talawas blog

Chuyên mục:

Phong Uyên – Ông Trần Văn Tích nên đọc lại “Un Excommunié”

10/08/2010 | 7:00 sáng | 70 phản hồi

Tác giả: Phong Uyên

Chuyên mục: Lịch sử
Thẻ:

Đọc bài “Hiện tượng Nguyễn Mạnh Tường” của ông Trần Văn Tích, tôi không thể không có phản ứng khi thấy ông Tích đưa ra những nhận định thiếu chính xác và thiên lệch về nhà trí thức này. Có lẽ vì viết vội vàng ông Tích đã không đủ thì giờ đọc lại nguyên bản tiếng Pháp dày 346 trang cuốn Un excommunié của ông Nguyễn Mạnh Tường mà chỉ, như ông đã tự nói, căn cứ vào bài viết của tác giả Nguyễn Thanh Giang và phần chú thích của bài “Nguyễn Mạnh Tường bị cáo” của ông Đinh Từ Thức để đưa ra “những suy tư cá nhân”. Cũng có lẽ ông muốn nương vào trường hợp Nguyễn Mạnh Tường để cảnh giác trí thức trong và ngoài nước đừng có nghe lời đường mật của CSVN về “Hoà giải và Hoà hợp dân tộc” mà trở thành những Nguyễn Mạnh Tường tương lai.

Trước hết tôi xin nói về nghĩa “Un Excommunié”:

Diễn đàn Thông Luận đăng bản dịch Un Excommunié theo nghĩa đen là “Kẻ bị rút phép Thông công”. Đối với 95% dân Việt không theo Công giáo, chả ai hiểu phép Thông công là gì. Và ngay cả với những người Công giáo: bị rút phép thông công là tạm thời không được rước mình Thánh cho đến khi biết sửa lỗi. Đó chỉ là hình phạt tinh thần. Còn đối với 90% dân Pháp không bước chân vào nhà Thờ bao giờ, rút phép Thông công chả có ý nghĩa gì cả.

Ông Nguyễn Thanh Giang hiểu “excommunié” là “bị ruồng bỏ” khi lấy từ ngữ này làm đầu đề cho bài viết của ông. Tất nhiên là ở tình trạng của ông Nguyễn Thanh Giang, cũng như tuyệt đại đa số trí thức được chế độ cộng sản đào tạo: Đảng là cha mẹ. Bị Đảng ruồng bỏ cũng như bị cha mẹ ruồng bỏ nên ông Nguyễn Kiên Giang mới cất tiếng kêu than (và kéo luôn cả Nguyễn Mạnh Tường vào) “… đã nói câu nào không đúng? …Sao người ta nỡ nhân danh Đảng (Xin đèn Trời soi xét) đầy đọa hãm hại chúng tôi…!

Cho mình là “Un Excommunié”, ông Nguyễn Mạnh Tường muốn mọi người hiểu theo nghĩa bóng là kẻ bị khai trừ : Không phải khai trừ khỏi Đảng vì ông đã từ chối không vào Đảng, mà là bị khai trừ khỏi cuộc sống loài người. Phải đọc những đoạn ông kể bị cô lập, bị bỏ đói sống thoi thóp, bạn bè thân thích ruột thịt biết là sống ở đó mà không ai được phép lại gần để giúp đỡ. Phải đọc những đoạn ông tố cáo CSVN treo trên đầu những người trí thức chống đối mình lưỡi gươm Damoclès. Những người này không biết là Đảng sẽ chọn cách nào để triệt hạ mình: Hoặc coi mình là điên nhốt vào nhà thương điên. Hoặc bị nhốt vô kỳ hạn trong một căn phòng trống chật hẹp ở một đồn Công an hẻo lánh, không ai biết mình ở đâu còn sống hay đã chết, không bao giờ được ra ngoài nhìn ánh sáng mặt trời, ban đêm bị làm mất ngủ vì những tiếng đập nồi niêu soong chảo để rút cục cũng trở thành điên. Cũng có thể Đảng ngụy tạo một tai nạn để giết mà không ai chịu trách nhiệm.

Tôi xin mạn phép ông Tích bình luận những điểm mà tôi cho là không đúng, theo thứ tự những tiết trong bài viết của ông:

16 tuổi đỗ tú tài

Học vị Tú tài có từ thế kỷ thứ XIII. Cách mạng Pháp bãi bỏ Đại học và những học vị của nó, tú tài, cử nhân, tiến sĩ. Phải đợi tới năm 1808 Napoléon mới tái lập lại và năm đầu chỉ có 21 người đậu. Năm 1925 khi ông Nguyễn Mạnh Tường đậu tú tài, cả đế quốc Pháp, nếu không nói là cả thế giới (vì tiếng Pháp hồi đó là ngôn ngữ ngoại giao và văn chương được toàn thế giới sử dụng) không tới 10 ngàn người đậu mỗi năm so với 550 ngàn người (65% mỗi thế hệ) bây giờ. Phải ít nhất là 16 tuổi mới được đi thi. Tuổi hạn định là 18 vì học trình cưỡng bách Trung Tiểu học bắt đầu từ 6 tuổi. Ngay bây giờ mỗi năm chỉ có vài người ở tuổi 15-14 được đặc cách đi thi và báo chí đã nói ầm lên. Bởi vậy đậu tú tài ở tuổi 16, ngay ở chính quốc cũng là ngoại lệ.

Hà Nội thủ đô của toàn cõi Đông Dương là một thành phố Pháp và những người dân sinh đẻ ở Hà Nội được coi là thuộc dân Pháp (sujets Français) nên khó mà có thể khai gian tuổi được như những người sinh ngoài Hà Nội.

