talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Thanh Giang – Người trí thức bị ruồng bỏ

30/07/2010 | 12:00 chiều | 39 Comments

Tác giả: Nguyễn Thanh Giang

Category: Tư tưởng
Thẻ:

Năm 1989, một sinh viên cũ từ xứ sở bị đô hộ xưa trở lại thăm “mẫu quốc” đã được hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Paris 7, một trong nhũng trường uy tín nhất của nước Pháp, khẩn khoản: “Nhân dịp giáo sư sang đây, ban giám hiệu chúng tôi xin dành trọn một ngày để kính mời giáo sư giới thiệu phương pháp và kinh nghiệm học tập của giáo sư với toàn trường chúng tôi”, bởi vì “Đã sáu mươi năm qua, trên đất Pháp này chưa có sinh viên Pháp hay sinh viên quốc tế nào phá được kỷ lục: đạt hai bằng tiến sĩ quốc gia Pháp ở tuổi 22.”

Người cựu sinh viên ấy tên là Nguyễn Mạnh Tường.

Ông sinh năm 1909 ở phố Hàng Đào, Hà Nội. Theo học tại trường Albert Sarraut, năm 16 tuổi ông đỗ tú tài rồi sang Pháp du học từ năm 1927. Năm 1932 bảo vệ thành công luận án tiến sĩ luật “Cá nhân trong đô thị cổ Việt Nam” tại  Đại học Montpellier. Một tháng sau tiếp tục bảo vệ thành công luận án tiến sĩ văn chương “Việt Nam trong văn chương Pháp”.

Khi ông về nước, hai viên mật thám Pháp, trong đó có Louis Marty, gặp và gợi ý đưa ông vào làm thượng thư trong triều Bảo Đại. Bị gây khó khăn do từ chối lời mời này, ông chỉ ở nhà ba tháng rồi lại trở lại Pháp. Ông đã bỏ ra năm năm trời đi tham quan và nghiên cứu các nước châu Âu: Tây Ban Nha, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập… để viết bốn cuốn sách bằng tiếng Pháp: Nền tảng Pháp, Kinh nghiệm Địa Trung Hải, Kinh nghiệm và nước mắt tuổi trẻ, Du lịch và cảm xúc (kịch).

Trở về Việt Nam năm 1936, Nguyễn Mạnh Tường dạy học ở trường Trung học Bảo hộ (Lycée du Protectorat), hay còn gọi là trường Bưởi (từ 1945 đổi tên thành trường Trung học Chu Văn An).

Do bất mãn với chính sách kỳ thị của Pháp, ông bỏ trường về mở văn phòng luật sư tại hai biệt thự số 1 và số 2 Mai Xuân Thưởng. (Những biệt thự này về sau đã được gia đình ông hiến tất cả cho Nhà nước để rồi gần đây được sử dụng làm trụ sở cơ quan tiếp dân của Thanh tra Chính phủ).

Ngay từ năm 1936, khi trở về Việt Nam, Nguyễn Mạnh Tường đã dành thời gian học tiếng Trung, tham gia phác hoạ văn phạm Việt Nam với nhóm Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ, và hợp tác làm tự điển với Khai trí Tiến Đức.

Ông đã góp vào kho tàng tri thức Việt Nam 18 tác phẩm quý gồm 14 cuốn viết bằng tiếng Pháp và 4 tác phẩm tiếng Việt, như:

  • Văn phạm Việt Nam (cùng Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, 1941)
  • Việt Nam Tự điển (Hội Khai trí Tiến Đức)
  • Construction de l’Orient (1937)
  • Sourires et Larmes d’une Jeunesse (1937)
  • Pierres de France (1940)
  • Apprentissage de la Méditerranée (1940)
  • Le Voyage et le Sentiment (1940)
  • Một cuộc hành trình (1955)
  • Un Excommunité – Hà Nội: 1954-1991: Procès d’un intellectuel (Quê Mẹ, Paris 1992)
  • Lý luận giáo dục châu Âu: Từ Érasme tới Rousseau thế kỷ XVI, XVII, XVIII ( NXB Khoa học Xã hội, 1994)
  • Aikhylos(Eschyle) và bi kịch cổ đại Hi Lạp (NXB Giáo dục 1996)
  • Virgile – nhà thơ vĩ đại của thời kỳ La Mã cổ đại (NXB Khoa học Xã hội, 1996)

    Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, ông được mời dạy văn chương Tây phương tại trường Đại học Văn khoa do ông Đặng Thai Mai làm hiệu trưởng.

    Năm 1946 Hồ Chủ tịch cử Nguyễn Hữu Đang đến trịnh trọng mời ông để giao một nhiệm vụ quan trọng.

    Ông kể: “Cụ Hồ nói: Ta sẽ ký với Pháp một tạm ước, nhưng lại muốn đạt được cao hơn một tạm ước. Sẽ có hội nghị, lúc đầu ở Việt Nam (Đà Lạt), sau ở Pháp. Nhờ ngài xây dựng cho lập trường Việt Nam để đi đấu tranh. Tôi từ chối, nói còn có nhiều người giỏi hơn tôi. Cụ Hồ khẩn khoản:

    Tôi đã hỏi nhiều anh em, họ đều bảo chỉ có ngài làm được, xin ngài về suy nghĩ và giúp cho Chính phủ. (Hồi này cụ Hồ cứ gọi tôi là ngài!) Đi Đà Lạt là đoàn liên hiệp các đảng phái. Trưởng đoàn là Nguyễn Tường Tam. Phó là Võ Nguyên Giáp. Không thuộc đảng phái nào thì có Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên và tôi. Lúc tiễn đoàn lên đường, cụ Hồ nói to: Xin chúc anh em đi thành công, đặc biệt tôi có lời khuyên: Nội bộ đoàn kết, phải đấu tranh găng nhưng không được gãy”.[1]

    Một “sự cố” ở Hội nghị này cũng đã được ghi lại như sau: “Kết thúc Hội nghị, D’Argenlieu có tổ chức tiệc trà tiễn đoàn. Một sĩ quan hầu cận Pháp đến nói: Thủy sư Đô đốc muốn gặp riêng ngài. Tôi nói: Tôi chưa hân hạnh được quen biết ngài Thủy sư Đô đốc. Có anh em nói: Nó mời thì anh cứ đi. Tôi đi xuyên qua phòng họp, đông khoảng một trăm người, đến gặp nó, chỉ toàn nói chuyện xã giao vớ vẩn. Thế mà khi về Hà Nội, có dư luận nói: Tường là tay trong của Pháp, Tường phản quốc”. Hoàng Xuân Hãn tức mình, đến gặp Võ Nguyên Giáp, dư luận mới được dập tắt.”[2]

    Sau Hội nghị Đà Lạt ông còn được cử đi dự Hội nghị Bảo vệ Hòa bình châu Á-Thái Bình Dương ở Bắc Kinh năm 1952 và Đại hội Hòa bình Thế giới ở Wien năm 1953.

    Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Nguyễn Mạnh Tường tản cư và vào dạy dự bị đại học tại phố Đu Thanh Hóa. Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, ông kể niềm hân hoan, tự hào khi trở về Thủ đô: “Ngày 10 tháng 10 năm 1954 đúng 10 giờ sáng, lực lượng kháng chiến trọng thể tiến vào Thủ đô. Dẫn đầu là đoàn quân với những lá cờ tung bay với tiếng trống liên hồi. Những cán bộ đứng trên những chiếc xe tải vẫy tay chào đồng bào đứng đầy hai bên đường đang hô to những tiếng vui mừng, phất phất những lá cờ nhỏ. Tất cả hai bên nhà phố đều trang trí và niềm vui không tả trên ánh mắt của từng người dân. Từng chặp, đoàn quân phải ngừng lại để nhận những vòng hoa của từng đoàn thiếu nữ mang tặng. Sự nồng nhiệt của dân chúng đã lên đến cao độ, thật chân thành và nồng hậu. Kể cả những người mà con tim còn đang nhịp nhẹ những tiếc nuối với người chủ hôm qua, tất cả đều chuẩn bị đầy đủ cho một cuộc găp gỡ dễ thương bằng sự rộng rãi và lịch sự, họ vỗ tay hoan hô những người đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ: chiến công của họ khơi động lại niềm hãnh diện của người dân Việt và phục hồi lại danh tiếng cho nước nhà.”[3]

    Ông hồ hởi nhận lãnh nhiều trách nhiệm vinh dự: Hiệu trưởng trường Đại học Luật, Phó Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, Chủ tịch Luật sư đoàn, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ủy viên BCH Hội Hữu nghị Việt–Pháp và Hội Hữu nghị Việt-Xô, thành viên của Uỷ ban Bảo vệ Hoà bình Thế giới, chủ tịch sáng lập Câu lạc bộ Đoàn kết Trí thức…

    Năm 1956, trong cương vị Chủ tịch Luật sư đoàn, Phó Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, luật sư Nguyễn Mạnh Tường được giao nhiệm vụ lãnh đạo đoàn Việt Nam tại Hội nghị Luật gia Dân chủ Thế giới tổ chức ở Bruxelles, Bỉ. Nhiệm vụ của đoàn Việt Nam là làm sao được Hội nghị đưa ra nghị quyết ủng hộ công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của ta.

    Năm 2009, nhân kỷ niệm 100 năm sinh của giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Trần Thanh Đạm, thầy dạy của nhiều cán bộ lãnh đạo Đảng ngày nay, đã viết về thầy giáo cũ của mình như sau: “Nhớ lại hình ảnh thầy Tường, tôi thường cảm kích nghĩ rằng chỉ riêng sự có mặt của Thầy trong hàng ngũ những nhà trí thức yêu nước đi kháng chiến theo cụ Hồ ngày ấy đã là một sự cổ vũ lớn đối với thế hệ thanh niên chúng tôi. Chỉ riêng điều đó đã là một cống hiến vô giá của Thầy đối với đất nước, xứng đáng với sự hàm ơn và tưởng nhớ của các thế hệ sau này, cần được vinh danh mãi mãi trong lịch sử văn hóa và giáo dục của dân tộc ta.”[4]

    *

    Thế mà! Bỗng đâu…, ông “đã là kẻ lữ hành trong chuyến đi qua sa mạc kéo dài từ năm 1958 đến năm 1990, hơn ba mươi năm dài đằng đẵng. Chìm trong vùng cát sa mạc của tuyệt vọng làm cạn khô giòng nước mắt, tôi đã lê tấm thân bị tra tấn bởi thiếu thốn cô đơn, với quả tim

    rướm máu bởi nỗi buồn của chua cay và vị đắng của mật. Không một tia sáng của niềm vui trong đêm đen của địa ngục trần gian mà tôi đang bị quét đi trong nỗi cô đơn.”

    tôi không bị ném vào tù hay bị còng tay. Tôi không bị bắt đưa ra bất cứ toà án hình sự hay chính trị nào. Tôi không bị bắt đày đi xa nhà hay xa gia đình. Nhưng cả xã hội và mọi người đều biết: để tránh phải chịu những phiền phức, những ai muốn tiếp xúc với tôi, dù bất cứ chuyện gì, đều không dám. Nhà tôi như đang chứa một người đang bị bệnh dịch, không nên đến gần. Ra đường, mọi người thấy tôi từ xa đã quay ra ngõ khác để tránh đụng mặt, nếu người nào đó, vì vô tình vô ý hay vì can đảm đến gõ cửa gặp tôi, ngay sau khi vừa rời khỏi nhà là đã có công an mời về cơ quan để tra tấn họ với những câu hỏi về họ là ai, về gia đình và tầng lớp xã hội và đặc biệt là có quan hệ gì đến tên tội phạm là tôi đây.”

    Không chỉ bị đầy đọa về mặt tinh thần, về vật chất thì: “Cả mấy tháng qua, buộc phải mua thực phẩm và những thứ nhu yếu trên chợ đen vì tôi không còn được phát tem phiếu kể từ khi tôi bị loại, mặc dù với tất cả dành dụm có được, số tiền dự trữ ngày càng thu hẹp. Ngay từ lúc đầu, với viễn tượng những ngày khó khăn trước mắt, với dự trữ ít oi, chúng tôi bắt đầu một giai đoạn hạn chế, tiết kiệm. Trước tiên, loại bỏ ngay buổi ăn sáng, một thói quen xa hoa của những người tư sản. Tiếp đến, cá thịt từ từ biến mất trong những buổi ăn trưa và tối. Khẩu phần cơm và rau mỗi ngày một ít đi. Và đến lúc mỗi ngày chúng tôi chỉ có một bát cháo để ăn.”

    Nghĩ đến chuyện vay mượn bạn bè là điều vô ích vì chính bản thân họ cũng đang cùng số phận, đang trong cảnh chỉ đủ cầm hơi khỏi bị chết đói. Vợ tôi đã nghĩ đến chuyện bán thuốc lá bên lề đường để kiếm sống, nhưng làm sao có được mớ vốn ban đầu và có chút tiền để bôi trơn móng vuốt làm khó của những tên công an hay cán bộ thuế, để chúng để yên cho chúng tôi khó khăn kiếm sống? Tìm ở đâu những nguồn hàng mà chỉ qua con đường buôn lậu mới có được? Món duy nhất mà vợ tôi không phải bán là cái máy may để mua gạo cho gia đình, mà dùng nó để may đồ mang ra chợ bán. Nếu bà còn trẻ bà có thể đạp xe về nhà quê mua rau cải lên bán ở những nơi đông người qua lại. Nhưng tất cả những dự tính dễ thương nhỏ nhoi đó đều không thể thực hiện đã làm cho vợ tôi khóc trong sầu khổ vì không thể làm một chút gì đề mua gạo cho gia đình.”

    Tôi muốn dạy tiếng Pháp tại nhà. Nhưng vừa mới bắt đầu là đã có một đám công an, chắc chắn là đã được bọn gián điệp và điểm chỉ quanh tôi báo động cho họ, xuất hiện và bảo cho tôi là dưới chế độ cộng sản không có gì là tư nhân mà được cho phép, dù chỉ là việc dạy học của những ông thầy tận tuỵ. Phải làm gì đây? Tôi không thể ra đạp cyclo như một số đồng nghiệp trẻ đang làm, không phải vì chuyện thiên hạ xầm xì mà chỉ vì tôi đã không còn ở tuổi để làm chuyện đó: hoặc người ta không dám gọi tôi, hoặc nếu có, số tiền công còm cõi của một hai chuyến đi không đủ để mua thuốc cho tôi lại sức với cái thân thể đã tiều tuỵ lắm rồi. Tự nhủ là không có nghề gì là đáng khinh, tôi xoay ra sửa chữa xe đạp bên vệ đường như những sĩ quan cao cấp già của bộ đội về hưu đang làm. Những kiến thức về văn chương và ngôn ngữ trở nên vô dụng trước những chiếc xe đạp hư cần sửa chữa như một quan hoạn đứng trước người đàn bà không mảnh vải che thân.”

    Cuối cùng tôi cũng phải hiểu ra là mình không nên đắm mình trong cái ảo tưởng về số phận của những cuốn sách không bán được của tôi. Tôi đành phải cân ký bán cho những người thu mua giấy vụn về bán lại cho nhà máy làm bột giấy. Những cuốn sách được mang lên trên cái cân hiệu Roberval. Tôi được trả tiền theo số cân đo được. Tim tôi đập loạn lên mỗi khi tôi phải chất những cuốn sách vào cái giỏ sau của chiếc xe đạp để đem đi bán giấy vụn. Không, nó không phải là giấy, nó là những thịt da của tôi đang bị xé ra từng mảnh. Khi những người mua ném chúng vào góc nhà, tôi phải quay mặt đi nơi khác cố giấu giọt nước mắt đang trào ra! Không có người cha nào còn dám nhìn con mình đang bị ném vào lửa bởi bọn đao phủ! Cái tra tấn đó cứ tái hiện mỗi lần đi bán sách làm giấy vụn, tôi như bị một mũi tên bắn xuyên qua tim mình. Nhiều lần, tôi phải nhờ vợ hay con tôi làm chuyện đó vì tránh cho tôi phải chịu nỗi đau.”[5]

    *

    Vì đâu? Và từ lúc nào người trí thức lỗi lạc từng được Chủ tịch nước Hồ Chí Minh cung kính gọi bằng “ngài” và khẩn khoản: “Việc này chỉ có ngài làm được, xin ngài giúp cho Chính phủ”, bỗng rơi xuống điạ ngục ngay giữa trần gian?

    Ngày 30 tháng 10 năm 1956, sau khi nghe ông Trường Chinh thay mặt Đảng CSVN đọc bản kiểm điểm về sai lầm của Cải cách Ruộng đất trước Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, ông Nguyễn Mạnh Tường không nén nổi xúc động: “Tôi phấn khởi được nghe bản phê bình của Đảng Lao động do ông Trường Chinh đọc trước Hội nghị. Nhưng tôi cũng phải thú rằng lòng phấn khởi của tôi một phần bị giảm đi, vì tôi nhớ lại kết quả tai hại của các sai lầm đã phạm trong công cuộc Cải cách Ruộng đất. Tôi xin phép các vị được kính cẩn nghiêng mình trước kỷ niệm những người vô tội đã chết oan, không phải vì bàn tay của địch mà chính của ta. Trong cuộc kháng chiến anh dũng của ta, những đồng bào đã hi sinh, có thể nói, được chết với trong lòng chan chứa nỗi vui sướng vì chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi nanh vuốt của địch. Họ chết bởi địch, cho ta. Đó là cái chết tích cực, cái chết vẻ vang, cái chết oanh liệt mà Tổ quốc ghi nhớ muôn thuở. Trái lại, những người chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách Ruộng đất này, lúc tắt thở, cay đắng đau xót vì chết với một ô danh.”[6]

    Thế rồi, sự “xúc động thái quá” đó, trớ trêu thay đã biến ngày ấy thành định mệnh đời ông khi ông dám chân thành đứng giữa hội trường trình bầy bản báo cáo: “Qua những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất – Xây dựng quan điểm lãnh đạo”.

    Ông chân thành căn vặn: “Ta muốn gì? Tìm kẻ thù của nông dân, của cách mạng để tiêu diệt nó. Nhưng đồng thời nếu ta biết lo xa, nhìn xa, ta cũng không quên rằng công lý của cách mạng, muốn bảo toàn được uy tín và thắng lợi của cách mạng, phải biết đánh đúng địch. Khi đưa ra khẩu hiệu ‘Thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch’ thì khẩu hiệu này không những quá tả một cách vô lý mà phản lại cách mạng là đằng khác nữa. Muốn chứng minh điều này ta chỉ cần nhìn thực tế: kết quả sai lầm ta đã phạm khi thực hiện khẩu hiệu này rất tổn thiệt cho uy tín của cách mạng và cho bản thân bao nhiêu chiến sĩ cách mạng. Nếu không phải đó là phản lại cách mạng thì là gì? Khẩu hiệu của pháp lý thì khác hẳn: Thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan.”

    Ông quy kết: “Sở dĩ ta không để ý đến giải pháp pháp lý là vì ba lý do: 1. Quan điểm ta – địch, thù-bạn của ta rất mơ hồ; 2. Ta bất chấp pháp luật, lấy chính trị lấn át pháp lý; 3. Ta bất chấp chuyên môn.”

    Tại sao có những hiện tượng quái gở như vậy? Là vì chính trị chiếm đóng tất cả các khu vực trong nhận thức của chúng ta làm chúng ta mất cả cái nhân đạo tối thiểu của con người, làm chúng ta khước từ các chân lý.”[7]

    *

    Cho đến bây giờ do cần tạo ra những cái bồ sứt cạp thủng đáy để rót vô tội vạ tài nguyên đất nước, mồ hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân nhằm vỗ béo bọn tư bản đỏ người ta vẫn chỉ thị phải củng cố doanh nghiệp nhà nước bằng bất kể giá nào để thể hiện đường lối XHCN thiêng liêng của Đảng thì cách đây hơn nửa thế kỷ Nguyễn Mạnh Tường đã chỉ rõ thực tế:

    Nghĩa là giai cấp công nhân đã phải lao động sản xuất hai năm nay mà không được bồi dưỡng đúng mức. Lắng nghe dư luận đồng bào Hà Nội thôi, ta được biết rằng có ít ra một doanh nghiệp quốc gia lãng phí bao nhiêu triệu trong khi dưới chế độ Pháp thuộc, cũng doanh nghiệp ấy mang lại cho thực dân đế quốc các số lãi khổng lồ.”

    Về Mậu dịch, nửa năm nay, đồng bào ca thán như thế nào, ta đã biết. Nào chèn ép các nhà kinh doanh tư nhân, nào lãng phí bao nghìn triệu trong khi thực hiện chính sách, nào tàn nhẫn với các người bán sức lao động cho mình…”

    Số vốn mà các nhà công thương mang ra kinh doanh chỉ là một phần ti tiểu, số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân không có nghĩa lý gì. Trái lại ta thấy tất cả một phong trào các nhà tư bản thu hẹp hoạt động của họ, hoặc chuyển hướng bằng cách đâm ra quay chỉ, bán nước mía, hay dệt vài thước vải vớ vẩn, hoặc đóng cửa ăn vào vốn để khỏi đụng chạm đến Sở

    Lao động vì vấn đề công nhân, với Sở Công thương vì vấn đề đăng ký và nguyên liệu sản xuất, với Sở Tài chính vì thuế khoá đặc biệt.”[8]

    Ngày nay, trước thực trạng xuống cấp thảm hại của giáo dục và đạo lý xã hội người ta mới càng thấm thía biết bao cái điều mà vị giáo sư khả kính từng cảm thấy bất an: “Chỉ mới hôm qua, trước ngày những người cộng sản tràn vào các nơi, truyền thống của cha ông ta là dạy học trò phải biết kính trọng Thầy mình, thương yêu và kính trọng Thầy còn hơn cả cha ruột. Cái vinh dự được giao phó là chăm lo đào tạo con người, sao cho được đơm hoa kết trái, đã là khuôn thước do tâm hồn và cách sống của các Thầy Cô. Họ có trách nhiệm với chính mình, với các học trò và cả xã hội. Điều đó đã nuôi dưỡng tâm tánh thuần khiết của Thầy Cô. Những sách dạy của tổ tiên về đạo đức con người được cả thế giới công nhận nay bị ném vào giàn lửa.

    Cái khác biệt cơ bản và sâu sắc giữa xã hội ngày xưa và xã hội ngày nay là mục tiêu của giáo dục đã thay đổi. Ngày xưa người ta tôn vinh con người và đạo đức. Ngày nay, chủ nghĩa cộng sản và cái chính trị quốc tế chủ nghĩa của nó thì được ca tụng bằng trời. Khi cái giá trị chính trị nó đánh bật cái giá trị trí thức và đạo đức, đó là cả một cuộc cách mạng, những thành viên của Đảng không nghi ngờ điều đó.”[9]

    “Văn hoá phương Tây sẽ kết án chủ nghĩa cộng sản là tạo ra những con người cháy bỏng với những cuồng tín về chính trị, chỉ biết theo chân của lãnh đạo, nhắm mắt bịt tai với những thực tế của thế giới, ngậm miệng không dám chỉ trích bất cứ chuyện gì. Thật đáng ngạc nhiên khi nhìn thấy một con người, được nhào nặn trong lò bánh của cộng sản, đã mất cả con người riêng, còn mất luôn cả nhân cách của mình, thay vào mình một con người chỉ biết động đậy theo những tín hiệu từ xa bấm nút bởi người khác. Cổ tích phương Tây kể chuyện một kẻ bán linh hồn cho quỷ dữ. Người cộng sản, được đào tạo trong lò văn hoá cộng sản, đã bán linh hồn cho Đảng.”[10]

    Thói quen luôn cúi đầu để tỏ vẻ sự tán thành, dùng hai bàn tay luôn để vỗ tay, mồm luôn mở chỉ để nói câu đồng ý, tất cả chỉ cho thấy sự tê liệt của lý trí, cái chết tiệt của trí thông minh, chặt bỏ những phản xạ của phê bình.”

    con người được đào tạo bởi nhà cầm quyền chỉ là một công cụ để thi hành những chính sách cầm quyền và không là gì khác hơn.”

    Một cán bộ lãnh đạo Đảng đã chỉ vào mặt Nguyễn Mạnh Tường mà răn dạy giữa một Hội trường: “Ông không biết những gì đang chờ đợi ông. Nhà nước cộng sản của chúng tôi chỉ chấp nhận duy nhất một thái độ sống của người trí thức. Họ phải nằm trong đường lối chính trị của cộng sản, biểu lộ lòng tin nơi Đảng, trung thành với Đảng, sống và suy nghĩ dưới sự chỉ đạo và theo cách mà lãnh đạo Đảng đã xếp đặt. Những ai đi chệch xa con đường này, trở thành kẻ xa lạ dị giáo, sẽ bị trừng phạt như những kẻ phản bội phản động. Đây là cơ hội chót để ông tự ăn năn hối cải về sự táo tợn và trơ trẽn của mình. Rán mà biết lấy nhé.”

    Ngày nay tham nhũng đã trở thành quốc nạn vô phương cứu chữa. Cách đây mấy thập niên, Nguyễn Mạnh Tường đã gay gắt cảnh báo: “những quan chức của Đảng, với những chữ ký sinh ra vàng, đã để cho mình bị tiêm nhiễm những con vi trùng của tiền của, để tự mình ngày càng chìm sâu trong vũng lầy của tội ác. Những kẻ thuộc quyền, được khuyến khích bởi sự bất bị quy trách của xếp mình, trở nên những kẻ đồng lõa, tập họp nhau thành băng thành nhóm. Thời sẽ đến khi mà Đảng vẫn còn tiếp diễn những ung nhọt như thế: họ sẽ không còn niềm tin yêu của nhân dân, niềm tin mà họ đã mất cả một thời gian dài mới có được.”

    Tham nhũng là muôn mặt, nhưng cái chính là trực tiếp hay gián tiếp ăn cắp tài sản Nhà nước, tham ô, làm và sử dụng những giấy tờ giả mạo, chiếm đoạt đất công, dùng tài sản công vào những chuyện riêng tư. Ngoài tính chất muôn mầu muôn vẻ của nạn tham nhũng ta còn có thể kể thêm là sức sinh sôi của loại dịch bệnh này là rất nhanh. Những lãnh đạo chóp bu đã làm gương rất xấu và chuyện họ không bị hình phạt nào chỉ khuyến khích cấp dưới bước chân vào

    con đường kiếm chác mà không sợ bị một rủi ro nào. Sớm hay muộn, sự vô đạo đức sẽ chiếm lĩnh xã hội trên bề mặt cũng như bề sâu. Chưa bao giờ ở bất cứ nước nào, ngay cả ở các nước tư bản, mà người ta thấy được một cảnh tượng kinh hoàng, một sự băng hoại vô cùng của đạo đức: toàn bộ guồng máy nhà nước ngập chìm trong sự mua chuộc. Đối với hàng công nhân viên hạng nhỏ cấp dưới, mức lương nhỏ bé là lý lẽ để biện minh cho tội tham nhũng của họ khuyến khích từ gương xấu của cấp trên của họ là những kẻ phạm tội nhưng không chịu bất cứ trừng phạt nào của pháp luật hay phải ra trước toà thông qua hệ thống kỷ luật của Đảng và họ tham nhũng để mưu cầu được mau thăng quan tiến chức. Sự vô đạo đức nó như một cơn thuỷ triều đen chồm lên tràn ngập tất cả mọi cơ phận. Những lương tâm run sợ bay biến khỏi vùng địa chấn, xa tắp khỏi tầng khí độc mà ngập trong đó là một nhà nước đang thối rửa và hấp hối, một nhà nước kết cấu bằng những con người mà quyền hạn là vô chừng và độc đoán đang nắm giữ.”

    cả nước bàng hoàng thất vọng và kinh hoàng trước tội ác của những đảng viên biến chất, nhiều quan chức cao cấp của Đảng và của Nhà nước đã hành xử như những băng đảng trộm cướp, đã nuốt nhiều tỉ đồng của công quỹ để thoả mãn ham muốn đê tiện của mình.”

    Ông đau đớn nhận ra mục tiêu Cách mạng tháng Tám bị đánh tráo và kịch liệt lên án sự chuyên quyền, độc đoán: “Trong cuộc cách mạng tháng Tám, toàn thể nhân dân cùng một lòng đứng dậy để giành lại tự do và độc lập. Nhân dân đặt niềm tin vào lời nói của lãnh đạo cộng sản là toàn những người với quá khứ vinh quang đầy hy sinh cho Tổ quốc. Nhưng sau đó, từng bước, nhân dân bị áp đặt dưới cái gọi là ‘dân chủ nhân dân’, rồi sau đó là chủ nghĩa xã hội. Chúng ta không còn tôn thờ Khổng Tử, trong khi vẫn gìn giữ những giá trị của đạo Khổng, chúng ta bị cải đạo sang tôn giáo Ba ngôi của chủ nghĩa Marx: Marx-Lenin-Stalin, với ba tấm hình được treo cao để ba ông được nhìn xuống đám thần dân! Từ lúc nào và ở đâu chúng tôi được hỏi ý về những ước ao và mong muốn của chúng tôi? Chuyện chẳng hề xảy ra. Đảng là con mắt nhìn mọi chuyện giùm chúng tôi, quyết định cho chúng tôi, rồi ra lệnh chúng tôi phải tuân theo quan điểm của Đảng mà họ cho rằng sẽ mang đến một tương lai huy hoàng và hạnh phúc.”

    “Đa nguyên là chấp nhận những ý kiến trái ngược, những sự thật không giống nhau và đó là ý nghĩa thực của một nền dân chủ. Những người cộng sản không chấp nhận chuyện đó. Họ bám chặt vào độc quyền chính trị, tự cho mình là kẻ duy nhất nắm mọi thước đo về bản chất của dân chủ. Đa nguyên trở thành bãi chiến trường nơi mà dân chủ và chủ nghĩa cộng sản tấn công lẫn nhau.”

    Nhà nước chỉ là bàn tay nối dài của Đảng và con người lãnh đạo Đảng chính là người đang nắm trọn quyền lực. Nhân dân không là gì hết, tiếng nói của họ đã bị bịt kín. Tất cả những bộ phận của Nhà nước là gồm những con người của Đảng hay những người toàn tâm toàn ý với Đảng; tất cả cái giống người này chỉ có cái lưỡi gỗ và cái lưng cong cúi luồn với chủ. Trong những điều kiện như thế, làm sao có được những tiếng nói dấy lên để đòi truất phế và thay những kẻ bạo quyền, hay ít ra là để đưa ra những đề nghị, những ý kiến để làm đứng lại cái xe đang lao mình với tốc độ kinh hoàng về phía hố sâu của sự xấu? Mọi chuyện được quyết định từ hậu cung của Đảng, nơi thần bí nhất của thiên cung, bao quanh bởi một vòng thành kín bưng như Vạn lý Trường thành bên Trung Quốc!”

    Chưa bao giờ trong lịch sử con người mà lưỡi tầm sét của Thần Zeus – tức cái búa của Thiên Lôi – cùng với cây gậy thần của Circé lại nằm cả trong tay của một người, làm thành một bộ máy thống trị và áp bức cực kỳ hoàn hảo, một bộ máy chuyên dùng khủng bố làm chất nhờn bôi trơn những trục máy!”

    Vốn là người cương trực, ông không chỉ nói khoáng đại giữa Hội nghị mà đã từng giãi bầy trực tiếp vào tai Chủ tịch nước Hồ Chí Minh trong buổi trò chuyện riêng giữa hai người sau Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ Thi đua họp ở Việt Bắc mùa xuân năm 1952: “Chế độ chuyên quyền tha hồ chủ quan, tự do duy ý chí và làm luật lệ lung tung, trái khoa học, trái lẽ phải, tác động tai hại đến uy tín của chính quyền và đến hạnh phúc của quần chúng, rất bất bình với bao hành động thiếu đạo đức và ngu dốt. Giải pháp duy nhất của sự khôn ngoan là mở rộng tai nghe, mở rộng cửa cho người thứ ba, cho tiếng nói từ ngoài vào, từ nhân dân đưa lên.”

    Cho đến nay Đảng bao trùm lên trên và nuốt chửng Nhà nước và không ít người nghĩ rằng Đảng lãnh đạo và cai trị vì lợi ích của Đảng hơn là vì lợi ích của nhân dân.”[11]

    Ông nói lên sự thật về hai tổ chức Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc một cách chua chát: “Hai tổ chức Quốc hội và Mặt trận khác nhau là ở chỗ Quốc hội gồm có những đại biểu được ‘bầu’ lên từ mọi vùng lãnh thổ trên toàn quốc, Mặt trận gồm những người được chọn lựa trong các đoàn thể quần chúng để tiêu biểu cho mọi ngành nghề xã hội hay khuynh hướng tôn giáo khác nhau. Nhưng cả hai đều gặp nhau trong cùng một thái độ vì Đảng, trong những lần đưa ra đưa ra ý kiến, đều đồng ý với Đảng trên bất cứ chuyện gì và bất cứ lúc nào, hoàn toàn không có một ý kiến khác hay ồn ào kháo chuyện. Toàn Quốc hội biểu quyết bằng cách đưa tay lên, Mặt trận biểu quyết bằng cách cúi đầu và buông thõng hai tay. Nhưng cả hai đều biểu hiện một sự nhất trí với lãnh đạo làm cho mặt lãnh đạo ngửa cao với nụ cười mãn nguyện. Đảng tự cho mình là người nắm sự thật và hai tổ chức kia chỉ có nhiệm vụ là phổ biến và tuyên truyền, mỗi tổ chức lo chuyện trong khu vực ảnh hưởng và trong vùng sinh hoạt của mình. Đó là hai cái nạng giúp Đảng tiến bước.[12]

    (Gần đây Quốc hội mới rón rén phản biện để Chính phủ tạm dừng kế hoạch xây dựng đường xe lửa cao tốc. Thực tế, mức độ hệ trọng của việc này rất không đáng kể so với chủ trương cho Trung Quốc vào khai thác bauxite ở Tây Nguyên; vấn đề xác định biên giới lãnh thổ, lãnh hải; vấn đề mở đường Hồ Chí Minh; vấn đề chọn đặt nhà máy lọc dầu đầu tiên ở Dung Quất… mà những hệ quả thiệt hại vô cùng lớn về kinh tế, chính trị, xã hội phát sinh từ đấy đáng đưa những người chịu trách nhiệm chính đối với những sai lầm ấy ra xử tử.)

    *

    Giãi bầy những tưởng niệm muộn mẳn đối với người trí thức lỗi lạc khả kính Nguyễn Mạnh Tường, chúng tôi muốn cùng độc giả soi xét để nêu câu hỏi: Nguyễn Mạnh Tường (và những người như kẻ viết bài này) đã nói câu gì không đúng? Đã làm việc gì sai pháp luật? Sao người ta nỡ / dám nhân danh Đảng đầy đọa hãm hại chúng tôi! Trù dập vợ, con chúng tôi! Uy hiếp, khủng bố bạn bè, thân thích của chúng tôi!

    Hãy thắp nhang cung kính tạ tội và thành khẩn tụng niệm những lời cảnh báo sau đây:

    Thay vì giáng búa rìu lên đầu người trí thức mà tội lỗi duy nhất của họ là yêu Tổ quốc và dân tộc, người cộng sản cần phải hiểu rằng kẻ thù của họ chính là họ chứ không ai khác. Kẻ thù của họ là ai? Là tính chủ quan, một cách quá mức, đã làm cho họ tưởng mình là thượng đế được phú cho sức mạnh siêu nhân không thể thất bại… Thật điên khùng khi họ tin rằng họ luôn luôn đúng, ngay cả những khi họ đã sai lầm rõ ràng!”

    Nếu cứ vướng mãi với những hành động dại dột, mất trí hay điên khùng, quý vị sẽ đưa dân tộc vào nghèo đói và đau khổ, tiếp tục làm những chuyện chuyên quyền, phạm luật và vô nhân đạo thì quý vị sẽ không thể tồn tại dài lâu! Ngay sau khi quý vị chết, nhân dân sẽ tiếp tục nguyền rủa, đào mồ và quăng cái xác thối của quý vị cho sài lang và diều hâu cắn xé! Tên tuổi của quý vị sẽ bị ‘tạc ghi’ trong lịch sử và sẽ bị khinh bỉ trong hàng trăm năm sau.”

    Về phía chúng tôi, dẫu sao chúng tôi cũng sẽ không bao giờ quên lưu giữ cái nhin thể tất và ưu ái của vị giáo sư bồ tát:

    Dù có ghét hay thương cộng sản, mình cũng phải công nhận rằng những người lãnh đạo nó đã phải chịu đoạ đầy vì lòng yêu nước của họ. Những thế hệ kế tiếp và những người nối nghiệp thì không thể tự hào là có cùng cái hào quang đó. Dẫu vậy, trong số những kẻ kế thừa vẫn có những người dù ít tài cán nhưng lòng trung chính vẫn đáng để chúng ta ngả mũ chào. Trong khi đó biết bao nhiêu kẻ khác không những đã chẳng có chút khả năng nào mà còn vô đạo đức nhưng hết mực núp vào Đảng vì Đảng đã gây dựng và bảo vệ quyền lợi cá nhân của họ.”

    Vấn đề còn lại được nêu lên là: “Chủ nghĩa anh hùng của các ông có làm cho các ông dám hy sinh Đảng của quý ông trên bàn thờ của Tổ quốc và Nhân dân? Đất nước và nhân dân Việt Nam đang chờ câu trả lời của các ông.[13]

    Hà Nội 14 tháng 7 năm 2010

    © 2010 Nguyễn Thanh Giang

    © 2010 talawas


    [1] Nguyễn Mạnh Tường, Kẻ bị vạ tuyệt thông, Paris 1991

    [2] Sđd.

    [3] Sđd.

    [4] Tạp chí Hồn Việt tháng 11 năm 2009

    [5] Nguyễn Mạnh Tường, Kẻ bị vạ tuyệt thông, sđd.

    [6] Bài thuyết trình tại Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam 30-10-1956

    [7] Bđd.

    [8] Bđd.

    [9] Sđd.

    [10] Bđd.

    [11] Tạp chí Xưa và Nay số 286, tháng 6 năm 2007

    [12] Bđd.

    [13] Sđd.

    Bình luận

    39 Comments (bài “Nguyễn Thanh Giang – Người trí thức bị ruồng bỏ”)

    1. Hạnh Đào viết:

      @ Trần Kinh Kha (ông đã gọi đích danh, đành phải trả lời). Ông đã hiểu sai ý của tôi (thực ra ý chúng ta không khác mấy). Tôi thấy không có gì để tranh luận.
      Trí thức, yêu nước, với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, trong thời thế biến động, bị lợi dụng, chọn lựa sai lầm là điều có thể xảy ra, có thể hiểu & thông cảm được. Tuy nhiên, có mấy người dũng cảm để thấy được sai lầm và trách nhiệm của bản thân, đã góp phần đưa cả dân tộc lên một chiếc tàu mà họ không hiểu rõ, tiến lên 1 con đường vô định, tới 1 mục tiêu không thực?

    2. Trần Kinh Kha viết:

      Hình như, tôi viết và phân tích mà có nhiều thành viên ở đây chưa hiểu (ở đây còn cô Hạnh Đào nữa, không biết trốn đâu mất rồi ?)

      Anh là tri thức, mà là tri thức ngành Luật, bằng xịn, tuổi trẻ tài cao, đi theo chế độ – sung sướng ban đầu – uất hận về sau, thì :

      Nguyên tắc : Kết quả hôm nay, là phản ánh những gì của quá khứ hôm qua.

      Từ đó suy ra : Ông Nguyễn Mạnh Tường, là một nhà tri thức, mà là một người tốt nghiệp ngành Luật – bị ruồng bỏ là do chính bản thân ông ta kém, thế thôi.

      Vì sao à ? Giải thích nhé :

      1. Đừng nhầm lẫn, giữa nhà trí thức (ngành Luật) và nhà chính trị.

      2. Bằng TS Luật của ông ta chỉ đáng gõ đầu trẻ trên giảng đường. Chứ không đáng tham gia chính trường. Ông Tường cũng đừng trách chế độ nhá vì chế độ là cuộc chơi chính trị, phải có thiên biến vạn hóa – ông học ngành Luật, phải thừa biết đó là điều quá hiển nhiên. Và ngoài ra, vì không có tiên đề nào, thực tiễn nào chứng minh Luật sư (hay trí thức ngành Luật) là có tư duy chính trị cả.

      3. Tư duy chính trị quá kém, hay không muốn nói là không có. Vậy mà cũng tham gia chính trị nữa mới ghê chứ. Thật ra ông ta háo danh chính trị mà thôi, chứ chả phải ngộ nhận gì cả đâu.

      4. Tư duy ngộ nhận mà lấy 2 bằng TS khi 20 tuổi lẻ sớm – vô lý, cực kỳ vô lý, vì những mẫu người tri thức thành công vượt mức như vậy, tư duy họ cực kỳ logic. Huống chi là tư duy người ngành Luật.

      Đơn giản là thế thôi.

      Do đó :

      1. Tôi không có gì để kính trọng về những gì ông Tường đã làm trong cuộc đời hoạt động chính trị của ông hay mảy may động lòng lời than thở hay gào thét của ông ta ở cuối đời.

      2. Và, ông ta không đáng được đặc ân được tha thứ hay đáng thương hoặc cảm thông gì cả (chí ít là từ tôi)

      3. Nhân nào thì quả nấy – háo danh thì danh phụ, tự mà trách mình đi ông Tường ạ.

      @ các bác Talawas này ngày càng đọc bài viết (topic) mà hơi dài thì đuối sức hay sao í, mà nhiều ý kiến phản hồi, tôi thấy buồn cười quá, mất hết tỉnh táo và sự sắc sảo rồi.

    3. Nguyễn Đăng Thường viết:

      Tôi đã tin rằng có máy chém phụp phụp ngày đêm dưới thời đô hộ vì năm học lớp ba lớp nhì trường tỉnh được đọc lén nhiều bài thơ Tố Hữu chép tay bằng mực tím in máy “thạch” (“xưng xa”) từ trong bưng mang ra chuyền tay nhau đọc.

      Xin trích dẫn một bài thơ tôi còn nhớ:

      HẦM NGƯỜI

      Bao nhiêu hy vọng xây ngày mới
      Với cả trời vui phủ địa cầu
      Tôi đã mang trong lòng phấn khởi
      Từ ngày chân bước xuống hầm sâu

      Nơi rộng thênh thang không giới hạn
      Cơ chừng xây trải mấy mươi năm
      Hồn tôi ôi đã theo hồn bạn
      Trông thấy xương khô trắng đất hầm

      Và bên hài cốt khô vàng ấy
      Nhô nhúc trời ơi một khối người
      Đang mãi cuốc bào kưa kéo đẩy
      Như nhau không biết một ngày vui

      Đây một thây rơi thành xác chết
      Hàng nghìn thây khác nối nhau rơi
      Ngổn ngang xương lạnh đầy ao huyết
      Giữa lúc tầng cao dội tiếng cười

      […..?]

      Tôi bỗng nghe trong bầu uất hận
      (Hơi trời không thể lọt vào đây)
      Sặc nồng khí lạnh rung hầm lặng
      […..]

      Và khối người kia bỗng đứng ngay
      Cùng giơ muôn cánh tay sừng sộ
      Sao chúng ta còn mãi ở đây
      Đời ta đâu phải đời trâu chó

      “Nào phá dô ta nào ta phá
      Dô ta cho mở cửa hầm sâu”
      Đó nghe không bạn hầm rên rỉ
      Bởi khối người kia đã ngẫng đầu

      Hổng biết cái ngục “Bát ti” (Bastille) này ở chỗ nào trong địa ngục thực đân?
      Đúng là nói láo như vẹm… Tố Hữu.
      Bạn nào có toàn bài làm ơn cho tôi xin nhé.
      Xin “méc xì bô cu” trước.

    4. Vo danh viết:

      Gửi Trung Nu Hoang
      “…Theo tôi, cho dù ông có những lầm lỡ trong việc đã chọn đi theo chế độ Miền Bắc, nhưng những tiếng kêu than uất nghẹn của ông về sau (trong tác phẩm: Un Excommunié) …thiển nghĩ cũng nên được xem là những lời “sám hối” rất chân thành của ông…”

      Thực ra, tôi nghĩ chẳng ai có thể oán trách ông ấy cả, cũng không ai trong chúng ta, cả người sống và người đã chết có thể phán xét ông ấy. Nếu có thì chỉ có một người, chính là Nguyễn Mạnh Tường. Khi tôi viết comment trả lời cho câu hỏi của tác giả PTG, cũng không có ý lên án ông ấy (NMT) mà chỉ đưa ra ý kiến bổ sung cho lập luận của tác giả PTG về NMT mà tôi cho là còn thiếu sót.

      Nếu đã có ai đọc Đắc Nhân Tâm (mà tôi nghĩ phần lớn đều có xem qua rồi), chắc có nhớ ví dụ ở phần đầu quyển. Tác giả Dale Carnegie có nói là trong suy nghĩ của một kẻ cướp giết người hàng loạt thì hắn vẫn là một anh hùng chính nghĩa. Tôi không có ý so sánh NMT với kẻ cướp, nhưng tôi cho rằng ý kiến của Dale Carnegie áp dụng được vào đây: Cho dù NMT tốt hay xấu, đúng hay sai, với cách viết của PTG thì ông ấy sẽ là một vị thánh sống, một vị thánh tử vì đạo. Điều này đúng hay sai thì tôi không biết, không muốn bàn, mà hơn hết là cũng không đủ tư cách để bàn.

      Trong tiếng Việt ta có câu “gieo nhân nào, gặt quả đấy”, trong tiếng Anh có câu “you reap what you have sown”, tôi nghĩ tất cả đều chỉ ra một quy luật chung của tự nhiên. Tôi, bạn, NMT, PTG tất cả đều không tránh khỏi sự bao quát của quy luật đó.

    5. Trần Văn Tích viết:

      Xin cám ơn quí vị Hoàng Trường Sa, Nguyễn Đăng Thường và Trần Lâm. Tôi đang cố gắng viết thành bài bản hẳn hoi về hiện tượng Nguyễn Mạnh Tường, thay vì chỉ gửi phản hồi. Hy vọng sẽ viết được và đưa được lên talawas. Riêng phần tiếng Đức ông Trần Lâm có nhã ý gửi cho thì xin Danke, tôi không đọc nổi. Mấy ngày nay nghe, đọc vụ Loveparade ở Duisburg đã ngán tiếng Đức đến tận cổ rồi; đã thế chiều nay lại phải nghe ca (vẫn bằng tiếng Đức!) về đủ thứ bệnh tật nữa, nên chịu hết nổi.

    6. Hoàng Trường Sa viết:

      Bác Trần Văn Tích thân mến,

      Vì giới hạn số chữ không thể viết dài được nên trong phản hồi trước đây, tôi chỉ trích ra một đoạn từ bài của bà Trần Thị Hồng Sương, nên chưa được đầy đủ. Trong đoạn trích sau đây, bà TTHS đã cho biết số người miền Nam bị Chính quyền VNCH “lê máy chém” để chém đầu theo tài liệu của ĐCSVN trên trang Web của chánh phủ:

      “ Trước đây, đọc bài viết dưới đây, tôi mất lòng tin khủng khiếp vào trí thức XHCN, cuộc chiến tranh ma mị khốn khổ làm chết 3,8 triệu người là hoàn toàn bằng luận chứng…dối trá.

      Nghe ông Triết nói “máu đổ đầu rơi” tôi rất suy nghĩ, e rằng ông Triết “ngây thơ nguy hiểm” khi tin các bài viết hoàn toàn dối trá mà ông còn cho lưu hành trong trang Web của chánh phủ hiện nay như sau :

      Theo luật 10-59, ban hành ngày 6 tháng 5 năm 1959 thành lập các “tòa án quân sự đặc biệt”, tội xử chỉ có hai mức: tử hình và khổ sai chung thân. Xét xử chỉ được phép kéo dài tối đa 3 ngày, không có giảm khinh, không có kháng cáo, bản án thi hành ngay….Không kể đối với “cộng sản đã ngoài vòng pháp luật”, tức không cần xét xử, luật này giành cho tất cả mọi người được quy là “phá rối trị an”. Không lúc nào máy chém thịnh hành hơn lúc này. Máy chém của Diệm lê về tận xã ấp. Máy chém đặt giữa các chợ Trung Hòa, Tân An Hội (Củ Chi), kèm theo lời đe dọa của chính quyền Diệm: “Ai liên quan đến cộng sản sẽ mất đầu”. Cái máy chém trở thành biểu tượng của chế độ DiệmTên quận trưởng Bình khét tiếng tàn ác, đã chỉ huy mổ bụng, moi gan trên 280 người. Đồng Găng, Mít nài, Cây Sộp (xã Tân An Hội), Gót Chàng, Cổ Cò, Gò Nổi (An Nhơn Tây)…. đã chứng kiến không biết bao nhiêu vụ chặt đầu, mổ bụng chiến sĩ và đồng bào. Cho đến năm 1959, ở Củ Chi đã có 500 người bị moi gan mổ bụng, 600 người bị dồn vào bao bố cột đá dìm xuống sông, 150 người bị buộc vào sau xe ôtô kéo trên đường đá… Toàn bộ số cán bộ ở Củ Chi bị bắt, bị giết lên đến 75% “Có những vụ hành hình gây nên làn sóng đấu tranh mãnh kiệt, như vụ mổ bụng anh Từ Văn Sến đã gây nên một cuộc biểu tình, đơn tố cáo lên quận rồi lên tỉnh trưởng Bình Dương. Tiếp đó địch mổ bụng anh Trương Văn Ba ở Phú Hòa Đông. Đồng bào mang xác anh Ba lên thẳng tỉnh Bình Dương để tố cáo. Tỉnh trưởng lánh mặt, binh sĩ ra mở cửa, đồng bào khiêng xác anh Ba vào. Tên tỉnh trưởng buộc phải ra nhận bồi thường và đổi bọn ác ôn đi nơi khác.(HCM CityWeb đang lưu hành ! )

      Hoàn toàn dối trá ! sao ông Triết cả tin cho lưu hành bài viết này trong trang Web thành phố HCM nơi ông từng làm bí thư ! Hèn chi , ông luôn bị ám ảnh cảnh “máu đổ đầu rơi” !

      Chưa từng có quận trưởng Bình nào mổ bụng moi gan 280 người !

      Nếu có ông Bình thật phải đưa vào “lịch sử thảm sát” giống như chuyện Mỹ Lai !

      Ông Tướng Loan bắn có một đặc công thật đã bị …mất chức !

      Chưa từng có bức hình nào về 150 người bị buộc vào sau xe ôtô kéo trên đường đá. Trái lại hình ảnh ghi lại cảnh chôn sống trong CCRĐ có rất nhiều. Chuyện cắt nghĩa xuyên tạc vô lý như vầy, thì lười suy nghĩ mới tin . Lẻ nào chủ tịch nước VN lười suy nghĩ khiến CS tha hồ nói dối như …Bác Ba Phi ! Lịch sử hôm nay phải nhọc nhằn đính chánh giải trừ ngộ nhận .

      …..

      Thật hoang đường khi có thể đếm kỷ và toàn là con số chẳn tròn vo 280, 500, 600, 150 …! Là chuyện Lê Văn Tám, hư cấu hoàn toàn, được lồng vào địa danh thật đâu đó là lập tức thành sự thật. Thống kê mới đây cho thấy dân VN do dốt nên …dễ tin vào tuyên truyền nhất thế giới !3- Về các vụ đấu tranh cho nạn nhân Từ văn Sến và Trương văn Ba không ngày tháng, làm sao kiểm chứng ?

      Một ngàn hai trăm năm mươi vụ khác không có phản ứng nào của dân chúng sao ? Bình Dương và Vĩnh Long là quê hương của ông Nguyễn Minh Triết và ông Võ văn Kiệt. Chính thức nhất là tài liệu “bia căm thù”. Tôi tỉ mẫn đọc các “bia căm thù” thời chống Mỹ của CSVN, truy tìm về 2 xã trùng tên Xã Tân An Hội-Củ Chi và Tân An Hội-Mang Thít-Vĩnh Long. Chỉ ở Tân An Hội Vĩnh Long có Văn bia được gọi theo CSVN là “bia căm thù” dựng lên ngay tuyến đường chính đến trung tâm huyện đặt tại xã Tân An Hội ghi nhớ hàng trăm con người đã nằm xuống do bom đạn của đế quốc Mỹ. Máu có đổ, nhưng đâu theo cách “đầu rơi moi gan mổ bụng” ! Máy chém chưa đủ ghê, nên vẻ thêm chuyện moi gan mổ bụng !
      …..

      Viết bài kiểu trời ơi đất hởi, ông Triết và đảng viên đảng CS cần chịu khó kiểm tra lại chứ ?” (Trần Thị Hồng Sương)

      Thân kính.

    7. Tôn Văn viết:

      TRÍ THỨC và BỒ-TÁT

      Cảm ơn ông Phùng Tường Vân đã lưu tâm đọc một số ý kiến phản hồi của tôi. Việc ông đọc lại bài chủ để chỉnh lại ý kiến chứng tỏ sự cẩn trọng đáng ca ngợi. Vậy xin tiếp một số điều giải thích cho phản hồi ngắn trước đây của tôi.

      1
      Qua bài viết của ông Nguyễn Thanh Giang mà tôi có được thông tin rút gọn về Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Tường. Tôi chỉ chia sẻ trên tinh thần những thông tin đó. Có thể do hoàn cảnh khi viết, các nguồn dẫn của bài chủ đã không thể nối kết truy cập; Tôi tin nhiều vào sự chân thực của thông tin, nhưng cũng đã kiểm chứng qua các nguồn có được trên internet.

      2
      Khác với tác giả Nguyễn Thanh Giang dùng cụm từ “Giáo sư Bồ-Tát”, tôi dùng “Trí thức Bồ-Tát” để muốn ca ngợi phẩm chất “tài hoa”; đồng thời cũng ngụ ý muốn phân biệt giữa “người trí thức” và “nhà chính trị”: Trí thức lấy chân lý làm mục tiêu, chính trị gia lấy lập trường, quyền lợi nhóm-đảng làm cơ sở. Trí thức, như Nguyễn Bỉnh Khiêm, khi tham chính có thể vạch mặt bọn lộng thần và giữ vững lập trường để ra đi: từ quan; nhưng hoạt động tri-thức thì luôn tiếp nối để khi cần thì có ý kiến đúng đắn giúp đời. Nguyễn Mạnh Tường luôn tư duy và phát biểu theo tinh thần tri-thức.

      3
      Ông Nguyễn Thanh Giang không nói nhiều về ý nghĩa “bồ-tát” mà ông dùng, nhưng ngay sau đó là câu trích “Dù có ghét hay thương…” thì cũng biết hàm nghĩa của nó là “vị tha, không phân biệt”.
      Muốn nhớ ý nghĩa „Bồ-Tát“ cho đủ thì đọc lại “Bát-nhã Ba-la Mật-đa Tâm-kinh” (rất dễ thuộc) hoặc riêng một đoạn:
      Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa, y bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô khuể ngại, vô khuể ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh nát bàn.
      Trần Trọng Kim dịch:
      Vì không có cái sở đắc, Bồ Tát theo bát nhã ba la mật đa, lòng không vướng víu chướng ngại; Vì không vướng víu chướng ngại, cho nên không sợ hãi, xa lìa những điều điên đảo mộng tưởng, cứu cánh là nát bàn.

      4
      Muốn rõ ý nghĩa „Bồ-Tát“, cũng nên xét thêm “Bồ-Tát nghịch hạnh” (trích): Bồ tát đập phá để xây dựng, còn ma vương đập phá để hủy diệt… Nếu vị Tỳ Kheo nào dùng nghịch hạnh phá hủy giới cấm thì hãy tự biết mình chưa phải Bồ tát, mà đã được cấp bằng khen danh dự bởi ma vương.
      Tinh thần trí thức chân chính (hướng thiện và hướng thượng) thật phù hợp tinh thần Bồ-Tát đạo! Nếu lấy việc bảo tồn toàn vẹn Quốc gia như điều kiện tiên quyết (tối thượng), lấy sự hòa hợp và cố kết Dân tộc như chỉ dấu của tính “thiện” thì bất cứ người nào làm yếu, chống lại hay phá hoại đều đáng phê phán và lên án!

      Trân trọng.

    8. Trung Nu Hoang viết:

      Tôi thực lòng cảm phục nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường, không phải vì ông đỗ 2 bằng Tiến Sĩ Luật học và Văn chương của Pháp vào năm 22 tuổi, cũng chẳng phải vì ông được ..””hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Paris 7 coi trọng:…“Đã sáu mươi năm qua, trên đất Pháp này chưa có sinh viên Pháp hay sinh viên quốc tế nào phá được kỷ lục: đạt hai bằng tiến sĩ quốc gia Pháp ở tuổi 22.” hoặc ông đã được Hồ Chí Minh trân trọng gọi bằng “ngài”.

      Tôi thực lòng cảm phục ông, trước hết do ông đã dám từ bỏ nếp sống giàu sang, quyền quý của một Luật sư, để theo kháng chiến chống Pháp, vào lúc Pháp đem quân tái chiếm Việt Nam để rắp tâm áp đặt chế độ thuộc địa như trước. Chỉ vào lúc bị sa lầy, Pháp mới đem chiêu bài ngăn chặn Cộng sản khỏi tràn qua các nước ĐNA trước sự bành trướng của Trung Cộng, sau khi TC chiếm TH lục địa vào năm 1949 và để được Mỹ chi viện, hỗ trợ cho cuộc chiến xâm lăng “chính hiệu” này.
      Tôi thực lòng cảm phục ông, một khi đã thấy rõ bộ mặt thật của chế độ CS, sau Cải cách Ruộng đất – bằng lý luận và sự nhạy bén của mình, ông đã dự đoán được những đổ vỡ về xã hội, đạo lý sẽ xảy ra cho đất nước dưới chế độ độc tài, đảng trị (mà thoạt đầu ông chưa nhìn thấy vì nó chưa hề biểu lộ). Một khi nhận thức được những sai lầm của chế độ, ông đã rất dũng cảm phê phán mạnh mẽ bằng những phương tiện ông có trong tay (diễn đàn MTTQ, tiếp xúc với HCM…) dù hẳn ông cũng biết rõ với những phê phán “thẳng thắn” như thế, ông sẽ bị truy bức, đọa đày… gieo vạ lây cho cả gia đình (tôi không rõ ngoài bà vợ, ông còn có con không, mấy con – độc giả nào biết xin chỉ cho).
      Sống trong xã hội Miền Bắc nhiều năm, từng là Hiệu trưởng trường Luật ở Hà Nội, hẳn ông cũng nghe nói đến những biện pháp “chuyên chính” ghê rợn của chế độ CS đối với những thành phần “phản động”!
      Những dự đoán của ông về viễn ảnh của xã hội này (tham nhũng, áp bức, suy đồi đạo lý trong gia đình xã hội, trường học..) từ những năm cuối của thập niên 50, và đầu của thập niên 60 của ông sao mà đúng thế !
      Theo tôi, cho dù ông có những lầm lỡ trong việc đã chọn đi theo chế độ Miền Bắc, nhưng những tiếng kêu than uất nghẹn của ông về sau (trong tác phẩm: Un Excommunié) …thiển nghĩ cũng nên được xem là những lời “sám hối” rất chân thành của ông. Ngoài ra, những giọt nước mắt của vợ ông cũng đáng được xem là cái “quả” mà gia đình, người thân thích của ông đã phải gánh chịu do sự nhầm lẫn chọn lựa này. Theo tôi, lỗi không ở lòng nhiệt thành yêu nước của ông, cũng không ở sự chọn lựa do “số phận” quái ác vào một giai đoạn lịch sử éo le của đất nước đưa đẩy, mà ở những kẻ đã lợi dụng ông cho tham vọng đen tối của họ thay vì cho lý tưởng ban đầu vì độc lập, tự do và hạnh phúc của dân tộc. Những nhà trí thức trong trắng phần lớn thường “ngây thơ” về chính trị, dễ tin tưởng ở những lý thuyết xem có vẻ cao xa và thường dễ bị những nhà chính trị lão luyện giỏi đóng kịch (tầm cỡ quốc tế như HCM) lợi dụng.
      Tôi không tán đồng việc gọi ông là vị “bồ tát” như có một số người đã gọi, vì theo tôi nghĩ , Bồ tát luôn luôn hành sự rất “tự chủ” (tự tại vô ngại), chẳng bao giờ để cho ai lôi kéo được và có sự chọn lựa lầm lỗi, bởi Trí Tuệ siêu việt và “dung thông tam tế”. Nhưng theo tôi, có thể xem ông là một trí thức “trong sáng, nhiệt thành yêu nước và dũng cảm đối đầu với sự giả trá, tiêu cực”. Ông xứng đáng là một “sĩ phu Bắc hà” vậy!

    9. Hồ Phú Bông viết:

      Ghé ngang và đọc (ngược) hết các phản hồi tôi đâm ra lấn cấn về 2 chữ “trí thức”! Người có học vị thường được gọi là “thành phần trí thức”, như vậy ông Hồ Chí Minh có là trí thức không?

      Từ đó tôi chỉ muốn dùng 2 chữ luật sư, thay vì trí thức (hay Bồ tát gì đó), Nguyễn Mạnh Tường! Nhất thời tôi cũng chưa lục tìm ngữ nghĩa 2 chữ “trí thức” nhưng, tôi bàn ngang, trí thức phải là người hiểu biết và biết nhìn xa trông rộng! Với 2 chữ “hiểu biết” thì 2 chữ “luật sư” hoặc 2 bằng tiến sĩ tự nó đã rõ nghĩa. Còn “nhìn xa trông rộng”, trong trường hợp luật sư Nguyễn Mạnh Tường, thì phải xét lại!

      Ông gặp nạn khi tưởng những lời “xin lỗi” và những giọt nước mắt của ông Hồ (tôi nghe kể lại thôi!) sau vụ Cải cách Ruộng đất là thật tình! Cho nên sau đó ông mới được dạy dỗ: “Một cán bộ lãnh đạo Đảng đã chỉ vào mặt Nguyễn Mạnh Tường mà răn dạy giữa một Hội trường”(trích bài viết)

      Tục ngữ có câu “Thà làm đầy tớ đứa khôn còn hơn làm thầy đứa dại”! Như vậy thì luật sư Nguyễn Mạnh Tường rơi vào trường hợp nào? Cho tôi khều thêm ở đây là: Thế mà hôm nay cũng có người đòi nối gót luật sư Nguyễn Mạnh Tường để làm trí thức!

    10. Trần Lâm viết:

      Trần Văn Tích viết:

      “Người trí thức (?) Nguyễn Mạnh Tường đã tố cáo miền Nam như sau:

      1) lê máy chém nhằm “chém đầu những người con yêu nước đang đấu tranh để thống nhất Tổ Quốc, để khủng bố dân lành và để trấn áp lòng yêu nước của họ.” Độc giả nào biết tài liệu nào – kể cả tài liệu của cộng sản – thống kê được bao nhiêu người tại miền Nam bị rơi đầu dưới máy chém thì xin vui lòng cho biết.”

      ————-

      Xem:

      1/ William Duiker, Ho Chi Minh: A Life (New York: Hyperion, 2000), p. 510.

      https://docs.google.com/document/pub?id=1tjewmCHsu4FHbS8fBuWsucwsuVIz3LwqFgfgBPkLdrE

      2/ Xem thêm:

      David W.P. Elliott, The Vietnamese War: Revolution and Social Change in the Mekong Delta 1930-1975, Volume 1 (New York: M.E Sharpe, 2003), p. 198.

      https://docs.google.com/document/pub?id=1EOeW_enKBqtrocv3rDftU9tpqXqVroKhv3eRrdaO4JY

      3/ Xin nhấn mạnh để tránh mọi “hiểu lầm”: Vì có vài sử liệu(hạng 2)nói về máy chém trong tay, nên tôi đưa chúng lên mạng theo lời yêu cầu của BS Tích, chứ tôi hoàn toàn không có khả năng để lượng định mức khả tín của những sử liệu này. (Hai tác giả nói trên là hai sử gia có rất nhiều uy tín trong giới Việt Nam học Hoa Kỳ, nhưng một số người Việt có thể cho họ là thân Cộng).

      Ngoài ra, tôi không nghĩ rằng người CS có tư cách để lên án chế độ Ngô Đình Diệm về việc xài máy chém, nếu chính họ cũng áp dụng những phương pháp hành hình không kém dã man. David Elliot cho biết Việt Cộng đã dùng đao [machetes] để hành quyết đối phương. Xem trang 261 trong cuốn sách nói trên:

      https://docs.google.com/document/pub?id=1RATql0xMBpOcLHrNPtOv_ygbgxA0cRDUSpjZZ5JsewU

    11. Hoàng Trường Sa viết:

      Với những người trí thức như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang v.v… cá nhân tôi luôn luôn có sự cảm thông và thương tiếc cho thân phận của họ. Họ là những người yêu nước, học nhiều biết rộng, có chuyên môn cao, nhưng vào thời đại của họ trong những năm 1945, 1946, như tuyệt đại đa số nhân dân VN, họ đã NGÂY THƠ về mặt chính trị và đã bị “kụ” Hồ lường gạt trắng tay một cách dễ dàng.

      Bây giờ nhìn lại, đôi lúc tôi cũng phải cúi đầu “bái phục” “kụ” Hồ về cái môn võ Hấp tinh Đại pháp của “kụ” như trong truyện chưởng của Kim Dung. Thuở đó, nội lực “kụ” Hồ không có gì nhiều ngoài cái bản lãnh lợi dụng người khác qua chiêu bài “đánh Pháp giành độc lập”. Cán bộ cốt cán của “kụ” thì đa số là dân i-tờ-rít chữ nghĩa không chứa đầy cái lá đa, nên “kụ” cần MƯỢN uy tín của các nhân vật được toàn dân kính nể như uy tín của ông TRÍ THỨC Nguyễn Mạnh Tường hoặc uy tín HOÀNG ĐẾ của cựu hoàng Bảo Đại. Cho nên “kụ” đã thoải mái kính cẩn gọi hai vị này là NGÀI. Ông NMT chắc là sung sướng hả hê vì được “Bác” chiếu cố ngưỡng mộ, kính nể gọi mình là ngài này ngài nọ, nên đã tin tưởng hết lòng phục vụ “kụ” Hồ và cách mạng. Nhưng than ôi, sau khi đã đạt được quyền lực, nắm trọn trong tay quyền sinh sát toàn dân miền Bắc, “kụ” Hồ đã nhanh chóng vứt bỏ “ngài” Nguyễn Mạnh Tường, như người ta đã liệng vỏ trái chanh đã vắt sạch nước, và bình thản nhìn “ngài” trí thức NMT đói meo, đói mốc, trơ xương “gặm mối căm hờn củi sắt” (thơ Thế Lữ).

      Nghĩ cũng buồn cho ông Nguyễn Mạnh Tường. Bao nhiêu tài năng, ước vọng cao xa, nhưng cuối đời nhìn lại, sự đóng góp của ông cho quê hương đất nước là gì, ngoài một số tác phẩm nhỏ nhoi ông may mắn sáng tác được trước khi theo “kụ” Hồ, còn sau đó thì đóng góp LỚN NHẤT của ông chỉ đơn giản là vai con “cu mồi” mà “Bác” và đảng đã dùng để dụ khị những trí thức khác có tầm cỡ thấp hơn ông. Cái giá ông phải trả là những tháng ngày cô đơn, đói khát, bị bạn bè xa lánh, xã hội ruồng bỏ. Buồn hơn nữa là từ đây và vĩnh viễn về sau (ngoại trừ ĐCSVN bị giải thể và xóa sổ, không còn tự tung tự tác nữa) tên tuổi ông sẽ được đem ra để đóng tiếp vai trò “cu mồi” của một trí thức vĩ đại đã trọn đời theo đảng phục vụ nhân dân, Tổ quốc! Rồi còn những lễ lộc kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông (như kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà yêu nước vĩ đại Đỗ Mười v.v…).

      Theo tôi, những lời ca tụng phù phiếm mà ĐCSVN sẽ tô điểm cho ông là giả trá vô liêm sỉ, vì nó có tính lợi dụng ông từ lúc sống đến khi chết. Nó hoàn toàn thiếu ngay thẳng và thành thật với ông. Sự kính trọng THỰC SỰ đối với ông Nguyễn Mạnh Tường, theo tôi, là việc ghi chép lại TRUNG THỰC về cuộc đời và sự nghiệp của ông, những thành tích học tập thời thanh niên, những đóng góp THỰC lúc thành tài, và những OAN UỔNG THỰC mà ông và gia đình phải gánh chịu do sự đối xử bất công, phản bội, độc ác của “kụ” Hồ và ĐCSVN trong trọn cuộc đời còn lại của ông.

    12. Trần Kinh Kha viết:

      1. “Đồng ý với Nguyễn Việt Thanh. Điều mà đa số những người trí thức vỡ mộng CNCS như Nguyễn Mạnh Tường đều cho rằng họ không sai lầm khi chọn ĐCS làm phương tiện để đấu tranh, chỉ là con đường của Đảng đã rẽ hướng khỏi lợi ích của dân tộc”

      – Một cách ngụy biện khéo léo theo trường phái trường chính trị của Việt Nam đào tạo. Là một LS, và lấy bằng TS khi mới hơn 20t lẻ sớm thì một điều căn bản của bất kỳ giáo trình Luật được giảng dạy ở bất kỳ quốc gia nào có trường Luật đều ghi rõ : Bản chất của Nhà nước là Luật pháp, bản chất của Luật pháp là Nhà nước

      – Do đó, giành được Nhà nước hay xây dựng Nhà nước là bản chất cuộc đấu tranh của dân tộc đó, chứ không hiện sinh do một chủ nghĩa nào quyết định.

      2. “Chính vì họ không sai, nên con đường của Đảng cũng không sai mà chỉ là “chệch hướng”, đúng hơn, vì 1 số cá nhân đã đã đi sai đường, đặt quyền lợi cá nhân trên quyền lợi của Đảng, làm “hỏng” uy tín Đảng.”

      – Khi đã dùng từ Đảng, tức một Đảng phái nào đó, nhưng Đảng phái này là một tổ chức những con người mang tư tưởng và hành động chính trị (có những Đảng cũng là tổ chức những con người nhưng không mang tư tưởng và hành động chính trị, ví dụ : Đảng Sexy tại Úc) thì điều đầu tiên là phải có Cương Lĩnh. Bất kỳ cương lĩnh nào của bất kỳ Đảng phái chính trị nào cũng phải quy định hai vấn đề chính yếu : cương lĩnh về đường lối và cương lĩnh về con người.

      – Do đó, sai là sai, chứ không thể lấp liếm là: “không sai”, “lệch hướng”, “vì một số cá nhân” …

      3. “Một số, cho là họ chỉ là những trí thức yêu nước ngây thơ, không có chọn lựa trong 1 giai đoạn lịch sử nhiều biến động.”

      – Khi con người ở trạng thái yêu nước và có tư tưởng, hành vi thể hiện sự yêu nước thì họ không phải là ngây thơ. Và đối với một người như Nguyễn Mạnh Tường thì càng không có sự ngây thơ. (Không lẽ một người như Lê Công Định, với những sự kiện của anh ta và bị bỏ tù là vì … ngây thơ à)

      – Vậy, có thể là ông Nguyễn Mạnh Tường ngộ nhận? Càng không thể. Nếu có (ngộ nhận) cũng không thể tha thứ, vì ông ta lấy bằng LS của Pháp. Ông thừa hiểu cách mạng Pháp là cuộc cách mạng Tư Sản. Do giai cấp chủ trì và hành động thành công. Sự thành công đó, tuyệt nhiên không có 1 dòng chữ nào nói đến Đảng phái hay chủ nghĩa nào cả.

      4. “Đây không chì là việc thiếu dũng khí & trung thực để nhận sai lầm của họ & mà còn né tránh trách nhiệm. Vì điều này, không ít người hy vọng góp ý, góp sức để Đảng quay về với con đường chính đạo.”

      – Mệnh đề bằng 2 câu phân biệt bằng dấu (.) hoàn toàn mâu thuẫn và tối nghĩa do tác giả ngụy biện bế tắc dẫn người đọc yếu bóng vía đi đến lòng vòng

      – Bản chất Đảng Cộng Sản dùng bạo lực cách mạng để đấu tranh nhằm tạo ra một nền chuyên chính vô sản. Chứ không tạo ra một xã hội quốc thái dân an, do đó : cuộc đấu tranh không mang lợi ích cho nhân dân mà chỉ núp bóng lợi ích nhân nhân để thực thi một 1 nền tảng nào đó (ở đây là chuyên chính vô sản) mà nền tảng này phản ánh bản chất của Đảng chứ không phải của Đất nước và Nhân dân thì : Đảng – tự thân nó làm gì có chính đạo mà quay về ?

      5. “Đảng CS chưa hề đi chệch hướng (dù rằng qua mỗi giai đoạn, thời kỳ, họ giương những lá cờ khác nhau). Điều này cương lĩnh của Đảng từ lúc thành lập (1930) đã rõ ràng, khó mà biện hộ là Đảng đã “lừa” những nhà trí thức.”

      – Quay lại điều 2 và mở rộng : Không có bất kỳ cương lĩnh Đảng nào cho phép Đảng giương những ngọn cờ khác nhau, ở những thời kỳ khác nhau. Nếu là vậy, thì nó không còn là Cương Lĩnh vì không đảm bảo tính nhất quán mà trở thành một bản thỏa thuận mang tính chất hợp đồng không hơn không kém.

      – Chữ nào, dòng số mấy của Cương Lĩnh 1930 cho phép điều đó ? Hãy chứng minh hoặc trích đoạn ?

      6. “Luôn khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Điều này không những phủ nhận hết công lao, đóng góp của các đảng phái khác, còn dọn đường cho điều 4 hiến pháp sau này.”

      – Mâu thuẫn với điều 4 nêu trên. Vậy Đảng làm gì có chính đạo như tác giả đã viết ?

      7. “Từ đầu, ĐCS đã đặt quyền lợi của ĐCS lên trên quốc gia & dân tộc, và đấu tranh bạo lực là con đường duy nhất để làm cách mạng dân tộc. Sau cách mạng dân tộc là đấu tranh giai cấp”

      – Một sự che giấu và trắng trợn biện minh cho Đảng Cộng Sản và các học thuyết, minh chứng về các cuộc cách mạng khác.

      – Bất kỳ cuộc cách mạng nào nổ ra, mà tiền đề từ Anh, Pháp đều bắt đầu từ đấu tranh giai cấp. Chính mâu thuẫn giai cấp mới dẫn đến đấu tranh và cách mạng. Nhưng khi cuộc đấu tranh giai cấp nổ ra, người ta đã xác định rất rõ từ đầu : đấu tranh từ giai cấp vì lợi ích dân tộc.

      – Không có chuyện đảo lộn kiểu Hạnh Đào viết, và Đảng Cộng Sản cũng thế trong thực tế cũng thế. Nhưng cách viết của tác giả, nhằm vuốt ve người đọc, đảo lộn Đảng Cộng Sản đấu tranh vì dân tộc trước (nghe cho nó vì đại nghĩa), sau đó mới đến giai cấp.

      Do đó, tôi – Trần Kinh Kha, thành viên trong talawas này chính thức gởi lời nhắn nhủ đến tác giả Hạnh Đào : Nếu học trường chính trị Việt Nam được đào tạo chưa thông, thì hãy về học lại cho vững học thuật.

    13. Hoàng Trường Sa viết:

      “Người trí thức (?) Nguyễn Mạnh Tường đã tố cáo miền Nam như sau:
      1) lê máy chém nhằm “chém đầu những người con yêu nước đang đấu tranh để thống nhất Tổ Quốc, để khủng bố dân lành và để trấn áp lòng yêu nước của họ.” Độc giả nào biết tài liệu nào – kể cả tài liệu của cộng sản – thống kê được bao nhiêu người tại miền Nam bị rơi đầu dưới máy chém thì xin vui lòng cho biết.”
      (Trần Văn Tích)

      Cái trò ĐCSVN từ trước đến nay ra rả tố cáo miền Nam “lê máy chém” chém đầu người dân lành là một trò BỊA ĐẶT vô cùng dối trá đáng khinh bỉ của bộ máy tuyên truyền của đảng. Nhưng nó cũng đã lường gạt được nhiều người trong đó phải kể luôn ông Nguyễn Mạnh Tường qua ý kiến nêu trên của bác Tích.

      Đã bao nhiêu người tại miền Nam bị rơi đầu dưới máy chém? Xin thưa là chỉ có ĐỘC NHẤT MỘT NGƯỜI đã bị chết chém dưới cái máy chém “tàn ác” của miền Nam. Đó là tướng Ba Cụt Lê Quang Vinh bị chế độ Ngô Đình Diệm xử tử hình vào năm 1956.

      Dưới đây là đoạn trích từ bài Mở nút thắt “quá khứ” để có thể bắt đầu hòa giải của bà Trần Thị Hồng Sương, một Dược sĩ thời VNCH hiện còn sống trong nước:

      “6- Khi nói dối thì không thể có khớp nối kết, trong bài viết về khám Chí Hoà, cũng trí thức XHCN của CSVN ta viết :

      Chiếc máy chém này có từ thời Pháp được chuyển từ khám Catina sang, do tên đội Phước phụ trách. Theo tài liệu cũ để lại, người cuối cùng chết với chiếc máy chém này là Ba Cụt, tức Nguyễn Văn Vinh, tướng Cao Đài, bị Ngô Đình Diệm giết. Ngày trước, hàng năm vào ngày rằm tháng bảy âm lịch, bọn quản đốc nhà giam tổ chức cúng chiếc máy chém này. Nhiều tù nhân cũng đến thắp hương, lễ bái.

      Hai chi tiết sai : Ba Cụt tức Lê Quang Vinh và là Trung tướng Hoà Hảo (tự phong) không phải Cao Đài .Vậy 1959 làm gì có dùng máy chém lê đi khắp nơi ?

      Ba Cụt bị bắt, ngày 24/4/1956. Tòa Đại Hình xử sơ thẩm vụ Ba Cụt mở tại Cần Thơ ngày 11/6/1956. Gia đình Ba Cụt đã thuê hai luật sư danh tiếng để biện hộ cho Ba Cụt là Luật Sư Vương Quang Nhường, Thủ Lãnh Luật Sư Đoàn Sài Gòn, và Luật sư Lê Ngọc Chấn, lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ngày 26/6/1956 Tọa Thượng Thẩm Đại Hình tại Cần Thơ đã họp để tái thẩm do có kháng án của Ba Cụt. Phiên Tòa kéo dài trong hai ngày xử các tội giết quân nhân VNCH, giết người cướp tài sản các nạn nhân có mặt tại toà tố cáo. Ngày 4/7/1956, chuyển qua Tòa Án Quân Sự tiếp tục xét xử tội phiến loạn vũ trang chống chánh phủ . Tòa tuyên án tử hình Ba Cụt, tước đoạt binh quyền và tịch thu tài sản.

      Ba Cụt 32 tuổi, bị hành quyết tại nghĩa trang ở đường Hòa Bình, Cần Thơ, vào lúc 5 giờ 45 phút sáng ngày 13/7/1956, bằng cách chém đầu.Ba Cụt vừa nhận tài trợ tiếp tế vũ khí của Pháp nhưng cũng đánh Pháp, đánh Việt Minh giết cả VNCH theo kiểu “sứ quân, anh hùng Lương sơn Bạc” không theo kỷ cương nào thành ra nguy hiểm cho mọi phía.

      Bản án tử hình được chánh phủ Nguyễn Khánh bãi bỏ. Vợ Ba Cụt là Bà Hoa tự Phấn sau đó là dân biểu quốc hội VNCH. Sau 1975 bị đi cải tạo và giam giử cùng với ông Lê Quang Liêm thủ lĩnh Hoà Hảo. Bà Hoa hiện đang định cư ở Bỉ. Bà vừa sang Mỹ ra tuyên bố 11.2007 ủng hộ ông Lê Quang Liêm- Hòa Hảo và Phật giáo là cánh Thầy Thích Quảng Độ .7-Cũng nói về máy chém, tỉnh Tiền Giang viết khác :

      Ngày 6-5-1959, Diệm cho ban hành luật phát xít 10/59, đưa máy chém đi khắp nơi giết người không cần xét xử để khủng bố những người yêu nước. Tháng 5-1959, ngụy quyền đưa máy chém về tỉnh chém đồng chí Vương Trì Thống ở huyện Chợ Gạo, đồng chí Võ Văn Bảy ở xã Thạnh Phú, huyện Cai Lậy để uy hiếp tinh thần nhân dân.

      Hai người này phạm tội gì, bị ra toà kết án ra sao, bị chém ngày nào, sao viết lơi khơi tháng 5-1959 ? Tháng 6/5/1959 có luật thì mấy ngày sau là có chém ? Luật VNCH ứng đáp lẹ như chớp vậy sao ?8- Máy chém này hiện đang trưng bày ở bảo tàng Cần Thơ. Ai chưa biết máy chém thì vào xem cho biết. Thử ngẫm nghĩ mà coi, nó to nặng thể nào, có “lê máy chém” đi về Xã, Huyện được không nào ! Đừng coi phim Tàu Bao Công trảm thủ rồi tưởng giống “Cẩu đầu trảm” hai lính Khai Phong phủ khiên ra cất vào và dùng tay xắt tử tội rụng đầu ngay trước bàn xử án như …bên Tàu nhe !Nhà giam Hoả Lò cũng có một máy chém củ sét hơn. Máy chém là phương tiện của Toà án, có người đặc cách gìn giử. Máy chém phải lắp ráp khá phức tạp, khối sắt rất nặng và cao khoãng 2,5-3 mét, lưởi dao là khối thép dày bề ngang chừng 0,6 đến 0,8 mét dài chừng 1,2 mét, phần lưỡi xéo góc hình tam giác, rất bén và nặng, rất nguy hiểm do treo cao hơn hai mét trong trạng thái di động dễ rơi phập xuống, làm sao mà chuyên chở, làm sao mà “lê đi khắp nơi”, mang cả ra ngoài chợ rồi ai bảo quản để còn có thể sử dụng ?

      8-Ông Triết ơi, chuyện “lê máy chém” ông cho đăng trong trang Web Thành phố HCM cho đến bây giờ là hư cấu, là chuyện ma…” (Trần Thị Hồng Sương)

    14. Hạnh Đào viết:

      Đồng ý với Nguyễn Việt Thanh.
      Điều mà đa số những người trí thức vỡ mộng CNCS như Nguyễn Mạnh Tường đều cho rằng họ không sai lầm khi chọn ĐCS làm phương tiện để đấu tranh, chỉ là con đường của Đảng đã rẽ hướng khỏi lợi ích của dân tộc. Chính vì họ không sai, nên con đường của Đảng cũng không sai mà chỉ là “chệch hướng”, đúng hơn, vì 1 số cá nhân đã đã đi sai đường, đặt quyền lợi cá nhân trên quyền lợi của Đảng, làm “hỏng” uy tính Đảng. Một số, cho là họ chỉ là những trí thức yêu nước ngây thơ, không có chọn lựa trong 1 giai đoạn lịch sử nhiều biến động.
      Đây không chì là việc thiếu dũng khí & trung thực để nhận sai lầm của họ & mà còn né tránh trách nhiệm. Vì điều này, không ít người hy vọng góp ý, góp sức để Đảng quay về với con đường chính đạo.
      Đảng CS chưa hề đi chệch hướng (dù rằng qua mỗi giai đoạn, thời kỳ, họ gương những lá cờ khác nhau). Điều này cương lĩnh của Đảng từ lúc thành lập (1930) đã rõ ràng, khó mà biện hộ là Đảng đã “lừa” những nhà trí thức.
      ĐCS VN thành lập dưới sự chỉ đạo của ĐCS quốc tế, & là lộ phận không thể tách rời của ĐCSQT.
      Luôn khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Điều này không những phủ nhận hết công lao, đóng góp của các đảng phái khác, còn dọn đường cho điều 4 hiến pháp sau này.
      Từ đầu, ĐCS đã đặt quyền lợi của ĐCS lên trên quốc gia & dân tộc, và đấu tranh bạo lực là con đường duy nhất để làm cách mạng dân tộc. Sau cách mạng dân tộc là đấu tranh giai cấp.
      Trí thức chọn sai (không hiểu rõ phương tiện mình chọn), thì họ trả giá, nhà cách mạng chọn sai thì dân tộc trả giá. Trí thức, làm cách mạng mà chọn sai thì…

    15. Phùng Tường Vân viết:

      Lời xin lỗi gửi ông Tôn Văn.

      Trong PH của tôi sáng nay(http://www.talawas.org/?p=22877#comment-15859) tôi đã sơ ý cho rằng danh xưng “Bồ Tát” là do ông sử dụng, thực ra đó là chữ dùng của tác giả bài chủ, ông Nguyễn Thanh Giang. Tôi xin lỗi ông Tôn Văn về nhầm lẫn ấy. Nhận xét về danh xưng Bồ Tát của tôi ở PH trên không có gì thay đổi.

    1 2 3
    • talawas - Lời tạm biệt

      Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...