăn cản nhân dân tham gia vào bất kỳ hoạt động nào có ích lợi cho xã hội trừ phi theo lệnh của nhà nước.

Tuy nhiên, truyền thống chủ nghĩa xã hội phong phú và đa dạng, và truyền thống này bao gồm nhiều chủ nghĩa khác nhau ngoài chủ nghĩa Marx. Một số các tư tưởng xã hội chủ nghĩa quả thực đã có khuynh hướng toàn trị cố hữu. Điều này áp dụng cho phần lớn chủ nghĩa xã hội không tưởng thời Phục hưng và Khai sáng, và cho cả Saint-Simon. Song một số tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã ủng hộ các giá trị tự do. Ngay khi chủ nghĩa xã hội, vốn khởi đầu như là một ảo tưởng ngây thơ, trở thành một phong trào chính trị thực sự, không phải tất cả các biến thể nào của nó cũng đều có quan niệm về một “xã hội thay thế”, và trong số những biến thể có quan niệm như thế, nhiều biến thể lại không xem trọng quan niệm ấy.

Mọi sự rõ ràng hơn vào trước Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Những người theo chủ nghĩa xã hội và cánh tả thời ấy nói chung không những muốn một nền giáo dục phổ cập, bắt buộc, bình đẳng, dịch vụ y tế xã hội, thuế luỹ tiến, và tự do tín ngưỡng, mà còn muốn một nền giáo dục thế tục, xoá bỏ kỳ thị chủng tộc và quốc gia, phụ nữ được bình đẳng, tự do báo chí và tự do hội họp, quy định pháp lý về các điều kiện lao động, và hệ thống bảo hiểm xã hội. Họ đấu tranh chống chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa Sô-vanh. Những nhà lãnh đạo chủ nghĩa xã hội châu Âu trong thời kỳ Đệ Nhị Quốc tế, những người như Jaurès, Babel, Turati, Vandervelle, và Martov, là hiện thân những gì tốt đẹp nhất trong đời sống chính trị châu Âu.

Nhưng mọi sự đã thay đổi sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, khi cái từ “chủ nghĩa xã hội” (và phần lớn nghĩa của từ “cánh tả”) bắt đầu hầu như bị chủ nghĩa xã hội Leninist-Stalinist độc chiếm hoàn toàn, qua đó đã bóp méo đa số những đòi hỏi và những khẩu hiệu này theo nghĩa ngược lại. Đồng thời, đa số những lý tưởng “xã hội chủ nghĩa” trên thực tế đã lại trở thành hiện thực ở các nước dân chủ hoạt động trong khuôn khổ nền kinh tế thị trường. Than ôi, các phong trào chủ nghĩa xã hội phi toàn trị trong nhiều thập niên đã bị bế tắc về ý thức hệ và thiếu can đảm để tố cáo và đấu tranh kiên trì chống lại hệ thống chính trị sát nhân nhất và tàn bạo nhất trên thế giới (ngoài chủ nghĩa Quốc xã). Chủ nghĩa cộng sản Xô-viết, dù sao, vẫn được coi là một dạng của chủ nghĩa xã hội, nhưng nó tự tô điểm bằng văn phong nhân văn và quốc tế thừa hưởng từ truyền thống chủ nghĩa xã hội. Thế là chế độ chuyên chế Leninist đã ăn cắp được cái từ “chủ nghĩa xã hội”, và những kẻ theo chủ nghĩa xã hội phi toàn trị là tòng phạm trong vụ trộm này. Đành rằng có một vài ngoại lệ cho lẽ thường này, nhưng không nhiều.

Dù thế nào đi nữa, các phong trào chủ nghĩa xã hội đã đóng góp rất nhiều cho việc thay đổi cảnh quan chính trị theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Các phong trào này đã tạo ra một số các cải cách xã hội mà nếu không có chúng thì nhà nước phúc lợi đương thời, mà đa số chúng ta coi là dĩ nhiên, sẽ là điều không tưởng. Do thế thật đáng tiếc nếu chủ nghĩa cộng sản sụp đổ dẫn đến sự cáo chung của truyền thống chủ nghĩa xã hội nói chung và sự lên ngôi của chủ nghĩa Darwin Xã hội như là ý thức hệ chủ đạo.

Dù thừa nhận rằng một xã hội hoàn thiện chắc chắn sẽ không bao giờ hiện hữu trong tầm tay với của con người và rằng con người sẽ luôn luôn tìm ra đủ mọi lý do để đối xử tàn nhẫn với nhau, chúng ta không nên vì thế mà vất bỏ đi khái niệm “công bằng xã hội”, cho dù nó có thể bị Hayek và những tín đồ của ông chê cười. Chắc chắn khái niệm này không thể nào được định nghĩa theo thuật ngữ kinh tế. Ta không thể nào suy ra từ lời diễn đạt “công bằng xã hội” ấy câu trả lời cho những câu hỏi như trong những điều kiện có sẵn hệ thống thuế cụ thể nào là tốt về phương diện kinh tế và đáng nên áp dụng, những phúc lợi xã hội nào là chính đáng, hay cách nào là tốt nhất để các nước giàu trợ giúp cho những vùng nghèo nàn hơn trên thế giới. “Công bằng xã hội” chỉ diễn đạt một thái độ đối với các vấn đề xã hội. Đúng là khái niệm “công bằng xã hội” hay được sử dụng bởi những cá nhân hay toàn thể các xã hội từ chối nhận lấy trách nhiệm về cuộc đời của mình. Nhưng, như lời người xưa dạy, đừng vì sự lạm dụng mà từ bỏ sự hữu dụng.

Với tất cả sự mơ hồ của nó, “công bằng xã hội” giống khái niệm “nhân phẩm”. Thật khó định nghĩa nhân phẩm là gì. Nhân phẩm không phải là nội tạng mà ta khám phá bên trong cơ thể, nhân phẩm không phải là ý niệm thực thể nhưng nếu không có nhân phẩm chúng ta không thể nào trả lời nổi một câu hỏi đơn giản: tại sao chế độ chiếm hữu nô lệ là sai? Tương tự như thế, khái niệm công bằng xã hội là mơ hồ và nó có thể được dùng để làm công cụ ý thức hệ của chủ nghĩa xã hội toàn trị. Tuy nhiên khái niệm này là trung gian hữu ích giữa sự khích lệ với từ thiện, với phát chẩn, và với khái niệm công bằng phân phối; công bằng xã hội không giống như công bằng phân phối vì nó không nhất thiết bao hàm sự thừa nhận lẫn nhau. Công bằng xã hội cũng không đơn thuần là  kêu gọi lòng từ thiện, vì nó bao hàm, dù không chính xác, những yêu cầu giúp đỡ nào đấy có thể xứng đáng. Khái niệm công bằng xã hội không hàm nghĩa là có một điều như số phận chung của nhân loại, trong đó tất cả mọi người đều dự phần, nhưng nó gợi ý rằng khái niệm nhân loại là phạm trù rõ ràng dễ hiểu – không phải là phạm trù động vật mà đúng hơn là phạm trù đạo đức.

Không có thị trường, nền kinh chắc chắn sụp đổ (thực ra, trong “chủ nghĩa xã hội hiện thực” hoàn toàn không có nền kinh tế, chỉ có chính sách kinh tế). Nhưng người ta cũng thường thừa nhận là thị trường không tự nhiên giải quyết được hết tất cả các vấn đề thúc bách của con người. Khái niệm công bằng xã hội được cần đến để biện minh cho niềm tin rằng có một “nhân loại” – và rằng chúng ta phải xem những cá nhân khác là thuộc về tập thể này, và đối với tập thể này chúng ta có những bổn phận đạo đức nhất định.

Là triết học về xã hội hay về đạo đức, chủ nghĩa xã hội đã dựa trên lý tưởng về tình huynh đệ con người, mà có thể không bao giờ thực hiện được bằng biện pháp thể chế. Chưa từng bao giờ có, và sẽ không bao giờ có một biện pháp thể chế nào bắt buộc con người phải trở thành anh em với nhau. Tình huynh đệ bị ép buộc ấy là ý tưởng độc hại nhất mà con người đã nghĩ ra trong thời hiện đại; nó là con đường tất yếu dẫn tới chế độ chuyên chế toàn trị. Chủ nghĩa xã hội theo ý nghĩa này chẳng khác gì toàn là dối trá lọc lừa. Tuy nhiên, đây không phải là lý do để ta từ bỏ ý tưởng về tình huynh đệ con người. Nếu ý tưởng này là điều trong thực tế chúng ta không thể đạt được qua con đường xây dựng xã hội, thì nó vẫn hữu ích như là lời tuyên bố về các mục tiêu. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa như ta biết qua kế hoạch cho một “xã hội thay thế” đã chết. Nhưng như là lời tuyên bố đoàn kết với những nạn nhân cô thế của bất công và những phận người bị áp bức, như là sự thôi thúc chống lại chủ nghĩa Darwin Xã hội, như là ánh sáng luôn soi cho chúng ta thấy một điều gì đấy cao quý hơn sự cạnh tranh và lòng tham, chính vì tất cả những lý do này, chủ nghĩa xã hội, về lý tưởng chứ không phải hệ thống, vẫn còn có ích.

Ngun: “What is left of socialism”, tạp chí First Things, số tháng Mười năm 2002

Bản tiếng Việt © 2010 Trần Quốc Việt

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Bình luận

27 Comments (bài “Leszek Kołakowski – Chủ nghĩa xã hội còn lại gì”)

  1. Lê Tuấn Huy viết:

    Lần nào chịu khó được lướt phản hồi của Anh Dũng, tôi cũng đều được cười. Cười vì sự thiếu kiến thức đến cùng cực nhưng lại lố bịch đến tột đỉnh.

    Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ, cám ơn anh vì điều đó.

  2. Bach Phat Gia viết:

    Ông Anh Dũng đã có phản hồi về góp ý của tôi, xin cám ơn ông, những điểm ông còn chưa rõ tôi xin nói thêm vắn tắt như sau :
    1,2,3,4,5,6,8 .Sự thiển cận của Karl Marx là ở chỗ nào ?
    Lập luận cơ bản của triết học duy vật là nói rằng vật chất tồn tại độc lập ngoài ý thức. Tôi đã dẫn chứng nguyên văn ý kiến của một số nhà khoa học hiện đại, họ nói rằng sự tồn tại của vật chất phụ thuộc vào ý thức chứ không thể độc lập, xin mời ông xem kỹ lại. Hầu hết nhân loại đều tưởng rằng vật chất tồn tại độc lập ngoài ý thức giống như Marx nghĩ, nhưng sự thật không phải vậy, điều này không còn là giả thuyết, mà đã được khoa học xác nhận. Tôi có thể thông cảm cho Marx, vì thời của ông trình độ khoa học chưa đủ để hiểu, nhưng ngày nay mà vẫn không thấy sự nông cạn của Marx là điều đáng tiếc. Nếu ông Anh Dũng muốn xem một tác phẩm khoa học nói về vật chất không tồn tại độc lập ngoài ý thức, thì xin giới thiệu Giáo sư Keith Ward với tác phẩm “Religion in the quantum world”
    http://www.gresham.ac.uk/event.asp?PageId=4&EventId=271
    trong đó tổng hợp nhiều công trình của các nhà khoa học hàng đầu thế giới mà tôi đã có trích dẫn một vài ý kiến trong bài góp ý. Còn nếu ông muốn xem các tài liệu cổ của Duy thức học thì xem “Thành Duy thức luận” của Đường Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang, bản Tiếng Việt
    http://www.quangduc.com/luan/26thanhduythuc.html
    Còn muốn xem trực tiếp bằng Hán ngữ của đại sư Huyền Trang, cũng có :
    http://www.cbeta.org/result/normal/T31/1585_001.htm
    Vật chất tức là ý thức, ý thức tức là vật chất. Đây không phải là ý kiến riêng của tôi, đây là điều đã được thuyết trong kinh điển Phật giáo (Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức). Nhưng điều quan trọng là nhận thức đó có cơ sở khoa học hay không. Các nhà khoa học đã tiến hành khảo sát thực nghiệm, đã phát biểu và tôi cũng đã trích dẫn nguyên văn.
    9.khoảng cách không gian đã không còn nữa
    Chúng ta thực nghiệm trên internet hoặc các phương tiện viễn thông khác là để tự mình cảm nhận sự triệt tiêu của khoảng cách không gian khi tốc độ đã đủ lớn. Trên phạm vi quả địa cầu thì tốc độ ánh sáng là đủ lớn để ta không còn cảm thấy có khoảng cách không gian. Còn thực nghiệm khoa học chứng minh khoảng cách không gian cũng như thời gian và số lượng là không có thật, đó là hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement) mà tôi cũng đã cho đường dẫn tới một chỗ góp ý khác của tôi đã từng nói tới trên Talawas ( http://www.talawas.org/?p=21480 phần góp ý của Bach Phat Gia) . Tóm tắt như vầy : một hạt cơ bản như photon chẳng hạn có thể xuất hiện đồng thời ở nhiều vị trí khác nhau, có thể rất xa nhau, trong thí nghiệm tiến hành tại Thụy Sĩ, khoảng cách đó là 18km. Khi tác động đến hạt ở vị trí này thì ngay lập tức các vị trí khác đều bị tác động y hệt, không mất một chút thời gian nào. Nếu nói tín hiệu di chuyển từ vị trí này tới vị trí kia thì tốc độ phải là hàng vạn, hàng triệu lần tốc độ ánh sáng, điều đó phi lý, vì ánh sáng là một hằng số có tốc độ cao nhất trong thế giới vật chất, không có vật gì có tốc độ vượt quá 300.000 km/giây. Chỉ có thể hiểu là khoảng cách không gian là không có thật, là tương đối, là chủ quan, nó phụ thuộc vào nhận thức chứ không phải là một đại lượng tuyệt đối độc lập.

  3. Anh Dũng viết:

    [Posted by 222.252.116.174 via http://webwarper.net This is added while posting a message to avoid misuse.
    Try: http://webwarper.net/webwarper.exe Example of viewing: http://webwarper.net/ww/~av/www.talawas.org/ ]

    1. “Sản xuất vật chất là CƠ SỞ của TỒN TẠI và phát triển xã hội” vẫn là vấn đề khác với “Đấu tranh giai cấp là (một trong những) ĐÔNG LỰC PHÁT TRIỂN của xã hội (có giai cấp)”.

    Ngoài cái CNCS còn mờ mịt đâu đâu, không một nhà lý luận marxist “chính thống” nào dám nói rằng lý luận Marxist-Leninist không xem “sự phát triển của xã hội loài người không nhất thiết phải đi cùng với đấu tranh giai cấp”

    Nói đến cá nhà lý luận marxist “chính thống” mà ông Lê Tuấn Huy lại gạt CNCS ra ngoài một cách tùy tiện như thế. Ông Lê Tuấn Huy phải viết là “các nhà ANTI-MARXIST chính thống” mới đúng chứ.

    Ông Lê Tuấn Huy cũng chỉ dám khẳng định Đấu tranh giai cấp là “động lực phát triển” của xã hội CÓ GIAI CẤP thôi, còn cái xã hội Cộng Sản thì ông cố tình cắt gọt đi.

    Cái xã hội mà không còn đấu tranh giai cấp ( không cần đến cái “động lực phát triển” cũ NHƯNG vẫn có thể phát triển ) làm ông Lê Tuấn Huy chùn bước.

    2. Với giọng điệu xem những khái niệm “bàn tay vô hình”, “thị trường tự điều tiết” là “ba hoa sấm truyền”, nếu mà đúng, CÓ LẼ tất cả các nhà kinh tế học trên thế giới này, từ lỗi lạc đến tầm thường, đều phải đập đầu tự tử cho xong, còn các giảng viên Kinh tế Vĩ mô hay Kinh tế học Phát triển tại VN phải lập tức tự sám hối một cách thành khẩn

    Không phải Marx cứ vạch trần cái “ba hoa sấm truyền” của các nhà Kinh tế học Tư Sản hoặc ai đó thì ngay lập tức những người này có đủ dũng khí, minh mẫn mà sám hối, tự tử đâu. Họ còn cái tôi của “trí thức”, còn cái lợi ích riêng của họ chứ. Thế nên mới phải đấu tranh lâu dài chứ không thể nhảy phóc một phát lên cái thế giới của những con người lúc nào cũng thừa dũng khí, minh mẫn để nhận sai, sửa sai.

    Cái thế giới ấy ông Huy mới chỉ dám đoán mò “CÓ LẼ” mà thôi.

    3. và giảng viên Kinh tế học Chính trị Mác-Lê cũng phải bị bịt miệng lại khi giảng những phần liên quan đến kinh tế thị trường tại VN.

    Không việc gì phải thế cả ông Huy ạ ! Marx không phủ định sạch trơn, không đòi tiêu diệt ngay lập tức KTTT đâu. Marx chỉ phân tích cái tích cực, cái tiêu cực của nó và biện pháp khắc phục cái tiêu cực thôi.

    Còn cái lối “phủ định sạch trơn” thì là sản phẩm của những nhà chống Cộng, những nhà ANTI-MARXIST “chính thống”, của ông Huy.

    Đừng “suy bụng Lê Tuấn Huy ra bụng người” chứ ông Huy.

    4.Kinh tế học, như bất cứ ngành khoa học ngoài khoa học tự nhiên nào khác, đều là một quá trình hoàn thiện và tổng hợp nhận thức thông qua những nhận thức “phiến diện” của mỗi lý thuyết, ở từng thời kỳ. “Bàn tay vô hình” và “thị trường tự điều tiết” là những nhận thức không nhỏ nằm trong số đó.

    Thế bao giờ thì cái “BÀN TAY VÔ HÌNH” và cái “THỊ TRƯỜNG TỰ ĐIỀU TIẾT” mới có thể chấm dứt những đợt khủng hoảng kinh tế, chấm dứt cảnh thất nghiệp tràn lan vậy ông Huy ???

    5.những lời của anh làm tôi một lần nữa kinh hãi và tiếp tục bi quan cho hệ thống lý luận VN khi vẫn tiếp tục tạo ra những quái thai, mà ở đây là một, vì một mặt, lại cái thói vẫn diễn ra, là nhập nhằng, tráo trở giữa các vấn đề, rồi còn tự nhào nặn trật lất lý luận “gốc”, cốt sao bịt được miệng người khác, bất chấp thực tế, bất chấp khoa học; và mặt khác, vẫn tiếp tục cái thói coi thường đến độ cùng quẩn đối với những giá trị học thuật và thực tế mà nhân loại đã THỪA NHẬN rộng rãi, cho dù giá trị nào cũng đều có những HẠN CHẾ và cần tiếp tục được điều chỉnh, kết hợp mới ở những thời đoạn khác nhau.

    Qua 4 điểm phân tích đầu tiên thì cái đoạn “phán tội” của ông Huy ở điểm 5. này chỉ có giá trị KHÍCH LỆ đối với tôi.

    Tuy nhiên, ông Huy lại lặp lại cái luận điệu mà câu trước đá câu sau, vừa “CHẮC CHẮN SAI” lại vừa “CÓ THỂ ĐÚNG” của ông Kolakowsi. Có điều là ông Huy thay bằng “HẠN CHẾ” và “THỪA NHẬN”.

    Ông Lê Tuấn Huy “tuyệt đối không cần thiết” phải bộc lộ sự ngớ ngẩn của mình như vậy. Nhưng ông vẫn bộc lô, và đó là quyền của ông.

  4. Lê Tuấn Huy viết:

    Tôi không có thời gian để đọc hết ý kiến của anh Anh Dũng, mà cũng tuyệt đối không cần thiết để đọc, nhưng tôi thật sự kinh hãi với hai đoạn trích sau:

    “11.quan niệm duy vật về lịch sử…ÁM CHỈ RẰNG sự phát triển xã hội phụ thuộc hoàn toàn vào cuộc đấu tranh giai cấp…hoàn toàn vô lý, hoàn toàn thiếu cơ sở lịch sử.

    Cái “ÁM CHỈ RẰNG” này là sản phẩm của riêng ông Kolakowsi, một lối “phản biện” mà theo đó người ta có thể lật nhào mọi khoa học một cách dễ dàng. Ông Kolakowsi đang “suy bụng ta ra bụng Marx” thôi. Chứ đã nói đến DUY VẬT lịch sử thì không thể không biết rằng mọi hình thái xã hội và cả cuộc đấu tranh giai cấp trong đó đều có nguyên nhân từ sự SẢN XUẤT VẬT CHẤT của nó.

    Chính vì sự phát triển của xã hội loài người không nhất thiết phải đi cùng với đấu tranh giai cấp nên mới có xã hội Cộng Sản ( không còn giai cấp và đấu tranh giai cấp NHƯNG vẫn phát triển )”

    Và:

    “… những người này lại vẫn BẤT LỰC trước những cuộc khủng hoảng kinh tế. Đến nỗi phải nhờ đến mấy câu ba hoa sấm truyền kiểu như “BÀN TAY VÔ HÌNH”, “THỊ TRƯỜNG TỰ ĐIỀU TIẾT” để cứu rỗi

    Theo tôi:

    1. Không cần đụng đến chương trình cao cấp, chỉ cần lật lại cái cuốn sách mà rất nhiều người trong giới giảng viên Triết học tại VN từng gọi một cách khinh miệt là cuốn “bìa xanh xanh (mỏng mỏng)” dùng làm giáo trình triết học cho sinh viên không chuyên (ám chỉ cái kiến thức quá mức xoàng xỉnh viết trong đó, để “tụng” trên lớp kiếm tiền mà không cần “tư duy” hay “ngiên cứu” gì), anh sẽ thấy ngay mình đã nói bậy về CÁC vấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử như thế nào (nếu mà anh biết cái gì là bậy).

    Tuy rằng có quan hệ, “Sản xuất vật chất là CƠ SỞ của TỒN TẠI và phát triển xã hội” vẫn là vấn đề khác với “Đấu tranh giai cấp là (một trong những) ĐÔNG LỰC PHÁT TRIỂN của xã hội (có giai cấp)”.

    Ngoài cái CNCS còn mờ mịt đâu đâu, không một nhà lý luận marxist “chính thống” nào dám nói rằng lý luận Marxist-Leninist không xem “sự phát triển của xã hội loài người không nhất thiết phải đi cùng với đấu tranh giai cấp”.

    2. Với giọng điệu xem những khái niệm “bàn tay vô hình”, “thị trường tự điều tiết” là “ba hoa sấm truyền”, nếu mà đúng, có lẽ tất cả các nhà kinh tế học trên thế giới này, từ lỗi lạc đến tầm thường, đều phải đập đầu tự tử cho xong, còn các giảng viên Kinh tế Vĩ mô hay Kinh tế học Phát triển tại VN phải lập tức tự sám hối một cách thành khẩn, và giảng viên Kinh tế học Chính trị Mác-Lê cũng phải bị bịt miệng lại khi giảng những phần liên quan đến kinh tế thị trường tại VN. Kinh tế học, như bất cứ ngành khoa học ngoài khoa học tự nhiên nào khác, đều là một quá trình hoàn thiện và tổng hợp nhận thức thông qua những nhận thức “phiến diện” của mỗi lý thuyết, ở từng thời kỳ. “Bàn tay vô hình” và “thị trường tự điều tiết” là những nhận thức không nhỏ nằm trong số đó.

    3. Tôi không biết anh là tác giả thật nào, độ tuổi nào, là sinh viên năng nổ hay cán bộ tuyên huấn được phân công…, nhưng những lời của anh làm tôi một lần nữa kinh hãi và tiếp tục bi quan cho hệ thống lý luận VN khi vẫn tiếp tục tạo ra những quái thai, mà ở đây là một, vì một mặt, lại cái thói vẫn diễn ra, là nhập nhằng, tráo trở giữa các vấn đề, rồi còn tự nhào nặn trật lất lý luận “gốc”, cốt sao bịt được miệng người khác, bất chấp thực tế, bất chấp khoa học; và mặt khác, vẫn tiếp tục cái thói coi thường đến độ cùng quẩn đối với những giá trị học thuật và thực tế mà nhân loại đã thừa nhận rộng rãi, cho dù giá trị nào cũng đều có những hạn chế và cần tiếp tục được điều chỉnh, kết hợp mới ở những thời đoạn khác nhau.

  5. Anh Dũng viết:

    [Posted by 222.252.120.149 via http://webwarper.net This is added while posting a message to avoid misuse.
    Try: http://webwarper.net/webwarper.exe Example of viewing: http://webwarper.net/ww/~av/www.talawas.org/ ]

    Ông Thanh Nguyễn đọc nhưng không hiểu rồi. Tôi không thắc mắc về động cơ và độ “hên-xui” trong việc đoán mò của ông, tôi hỏi ông rằng ngoài trò đoán mò đó ra thì có gì là “sắc” trong comment của ông ???

  6. Anh Dũng viết:

    Về phản hồi của ông Bach Phat Gia:

    1.Điều căn bản trong sai lầm của Karl Marx chính là sự thiển cận”

    Cần chỉ ra, chứng minh được SAI LẦM của người khác rồi mới có thể nói rằng người đó THIỂN CẬN hay không. Cũng như phải tranh tụng rồi mới có thể phán tội, phải tranh luận rồi mới có thể biết ai đúng ai sai.

    Ông Bach Phat Gia lại làm ngược lại. Và đoạn phán tội “nhận thức thiển cận dẫn đến kết luận thiển cận, người thiển cận cho rằng mình là duy nhất đúng nên có thái độ độc đoán, muốn bắt tất cả mọi người khác cùng sống theo quan niệm thiển cận như mình, đó là điều mà các chế độ cộng sản đang làm.” của ông mặc dù rất ồn ào và đanh thép nhưng rốt cuộc lại chính là phán tội bản thân ông.

    2.Sự thiển cận của Karl Marx là ở chỗ nào ?

    Vẫn vậy. Vẫn khoe khoang sự độc đoán của chính ông Bach Phat Gia.

    3.Marx sinh năm 1818, nên CÓ KHẢ NĂNG đã đọc qua các tác phẩm này nhưng ông đã không tin. Tóm lại Marx không hiểu triết học duy tâm của Đạo Phật, ông đã thẳng tay bác bỏ nó

    Lại cái lối đoán mò “CÓ KHẢ NĂNG”. Đề nghị ông Bach Phat Gia chứng minh rằng 1/Marx đã nghiên cứu đạo Phật 2/Marx nghiên cứu nhưng không hiểu 3/Vì không hiểu nên Marx thẳng tay bác bỏ.

    4.bản thân Marx và các môn đồ về sau chưa bao giờ nói rằng vật chất tức là ý thức, ý thức tức là vật chất.

    Marx cho rằng vật chất CÓ TRƯỚC và QUYẾT ĐỊNH Ý THỨC, còn ông Bach Phat Gia lại trách cứ Marx rằng ông không khẳng định vật chất ĐỒNG NHẤT với ý thức ( ý thức là vật chất, vật chất là ý thức ).

    Thế thì ông Bach Phat Gia đơn thuần là trách cứ Marx vì Marx không nghe theo luận điệu ĐỒNG NHẤT ( của ông Bach Phat Gia ) để mâu thuẫn với chính Marx.

    Cái kiểu trách cứ chỉ có ở những kẻ độc đoán.

    5.Nếu có vật chất khác với ý thức, không phải là một thứ đồng bản chất, thì hóa ra triết học của Marx là nhị nguyên luận, như vậy triết học duy vật chỉ là một thứ nhất nguyên luận giả hiệu, thực chất là nhị nguyên luận.

    Cái NHẤT NGUYÊN là ở chỗ: Cái nào có trước, cái nào sinh ra và quyết định cái nào ( vấn đề nguồn gốc ), chứ không phải ở chỗ: Có mấy cái cùng tồn tại trong một không gian, thời gian nào đó.

    Ông Bach Phat Gia đang cố gắng gây cười bằng sự THIỂN CẬN của mình ???

    6.Marx nói vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất có kết cấu tinh vi phức tạp là bộ não người sinh ra ý thức, nhưng ý thức là cái gì hoàn toàn khác với vật chất và không thể sinh ra vật chất.

    Thế là rõ cái sự nhảm nhí của ông Bach Phat Gia về thuyết ĐỒNG NHẤT ( ý thức là vật chất, vật chất là ý thức ) rồi.

    8.chứng minh rằng vật chất không thể độc lập tồn tại ngoài ý thức

    Đề nghị ông Bach Phat Gia dẫn ra cái công trình KHOA HỌC cụ thể này.

    9.khoảng cách không gian đã không còn nữa

    Lời bịp bợm táo tợn thật.

    Cho tới nay thì chưa có tốc tộ nào được phát hiện lại vượt quá tốc độ ánh sáng cả. Trong khi đó thì khoảng cách giữa các hành tinh phải tính bằng “năm ánh sáng”.

    Tốc độ truyền dữ liệu dù nhanh cũng vẫn còn độ trễ nhất định ( có thể tính bằng giây nếu truyền giữa Mỹ và Việt Nam ).

  7. Anh Dũng viết:

    11.quan niệm duy vật về lịch sử…ÁM CHỈ RẰNG sự phát triển xã hội phụ thuộc hoàn toàn vào cuộc đấu tranh giai cấp…hoàn toàn vô lý, hoàn toàn thiếu cơ sở lịch sử.

    Cái “ÁM CHỈ RẰNG” này là sản phẩm của riêng ông Kolakowsi, một lối “phản biện” mà theo đó người ta có thể lật nhào mọi khoa học một cách dễ dàng. Ông Kolakowsi đang “suy bụng ta ra bụng Marx” thôi. Chứ đã nói đến DUY VẬT lịch sử thì không thể không biết rằng mọi hình thái xã hội và cả cuộc đấu tranh giai cấp trong đó đều có nguyên nhân từ sự SẢN XUẤT VẬT CHẤT của nó.

    Chính vì sự phát triển của xã hội loài người không nhất thiết phải đi cùng với đấu tranh giai cấp nên mới có xã hội Cộng Sản ( không còn giai cấp và đấu tranh giai cấp NHƯNG vẫn phát triển ).

    Ông Kolakowsi tuyên bố rằng “VÔ LÝ, THIẾU CƠ SỞ LỊCH SỬ” thì hóa ra lại là đập tan luận điệu “ÁM CHỈ RẰNG” của chính ông.

    12.lý thuyết lao động của ông…Cả hai lý luận này đều không có bất kỳ cơ sở thực nghiệm nào, và cả hai cũng KHÔNG ĐƯỢC CẦN đến để giải thích các cuộc khủng hoảng, sự cạnh tranh, và xung đột quyền lợi. Các cuộc khủng hoảng và các chu kỳ kinh tế có thể hiểu được bằng cách phân tích sự vận động của giá cả, và lý thuyết về giá trị của ông không đóng góp thêm gì vào sự hiểu biết của chúng ta về những điều này. CÓ VẺ NHƯ GIẢ SỬ…

    Không phải là lý luận của Marx không có cơ sở thực nghiệm, chẳng qua là ông Kolakowsi không nghiên cứu một cách nghiêm túc hoặc cố tình đảo lộn sự thật.

    Còn cái “KHÔNG CẦN” thì cũng chỉ là của những nhân vật chống Marx, như ông Kolakowsi chẳng hạn. Marx đã phân tích nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế và biện pháp giải quyết triệt để, đã đả kích sự yếu kém của các nhà kinh tế học Tư Sản thì đời nào những nhà Tư Bản, những nhà kinh tế học Tư Sản, những nhân vật chống Marx lại “CẦN” Marx ( một người vạch trần bộ mặt giả nhân giả nghĩa của họ ).

    Thế cho nên, dù “KHÔNG CẦN” tới Marx, dù đã “HIỂU ĐƯỢC” vấn đề nhưng những người này lại vẫn BẤT LỰC trước những cuộc khủng hoảng kinh tế. Đến nỗi phải nhờ đến mấy câu ba hoa sấm truyền kiểu như “BÀN TAY VÔ HÌNH”, “THỊ TRƯỜNG TỰ ĐIỀU TIẾT” để cứu rỗi.

    Còn cái trò đoán mò “CÓ VẺ NHƯ GIẢ SỬ” thì quả thật nực cười.

    TẠM TỔNG KẾT: Qua 13 điểm phân tích bản dịch của ông Trần Quốc Việt thì thấy tác giả một anh chàng “Đông-Ki-Sốt xứ Ba Lan”.

    Tất nhiên, cái màn “cầm giáo-la hét-húc vào cối xay gió-ngã nhào” của anh chàng này cần được phân tích kỹ lưỡng hơn.

  8. Anh Dũng viết:

    1.vấn đề là: Phải chăng lý thuyết của ông thực sự giải thích được bất kỳ điều gì trong thế giới của chúng ta và phải chăng lý thuyết ấy tạo ra một cơ sở cho bất kỳ sự tiên đoán nào? Câu trả lời là: Không.

    Cả câu hỏi và câu trả lời đều thừa. Đơn giản là vì chính Marx và Engels đã làm cái việc hỏi và trả lời này rồi.

    Do đó, hoặc ông Kolakowsi mới đọc được một phần các trước tác của họ, hoặc ông cố tình giấu nhẹm đi một sự thật.

    2.Ta thật KHÔNG THỂ nào khẳng định được tại đâu và bằng cách nào ông “đã chứng minh” được lời tuyên bố to tát này…Do vậy trong các lý thuyết của ông KHÔNG CÓ sự phân biệt rạch ròi giữa giải thích và tiên đoán

    Cái “KHÔNG THỂ” và “KHÔNG CÓ” này là của một nhân vật chống Cộng, mà cụ thể là ông Kolakowsi. Ông ta tự cho mình quyền nói thay tất cả mọi người.

    3.ông tin rằng ta có thể hiểu được ý nghĩa của cả quá khứ lẫn hiện tại nhờ suy ra từ tương lai, mà ông tuyên bố biết trước được. Vì thế, đối với Marx, chỉ những gì không (chưa) tồn tại có thể giải thích những gì hiện đang tồn tại.

    Chỗ này thì cần ông Kolakowsi, hoặc bất cứ một vị nào quan tâm phải đưa ra được bằng chứng từ các trước tác của Marx.

    4.ông tiên đoán sự phân cực giai cấp ngày càng tăng và sự biến mất của giai cấp trung lưu trong các xã hội dựa trên nền kinh tế thị trường…Giai cấp trung lưu ngày càng phát triển, trái lại giai cấp lao động theo nghĩa Marx muốn nói đã co dần lại trong các xã hội tư bản đang ở giữa thời tiến bộ về kỹ thuật.

    Cái XÃ HỘI mà Marx nói chính là thị trường thế giới. Vậy mà ông Kolakowsi chỉ lấy các nước Tư Bản phát triển làm dẫn chứng; còn việc chuyển dịch lao động, việc đùn đẩy hậu quả của nền sản xuất TBCN sang các quốc gia kém và đang phát triển ( những việc mà Marx phân tích ) thì ông Kolakowsi lại lờ tịt đi.

    Marx có cái nhìn tổng thể, còn ông Kolakowsi lại lấy cái nhìn cục bộ địa phương để mong phản bác lại.

    Qủa là một “học…giả” trứ danh!

    5. Thứ hai, ông tiên đoán sự bần cùng không chỉ tương đối mà còn tuyệt đối của giai cấp lao động. Điều tiên đoán này đã sai ngay chính trong đời ông. Thật ra, ta nên lưu ý rằng tác giả của bộ Tư bản đã cập nhật trong lần tái bản lần thứ hai những số liệu và thống kê, nhưng không phải những số liệu và thống kê liên quan đến tiền lương của công nhân; giá mà được cập nhật, những số liệu đó sẽ mâu thuẫn với lý thuyết của ông. Ngay cả những người theo chủ nghĩa Marx giáo điều nhất trong những thập niên gần đây cũng không cố gắng bấu víu vào điều tiên đoán rõ ràng là sai này.

    Lại một “kịch bản” theo phong cách CHHV và Trung Nu Hoang. Cái quan trọng nhất là BẰNG CHỨNG MINH ĐỊNH thì lại không có.

    6.lý thuyết của Marx tiên đoán sự tất yếu của cách mạng vô sản. Một cuộc cách mạng như thế chưa từng bao giờ diễn ra ở bất kỳ đâu.

    Ông Kolakowsi còn không biết đến cả Công xã Paris, thế nên ông tuyên bố một câu ngây thơ như thế cũng là dễ hiểu.

    7.phong trào cách mạng của những công nhân công nghiệp (vốn được giới trí thức ủng hộ rất mạnh) chống lại những kẻ bóc lột, tức là nhà nước. Hơn nữa trường hợp duy nhất này của cuộc cách mạng của giai cấp lao động (thậm chí nếu ta xem đây là cuộc cách mạng) là nhằm chống lại nhà nước xã hội chủ nghĩa, và được tiến hành dưới dấu thánh giá, kèm theo sự ban phúc của Đức Giáo hoàng.

    Ông Kolakowsi phát tiết hết cái tinh hoa “đánh đồng hình thức với nội dung” của mình. Cái “nhà nước XHCN” của ông mới chỉ là hình thức thôi, nó biến chất thì nó bị đào thải là đúng với phân tích của Marx đấy chứ. Thế nên mới cần đấu tranh và xây dựng chứ đâu có phải cách mạng lật đổ chính quyền cũ là xong.

    8.tiên đoán này cũng hoàn toàn SAI LẦM…Và ngay cho dù “quy luật” này có ĐÚNG chăng nữa

    Cái kiểu “phân tích” mà câu trước đá câu sau, vừa “HOÀN TOÀN SAI” lại vừa “CÓ THỂ ĐÚNG” thế này thì chỉ có những nhân vật chống Cộng mới sở hữu nổi.

    9.thị trường sẽ cản trở sự tiến bộ về kỹ thuật.

    Marx chưa bao giờ nói như vậy. Mà Marx nói rằng: Chính sức ép cạnh tranh buộc các nhà tư bản phải không ngừng chạy đua về máy móc, khoa học kỹ thuật.

    10.Trong tất cả các xã hội cộng sản…

    Chưa có một “xã hội Cộng Sản” nào cả. Tất cả vẫn đang trong quá trình “quá độ”. Xã hội Cộng Sản thì đã không còn nhà nước, giai cấp, quân đội, tòa án, cảnh sát rồi.

  9. Thanh Nguyễn viết:

    @Anh Dũng:
    Với nickname, hành tung ẩn hiện du kích trên diễn đàn mạng. Với nhân thân, lý lịch mà không ai biết ai nên chỉ đoán mò nhau là chuyện thường tình.

    Lảng vảng, loanh quanh kiếm miếng đánh lẻ. Xem ra cái đoán mò của tôi là đúng chứ chả chơi!

  10. Trương Đức viết:

    “Những gì Marx gọi là “các quy luật” thực ra chỉ là những khuynh hướng có tính lịch sử. Do vậy trong các lý thuyết của ông không có sự phân biệt rạch ròi giữa giải thíchtiên đoán. Ngoài ra, ông tin rằng ta có thể hiểu được ý nghĩa của cả quá khứ lẫn hiện tại nhờ suy ra từ tương lai, mà ông tuyên bố biết trước được. Vì thế, đối với Marx, chỉ những gì không (chưa) tồn tại có thể giải thích những gì hiện đang tồn tại. Nhưng ta nên nói thêm rằng đối với Marx, tương lai hiện đang tồn tại, theo cách nhìn biện chứng Hegel kỳ lạ, cho dù tương lai ta chẳng thể nào biết được.”(Leszek Kolakowsi)

    Trước hết, tôi xin nói đôi điều về công việc dịch thuật. Đây là bản dịch hay, nhuần nhuyễn. Tôi cũng là người đã tham gia vào một vài công việc dịch thuật. Và tôi thấy, dịch triết học là khó khăn nhất, bởi vì triết học là một bộ môn đã “khó” ngay ở tiếng mẹ đẻ rồi. Ví dụ như những người bạn Hungary của tôi chẳng hạn, họ cũng thường than thở với tôi là họ chẳng hiểu gì cả khi đọc chính những triết gia người Hung của họ (bằng tiếng mẹ đẻ, dĩ nhiên!). Quay lại bài viết này, tôi phải công nhận là bác Trần Quốc Việt đã cho độc giả talawas một bản dịch lưu loát, dễ hiểu. Xin cám ơn bác Trần Quốc Việt!

    Về nội dung của bài viết, thì tôi có mấy cảm nghĩ như thế này, xin chia sẻ với các bác:

    1. Theo như “định nghĩa” của tác giả L. Kolakowsi, thì tôi có thể hiểu, triết gia là người có hai nhiệm vụ chính là “giải thích” và “tiên đoán”, mà chủ yếu là “giải thích”. Và ông viết bài này, theo như “link nguồn” dẫn là năm 2002, khi mà chế độ độc tài toàn trị của các đảng CS ở các nước Đông Âu cũ bị sụp đổ và thay vào đó là chế độ đa nguyên dân chủ, đã hơn 10 năm. Tức là sau hơn 100 năm, tác giả mới “giải thích” được sự “không đúng đắn” của lý thuyết của Marx, mà cụ thể là của “Chủ nghĩa Xã hội”. Điều này cho chúng ta thấy cái ý “lý thuyết chỉ là màu xám, thực tiễn là cây đời mãi mãi xanh tươi” của Goethe, là “đúng đắn” trong mọi trường hợp. Các nước XHCN Đông Âu cũ, cũng do “thấy” được những “sai lầm chết người” qua thực tiễn lịch sử của Chủ nghĩa Marx, mà đã thực hiện những cuộc “cách mạng nhung” để đi theo con đường khác, tốt đẹp hơn, là con đường “dân chủ đa nguyên”.

    2. Liên hệ với Việt Nam ta, điều tôi muốn nói ở đây là, cho đến tận bây giờ, ĐCSVN vẫn không chịu “nhìn thấy” những “sai lầm chết người” của CNXH, mà cụ thể là của thực tiễn “xây dựng CNXH” ở VN trong suốt 80 năm qua. Và như thế, có thể phát biểu rằng: Những người cầm quyền của ĐCSVN, dường như họ, tuy là những kẻ Mác-xít “lười biếng” đấy, nhưng lại quá “chăm chỉ” trong việc giữ vững chế độ độc tài toàn trị, cái “quái thai” của Chủ nghĩa Cộng sản. Và như tác giả nhận định, “Điều chủ nghĩa Marx ít có khả năng giải thích nhất là chủ nghĩa xã hội toàn trị, cái chủ nghĩa đã phong Marx là đấng tiên tri của nó.”, thì giờ đây, chúng ta cũng khó có thể “giải thích” được cái “chủ nghĩa xã hội toàn trị quái đản” ở Việt Nam hiện nay.

    Giá như VN ta cũng có một triết gia như L. Kolakowsi, để “giải thích” và “tiên đoán” sự cáo chung của ĐCSVN cùng với cái “CNXH, mà thực chất là Chủ nghĩa Tư bản Đỏ” của nó!

  11. Bach Phat Gia viết:

    Niels Bohr (1885-1962, nhà vật lý người Đan Mạch, giải Nobel vật lý 1922) nói “Isolated material particles are abstractions” (1) (Hạt vật chất cơ bản cô lập là sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật). Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism” (2) (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật). Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963) viết : “The very study of the external world led to the conclusion that the content of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a fundamental element of reality” (3) (Càng nghiên cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của ý thức là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực tại của hạt bắt buộc rằng ý thức là yếu tố cơ bản của thực tại). Heisenberg, (1901-1976 nhà vật lý lý thuyết người Đức, người phát minh ra nguyên lý bất định _không thể đồng thời xác định vị trí và vận tốc hay động lượng của một hạt, ví dụ electron) nói: “Atoms and elementary particles…form a world of potentialities or possibilities, rather than one of things or facts…atoms are not things” (4)(Nguyên tử và các hạt cơ bản…hình thành một thế giới tiềm thể hay có khả năng hiện hữu, chứ không phải một thế giới của vật thể hay sự vật có thật…Nguyên tử không phải là vật).
    Chính vì Phật giáo có cơ sở khoa học sâu xa như vậy nên Einstein đã tâm phục, khẩu phục, ông nói : “If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism” (5)(Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng những nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó có lẽ là Phật Giáo)
    Hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement _ xem thêm http://www.talawas.org/?p=21480 phần góp ý của Bach Phat Gia) mà khoa học đã xác nhận gần đây càng chứng minh rằng không gian, thời gian, số lượng chỉ là sự biến hiện của ý thức do sự hạn chế về khả năng và tốc độ của con người chứ không phải là những đại lượng đó có thật, độc lập tồn tại ngoài ý thức. Các phương tiện viễn thông và internet ngày nay đã cho phép ta tự mình thực nghiệm tính chất không thực của không gian, thời gian, khiến cho chúng ta có thể dễ dàng ngồi tại VN mà cất dữ liệu riêng của mình tại các server ở tận bên Mỹ, ta cũng có thể ngồi nhà xem báo và video tại bất cứ nơi đâu trên thế giới, vì khoảng cách không gian đã không còn nữa.

    Tham khảo:
    (1), (2), (3), (4), (5) trích từ Religion and the quantum world- của Giáo sư Keith Ward- phát biểu tại Gresham College ngày 09/03/2005.

  12. Bach Phat Gia viết:

    Xưa nay khi bàn về Karl Marx, người ta thường bàn về quyển Tư Bản luận và chủ nghĩa xã hội khoa học của ông, chứ ít ai bàn về triết học duy vật biện chứng của ông, có lẽ nhiều người nghĩ rằng triết học duy vật của ông chắc ít có sai lầm. Nhưng thật ra sai lầm căn bản nhất của Karl Marx chính là triết học duy vật, từ đó dẫn đến những sai lầm khác. Điều căn bản trong sai lầm của Karl Marx chính là sự thiển cận, nhận thức thiển cận dẫn đến kết luận thiển cận, người thiển cận cho rằng mình là duy nhất đúng nên có thái độ độc đoán, muốn bắt tất cả mọi người khác cùng sống theo quan niệm thiển cận như mình, đó là điều mà các chế độ cộng sản đang làm. Người trí thức không thể sống nổi dưới sự lãnh đạo của nông dân, người chỉ có kiến thức hạn chế trong lũy tre làng.
    Sự thiển cận của Karl Marx là ở chỗ nào ? Đó chính là triết học duy vật. Triết học duy vật của Marx có căn cứ khoa học hẳn hòi; về vật lý, đó là cơ học Newton; về sinh học, đó là sinh vật tiến hóa luận của Darwin. Marx cũng có tham khảo triết học cổ đại như Socrates, Platon, và đương đại như Descartes, Hegel. Tất nhiên Marx có biết qua triết học duy tâm, nhưng vì không có điều kiện để thấu triệt do sự hạn chế của trình độ khoa học đương thời, nên ông đã không hiểu cơ sở khoa học của quan điểm duy tâm. Mặc dù Tây phương đã biết đến Phật giáo rất sớm, từ lúc đại đế Alexandre của Hy Lạp đem quân xâm chiếm miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ thứ IV trước Công nguyên, đến thế kỷ thứ I trước CN, một vị hoàng đế khác của Hy Lạp là Menandros (trong Kinh Na Tiên Tỳ Kheo vấn đáp – The Milanda panha- ghi là Milanda, qua khảo cứu các học giả xác định đó là vua Menandros của Hy Lạp) có gặp Long Thọ Bồ Tát (Nāgārjuna) nhưng Phật giáo chỉ được giới trí thức ở Tây phương biết đến từ khi tác phẩm Recherche sur Budou ou Bouddu (sic) của Michel-Jean-Francois Ozeray ra đời vào năm 1817, lúc đó ngay từ ngữ Buddhism cũng chưa thông dụng, mãi đến khi xuất bản tác phẩm The History and Doctrine of Buddhism của Edward Upham (1829), danh xưng Buddhism này mới trở thành tiêu chuẩn. Marx sinh năm 1818, nên có khả năng đã đọc qua các tác phẩm này nhưng ông đã không tin. Tóm lại Marx không hiểu triết học duy tâm của Đạo Phật, ông đã thẳng tay bác bỏ nó và đồng thời xây dựng một triết học duy vật khá thô thiển và mâu thuẫn. Nó tự mâu thuẫn, bởi vì khi nói duy vật, nó phải là một triết học nhất nguyên luận với sự thật căn bản là vật chất và chỉ có vật chất mà thôi, ý thức cũng phải là vật chất. Thế mà bản thân Marx và các môn đồ về sau chưa bao giờ nói rằng vật chất tức là ý thức, ý thức tức là vật chất. Nếu có vật chất khác với ý thức, không phải là một thứ đồng bản chất, thì hóa ra triết học của Marx là nhị nguyên luận, như vậy triết học duy vật chỉ là một thứ nhất nguyên luận giả hiệu, thực chất là nhị nguyên luận. Marx nói vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất có kết cấu tinh vi phức tạp là bộ não người sinh ra ý thức, nhưng ý thức là cái gì hoàn toàn khác với vật chất và không thể sinh ra vật chất. Đây chính là chỗ bất cập của triết học Marx. Trong khi đó Phật giáo ra đời trước Marx 2500 năm nhưng hiểu biết về thế giới sâu xa hơn Marx rất nhiều. Bát- nhã ba-la-mật-đa tâm kinh nói “Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc” (Sắc hay vật chất, những sự vật có hình tướng, không khác cái không, cái không không khác vật chất, vật chất tức là cái không, cái không tức là vật chất). Ý của câu này là vật chất, ý thức, cái không chẳng khác gì nhau cả, là đồng bản chất. Trong tác phẩm Thành Duy thức luận (成唯識論 ) của đại sư Huyền Trang, tập họp và biên dịch từ các tác phẩm duy thức học của các Bồ-tát Thế Thân (世親 Vasubandhu) và Vô Trước (無著 Asanga) người Ấn Độ, có một câu đúc kết rất rõ ràng và rất sâu sắc : “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” ( Ba cõi Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới chỉ là tâm, tất cả sự vật vô hình, hữu hình trong pháp giới, trong vũ trụ đều chỉ là thức). Rõ ràng Phật giáo nói vật chất tức là ý thức, ý thức tức là vật chất. Tâm tức là Vật, Vật tức là Tâm, nên Phật giáo nói duy tâm hay duy vật thì cũng chẳng có gì khác nhau, nhưng với Marx thì có khác, Marx cố chấp vào vật chất, cho vật chất là có thật, cũng tức nhiên cho rằng không gian, thời gian và số lượng đều có thật.
    Đã có một thời người ta cho rằng triết học duy vật của Marx là đúng, triết học duy tâm của nhà Phật là sai. Chỉ đến khi Einstein đưa ra thuyết tương đối, rồi vật lý lượng tử phát triển, nhiều thực nghiệm khoa học chứng minh rằng vật chất không thể độc lập tồn tại ngoài ý thức như Marx nói, các hạt cơ bản của vật chất (basic particles of materials), hay phần tử nhỏ nhất của năng lượng gọi là lượng tử (quantum) đều chỉ là hạt ảo, không thể độc lập tồn tại, thì nhân loại mới hiểu Phật giáo hoàn toàn có cơ sở khoa học. Cái vật chất mà chúng ta thấy bằng mắt hay cảm nhận bằng các giác quan khác, chỉ là mối quan hệ trùng trùng duyên khởi của các hạt ảo ấy với nhau, chứ bản thân các hạt ấy thì không có thật, chúng không có tự tính riêng.

  13. Anh Dũng viết:

    Trước khi bàn về bài dịch này của ông Trần Quốc Việt, tôi hỏi ông Thanh Nguyễn rằng cái phản hồi đầu tiên của ông có gì “sắc” ngoài cái trò đoán mò “CHẮC LÀ CHỈ…” ???

  14. Thanh Nguyễn viết:

    Cám ơn tác giả Trần Quốc Việt đã dịch và đăng bài viết này đúng lúc, trong thời điểm ông Anh Dũng- một lý cùn gia về chủ nghĩa Marx- đang sang sảng múa môi về tư tưởng Marxist trên diễn đàn talawas ở bên thớt bài của ông Trần Mạnh Hảo.

    Ông Anh Dũng chắc là chỉ lảng vảng loanh quanh cái thớt này chứ không không dám nhảy vào cái sới vật này đâu.

    Một trong những nguyên nhân khiến chủ nghĩa Marx được ưa chuộng nhiều trong giới có học là ở chỗ rằng chủ nghĩa Marx, dưới một hình thức đơn giản, lại rất dễ hiểu; đến cả Sartre cũng nhận thấy rằng những người Mác-xít là lười biếng. Đúng vậy, họ thích có một chiếc chìa khoá mở tung ra tất cả cánh cửa; một sự giải thích có thể áp dụng phổ quát cho tất cả mọi thứ, một công cụ giúp họ có thể nắm vững toàn bộ lịch sử và kinh tế mà chẳng thật sự phải nhọc công học môn nào. (Trích bài viết)

    Một nhận xét rất hóm của ông Leszek Kolakowsi khiến cho giới học thuật, tôn thờ Marxist ngượng, và sượng trân đến cứng người.

  15. […] CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CÒN LẠI GÌ Bởi ngoclinhvugia Chủ nghĩa xã hội còn lại gì […]

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...