Hai luận án tiến sĩ trong một năm

Ông Trần Văn Tích đúng khi nói luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa là một thủ tục bắt buộc. Tuy vậy luận án y khoa cũng có nhiều loại có giá trị khác nhau: Người y sĩ tổng quát chỉ cần bỏ vài tháng là có thể hoàn thành luận án. Những bác sĩ chuyên khoa phải bỏ một thời gian lâu hơn nhiều, có khi suốt 4 năm nội trú. Trái lại về luật khoa và nhất là văn khoa, luận án tiến sĩ không phải là một thủ tục vì cả trăm người đậu cử nhân, cao học, chỉ những người thật là ưu tú mới kiếm được một ông thày cho đề tài làm luận án. Ngoài ra 2 ngành Luận và Văn chương khác hẳn nhau khó mà theo đuổi cả 2 cùng một lúc và nhất là trình 2 luận án cùng một lúc như ông Nguyễn Mạnh Tường được. Phần nhiều xong luận án này mới bắt đầu làm luận án kia.

Trái với ý nghĩ của ông Tích, đề tài luận án Luật về Cá nhân và luật lệ trong xã hội cổ An Nam: Thử làm Tổng hợp về bộ luật triều Lê (thế kỷ XV) không phải là dễ. Vì cái khó khi làm luận án là phải sưu tầm đủ thư mục và tài liệu. Những tài liệu về đề tài này rất ít và tất nhiên viết bằng chữ Hán, làm sao ông Nguyễn Mạnh Tường có thì giờ sưu tầm để viết ra bằng tiếng Pháp? Tôi xin nhắc lại lời khen tặng của ông chủ tịch Hội đồng giám khảo (trình luận án bao giờ cũng phải trước công chúng): “Luận án của ông là một kiệt tác về Luật, và hơn nữa, về luật và văn chương. Nội dung rất vững chắc không thể chê trách vào đâu được. Hình thức thì làm người đọc loá mắt. Luận án này có những đức tính làm công trình của ông trở thành một tác phẩm văn học. Đại học Montpellier thấy ông toàn thắng trong 2 phân khoa khác nhau… 22 tuổi,Tiến sĩ Luật, ông lại sắp là tiến sĩ Văn chương. Thật là một kỷ lục vì chưa bao giờ người ta thấy ở Pháp có một tiến sĩ văn chương ở tuổi 22… Tác phẩm ông làm cả phân khoa Luật hãnh diện. Chúng tôi xin trao tặng ông hạng cao nhất mà chúng tôi có: hạng Tối ưu với những lời khen tặng của toàn thể hội đồng giám khảo. (Tôi xin nhắc lại là Đại học Montpellier có từ thế kỷ thứ XIII là một trong những đại học cổ nhất Âu Châu, cùng thời với Sorbonne, Oxford, Cambridge và nổi tiếng nhất về luật học và y khoa nên hồi Trung cổ sinh viên toàn cõi Âu châu đều muốn tới Montpellier theo học những khoa này).

Luận án văn chương của ông Nguyễn Mạnh Tường thật ra là 2 luận án khác nhau: Luận án chính nói về thi sĩ lãng mạn Alfred de Musset. Luận án phụ nói về Jules Boissière, một tác giả Pháp viết về Việt Nam cuối thế kỷ thứ XIX. Có được một đề tài làm luận án đã là khó rồi, không biết làm sao ông Nguyễn Mạnh Tường lại có 2 đề tài!

Ông Trần Văn Tích muốn biết vì sao luận án của ông Cao Huy Thuần về Công giáo xâm nhập Việt Nam được dịch in mà làm ông này phiền lòng thì chỉ cần về Sài Gòn vào mấy tiệm sách quốc doanh đường Nguyễn Huệ là hiểu liền khi thấy luận án của ông Thuần được Ban Tư duy cho dịch, in thành sách bày bán.

Nguyễn Mạnh Tường từ 1932 đến 1936

Tôi không tìm thấy tài liệu nào nói ông Nguyễn Mạnh Tường trở lại Pháp sống từ 1932 đến 1936. Có thể là vì ông hành nghề tự do, dễ dàng thu xếp thì giờ, lại có phương tiện, nên mỗi năm trở lại Pháp sống cuộc đời một trí thức Pháp, vô thư viện đọc sách hay đi thăm các viện bảo tàng Âu châu, đồng thời cũng muốn thâu thập tài liệu để viết sách. Ông đã xuất bản từ khoảng thời gian đó cho tới 1940 bốn cuốn sách: Một cuốn nói về tâm lí và những hoạt động tri thức và xã hội của thế hệ trẻ Việt Nam được đào tạo ở Pháp: Sourires et larmes d’une jeunesse. Hai cuốn nói về giá trị Pháp và giá trị Địa Trung Hải (Tây Ban Nha, Ý, Hi Lạp): Pierres de France, Apprentissage de la Méditerranée. Cuốn thứ 4 là một bản kịch diễn tả sự xung đột tâm tình giữa một chàng trai thích du lịch tượng trưng nhu cầu muốn thay đổi của Phương Tây và một người con gái tượng trưng sự trung thủy và tính kiên trì của người Á Đông: Le Voyage et le Sentiment.

Tôi không hiểu vì lí do gì ông Trần Văn Tích lại cho là ông Nguyễn Mạnh Tường, cũng như đa số trí thức Pháp hồi đó, cần phải quan tâm tới mấy nhà văn marxistes vì chỉ trích chế độ cộng sản Staline phản bội Marx mà bị khai trừ khỏi các đảng cộng sản theo Staline hay tự ý bỏ đảng. Tư tưởng Marx chỉ bắt đầu có nhiều ảnh hưởng trên giới trí thức Pháp từ sau Thế chiến thứ Hai.

Những điều người trí thức có vẻ không trí và không thức

Tôi không biết ông Trần Văn Tích căn cứ vào đâu mà quả quyết là “Nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường cũng từng tự mình tự nguyện tự giác tự động đầu quân dưới trướng lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh…

Tôi xin nhắc lại là chỉ sau ngày 19.8.1945, lợi dụng cuộc biểu tình của công chức Hà Nội, Việt Minh phất cờ chạy theo cướp chính quyền, dân Hà Nội mới biết đến tên Hồ Chí Minh. Trước đó không ai biết ông này là ai cả. Ông Nguyễn Mạnh Tường lại càng không biết vì từ khi về nước năm 1932, không bao giờ ông để ý đến chính trị, chỉ lo hành nghề luật sư của mình, đọc sách viết văn. Ông Hồ lại khôn ngoan giải tán Đảng Cộng sản, lập chính phủ liên hiệp để đấu tranh ngoại giao với Pháp giành độc lập, khiến những người trí thức yêu nước bị đặt vào tình trạng không thể không giúp chính phủ Liên hiệp điều đình với Pháp mà ông Hồ đã khôn khéo đặt dưới sự điều khiển của các thủ lãnh quốc gia như ông Nguyễn Tường Tam bộ trưởng bộ ngoại giao, ông Vũ Hồng Khanh, phó chủ tịch Ủy ban kháng chiến. Ngày 19.12.1946 (gọi là ngày Toàn quốc kháng chiến), Việt Minh đánh úp Pháp ở Hà Nội để bắt buộc toàn dân Việt Nam không còn có chọn lựa nào khác ngoài theo mình chống Pháp. Cũng như mọi người dân Hà Nội, ông Nguyễn Mạnh Tường phải đem cả gia đình cha mẹ con cái tản cư khỏi Hà Nội và theo Đại học Nhân dân vào Khu Tư. Những người quê quán gần Hà Nội lại không ai biết tiếng dễ lọt vòng kiểm soát của dân quân tự vệ để “dinh tê”. Những người có chức phận hay có tiếng tăm phải theo cơ quan lên Việt Bắc hay vào Khu Tư, khó mà trở về thành được, bắt buộc phải ở lại hậu phương với Bác, Đảng (chứ không phải ra bưng vì ngoài Bắc không có bưng biền như ở trong Nam) nên không thể nói là tự nguyện đầu quân dưói trướng ông Hồ được.

Ông Hoà Nguyễn, người mà tôi gọi là “mon Sainte-Beuve” vì luôn luôn “chỉnh” tôi về mọi vấn đề, đưa ra một nhận xét mà tôi thấy hoàn toàn chí lí “Chuyện ông Nguyễn Mạnh Tường đi theo với phong trào Việt Minh cũng không nên chỉ trích thái quá (Đọc cuốn Un excommunié sẽ thấy không bao giờ ông Nguyễn Mạnh Tường đi theo Việt Minh cả). Nếu vì mục đích chống Pháp giành lại độc lập ở một hoàn cảnh một trí thức đang ở giữa Hà Nội và trong vòng bủa vây của Việt Minh, thì ông Nguyễn Mạnh Tường không có cách nào khác… và có thể là bất đắc dĩ đứng hẳn về phía ông Hồ trong một thời gian phục vụ cho chính nghĩa chống Pháp, rồi khi thắng Pháp, không chịu được nữa, chống lại để bị ngược đãi, nhưng sau này có cơ hội vẫn gióng tiếng lên tiếng nói phản kháng của mình để vừa tố cáo chế độ vừa giúp cảnh tỉnh một số người (ít ra là ở Pháp).

Về chuyện ông Nguyễn Mạnh Tường được tự do “lên tiếng” ở Hội nghị các Luật gia dân chủ họp tại Bruxelles năm 1956, hay ông Nguyễn Mạnh Tường bị dùng như cái micro của Đảng, tôi xin ông Trần Văn Tích đọc lại trang 32 cuốn Un Excommunié để biết phái đoàn được Đảng chỉ định đi dự Hội nghị gồm những ai: “Với tư cách là chủ tịch luật sư đoàn và phó chủ tịch hội Luật gia Việt Nam, tôi được phong làm trưởng một phái đoàn trong đó ngoài tôi còn có ông Nguyễn Huy Mẫn, một luật sư công giáo, ông Lê Văn Chất, Chủ tịch Toà án Quân sự đặc biệt, ông Bùi Lâm, một quan chức bự (un haut dignitaire) của Đảng, hội thẩm Toà án Quân sự…” Nếu cho là trong một phái đoàn luật gia “dân chủ” Đảng cử đi, có 2 ông: một ông là chủ tịch Toà án Quân sự đặc biệt, một ông là quan chức bự của Đảng đồng thời cũng là hội thẩm của cái toà án ấy, không phải là những người thảo mọi diễn văn bắt 2 anh luật sư, một anh là Công giáo, một anh là tư sản phải dịch ra và đọc như con vẹt, thì thật là quá ngây thơ hay chống cộng một cách quá mút mùa. Có nước dân chủ pháp quyền nào có toà án quân sự trong thời bình? Và dám thách đố dư luận quốc tế đến độ nào để cử một phái đoàn “luật gia” 4 người trong đó 2 người là thủ lãnh của cái toà án quân sự đặc biệt đó!

Ông Trần Văn Tích đem ghép chuyện ông Nguyễn Mạnh Tường lên tiếng ở Bruxelles tháng 6 với chuyện dân Hung Gia Lợi nổi dậy tháng 10 cùng năm đó mà không biết là ngày 30-10-56 ông Nguyễn Mạnh Tường đã đơn thương độc mã tới buổi họp của Mặt trận Tổ quốc, đọc một bản viết đòi xây dựng lại Lãnh đạo để có một nhà nước Pháp quyền và chấn hưng lại truyền thống của cha ông vì đạo lí xã hội quá xuống cấp. Vì bài viết này mà ông Nguyễn Mạnh Tường bị 3 lần tố khổ: 1. Trước Mặt trận Tổ quốc; 2. Bởi sinh viên trong trường Đại học mình dạy; và 3. Trong trụ sở của đảng Xã hội. So với vụ Nhân văn dầu sao cũng là xử tập đoàn và những án tù có thời hạn, bản án mà ông Nguyễn Mạnh Tường phải gánh chịu nặng nề và thâm hiểm hơn nhiều: Cầm tù tại gia vô thời hạn (kể đến khi được đi Pháp là 33 năm!). Cả gia đình bị cắt tem phiếu phải mua thực phẩm chợ đen, đến khi hết tiền cả gia đình chỉ còn đủ gạo nấu cháo, đồ đạc bán chả ai mua và nhất là cả nghìn cuốn sách phải bán cân ký. Cái khổ nhất là bị cô lập bạn bè thân thuộc không ai được tới hỏi thăm giúp đỡ. Đó là cái nghĩa của Un Excommunié mà ông Nguyễn Mạnh Tường tự gán cho mình.

Ông  Trần Văn Tích nên yên chí là nước Việt Nam sẽ không bao giờ sản xuất được thêm một người trí thức toàn vẹn và khí khái như ông Nguyễn Mạnh Tường nên ông đừng sợ có nhiều Nguyễn Mạnh Tường khác sẽ bị cộng sản cám dỗ. Tôi nói ông Nguyễn Mạnh Tường khí khái là vì đã không ở lại nước ngoài như những người chỉ dám viết sách viết báo để những người chống cộng đọc với nhau khi đã ra khỏi nước, mà tự trở về nước ở tuổi 82 viết một cuốn sách thuật lại cuộc đời mình bằng một tiếng Tây phương uyên bác, chuyển qua nước ngoài in để những người Tây phương hiểu Cộng sản Việt Nam đối đãi người trí thức và những người đòi dân chủ ra sao. Ông Nguyễn Mạnh Tường còn can trường: tôi xin trích dịch sau đây một đoạn trong một bức thư bằng tiếng Pháp gửi từ Hà Nội ngày 16.3.1992:

“… Nếu người ta đẩy cái dã man đến độ hành hạ tôi như đã hành hạ những người trí thức khác bị cáo là nói xấu chế độ, tôi sẵn sàng bình chân như vại chờ đợi những thử thách mà tôi biết rất là khắc nghiệt. Tôi đã quyết định, nếu sự đó xảy ra, tuyệt thực cho đến chết. Ở tuổi 84, tôi đã biết cái tốt nhất cũng như cái xấu nhất của cuộc đời nên tôi không ân hận gì bỏ cuộc sống này khi đã làm tròn bổn phận một người trí thức trước dân tộc và trước lịch sử”…

Thử so sánh với ông Nguyễn Hữu Đang: Ông Heinz Shütte phải hứa là khi ông này còn sống không được công bố những buổi đàm thoại đã diễn ra giữa 2 người từ năm 1999 đến năm 2002. Phải đợi ông Nguyễn Hữu Đang mất ngày 8.2.2007, ông Shütte mới công bố những buổi gặp gỡ này. Sở dĩ như vậy là vì ông Nguyễn Hữu Đang muốn được yên thân trong tuổi già.

Tiện đây tôi cũng xin trả lời một phản hồi của ông Nam Phan là không nên tin vào những bài tham luận, những lời tỉ tê của những vị giáo sư được cử ra để “tố thiện” ông Nguyễn Mạnh Tường (cũng như sau này sẽ tới tua những vị như Phạm Quỳnh, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu…) trong những dịp kỷ niệm sinh nhật. Không có chuyện báọ Le Monde phỏng vấn để các vị giáo sư này bịa ra những câu trả lời ấu trĩ so sánh Ceausescu với ông Hồ và gán cho ông Nguyễn Mạnh Tường. Chỉ có Đài Truyền hình TF1 được nhiều người coi nhất ở Pháp phỏng vấn ông một lần và các nhà báo hỏi ông “theo ông nghĩ khi nào chế độ Việt Nam sụp đổ?” Ông Nguyễn Mạnh Tường trả lời, “Tôi không phải là nhà chiêm tinh cũng không bao giờ bói bài. Patience, patience dans l’azur! Chaque atome de silence, est la chance d’un fruit mûr!

Những người phỏng vấn ông không thể không cảm phục cái ứng đối “xuất khẩu ra thơ Paul Valéry” này của tiến sĩ văn chương Nguyễn Mạnh Tường và hiểu là ông muốn nói chỉ cần kiên nhẫn im lặng chờ đợi. Quả sung chín thế nào cũng rụng. Nghĩa là sớm hay muộn chế độ CSVN thế nào cũng sụp đổ.

Kết luận

Có những người gọi là chống cộng nhưng thật ra là gián tiếp tuyên truyền cho cộng sản khi cho rằng mọi tầng lớp trí thức từ thời Tây đào tạo cho tới những người “trí thức của Việt Nam hôm nay, tại quốc nội hay nơi hải ngoại” đều tự đầu quân dưới trướng hay sẽ ăn bả CSVN cả. Cộng sản khi không được coi là vẫn có sức quyến rũ mãnh liệt, nằm vùng đủ mọi nơi, gửi văn công cùng mọi chỗ. Những người chống cộng chính hiệu con nai này lại tự vạch mặt chỉ tên nhau, tự tố cáo lẫn nhau, coi những người không dứt khoát với cộng sản bằng lỗ miệng như mình đều có ý muốn hoà hợp hoà giải giao lưu hội nhập với cộng sản cả. Thử hỏi: những thế hệ trẻ trong nước thấy CSVN mạnh như vậy thì còn dám ngo ngoe đòi dân quyền dân chủ làm gì? Sẽ im thin thít đợi ngày được chấp nhận vào Thành đoàn để được Đảng ban cho cái gì thì nhận cái ấy.

© 2010 Phong Uyên

© 2010 talawas

Phản hồi

70 phản hồi (bài “Phong Uyên – Ông Trần Văn Tích nên đọc lại “Un Excommunié””)

  1. Nguyễn Lê Hiếu says:

    @ tracy: Điều quan trọng không phải là việc trình luận án mà việc làm ấy có mang lại kết quả hữu ích nào không.

    Có thể đúng… nhưng…Nhân loại tự ngàn xưa đi tìm cái Chân, cái Thiện và cái Mỹ. Với óc thực dụng, sau thêm cái Ích. Một luận án có thể đóng góp cho một, hai hay nhiều khía cạnh. Khi Hội đồng giám khảo cho một luận án thông qua thì chắc nó phải có một giá trị tối thiểu, một bước tiến trong khoảng không gian Chân, Thiện, Mỹ hay Ích. Người ngoài ngành nên dè dặt khi phê bình hay đánh giá một luận án; và tạm chấp nhận là HĐ Giám khảo có khả năng chuyên môn/”hàn lâm” hợp lý để thẩm định giá trị của luận án. Lẽ dĩ nhiên, sau này, có những luận án bị chứng minh là sai, nhưng vào thời điểm viết thì luận án đó cũng đã đẩy một cánh cửa cho mở rộng thêm ra.

  2. tracy says:

    Điều quan trọng không phải là việc trình luận án mà việc làm ấy có mang lại kết quả hữu ích nào không.

    Ở miền Nam VN sau 75, tại trường đại học y khoa TPHCM vẫn có những sinh viên được chọn làm luận án tốt nghiệp. Tôi là một trong những sinh viên ấy. Việc làm luận án cho có chuyện vì không hề có một nghiên cứu khoa học gì cả, không có sách vở để nghiên cứu, tra khảo, việc chọn bệnh nhân và các thống kê làm cho có chuyện vì chúng tôi nào được dạy về thống kê xác suất ở chương trình học nên tha hồ bịa kết quả cho nó đẹp đẽ để trình bày để thích hợp với kế hoạch mà Đảng và Nhà nước đã đề ra “tiến hành 3 cuộc Cách mạng, trong đó Cách mạng Khoa học là then chốt “.

    Ở VN đã có thói quen làm theo chỉ tiêu, theo đường của Đảng và dưới ánh sáng của Nghị quyết, học sinh và sinh viên đã không tập được thói quen suy nghĩ độc lập, không có tham khảo sách vở ngay từ bậc tiểu học nên khó có thể có những phát hiện, những nghiên cứu về mặt khoa học kỹ thuật.

    Trẻ em ở phương Tây (thí dụ ở Mỹ), các con của tôi, ngay tại lớp mẫu giáo (kindergarten) đã được cô giáo hướng dẫn việc đọc sách thêm tại thư viện, phải tự làm book report thành ra việc đầu tư vào khoa học là việc làm lâu dài và tốn tiền, không thể cứ thông minh không là đủ.

  3. @ Trầm Kha nói lúc 10:31 sáng 18/08/2010 :
    Bác hỏi vớ vẩn vu vơ vờ vịt vi vu vì không đọc các phản hồi trước của tôi nên tôi bị dị ứng và có cảm tưởng như đang bị cand thẩm tra bèn xin miễn trả lời, miễn chấp phản hồi.

  4. Nguyễn Lê Hiếu says:

    Bác-Sỹ Tích viết: Trong thực tế, luận án tốt nghiệp đại học – văn khoa, luật khoa, y khoa – chỉ là một hình thức, một thủ tục…
    Trong ngành y Việt Nam chúng tôi, nhiều đàn anh khi ngồi tán gẫu dăm điều ba chuyện, vẫn cười cợt bảo rằng cái thèse của moi, moi mắc cỡ không dám đọc lại. Đó là sự thật vì khi viết luận án, tri thức chuyên môn của anh còn nghèo nàn, anh lại chưa có kinh nghiệm trình bày “tác phẩm”, anh không biết cách tìm tòi, sàng đãi thư tịch tham khảo v.v… Nghề dạy nghề, đến một lúc nào đó, nhìn lại đứa con tinh thần thuở mới tốt nghiệp, chợt thấy nó chả ra làm sao. Tất nhiên tôi cũng thế.

    1- Tôi không nhớ là ở Việt Nam, “tốt nghiệp đại học”—văn khoa, luật khoa—phải qua “thủ tục” làm luận án.
    2- Tôi không nghĩ luận án tốt nghiệp y khoa chỉ là một “hình thức” xuông
    3- Luận án không phải tự mình viết và mang ra trình bày/bảo vệ. Thường có giáo sư cho đề tài, gởi ý, hướng dẫn, và theo dõi mọi giai đoạn nghiên cứu, suy diễn, kết quả, viết lách trình bày. Và chỉ khi nào luận án có giá trị tối thiểu về trình độ (tiến sỹ, hay cả cao học/maitrise..) thì lúc đó giáo sư hướng dẫn (patron de thèse/director of dissertation) mới ký giấy phép rồi hội đồng giám khảo xét; và đã có trường hợp đến cửa này mà có khi còn bị trả lại, bắt nghiên cứu thêm; lẽ-dĩ-nhiên trường hợp này hiếm nhưng không phải không có!) Do đó, khó có thể than (hay chê) rằng chuyên môn còn nghèo nàn, kinh nghiệm trình bày kém đến nỗi mắc cỡ không dám đọc lại luận án!..Tôi nghĩ các luận án y khoa và văn khoa đều qua các giai đoạn và điều kiện như vậy. Lẽ dĩ nhiên là với thời gian và tiến bộ, các luận án có thể sẽ lỗi thời nhưng không vì thế mà có thể chê, lấy tiêu chuẩn và kiến thức sau đánh gia công trình thới trước.

    Phong Uyên đáp lại : Ông Trần Văn Tích đúng khi nói luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa là một thủ tục bắt buộc. Tuy vậy luận án y khoa cũng có nhiều loại có giá trị khác nhau: Người y sĩ tổng quát chỉ cần bỏ vài tháng là có thể hoàn thành luận án. Những bác sĩ chuyên khoa phải bỏ một thời gian lâu hơn nhiều, có khi suốt 4 năm nội trú. Trái lại về luật khoa và nhất là văn khoa, luận án tiến sĩ không phải là một thủ tục vì cả trăm người đậu cử nhân, cao học, chỉ những người thật là ưu tú mới kiếm được một ông thày cho đề tài làm luận án.

    1- Ở Hoa-kỳ, bác sỹ y khoa không cần luận án tiến sỹ; học đủ bốn năm, điểm trung bình và thi cuối khóa đủ điểm thì tốt nghiệp. Tống số điểm cao gọi là bác sỹ y khoa, điểm vừa gọi là y khoa bác sỹ và điểm tối thiểu để tốt nghiệp cũng vẫn gọi là bác sỹ.
    2- Ở Việt Nam thời xưa, các bác sỹ muốn tốt nghiệp phải làm một công trình nghiên cứu hay khảo cứu. Sau đó có thể đi học chuyên môn. Tốt nghiệp chuyên môn không phải viết luận án như tốt nghiệp trường thuốc. Do đó, nói rằng luận án chuyên môn này giá trị hơn luận án chuyên môn khác là một phát biểu không có căn bản.

  5. Nguyễn Lê Hiếu says:

    Mặc Ly viết: Điều mà ông Tường làm phiền lòng nhiều người, kể cả tôi, là việc ông cổ võ cho chủ trương thống nhất hai miền bằng võ lực. Chủ trương này dẫn đến điều gì thì ta đã biết.
    Cái nguy hiểm và tội nghiệp nhất cho NMT là những điều vu khống do người trước đặt ra bị người sau “nghe/đọc” rồi tin như thật; và lấy làm “phiền lòng”.
    Như đã trình bày ở một chỗ khác, vào thời điểm 5-1956, Cộng sản còn đang ve vãn miền Nam để xin bầu cử cho thống nhất. Thống nhất là giấc mơ của dân chúng. Dân miền Nam, nhất là dân di cư, viết và hát nhớ về “Thành đô yêu dấu” cũng mong “bao giờ thống nhất sơn hà về Thăng long dựng bóng cờ”. Ngày 16 tháng 7 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố: VN không ký hiệp định Genève nên không bị ràng buộc song vẫn trung thành với chính sách hòa bình, và sẵn sàng tổ chức tổng tuyễn cử nếu có thể bàu được tự do. Ngày 20 tháng 8, 1955, HCM hứa tự do tổng tuyển cử! 6 tháng 4 1956: Chánh phủ VN tuyên bố không có tổng tuyển cử năm 1956. Tháng 5 1956: NMT kêu gọi thống nhất, bày tỏ nỗi khổ đau vì cảnh dân chúng bị chia cách. Ngày 18 tháng 7 năm 1957, Bắc Việt vẫn còn mong có tổng tuyển cử và Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng gửi thư cho Tổng thống NĐD yêu cầu hiệp thương. Trong hoàn cảnh ấy, NMT không có thể và không hề cổ võ chiến tranh hay xâm chiếm miền Nam.
    Trong bài diễn văn tại Bỉ cổ võ cho thống nhất, NMT không hề nói dân chúng bị cưỡng bách di cư, không hề cổ võ thống nhất bằng võ lực. Đinh Từ Thức dịch sai bài viết và nhắc đi nhắc lại điệp khúc cưỡng bách di cư, cổ võ thống nhất (đúng) bằng võ lực (bịa đặt) và những người nhận làm “chống cộng có lai xăng” vỗ tay họa theo. Rồi nhiều người tưởng thật.

    Ông Tăng Sâm ở đất Phi, ở đấy có kẻ trùng tên với ông giết chết người. Một người hớt hải chạy đến báo mẹ ông Tăng Sâm rằng: “Tăng Sâm giết người.” Bà mẹ nói: “Chẳng khi nào con ta lại giết người”. Rồi bà điềm nhiên ngồi dệt cửi. Một lúc lại có người đến bảo: “Tăng Sâm giết người.” Bà mẹ không nói gì, cứ điềm nhiên dệt cửi.Một lúc lại có người đến bảo: “Tăng Sâm giết người.” Bà mẹ sợ cuống, quăng thoi, trèo qua tường chạy trốn.

  6. Trầm Kha says:

    @hoang:
    3. Ai đảm đương việc đó? bác ‘hoang’ nhé!
    4. ???

  7. hoang says:

    @ Trầm Kha nóilúc 10:31 sáng 18/08/2010 :
    1. Làm thế nào?
    – Đem điều 4 hiến pháp chxhxnVN ra nhà hoả thiêu crematorium và khi thiêu xong mới đem chôn kẻo nó được đào lên quậy nữa phiền lắm!
    2. Khả thi không?
    – Sao lại không?

    (1)&(2) là điều kiện tiên quyết cho các ???? theo sau đó

  8. Trầm Kha says:

    @Đào Nguyên:
    “Xin đồng ý với phương cách giải thể tức thì của bác Nguyễn Đăng Thường.” (Đào Nguyên)
    Vâng! Đã có “phương cách giải thể tức thì” rồi vậy vẫn còn ít nhất 2 câu hỏi nữa:
    1. Làm thế nào?
    2. Khả thi không?
    ?. ???

    @Nguyễn Đăng Thường:

    Thực lòng mà nói, tôi không thấy bác ngu tí nào, chỉ thấy bác… nóng tợn thôi. 😉
    Mà hình như ở hải ngoại tự do người ta tự cho mình được phép… nóng tự do thì phải!?
    May cho bác. Bác mà ở trong nước và nóng thế thì bác đã nằm trong trại như HTTTL rồi. Cũng chả biết bác cho thế là may hay rủi.

    @Lê Quốc Trinh:
    “Theo thiển ý, tôi đọc, suy nghĩ và từ đó quyết định hướng đi cho chính bản thân, quan điểm chính trị tôi có bị ảnh hưởng thì tôi chịu trách nhiệm, nhưng tôi cảm thấy chỉ đọc xuông rồi không hành động quyết liệt thì bàn luận với nhau cả năm trời sẽ đi đến đâu ? Trong khi tình hình đất nước rối ren, trí thức chỉ biết ngồi lại “tán gẫu” với nhau mà thôi sao?” (Lê Quốc Trinh)

    Bác Trinh này, “quan điểm chính trị” của bác “có bị ảnh hưởng thì” đúng là bác tự “chịu trách nhiệm” được thật, nhưng khi bác đã “hành động quyết liệt” thì không phải chỉ một mình bác chịu (hoặc/và) được đâu!
    Đó chính là lý do mà tôi phải đáp lời bác, mong bác hiểu.
    Đó chính là lý do mà bác tưởng mọi người “chỉ đọc xuông rồi… bàn luận với nhau cả năm trời” đấy.
    Đó chính là lý do mà trí thức phải “ngồi lại” cứ như là chỉ “‘tán gẫu’ với nhau mà thôi” đấy.
    Thân tình & chân tình

    @Nguyên:
    Tôi rất tán thành quan điểm của bác, chia sẻ cùng bác cái nỗi niềm của trí thức trước thời cuộc. Và, ngậm ngùi mà tự tại với hai câu thơ của HTTTL như một giải pháp định tâm cho người trí thức trong cơn nghiệt ngã.

    @Trần Lâm:
    “Tôi thật tình không hiểu thái độ của BS Tích đối với mấy dòng chữ tôi viết trong phản hồi trước.” (Trần Lâm)

    Bác khiêm tốn và nhũn nhặn nói thế chứ bác thừa biết lý do cho thái độ của BS Tích rồi. Đã ‘ngoạ hổ tàng long” trong câu hỏi, giờ bác lại “thập diện mai phục’ nữa, bác Trần Lâm ơi!

    @hoang:
    “…trí thức hữu hạng và hữu ích cũng như ái quốc quá mạng…” (hoang)

    Đoạn này bác viết quá hay, song tôi tâm đắc nhất là “ái quốc quá mạng”. Chí lý… quá trời!
    Tôi cũng bận lòng với… Jesus & Judas lắm! Mong có ngày được đàm luận với bác.

    @Hà Minh:
    “…chống cộng có “lai xần” mà bạ cái gì của cộng (hoặc bị dính với cộng) cũng chống hết thẩy thì… đại bất trí.” (Hà Minh)

    Tôi cũng muốn nói y hệt như vậy, nhưng trộm nghĩ, tôi chưa đủ tư cách/ dũng khí để… mắng thẳng như bác. Cảm ơn bác Hà Minh.

    @Trần Văn Tích:
    “Bài tôi viết về Nguyễn Mạnh Tường không nhằm vào Excommunié là một, tôi lại viết nó trong tư cách một kẻ nhận job chống cộng có laixăng là hai. Đó là động cơ chính thức, duy nhất.” (Trần Văn Tích)

    Thưa bác,

    Thật lòng tôi phục tài bác qua bài viết của bác về NMT, và rất cảm kích vì sự thẳng thắn của bác trong phản hồi.

    Phải chi bác đã đưa cái đoạn trích trên đây làm lời dẫn (intro) cho bài của bác thì tôi với bao nhiêu độc giả khác đã đỡ phí bao nhiêu là thời gian, chưa kể bao tổn hại tinh thần. Nhưng nếu mà làm thế thì còn đâu cái ‘job với lại ‘laixăng’ của bác nữa, bác nhỉ? Và cũng chính nhờ thế mà tôi và độc giả có được cơ hội kiểm và tự kiểm, phê và tự phê.

    Trong bài viết về NMT của bác, bác đã làm cái công việc của người trí thức một cách cực kỳ tốt & hiệu quả. Tốt & hiệu quả còn hơn cả cái việc mà bác [i]cho là[/i] cụ NMT đã làm, cho dù/chính vì/nhờ vào cái ‘tầm’ của bác khác xa của cụ, cũng xa như cái tầm của cụ với các trí thức lừng danh phương Tây (mà bác [i]cho là[/i]).

    Kính,
    Trầm Kha
    2010/08/18

  9. Thưa ông Phùng Tường Vân,

    Sau khi tốt nghiệp bác sĩ (tháng 5/1952), trong khi chờ đợi trả lời của Đại học Y khoa Paris chấp nhận cho sang Paris học chuyên khoa nhi (tháng 10/1952), mẹ tôi có làm việc vài tháng cho bệnh viện (b/v) Đặng Vũ Lạc (92 Trần Hưng Đạo, Hà Nội), lúc đó gọi là “nhà thương Đặng Vũ Lạc”. Bệnh viện này sau đổi thành b/v B, b/v Việt Nam – Cuba, và bây giờ là b/v Tim Hà Nội.

    B/v Đặng Vũ Lạc là một bệnh viện đa khoa tư nhân, do bác sĩ Đặng Vũ Lạc sáng lập, khá quy mô, có tổ chức và trang thiết bị vào loại tốt nhất Hà Nội thời đó. Nhiều bác sĩ giáo sư đầu ngành của Việt Nam như các ông Đặng Văn Chung, Đinh Văn Thắng, v.v. đã được mời tới đây làm việc ngoài giờ.

    Trong thời gian làm việc tại b/v Đặng Vũ Lạc, mẹ tôi – khi đó mới 28 tuổi, vừa tốt nghiệp bác sĩ – đã được bệnh viện cấp cho một phòng làm việc riêng, hưởng lương tháng, làm việc mỗi ngày hai buổi, và hàng ngày có xe hơi của bệnh viện đưa đi đón về, dù nhà cha mẹ tôi khi đó chỉ cách bệnh viện khoảng hai chục phút đi bộ..

  10. Hoà Nguyễn says:

    Ông Trần Lâm viết : “2/ Vị cao ủy Đông Dương thương nghị với Bảo Đại cuối năm 1947 là Emile Bollaert chứ không phải D’Argenlieu”.

    Đúng thế, tôi chép sơ sót chỗ này. Các sách đều viết là Bollaert. Khi Bảo Đại ở Hongkong, D’Argenlieu cho người qua dò xét, sau đó gửi tờ trình về Pháp ngày 14-1-1947, xin chính phủ Pháp cứu xét mời Bảo Đại lập lại chế độ quân chủ như thời bảo hộ, nhưng đề nghị này bị bỏ qua, vì lúc đó thủ tướng Léon Blum bị Paul Ramadirt thay thế. Tiếp theo là D’Argenlieu bị triệu hồi để Bollaert sang thay. (“Việt Nam 1945-1995”, Lê Xuân Khoa , trang 92). Bollaert làm cao ủy trong ba đời thủ tướng Pháp (P. Ramadier, Robert Schuman, André Marie) lãnh nhiệm vụ thương thuyết với Bảo Đại. Vấn đề gay go nhất là Bảo Đại đòi Việt Nam thống nhất (thu hồi lại Nam kỳ mà trước kia tạm ước giữa Hồ Chí MInh và Sainteny vẫn bỏ ngõ), và tất nhiên là độc lập, có quyền về ngoại giao, có quân đội riêng. Ngày 17-9-48, André Marie lên làm thủ tướng, Bollaert vẫn không thuyết phục được Bảo Đại, nên chán nản từ chức, và Léon Pignon thay thế ngày 21-9. “Lúc này ở Trung Hoa, hồng quân đang trên đà thắng thế và bộ đội của Mao Trạch Đông đã có mặt ở biên giới Việt Nam và tiếp sức cho Việt Minh, Chính phủ Pháp cần củng cố một chính quyền chống cộng sản ở Việt Nam để được Hoa kỳ giúp đỡ… Cuối cùng hiệp định Élysée được ký ngày 8-3-1949 xác nhận Việt Nam là nước độc lập và thống nhất trong khối Liên Hiệp Pháp, sẽ có đại diện ngoại giao ở nước ngoài và có quân đội riêng” (trích sách dẫn trang 99-100) .

    Tờ truyền đơn ủng hộ Bảo Đại, do Trần Lâm giới thiệu, ở góc phải bên trên ghi ngày 8-12-47, viết với nhiều lỗi về dấu hỏi ngã, nên chắc được rải ở Sài Gòn. Có thể nhận thấy thêm vài điều :
    1/ Thời đó người dân từ Bắc đền Nam gọi ông Hồ Chí Minh là “cụ Hồ”. Và gọi là (công dân) Vĩnh Thuỵ chứ không là (vua, cựu hoàng) Bảo Đại.
    2/ Tờ truyền đơn nhận định Việt Minh không thể nhờ cậy được ở “Nga Sô” vì quá xa, và không nói gì tới CS Trung Quốc vì vào năm 1947 Mao (ở Diên An) còn yếu so với Tưởng.
    3/ Kêu gọi ủng hộ Vĩnh Thuỵ “Để khỏi cô lập trong khối Á Đông bài cọng và thân Mỹ”. và “để cho sứ mạng ngoại giao thi hành một cách chắc chắn”.

1 3 4 5
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả