talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Hoàng Văn – Liên tưởng từ một chùm nhang

04/08/2010 | 1:00 sáng | Comments Off on Nguyễn Hoàng Văn – Liên tưởng từ một chùm nhang

Tác giả: Nguyễn Hoàng Văn

Chuyên mục: Tổng hợp
Thẻ: >

Chùm nhang trên tay ông Phó Thủ tướng làm tôi nghĩ đến chùm nho của John Steinbeck[1]. Chùm nhang nhẹ nhàng quầng khói mỏng siêu thoát, chùm nho thì trĩu nặng uất hờn.

Chùm nhang rất thật trên tay kẻ nghiện “Nói Không”, khá ồn nhưng khá… hư không, lửng lơ như một quầng khói siêu thoát bởi cho đến hết đời cũng không thể tìm ra câu đáp rõ ràng[2]. Chùm nho không hình không ảnh mà John Steinbeck mượn từ sách Khải Huyền lại là biểu tượng của những uất hận có thực đang dồn nén chờ ngày phán xét cuối cùng: The Grapes of Wrath, cuốn tiểu thuyết lột tả sự khốn cùng của những “tá điền” Mỹ khi bị trục xuất ra khỏi những nông trại từng thấm mồ hôi của ba bốn thế hệ tổ tiên[3].

Chùm nhang được đốt, được vái, được cắm trong lễ cầu siêu tại Tân Biên, Tây Ninh, trong cái nghĩa trang có tới mười ngàn nấm mồ, nơi yên nghỉ của những thanh niên đã nằm xuống trong cuộc chiến mệnh danh “nghĩa vụ quốc tế cao cả”. Hẳn họ vẫn chưa thể nhắm mắt yên nghỉ với cái sứ mạng cao cả ấy nên mới có chuyện cầu cho siêu thoát. Vạn nhất, không trợn trừng nằm lại đó mà hấp háy con mắt trong cái ngày sống sót trở về, họ có được yên nghỉ với cuộc đời trần tục còn lại hay không?

Câu hỏi đã đưa tôi đến với những “chùm nho” của Steinbeck, dẫn tôi gặp lại nhân vật chính Tom Joad ngay trong lúc Tom xắn tay đào huyệt bên đường để lấp vội thi hài còn nóng của ông nội mình giữa chặng hành trình tìm sinh kế: “Dường như chính quyền quan tâm đến những người chết hơn là người sống.”[4]

Tom vừa từ nhà tù trở về để tìm thấy đại gia đình của mình tan nát khi ba thế hệ phải bồng bế nhau, chen chúc nhau trên chiếc xe cà tàng, lê lết trong chặng hành trình gần 3.000 cây số từ Oklahoma đến California, vừa phải lén lút giải quyết “hậu sự” cho bậc trưởng lão gục ngã giữa đường, vừa phải lo lắng ngăn ngừa những phiền hà “hậu sự” khác bởi chính quyền sẽ quan tâm đến cái xác của một người đã chết như thế hơn là người sống[5]. Và vì chính quyền chỉ quan tâm đến người chết nên, nếu có một thứ ơn trên nào đó, ơn trên đó cần hướng sự quan tâm đến những người còn sống như có thể nghe được trong lời cầu nguyên của Jim Casy, nhà giảng đạo đã nản lòng với sứ mạng củng cố đức tin: “Tôi sẽ không cầu nguyện cho một ông già không còn sống nữa. Ông ta thế là yên rồi. Tất cả đã an bài và ông chỉ có mỗi một việc và mỗi một con đường để đi. Nhưng còn chúng ta đây, chúng ta có một việc thôi nhưng có cả ngàn lối nhưng chúng ta lại không biết chọn lựa lối nào. Và nếu tôi phải cầu nguyện, lời cầu đó sẽ dành cho những người không biết bám víu vào đâu.”[6]

Nhưng sự liên tưởng không chỉ bắt nguồn từ một câu cảm thán hay mấy lời cầu nguyện như thế mà, cơ hồ, từ mọi tình huống, mọi khung cảnh của The Grapes of Wrath. Sự uất hận trên những chùm nho trên đất Mỹ ngày nào đã đưa tôi đến với sự phẫn nộ đang hừng hực ngút trên từng bông lúa, từng chồi cà phê, từng mầm khoai hay đọt sắn từ Cà Mau cho tới Cao Bằng, Lạng Sơn hôm nay. Tôi nghĩ đến những ông cha đạp xe ba gác không được quyền sống bằng xe ba gác, những bà mẹ buôn gánh bán bưng bị tước quyền kiếm gạo nuôi con ăn học bằng cái đòn gánh trên vai hay cái thúng bên hông. Tôi nghĩ đến những “tá điền” vất vưởng sau khi bị các “đại công ty” trục xuất ra khỏi mảnh đất đã tưới mồ hôi nhiều đời. Tôi nghĩ đến cảnh lê lết, vất vưởng của những kẻ mất đất mất nhà ấy sau những bữa tiệc tống tiễn bằng hơi cay, dùi cui điện hay còng số tám. Tôi nghĩ đến những đám đầu gấu ra tay hành hung theo nghị quyết, hợp đồng. Tôi nghĩ đến những mạng người như Jim, nhân vật đấu tranh đã chết dưới tay côn đồ, nghĩ đến kẻ chấp nhận những kiếp sống ngòai lề như Tom, kẻ đã tin theo lẽ sống của Jim để đòi lại quyền được sống tử tế, như một con người tử tế.

Và tôi nghĩ đến Tom trong cảnh cuối, với mẹ: “Nhìn đâu mẹ cũng có thể thấy được bóng con. Nơi nào có người đấu tranh cho người đói có được miếng ăn, con sẽ có mặt. Nơi nào bọn sen đầm ra tay hành hung người khác, con sẽ có mặt.”[7] Cảnh Tom từ mẹ ra đi “quăng thân vào gió bụi” làm tôi nghĩ đến hình ảnh một Tố Hữu trai trẻ cái ngày ra đi dấn thân cho lý tưởng cộng sản: “Từ thuở ấy quăng thân vào gió bụi”.[8] Những người như Tom và Jim từng bị đám chủ nhân ông tư bản và đám sen đầm tay sai chụp mũ là “cộng sản” và những “ông chủ cộng sản” cùng đám sen đầm tay sai hôm nay thì chụp mũ những người như Tom và Jim là nổi loạn, phản động và, thậm chí, là trốn thuế hay gây rối, theo những màn kịch ngắn, kịch dài.

“Quăng thân vào gió bụi” rồi ném hết nhân phẩm vào canh bài quyền lực, những ông chủ như thế đã bị tha hoá trong trò chơi quyền lực. Họ vái lạy những cái xác chết nhưng ngang ngược đạp lên bao tử, lên đầu và lên trí thông minh của bao người sống. Họ phong thánh và tưởng niệm những Tom hay Jim đã chết viện lẽ đã “đấu tranh để cho người đói có được miếng ăn” nhưng lại tước đoạt miếng ăn ngay trong miệng của những Tom hay Jim còn sống.

Tôi nghĩ đến bà mẹ của Tom trong cảnh hội ngộ đầu tiên khi đứa con mới từ nhà tù trở về. Bà mẹ hồi hộp lo lắng, sợ rằng nhà tù đã tha hoá, đã làm hư hỏng con mình: “Con không thù ghét ai đấy chứ? Trong tù bọn họ không từ chuyện gì để con phát khùng phát điên hay sao?”[9] Sự bất an của bà mẹ, cái bà mẹ lo xa nghĩ rằng sự ngột ngạt của nhà tù sẽ làm con mình phát khùng phát điên lại làm tôi nghĩ đến cơn khùng cơn điên của những kẻ đang bị quyền lực làm cho hư hỏng: tổ tiên của chúng ta, có lẽ, cũng lo lắng và bất an như thế.

Làm sao tổ tiên có thể thanh thản yên nghỉ khi chứng kiến những kẻ điên khùng như thế lăng xăng vái lạy trước bàn thờ của mình, cho dù bọn họ có đi đến tận cùng của trò hối lộ tổ tiên như cái bánh chưng to nhất hay chai vodka to nhất?

Đó là những chuyện mất bình thường và chính sự ngột ngạt của trò chơi quyền lực đã khiến họ không thể nhìn cuộc sống này một cách bình thường. Mất bình thường, họ liên miên khẳng định mình bằng những cái nhất như thế, bằng cái bánh, bằng chai rượu, bằng những đại lễ hoành tráng nhất, bằng cái cổng chào nguy nga nhất. Mất bình thường, họ nôn nóng văn minh, nôn nóng hiện đại bằng những con đường tắt nhất, nhanh nhất, đơn giản nhất như tước quyền sinh sống của những người chạy xe ba gác, những người buôn thúng bán bưng…

Thì cũng gọi là “nhất” nhưng là những cái nhất sẽ khiến bất cứ ai còn giữ được một lý trí bình thường phải cúi đầu hổ thẹn. Có nhất thì, giỏi lắm, cũng chỉ là điên khùng nhất, bất nhân nhất, vô đạo nhất.

Đã bất nhân, đã vô đạo với người sống thì làm sao có thể trọn đạo với người đã khuất?

3.8.2010

© 2010 Nguyễn Hoàng Văn

© 2010 talawas


[1]Phó Thủ tướng dự lễ cầu siêu ở biên giới Tây Nam” L.Đ.Hoảnh, 19.7.2010

“Sáng 17.7, tại Nghĩa trang liệt sỹ đồi 82 huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh – nơi yên nghỉ của trên 10.000 vong linh anh hùng liệt sỹ của cả nước – đã diễn ra Đại lễ cầu siêu và dâng hương tưởng nhớ các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh trên chiến trường biên giới Tây Nam và chiến trường Campuchia. Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân, lãnh đạo các Bộ, Ngành Trung ương, tỉnh Tây Ninh, các tỉnh Kampongcham, Svayrieng, Svayveng (Campuchia); Ban Quản trị cùng tăng ni, phật tử chùa Vĩnh Nghiêm (TP.Hồ Chí Minh), 150 học sinh, sinh viên Việt kiều các nước và đông đảo gia đình, thân nhân các liệt sĩ tham dự buổi lễ.”

[2] Tháng 7 năm 2006, trong vai trò Bộ trưởng Giáo dục, ông Nguyễn Thiện Nhân đã phát động phong trào “Hai Không: Nói không với tiêu cực thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục.”. Đến tháng 5 năm 2010 thì giáo viên Đỗ Việt Khoa, nhân vật “điển hình” của phong trào này, đã phải làm đơn xin thôi việc vì “không thể chịu đựng được sự trù dập của lãnh đạo các cấp.” Thế nhưng mới đây ông Nhân lại tiếp tục “Nói Không”. Dù không còn làm Bộ trưởng Giáo dục, ông lại “gợi ý” cho bộ này phát động một phong trào “Nói Không” khác. (Xem VietNamNet 29.7.2010 “Mỗi ngày có 5 vụ học sinh đánh nhau”: ‘Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân gợi ý với Bộ GD-ĐT, năm tới, ngành giáo dục nên có thêm khẩu hiệu “nói không với học sinh đánh nhau” và có thể biên chế thêm giáo viên dạy kỹ năng sống.’)

[3] The Grapes of Wrath xuất bản lần đầu năm 1939, được trao Giải Pulitzer năm 1940 và trở thành là yếu tố chính mang Giải Nobel Văn học năm 1962 cho John Steinbeck (1902 – 1968). Theo nhiều tài liệu thì tên tác phẩm The Grapes of Wrath là do người vợ Carol Steinbeck gợi ý, lấy từ bài hát “The Battle Hymn of the Republic” của Julia Ward Howe:

Mine eyes have seen the glory of the coming of the Lord:

He is trampling out the vintage where the grapes of wrath are stored;

He hath loosed the fateful lightning of His terrible swift sword:

His truth is marching on.

Tuy nhiên cụm từ “the grapes of wrath” trên được lấy từ Kinh Thánh, Revelation 14:19-20, nói về sự báo đáp cho những kẻ áp bức trong ngày phán xét cuối cùng: “And the angel thrust in his sickle into the earth, and gathered the vine of the earth, and cast it into the great winepress of the wrath of God. And the winepress was trodden without the city, and blood came out of the winepress, even unto the horse bridles, by the space of a thousand and six hundred furlongs.”

Trong The Grapes of Wrath, cụm từ này chỉ xuất hiện duy nhất một lần trong đoạn cuối cùng của Chương 25, nói về hậu quả của nạn đầu cơ thực phẩm:

“And they stand still and watch the potatoes float by, listen to the screaming pigs being killed in a ditch and covered with quick-lime, watch the mountains of oranges slop down to a putrefying ooze; and in the eyes of the people there is the failure; and in the eyes of the hungry there is a growing wrath. In the souls of the people the grapes of wrath are filling and growing heavy, growing heavy for the vintage.”

[4] Chương 13: ‘Tom broke in, “Sometimes fellas workin’ dig up a man an’ then they raise hell an’ figger he been killed. The gov’ment’s got more interest in a dead man than a live one. They’ll go hell-scrapin’ tryin’ to fin’ out who he was and how he died. I offer we put a note of writin’ in a bottle an’ lay it with Grampa, tellin’ who he is an’ how he died, an’ why he’s buried here.”

[5] Để hiểu cảnh này thì cần phải nhắc sơ lại câu chuyện trong The Grapes of Wrath. Tiểu thuyết xây dựng trên câu chuyện của gia đình Joads, những “tá điền” tại Oklahoma và hai nhân vật chính là Tom Joad và Jim Casy. Tom can án giết người trong một vụ đánh lộn nhưng được toà cứu xét là tự vệ nên sau 4 năm tù thì được ân xá. Trên đường về, Tom Jim Casy, một giáo sĩ giảng đạo đã bỏ nghề và hai người kết bạn với nhau.

Tom trở về giữa lúc vùng quê mình đang trải qua một cảnh bể dâu. Hạn hán kéo dào đã làm cho đất đai không thể trồng trọt và các “tá điền” (share-cropper) bị vỡ nợ, đất đai bị thu hồi phải lưu lạc nơi khác làm ăn. Tom trở về giữa lúc gia đình chuẩn bị lên đường đến California để xin việc làm trong các nông trại tại đây. Họ mua một chiếc xe vận tải cũ nát và chất mọi thứ lên đường cho chặng hành trình dài 1800 dặm. Không biết đi đâu, Casy đã xin đi theo đoàn người.

Vì ông nội của Tom không muốn đi nên người nhà đã phải bỏ thuốc ngủ vào thức uống của ông, chờ khi ông mê man thì đưa lên xe. Tuy nhiên ngay trong ngày đầu tiên ông nội của Tom đã bị lên cơn đau tim và qua đời, gia đình đã chôn ông già này bên đường. Sợ rằng khi cảnh sát khám phá thi hài này sẽ có chuyện lôi thôi, Tom viết mảnh giấy tên tuổi và giải thích hoàn cảnh qua đời, bỏ trong lọ thuỷ tinh đựng thức ăn để theo thi hài.

[6] Chương 13: ‘Casy said, “It’ll be a short one.” He bowed his head, and the others followed his lead. Casy said solemnly, “This here ol’ man jus’ lived a life an’ jus’ died out of it. I don’t know whether he was good or bad, but that don’t matter much. He was alive, an’ that’s what matters. An’ now he’s dead, an’ that don’t matter. Heard a fella tell a poem one time, an’ he says, ‘All that lives is holy.’ Got to thinkin’, an’ purty soon it means more than the words says. An’ I wouldn’ pray for a ol’ fella that’s dead. He’s awright. He got a job to do, but it’s all laid out for ‘im an’ there’s on’y one way to do it. But us, we got a job to do, an’ they’s a thousan’ ways, an’ we don’ know which one to take. An’ if I was to pray, it’d be for the folks that don’ know which way to turn. Grampa here, he got the easy straight. An’ now cover ‘im up and let ‘im get to his work.” He raised his head.

[7] Chương 28: “Then it don’ matter. Then I’ll be all aroun’ in the dark. I’ll be ever’where—wherever you look. Wherever they’s a fight so hungry people can eat, I’ll be there. Wherever they’s a cop beatin’ up a guy, I’ll be there. If Casy knowed, why, I’ll be in the way guys yell when they’re mad an’—I’ll be in the way kids laugh when they’re hungry an’ they know supper’s ready. An’ when our folks eat the stuff they raise an’ live in the houses they build—why, I’ll be there. See? God, I’m talkin’ like Casy. Comes of thinkin’ about him so much. Seems like I can see him sometimes.”

Xin tóm tắt câu chuyện liên quan đến cảnh này: Khi đến California thì gia đình Tom cắm trại trong khu cắm trại bẩn thỉu mang tên Hoovervilles. Tại đây vẫn có quá ít việc làm và công việc bị chủ ép với tiền lương rất thấp, thấp đến độ không đủ để mua thực phẩm.  Ngày kia có người đến đây tuyển nhân công và anh ta bị một người quen của Tom chất vấn về tiền lương. Ngay lập tức người này bị tố “cộng sản” và bị bắt, thấy vậy Tom xông tới giải thoát và gây cảnh xô xát nên bị lùng bắt. Thấy vậy Jim Casy nhảy ra nhận tội cho Tom. Sau đó thì khu này bị giải tán và gia đình Tom lại tìm đến một trại khác nhưng ở đây vẫn không yên. Sau đó họ tìm tới nông trại khác nữa và tại đây chứng kiến cảnh nhân công đang đình công đòi tăng lương. Jim là người lãnh đạo cuộc đình công này chính và ông ta đã thuyết phục Tom rằng giới nhân công phải hợp sức lại để đòi quyền lợi của mình. Để đáp trả, giới chủ nhân thuê một nhóm côn đồ đến thanh toán Jim và trong cuộc xô xát, Tom đã đánh chết kẻ sát nhân nhưng bị thương nặng tại mũi. Tom phải trốn trong các nệm giường chất trên xe tải khi gia đình bỏ chạy khỏi đồn điền Hooper. Sau đó, gia đình Joad đã lẩn trốn nhiều nơi và cuối cùng, vì sự ngây thơ của đứa em gái nên Tom bị lộ, do đó quyết định bỏ nhà ra đi và tiếp tục việc tranh đấu theo con đường của Jim.

[8] Bài thơ “Trăng trối” của Tố Hữu, nói là làm trong khi tuyệt thực tại nhà tù Lao Bảo vào tháng 11 năm 1940:

Từ thuở ấy, quăng thân vào gió bụi

Đến hôm nay phút chết đã kề bên

Đến hôm nay kiệt sức, tôi nằm rên

Trên ván lạnh không mảnh mền, manh chiếu.

Đời cách mạng, từ khi tôi đã hiểu

Dấn thân vô là phải chịu tù đày

Là gươm kề cận cổ, súng kề tai

Là thân sống chỉ coi còn một nửa

Bao khổ ấy, thôi cần chi nói nữa

Bạn đời ơi! Ta đã hiểu nhau rồi.

[9] Chương 8: “You ain’t poisoned mad? You don’t hate nobody? They didn’ do nothin’ in that jail to rot you out with crazy mad?” He looked sidewise at her, studied her, and his eyes seemed to ask how she could know such things. “No-o-o,” he said. “I was for a little while. But I ain’t proud like some fellas. I let the stuff run off’n me. What’s a matter, Ma?”

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Nguyễn Hoàng Văn – Liên tưởng từ một chùm nhang”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả