talawas blog

Chuyên mục:

Trương Nhân Tuấn – Về bài nghiên cứu của Tiến sĩ Vũ Quang Việt trong Hội thảo Hè 2010 tại Philadelphia, Hoa Kỳ (2)

17/08/2010 | 12:15 chiều | 8 Comments

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Category: Quan hệ Việt – Trung
Thẻ: >

(Xem kì 1)

2. Về lịch sử chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa

TS Vũ Quang Việt đặt nghi vấn về tấm bản đồ mang tên “Đại Nam nhất thống toàn đồ” cũng như đánh giá thấp tài liệu Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn, cho rằng đây không phải là “chính sử”.

Về nguồn gốc của “Đại Nam nhất thống toàn đồ”, tôi đồng ý với TS Vũ Quang Việt rằng một tài liệu không thể không được xác định rõ ràng về xuất xứ, nhất là tài liệu này lại được ghi trong Sách Trắng về chủ quyền “không thể chối cãi của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa”. Do đó, việc nghiên cứu thẩm định lại xuất xứ tấm bản đồ này là điều cần thiết. Ngoài điều đó ra thì tôi nhận thấy tấm bản đồ này có giá trị rất lớn, vì nó xác định được việc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về lãnh thổ của Việt Nam. Bởi vì, nếu hai quần đảo này không thuộc Việt Nam thì tổ tiên chúng ta vẽ chúng vào đó làm chi?

Mặt khác, so sánh bản đồ này với các bản đồ cổ thời xưa, ta sẽ thấy các tấm bản đồ này phần lớn đều giống nhau ở điểm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được nhập lại làm một.

Các bản đồ có các chi tiết giống như “Đại Nam nhất thống toàn đồ”, ghi nhận  Hoàng Sa và Trường Sa là một nhóm dài, đối diện bờ biển miền Trung của Việt Nam. Tham khảo trang nhà: http://www.davidrumsey.com, ta thấy các bản đồ của Smiley Thomas, 1842, School Atlas; Adams Daniel, 1819, School Atlas; Kitchin Thomas, 1787, Robert Sayer (London); Lattre Jean, 1800, Les Indes Orientales, C.F. Delamarche Paris; Patteson, Edward, Asia, 1804, School Atlas; Brue, Adrien Hubert, L’Asie, 1838, World Atlas; Brue, Adrien Hubert, Carte generale des Indes, 1836, World Atlas; Pinkerton, John, 1758-1826 Asia. 1814 World Atlas; Playfair, Principal Asia. 1814 World Atlas; Andriveau-Goujon, J. L’Asie. 1845 World Atlas; Anville, Jean Baptiste Bourg, Asie 2. 1752, World Atlas; Arrowsmith, John Asia. 1844 World Atlas; Arrowsmith, John Asiatic Archipelago. 1844 World Atlas; Radefeld, Carl Christian Franz, Flusskarte, Asien. 1848 World Atlas; Arrowsmith, John, Asia. 1832, World Atlas; Rand McNally and Company, Asia. 1897, World Atlas; Reichard, C. G., Ostindien. 1822, World Atlas;  Reichard, C. G. 2. Atlas des ganzen Erdkreises; 1803 World Atlas; Anville, Jean Baptiste Bourg… Composite: Asia. 1799, World Atlas;  Bonne, Rigobert, 1727-1794, Indes Orientales. 1791, World Atlas… phần lớn đều vẽ Hoàng Sa và Trường Sa làm một.

Điều này cho thấy không phải chỉ có các nhà địa lý của Việt Nam mới có lầm lẫn này. Nhưng vấn đề là bản đồ “Đại Nam nhất thống toàn đồ” có ghi chú Hoàng Sa và Trường Sa. Như thế đã có sự phân biệt rạch ròi giữa hai nhóm đảo. Người ta không thể đòi hỏi một sự chính xác hơn thế trong thời đại đó.

Về thẩm quyền đánh giá tài liệu Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn, tôi xin dẫn bài viết “Giá trị của các trang sử liệu viết về Hoàng Sa, Trường Sa trong sách Phủ biên tạp lục” của TS  Nguyễn Quang Ngọc.

Về tư cách của Lê Quí Đôn lúc viết tập Phủ biên tạp lục:

Vào năm 1776 trong khi được cử giữ chức vụ Hiệp trấn tham tán quân cơ ở Thuận Hoá, ngoài việc phải lo tổ chức lại chính quyền, ổn định cuộc sống của dân, Lê Quý Đôn đã tranh thủ thời gian sưu tầm, tập hợp tư liệu viết cuốn sách Phủ biên tạp lục.

Lúc viết tập sách này Lê Quí Đôn là một quan chức của triều đình, tức hưởng bổng lộc của triều đình. Nếu nói rằng tập tài liệu này không phải là “chính sử” thì không công bằng.

Nhưng thử so sánh tập Phủ biên tạp lục với các bộ “chính sử” cùng thời khác xem sao:

Với bộ Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789) – bộ sử do Quốc sử Viện thời Lê Trịnh tổ chức biên soạn nối tiếp vào quyển XIX sách Đại Việt sử ký toàn thư. TS Nguyễn Quang Ngọc viết:

Bộ sách được hoàn thành chỉ sau Phủ biên tạp lục một thời gian ngắn là Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789) – bộ sử do Quốc sử Viện thời Lê Trịnh tổ chức biên soạn nối tiếp vào quyển XIX sách Đại Việt sử ký toàn thư. Trong sách, đoạn ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa trên căn bản không khác ghi chép của Lê Quý Đôn. Nói một cách khác, các nhà chép sử thời Lê Trịnh sau khi xác định ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục là hoàn toàn đúng sự thật, đã đưa gần như nguyên vẹn nội dung này vào chính sử của triều đại mình.

Bộ Đại Nam thực lục (Tiền biên và Chính biên), được xây dựng từ khi nhà Nguyễn mới ra đời và kéo dài cho đến năm Đồng Khánh thứ 3 (1898), TS Nguyễn Quang Ngọc viết:

Trong phần Tiền biên, sách Đại Nam thực lục chép về sự việc người đội Hoàng Sa đi Hoàng Sa bị gió dạt vào Quỳnh Châu năm 1754 và giới thiệu khái quát về Vạn Lý Trường Sa, đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải được tổ chức từ thời ‘quốc sơ’ – tức là thời các chúa Nguyễn đầu tiên, không có gì khác với Phủ biên tạp lụcĐại Việt sử ký tục biên.

Qua nghiên cứu những bản sao Phủ biên tạp lục lưu giữ tại Thư viện Khoa học xã hội, Viện Sử học và trường Đại học Tổng hợp Hà Nội…, Giáo sư Đào Duy Anh cho rằng nguồn gốc chung của các bản Phủ biên tạp lục ‘chỉ là hai bản có ở Nội các trong đời Tự Đức’ và các bản của Nội các ấy ‘hẳn là đã được Quốc sử quán chép lại trong thời gian cơ quan này dùng nó trong công việc biên soạn Thực lục tiền biên.”

TS Nguyễn Quang Ngọc kết luận:

những ghi chép của Lê Quý Đôn về Hoàng Sa, Trường Sa trong Phủ biên tạp lục không chỉ được nêu cao trong bộ Quốc sử thời Lê Trịnh mà một lần nữa được khẳng định trong bộ sử chính thức của vương triều Nguyễn.

TS Vũ Quang Việt cho rằng Phủ biên tạp lục không phải là chính sử, do đó không có giá trị, nhưng sẽ đánh giá làm sao nếu các dữ kiện về Hoàng Sa và Trường Sa từ các bộ chính sử đều trích dẫn từ Phủ biên tạp lục?

TS Vũ Quang Việt cũng cho rằng “không thể nói chắc chắn rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Cho tới bây giờ chưa tìm thấy chứng cứ tài liệu nào trong lịch sử Việt Nam rõ ràng để nói rằng Trường Sa là của Việt Nam.”

Như vậy tài liệu sau đây không đủ để xác định chủ quyền tại Trường Sa?

Ngày 13-4-1933, mt hạm đội nhthuc các lc lượng Hi quân Pháp Viễn Đông, dưới schhuy ca Trung tá Hi quân De Lattre ri Sài Gòn đến đảo Trường Sa (gm thông báo hm La Malicieuse). Schiếm hu tiến hành theo nghi thc cổ xưa đó là một văn bản được tho ra và các thuyền trưởng ký thành 11 bn – Mỗi đảo nhn một văn bản, được đóng kín vào trong một cái chai rồi được gn trong mt trụ xi măng xây trên mỗi đảo ti một điểm ấn định và cố định trên mặt đất, người ta kéo lên lá ctam tài và thi kèn trên tng hòn đảo.

1933, Theo Nghị định ngày 26-7, Chính phPháp công bvic chiếm hu ca Hải quân Pháp đối vi qun đảo Trường Sa (Từng đảo một được ghi lần lượt). Và theo Nghị định ngày 21-12 của cùng năm đó, Thống đốc Nam KJ. Krautheimer sáp nhp chính thc quần đảoTrường Sa vào Tnh Bà Ra.[1]

Tôi nhận thấy nhận định của TS Vũ Quang Việt có rất nhiều điểm tương đồng với ý kiến của các học giả Hoa Kỳ, những người đã viết sách, tài liệu về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa vào các thập niên 80, 90 của thế kỷ trước. Điều nên ghi nhận là các học giả này, do tình thế thời đó, phần nhiều không có cảm tình với nhà nước cộng sản Việt Nam. Có nhiều lý do để giải thích, nhưng các lý do chính là vì nhà nước này hiếu chiến, độc tài, khát máu, là bàn tay nối dài của Liên Xô tại vùng Đông Nam Á. Dưới mắt họ, Việt Nam không xứng đáng để có thái độ khách quan cần thiết. Những học giả đó cũng không có cảm tình với Pháp. Từ sau Thế chiến II, quyền lợi của Hoa Kỳ luôn bị cản trở bởi các hành động của Pháp. Trong khi phe Mỹ chống thực dân thì Pháp lại là một thí dụ điển hình về thực dân chủ nghĩa. Do đó phần lớn các tài liệu của các học giả Hoa Kỳ đều viết rất bất lợi cho Việt Nam, như tài liệu của các ông Mark Valencia, Christopher C. Joyner, Marwyn S. Samuels…

Một thí dụ, Christopher C. Joyner, tác giả tập tài liệu theo bản dịch ra tiếng Việt nhan đề “Tranh chấp quần đảo Trường Sa: Suy nghĩ lại về tác động qua lại giữa luật, ngoại giao và địa chính trị trong biển Nam Trung Hoa”, viết ở trang 17:

Yêu sách chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa cũng dựa trên cơ sở quyền thừa kế yêu sách của người Pháp, lần đầu tiên đưa ra vào năm 1933. Tuy nhiên người Pháp không hề có nỗ lực nào nhằm hoàn thiện danh nghĩa chủ quyền của họ đối với quần đảo Trường Sa bằng việc chiếm đóng. Người Pháp cũng không có hành động nào thể hiện họ quay lại nắm chủ quyền đối với quần đảo sau khi người Nhật rút đi sau Chiến tranh Thế giới thứ hai hoặc thể hiện hành động sau khi Nhật Bản chính thức từ bỏ mọi danh nghĩa về chủ quyền và tuyên bố sẽ không đưa ra yêu sách chủ quyền trong tương lai đối với quần đảo Trường Sa tại Hội nghị San Francisco năm 1951. Vì thế Pháp không hề có một danh nghĩa hợp pháp nào về chủ quyền về nhóm đảo ở Trường Sa để Việt Nam có thể kế thừa.

Lý lẽ của ông này không khác nhiều lý lẽ của TS Vũ Quang Việt, nhưng có nhiều điều sai sự thật. Vì trên thực tế hiện nay có rất nhiều đảo bỏ hoang nhưng có chủ. Một thí dụ, các đảo thuộc Anh ở cận kề bờ biển nước Pháp (các đảo Anglo-Normands), một số là đảo hoang không có người ở. Có đảo ở sát bờ nước Maroc, thuộc eo biển Gibraltar, thuôc Anh nhưng không có người ở. Một số đảo không có người ở của Pháp và Nhật vừa được hai nước này thiết lập hồ sơ thềm lục địa mở rộng, cho thấy vài trường hợp cũng có hiệu lực vì không có nước nào phản đối. Các nước như Pháp, Nhật, Hoa Kỳ… đều có nhiều đảo bỏ hoang, không có người ở. Trường hợp những đảo nhỏ, tình trạng sinh sống khó khăn, như các đảo ở Trường Sa, sau khi tuyên bố cắm mốc chủ quyền, quân đội Pháp-Việt thỉnh thỉnh thoảng đi tuần canh, nhưng không có người ở, tức đảo bỏ hoang. Nhưng quyền chủ quyền của các đảo này vẫn không mất đi. Đâu phải bỏ hoang là mất chủ quyền? (Cái nhà tôi bỏ hoang như nó vẫn là của tôi.) Vấn đề là việc tuyên bố chủ quyền có phù hợp với luật pháp quốc tế (lúc đó) hay không?

Về thái độ của Pháp, sau khi Nhật rút đi, thực ra là Pháp đã lấy được quyền giải giới của Trung Hoa trong việc trao đổi quyền lợi với Hiệp ước Trùng Khánh 28 tháng 2 năm 1946, đã ra tiếp quản hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đã cho binh lính đi cắm mốc chủ quyền tại đảo Ba Bình ngày 4-10-1946. Thủ tục tuyên bố chủ quyền như thế đã hoàn tất. Mặt khác, trong Hội nghị San Francisco, chính Pháp là nước đã đề nghị điều khoản mù mờ về pháp lý, không xác định các đảo mà Nhật từ bỏ chủ quyền sẽ giao lại cho ai. Bởi vì Pháp, với sự ưng thuận ngầm của hai đại cường Anh và Hoa Kỳ, đã có phương pháp riêng để giành lại một cách êm thắm chủ quyền của hai quần đảo này. Và đó là những vận động đặc thù của nước Pháp, một phương pháp không gây ồn ào, nhưng có hiệu lực, để có được danh nghĩa hợp pháp ở Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam vì thế có đủ tư cách kế thừa danh nghĩa của Pháp tại hai quần đảo này.

3. Về một phương hướng giải quyết tranh chấp biển Đông

Xét thái độ của Hoa Kỳ

Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Clinton nhân tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN ngày 20 tháng 7 năm 2010 vừa qua đã cho biết rõ rệt quan điểm của Hoa Kỳ về tranh chấp biển Đông. Có các điểm đáng chú ý: 1/ tự do đi lại và tôn trọng luật pháp quốc tế ở biển Đông, 2/ ủng hộ việc giải quyết tranh chấp qua ngoại giao, chống việc đe dọa hay sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề, 3/ không ủng hộ phe nào trong việc tranh chấp chủ quyền các đảo và đề nghị giải quyết tranh chấp về chủ quyền các đảo và vùng biển theo tinh thần luật biển của Liên Hiệp Quốc, 4/ việc đòi hỏi chủ quyền vùng biển chỉ nên bắt nguồn từ quyền chủ quyền chính đáng trên các đảo này.

Tuyên bố này là một trả lời thẳng thừng của Hoa Kỳ đến với lãnh đạo Trung Quốc: Hoa Kỳ không chấp nhận biển Đông là “quyền lợi cốt lõi” của Trung Quốc, bất chấp việc hải quân Trung Quốc đang điệu võ dương oai tập trận trên biển Đông lẫn Hoàng Hải.

Xem ra Hoa Kỳ vẫn coi rất xoàng khả năng quân sự của Trung Quốc.

Tuyên bố của bà Clinton cho thấy có một số thay đổi về chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Điều nên nhắc lại, năm 1992, sau khi Trung Quốc ký với công ty Creston của Hoa Kỳ để khai thác vùng Vạn An Bắc, tức bãi Tứ Chính và Vũng Mây của Việt Nam, vùng này tọa lạc trên thềm lục địa Việt Nam, một viên chức của Hoa Kỳ có mặt tại buổi lễ khai mạc.

Về điểm 3/ cho thấy Hoa Kỳ vẫn còn do dự, chưa công khai công nhận chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: “không ủng hộ phe nào trong việc tranh chấp chủ quyền các đảo”. Trong khi đó các chính phủ tiền nhiệm đã công nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam từ năm 1951. Nhưng Hoa Kỳ ủng hộ việc “giải quyết tranh chấp về chủ quyền các đảo và vùng biển theo tinh thần luật biển của Liên Hiệp Quốc.” Điều này cho thấy khuynh hướng giải quyết mà Hoa Kỳ ủng hộ là một trọng tài quốc tế, giải quyết theo luật biển của Liên Hiệp Quốc. Tôi cho rằng đây là điều mơ ước của Việt Nam từ lâu. Vấn đề còn lại là công việc của các học giả Việt Nam thiết lập hồ sơ thế nào để có lợi.

Về điểm 4/ cho thấy lập trường Hoa Kỳ là phủ nhận đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc theo đường chữ U chín gạch nhưng công nhận sự hiện hữu của vùng biển ở các đảo tranh chấp: việc đòi hỏi chủ quyền vùng biển chỉ nên bắt nguồn từ quyền chủ quyền chính đáng trên các đảo này. Vấn đề đặt ra là vùng biển của các đảo này là bao nhiêu?

Tôi nhận thấy rằng một số học giả Việt Nam thường hay quá tin tưởng vào một số quan điểm của các học giả quốc tế qua các tài liệu đã được công bố, như về một số phương pháp phân chia biển Đông (phương pháp Valencia[2]) hay về hiệu lực các đảo trên biển Đông (phương pháp Vandyke và Bennett). Tất cả các nghiên cứu này đều có giá trị nhất định, nhưng không chắc là chúng có lợi cho Việt Nam.

Việc xác định vùng biển của các đảo, theo như đề nghị của Hoa Kỳ, là theo tinh thần của luật biển Liên Hiệp Quốc[3]. Nhưng trước khi nói đến việc này thì việc cần phải làm là xác định chủ quyền các đảo, tức trở lại điểm 3. Vấn đề chủ quyền phải được giải quyết trước.

Thái độ của Trung Quốc: Về tuyên bố “lợi ích cốt lõi”

Từ lâu Trung Quốc đã ý thức rằng việc thống nhất Đài Loan bằng vũ lực sẽ lôi kéo Hoa Kỳ vào vòng chiến, sau đó sẽ lôi kéo theo Nhật Bản, Đại Hàn và các nước Đông Nam Á. Đài Loan là “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc nhưng Đài Loan có ký kết với Hoa Kỳ Taiwan Relation Act, cam kết bảo đảm an ninh cho đảo này.

Trong khi đó, nếu Trung Quốc giải quyết tranh chấp biển Đông bằng vũ lực, thì cũng sẽ làm bùng nổ khu vực Đông Nam Á, do đó kéo theo Hoa Kỳ, tiếp theo sẽ là Nhật Bản, Đại Hàn và Đài Loan. Sách Trắng Quốc phòng của Đài Loan thường xuyên nhắc nhở khả năng này.

Trung Quốc không thể không “thu hồi” Đài Loan về “đất mẹ” vì đó là thách thức tính chính đáng của lãnh đạo ĐCS Trung Quốc.

Các tầng lớp lãnh đạo của ĐCS Trung Quôc bị chi phối bởi các mục tiêu chiến lược: thống nhất lãnh thổ và hùng phong đại quốc. Các thế hệ (thứ nhất) Đặng Tiểu Bình, thế hệ thứ hai Giang Trạch Dân đã làm tròn trách nhiệm của mình. Hồng Kông (và Ma Cao) đã trở về “đất mẹ”. Đã đặt được Trung Quốc trên dàn phóng phát triển. Chỉ còn Đài Loan. Thế hệ thứ ba Hồ Cẩm Đào có thể sẽ nhận lãnh trọng trách này hay chưa?

Đóng góp của Hồ Cẩm Đào còn nhiều tranh luận. Mặc dầu đã đưa Trung Quốc lên hàng đại cường kinh tế thứ hai, nhưng đổi lại phải hy sinh đau đớn cho đại đa số dân chúng. Càng phát triển lại càng đào sâu những mâu thuẫn xã hội. Phát triển càng nhanh thì cách biệt giàu nghèo càng lớn trong khi chênh lệch phát triển giữa các tỉnh nội địa – ven biển ngày càng cách xa. Mức sống trung bình của một người dân Quảng Đông hay Triết Giang có thể lớn hơn ba, bốn lần một người dân tại các tỉnh nội địa như Vân Nam, Quí Châu, Cam Túc, Nội Mông, Tân Cương, Thanh Hải, Tây Tạng…

Quyền lãnh đạo Trung Quốc luôn do các nhóm có thế lực trong Đảng luân phiên nhau nắm giữ. Các nhóm đó nhân sự đều đến từ các tỉnh phát triển, có gốc gác tại Bắc Kinh, Giang Tô (thủ phủ là Thuợng Hải), Quảng Đông, Triết Giang…, mặc dầu hiện nay, hướng phát triển về phía nội địa được đẩy mạnh. Chỉ vài năm mà hạ tầng cơ sở như sân bay, đường sắt , đường xa lộ… đã được xây dựng. Việc này thuận tiện cho việc phát triển các tỉnh nội địa. Nhưng khoảng cách phát triển các tỉnh này với các tỉnh ven biển vẫn giữ nguyên. Ngoài ra quan hệ giữa các tỉnh ven biển và các tỉnh nội địa là quan hệ chủ-thợ. Những năm trước, các tỉnh nội địa cung cấp công nhân cho các nhà máy ven biển. Hiện nay công nhân các tỉnh nội địa một số được làm việc tại tỉnh nhà, nhưng các xí nghiệp tại đây đều do những nhà tư bản gốc các tỉnh ven biển làm chủ. Mâu thuẫn trong xã hội do đó rất lớn. Khuynh hướng ly khai có khả năng bộc phát. Các tỉnh giàu có không có lý do gì mà phải chịu gánh nặng lo lắng cho các tỉnh nghèo trong nội địa. Trong khi các tỉnh Tân Cương, Tây Tạng mâu thuẫn giữa dân bản địa với dân Hán di cư ngày càng trầm trọng. Phương pháp giải quyết hiện nay của lãnh đạo hoặc là đàn áp (trường hợp Tây Tạng, Tân Cương), hoặc chia sẻ quyền lực lãnh đạo.Việc này có thể giảm thiểu nguy cơ ly khai tại các tỉnh giàu có, nhưng sự bất mãn vẫn còn, vì không giải quyết vấn đề ở gốc rễ là sự bất mãn ở các tỉnh nội địa.

Các vấn đề xã hội là một thách thức lớn cho nhóm lãnh đạo hiện nay tại Bắc Kinh. Gần đây Trung Quốc tuyên bố biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, tức xem biển Đông ngang hàng với Đài Loan. Đài Loan giải quyết chưa xong tại sao lại mang thêm vào vấn đề biển Đông, tạo thêm thách thức mới cho lãnh đạo?

Phải chăng Trung Quốc đã có chủ trương giải quyết một lượt Đài Loan và biển Đông? Điều này rất có thể đúng, vì dầu thế nào, giải quyết mặt này thì cũng lôi kéo theo việc kia, trước sau gì cũng phải giải quyết hai vấn đề một lúc mà vấn đề nào cũng “đụng” với Hoa Kỳ và các nước trong vùng.

Việc hiện đại hóa quân đội, nhất là hải quân và không quân, ban đầu nhắm vào Đài Loan, sau này hướng về biển Đông. Chắn chắn lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ phải giải quyết vấn đề Đài Loan. Khi mà Đài Loan vẫn còn đứng ngoài thì tính chính thống của ĐCS Trung Quốc còn bị thử thách.

Phải chăng hành động đưa biển Đông lên “quyền lợi cốt lõi” là chuông báo hiệu sắp rung?

Nhưng việc lên tiếng khẳng định lập trường của Hoa Kỳ về biển Đông, thêm vào đó là các động thái liên quan đến Việt Nam như vấn đề đàm phán hạt nhân, hay vụ biểu dương lực lượng với Đại Hàn qua vấn đề chiếc tàu Cheonan, là cú thắng gấp, cho thấy thế hệ Hồ Cẩm Đào khó mà giải quyết được vấn đề Đài Loan. “Quyền lợi cốt lõi” của Trung Quốc ở biển Đông sẽ là cái gân gà khó nuốt của Tào Tháo tân thời họ Hồ.

Thái độ hung hăng của Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á đã khiến các nước này một mặt vũ trang, mặt khác đi tìm chỗ dựa vào Hoa Kỳ.

Đã qua rồi thời còn đế quốc Liên Xô hùng hổ muốn nhộm đỏ châu Á qua các con cờ Việt Nam và Afghanistan. Thời đó Hoa Kỳ cần Trung Quốc để hãm lại sự ngông cuồng của cộng sản Việt Nam, vì lo sợ những người này “giải phóng” các nước Đông Nam Á. Khi Liên Xô đã sụp đổ, Hoa Kỳ không cần đến Trung Quốc nữa. Một quãng thời gian ba thập niên nhờ vào trợ giúp của Hoa Kỳ và các nước tư bản mà Trung Quốc nhanh chóng phát triển trở thành một đại cường. Nhưng thái độ hống hách, bành trướng, thường xuyên khoa trương thế lực của Trung Quốc hiện nay đã khiến Ấn Độ e dè, xem Trung Quốc là đối thủ chiến lược. Ấn Độ mong muốn kết bạn chiến lược với Việt Nam để đối trọng với Trung Quốc trong vấn đề Pakistan, vì nước này là đồng minh có vũ trang hạt nhân của Trung Quốc, lại ở sát nách Ấn Độ. Trung Quốc tiếp tục giúp cho Bắc Hàn kỹ thuật hạt nhân để đe dọa Nhật Bản, Đại Hàn. Trung Quốc đang có chương trình giúp Miến Điện, giành chỗ của Nga, trong việc vũ trang vũ khí hạt nhân. Trong khi đó tại biển Đông lại muốn đe dọa an ninh của Hoa Kỳ và tước đoạt quyền tự do thông lưu của nước này ở biển Đông. Vụ chiếc EP-3 vào tháng Tư năm 2001 hay vụ chiếc tàu Impeccable là các thí dụ điển hình. Tham vọng của Trung Quốc quá lớn, không chỉ đe dọa an ninh khu vực mà còn đe dọa đến hòa bình của thế giới.

Vừa qua, Hoa Kỳ và Việt Nam thảo luận về vấn đề năng lượng hạt nhân. Tin tức loan tải cho rằng Hoa Kỳ không đặt vấn đề về việc Việt Nam tự làm giàu nguyên liệu fissile. Nếu đúng vậy thì Việt Nam là nước thứ hai, sau Ấn Độ, được sự đối đãi đặc biệt của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Việt Nam đã ký kết vào công ước quốc tế “Không phổ biến vũ khí nguyên tử”, do đó Việt Nam sẽ phải tôn trọng hiệp ước này. Nhưng việc chế ngự kỹ thuật làm giàu chất phân nhân sẽ giúp cho Việt Nam một tư thế răn đe mạnh, có thể đối đáp lại với bất kỳ đe dọa nào đến từ bên ngoài. Tuy nhiên, điều quan trọng khác là Việt Nam sẽ phải thụ đắc kỹ thuật về động cơ hỏa tiễn mới có thể phát huy tối đa tiềm năng răn đe của mình. Điều này ngược lại, Việt Nam không bị cấm đoán bởi một kết ước nào.

4. Kết luận

Trở lại bài nghiên cứu của TS Vũ Quang Việt. Ông trả lời phỏng vấn trên BBC như sau: “theo nghiên cứu của tôi, không thể nói chắc chắn rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Cho tới bây giờ chưa tìm thấy chứng cứ tài liệu nào trong lịch sử Việt Nam rõ ràng để nói rằng Trường Sa là của Việt Nam. Tuy nhiên, Trung Quốc và các nước khác cũng không có bằng chứng gì rõ ràng để nói Trường Sa là của họ.”

Nghiên cứu này và các tuyên bố của TS Vũ Quang Việt trên các mạng truyền thông chắc chắc sẽ được nhiều bên tranh chấp với Việt Nam khai thác sử dụng, tương tự như Công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Trung Quốc và các nước khác chắc sẽ chỉ đồng ý với TS VQ Việt phân nửa: quần đảo đó không thuộc chủ quyền của Việt Nam. Và giả sử, nếu các nước đều đồng ý là các đảo đó vô chủ, thì phía Phi Luật Tân có lẽ sẽ cám ơn TS Vũ Quang Việt, vì cơ sở pháp lý của họ xưa nay là như thế: khi các đảo này vô chủ thì họ có quyền chiếm đóng và tuyên bố chủ quyền. Ý kiến này củng cố cơ sở lập luận của Phi. Trung Quốc (và Đài Loan) chắc sẽ phải cám ơn TS Vũ Quang Việt nhiều hơn, vì lý luận cơ bản về chủ quyền của họ có rất nhiều sơ hở vì không nhất quán, luôn thay đổi theo hoàn cảnh. Từ nay họ có thể lý luận vì là các đảo vô chủ, do đó ai tuyên bố chủ quyền trước, ai đổ quân chiếm đóng trước, thì đảo đó thuộc về người đó. Việt Nam có thể nói adieu với Hoàng Sa, với Ba Bình!

TS Vũ Quang Việt cũng phát biểu: “Vì thế nếu các bên bây giờ đẩy mạnh tinh thần dân tộc, vận động người dân trong nước chiến đấu bảo vệ, sống chết với nó thì sẽ tạo ra một cuộc chiến tranh hết sức vô ích.”

Năm 1992, M. Valencia cũng cho rằng tranh chấp năng lượng và tài nguyên cá sẽ “châm ngòi cho dân tộc chủ nghĩa ở biển Đông”.

Nhưng thực ra chủ nghĩa dân tộc không cần phải châm ngòi hôm nay mới bùng phát. Nó đã thường trực hiện hữu từ hơn bốn ngàn năm nay. Việt Nam luôn là nạn nhân của chủ nghĩa dân tộc Hán. Nếu không có “các cuộc chiến tranh hết sức vô ích”, nói như TS Vũ Quang Việt, thì đất nước và dân tộc Việt Nam đã bị xóa sổ và đồng hóa từ lâu.

Sự hống hách của Trung Quốc đã khiến Hoa Kỳ phải lên tiếng, việc này xảy ra ngoài sự mong đợi của Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn là một nước độc tài đảng trị, chính quyền ở đây vẫn còn là một chính quyền hung bạo, thường xuyên chà đạp nhân quyền. Việc lên tiếng của Hoa Kỳ chỉ xảy ra sau sự phản đối của Indonesia và các “đụng độ nhẹ” giữa các tàu Ngư Chính của Trung Quốc và hải quân Mã Lai. Một “trùng hợp ngẫu nhiên” mà quyền lợi của Việt Nam đồng thời cũng là quyền lợi của Hoa Kỳ. Do đó Việt Nam cần phải khéo léo khai thác, nhưng trước tiên là phải nhanh chóng thay đổi thể chế chính trị, chuyển từ chế độ độc tài đảng trị sang chế độ dân chủ đa nguyên, để có một bộ mặt nhân bản, mới có thể được sự ủng hộ của dư luận Hoa Kỳ. Việt Nam cần phải ý thức rằng chỉ có dựa vào Hoa Kỳ mới có thể đối trọng được với Trung Quốc, mới có thể giữ được toàn vẹn lãnh thổ, hải phận của đất nước mình. Mà muốn dựa vào Hoa Kỳ lâu dài thì không thể mang mãi bộ mặt độc tài, chà đạp nhân quyền như hiện nay.

© 2010 Trương Nhân Tuấn

© 2010 talawas


[1] Dẫn nguyên văn từ CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA, NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA, Hà Nội – 1998, Người dịch: Nguyễn Hồng Thao, Hiệu đính: Lưu Văn Lợi, Lê Minh Nghĩa. Nguyên bản: La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys, tác giả Monique Chemillier-Gendreau.

[2] Theo tác giả Hoàng Việt, trong bài “Giải pháp nào cho tranh chấp biển Đông“: Nhóm Mark J. Valencia cũng đưa ra 5 kịch bản cho việc chia sẻ trong việc khai thác tài nguyên tại biển Đông… Điểm chung của tất cả các kịch bản phân chia nói trên là đều bỏ qua một phần hoặc toàn bộ sự hiện diện của hai quần đảo đang bị tranh chấp và giành nhiều lợi thế cho Trung Quốc ( ví dụ kịch bản số (2) và số (5) đều coi Hoàng Sa là lãnh thổ thuộc chủ quyền của Trung Quốc). Theo phương thức này thì các bên tranh chấp đều phải tôn trọng  và công nhận yêu sách của Trung Quốc trên toàn bộ biển Đông và có thể khai thác chung các khu vực thềm lục địa của các nước khác. Đây có lẽ chính là điều khiến cho đề xuất này trở nên bất khả thi bởi lẽ không một quốc gia tranh chấp nào chấp nhận từ bỏ chủ quyền.

[3] Về hiệu lực các đảo Trường Sa, ý kiến của bà Monique Chemillier-Gendreau, trong sách dẫn ở viii có ý kiến về việc Trung Quốc khai thác trên bãi Tư Chính của Việt Nam như sau:  Nếu không có các đảo Trường Sa; đặc nhượng của Trung Quốc có thể coi như nằm trên thếm lục địa của Việt Nam. Nếu các đảo Trường Sa, ít nhất bộ phận phía Tây của quần đảo này được thừa nhận là của Việt Nam, vấn đề sẽ trở nên ít hồ nghi hơn. Nếu một bộ phận của Tây Trường Sa vừa được tuyên bố là của Trung Quốc và được luật quốc tế thừa nhận như vậy, lúc đó sẽ phải, trên cơ sở điều 121 của Công ước, quyết định xem các đảo nhỏ đó chỉ được hưởng một lãnh hải hay chúng mang lại quyền tài phán trên các vùng biển khác. Sẽ cần (tuỳ theo các vấn đề tế nhị này được giải quyết thế nào) phân định ranh giới các quyền của các bên. Nhưng lúc đó, trong việc phân định ranh giới, các quyền của Malaixia, Brunây, Đài Loan, Philippin sẽ tham gia vào.

Bình luận

8 Comments (bài “Trương Nhân Tuấn – Về bài nghiên cứu của Tiến sĩ Vũ Quang Việt trong Hội thảo Hè 2010 tại Philadelphia, Hoa Kỳ (2)”)

  1. Hoàng Trường Sa viết:

    In an endeavour to overcome this real difficulty, some authors have suggested sectors as a solution **, whereby States would share exploration rights in delimited zones, based on the main islands under their control. The same authors endorse the Chinese proposal for joint development of the area, leaving settlement of the question of sovereignty in abeyance. They thus suggest a formula for sharing development rights between the States of the region, totally disregarding previously acquired titles***.
    (** Mark J. Valencia, South-East Asian Sea: Oil under Troubled Waters, (Oxford, New York: Oxford University Press, 1983), pp.124 et seq.
    *** See Mark Valencia, Jon van Dyke & Noel Ludwig, Sharing the Resources of the South China Sea (Martinus Nijhoff, 1997). For an analysis which insists in taking legal titles into account, see Jonathan I. Charney, ‘Central East Asian Maritime Boundaries and the Law of the Sea’ (1995) American Journal of International Law, vol. 89, no 4, at p. 729.)
    These various solutions and the very fact of entrusting the framing of such solutions to the International Court of Justice may appear Utopian at present, but with the unrest facing the world, and the speed of change, it may perhaps soon appear imperative, in order to rescue States from the impasse into which their rivalries have led them. The future will belong to solutions which take account of interdependence. The road leading to a solution is negotiation in good faith, not the option of superior force. This is why China’s current political position, the proposal jointly to develop the wealth of the archipelago, whilst reserving the question of sovereignty, is unacceptable to the partners, reflecting as it clearly does the hegemonic claim that might is right.
    The peoples of the region, embarking impatiently and eagerly on the journey to long-awaited economic growth, need all their natural resources. The resources of the sea are decisive. Their peaceful exploitation requires the delimitation of maritime spaces. Yet there can be no delimitation unless the question of sovereignty is settled first. This indicates how important the question of sovereignty over the Paracels and Spratlys is. It is hoped that this book has helped to shed some light on it.

    Monique Chemillier-Gendreau
    Professor of International Law at l’Université de Paris VII, Denis Diderot, France

    (excerpt from the book “Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands”, 2000, by Monique Chemillier-Gendreau, Kluwer Law International, an English translation of La souveraineté sur les archipels paracels et spratleys published by L’Harmattan, 1996)

  2. Hoàng Trường Sa viết:

    Granted, this study has shown that Vietnam’s rights, particularly its rights to the Paracels, are more certain, being more clearly established on the basis of the available documents. If China has further, unpublished documents at its disposal, what does it have to fear in submitting them to the Court? If nothing in its history has created a title in its favour more solid than that constructed by the Emperors of Annam, the judicial disputatio would enable the judges to establish, on the basis of events since French colonization, how that title has been maintained. Keeping the Paracels by force without clarifying these questions means fuelling a future of discord comparable, all other things being equal, to the Falklands.
    In the case of the Spratlys, there again, expounding legal arguments under the spotlight of judicial proceedings would be a factor of peace, whereas the current, highly unstable situation is pregnant with menace.
    In the case of the Spratlys, a special agreement between any two of the five contenders (six if we count Brunei) would be most likely be a powerful factor triggering general proceedings for a settlement. This would place the other claimant States in an embarrassing situation: either they would run the risk of the islands’ fate being settled by the Court without them and perhaps to their disadvantage, or, by applying for permission to intervene, they would also become party to the proceedings so that they could set out their rights and seek to protect them.
    Were this to happen, the case of the Spratlys as a whole would be brought before the Court.
    The Court’s task would not be easy, since only Vietnam and France have acquired true historical titles to the archipelago, even if the extent and scope of such titles are uncertain. Whatever solution is found will require a genuine effort of imagination and co-operation by both the parties and the judges.
    One solution would be to create a condominium, a legal regime established by treaty, under which several States would jointly exercise over a single territory the powers normally exercised by a single State. Power would be shared, something which might be achieved under various arrangements. It is a compromise solution, embodying international collaboration restricted to the management of a single space. By reducing political tension, a condominium would be a bulwark against the threat of regional imperialism by a single power.
    These risks are great in the South China Sea owing to the growing strength of the Chinese Navy.
    A condominium over the Spratlys might take the form of an agreement between all States concerned to create an international joint development agency with a twofold objective: securing the safety of navigation in the region by maintaining buoys and lighthouses; managing the resources of the sea or seabed which, under the Convention on the Law of the Sea, belong to the holder of title to sovereignty over land above sea level. Sovereignty would be jointly managed by the group of States having concluded the agreement governing the condominium. This would lead to the award of mining and fisheries concessions.
    The agency would be financed by contributions from the States parties to the condominium, enabling it to operate. The agency would redistribute the profits to the States parties.
    The crucial point would be fixing States’ respective shares in the agency, such shares controlling their contribution of the budget but also their share of profits.
    It will not be easy to determine the shares of various parties, since there are not only true islands but also tiny slivers of land scattered over a large maritime area, alongside the barely submerged shoals and banks which pose such a threat to navigation and which geological movement might put clear of the water at some time in the future. (For the Chinese claim on this point, see Zhou, op.cit., p. 544).

    (còn tiếp)

  3. Hoàng Trường Sa viết:

    PROSPECT FOR A SETTLEMENT

    International law requires States to negotiate. This is the meaning of Article 33 of the Charter, to which the various parties involved in this dispute are signatories.
    The parties to any dispute, the continuance of which is likely to endanger the maintenance of international peace and security, shall, first of all, seek a solution by negotiation, enquiry, mediation, conciliation, arbitration, judicial settlement, resort to regional agencies or arrangements, or other peaceful means of their own choice. The Security Council shall, when it deems necessary, call upon the parties to settle their dispute by such means.

    Yet it is impossible to overlook the fact that the Security Council largely lacks the objectivity required of a decision-making organ, owing to the special place given to permanent members armed with the right of veto. True, the Charter does provide, in Article 27, paragraph 3, for the abstention of any member involved in a dispute, but there remains the considerable political might of the Great Powers.
    Hence China, a permanent member, has prevented the Security Council from taking any initiative in this field, particularly in 1988, when Vietnam attempted to bring the matter before the Council.
    Negotiations do not therefore depend on mediation by third parties and will only be possible bilaterally for the Paracels, and, for the Spratlys, multilaterally between the States concerned. Negotiations would depend on a genuine will to negotiate.
    True, the development and reinforcement of regional organizations, particularly with Vietnam’s recent entry into ASEAN (1995), may favour such negotiations.
    Yet in the present state of affairs the prospect of settling the dispute on a negotiated basis is almost nil. In the case of the Paracels, China maintains that there is nothing to negotiate. It holds the archipelago by military force, backing this up by an emphatic claim to sovereignty.
    In the case of the Spratlys, bilateral or multilateral diplomatic meetings since 1988 have prompted China to develop the idea of reserving the issue of sovereignty and negotiating a formula which would allow the States concerned jointly to develop the wealth of the area. The other States do not agree, but have thus reached an impasse. Of all the partners involved, Vietnam is the one which appears to be the most tempted by a judicial settlement. However, access to the International Court of Justice is voluntary, between States which have accepted in advance the compulsory jurisdiction clause, which is a general way of recognizing the jurisdiction of the judicial organ of the United Nations. Neither China, nor Vietnam, nor Malaysia have signed this clause. The Philippines recognized the jurisdiction of the Court in 1972, but with reservations which exclude the present dispute. (See the declaration by the Philippines, (1993-1994) Yearbook of the International Court of Justice, at pp.117-118). It is not therefore possible for one of the States concerned to bring the matter before the Court by means of a unilateral application, and to benefit from the Court’s jurisdiction on that basis. There remains a second possibility of bringing the matter before the Court (or any other international tribunal which States wish to approach), namely a special agreement. Under this, two or more States agree between themselves to bring a dispute before the Court (the terms of the dispute being defined by the parties themselves). The current circumstances hardly favour such a solution. This is regrettable. On this point, the sovereignty of States impedes any significant advance in international law and in its role in peace between nations, since true law can hardly exist without conflicts being justiciable. The option offered to States on the pretext of scrupulously respecting their sovereignty, namely of refusing to submit their conflicts with other States to a tribunal, renders international law crude and imperfect.
    Such a tribunal does however exist, in the institution of the International Court of Justice, the judicial organ of the United Nations. China has a judge at the Court. Therefore it does not reject the principle of the existence of such a court. In a host of documents China has stated loud and clear that it has irrefutable evidence of its ancient historical rights to the archipelagos. What has it to fear in expounding its arguments before a broad court such as the one in The Hague?

    (còn tiếp)

  4. Hoàng Trường Sa viết:

    It asserted its rights as first occupant and not as the successor of Annam. But it was not challenged by anyone (not even by Great Britain, which abandoned all claim), so that French rights were very soundly established.
    The claim of the Philippines was not voiced until the 1970s. Taiwan’s claim is highly opportunistic, linked as it is to Taiwan’s relief of the islands from Japanese troops after the War (although Taiwan was not authorized to take such action). Malaysia’s claim is of more recent date.
    The People’s Republic of China began to speak of a claim to the Spratlys in 1951. But this was an abstract claim, devoid of any trace of effective occupation of these islands remote from Chinese territory. Not until very recently (1988) were there the beginnings of partial occupation, as the result of military action.
    Hence it can be said of the Chinese attitude between 1951 and 1988 that ‘the mere fact of challenging territorial sovereignty does not create a title for the State adopting this attitude’ (Suzanne Bastid, op. cit., p. 451). As for the armed occupation, one can but call to mind the strong prohibition of the occupation of territories by force in contemporary international law.
    However, where the Spratlys are concerned, the problem nevertheless remains of the immense area of this archipelago (160,000 square kilometres), of its relative unity and of the effective extent of occupation by the various States claiming title.
    Two hypotheses need to be considered regarding Vietnam’s contemporary claim. If the evidence of the administration of the islands by the emperors of Annam is adequate, Vietnam does have a title to the Spratlys which has the same validity as its title to the Paracels. For in that case, it was through ignorance of Vietnamese history that France claimed to occupy this archipelago as terra nullius. And the succession of the rights must be restored. On the other hand, if Vietnam’s ancient rights to the Spratlys are challenged, the French argument that it ‘discovered’ the archipelago raises a different set of problems. Whatever its origin, the French title was accompanied by concrete occupation which ceased only to be succeeded by the Vietnamese occupation in 1956. True, Taiwan and the Philippines then also established a foothold in the archipelago.
    France’s position has never been totally clarified. The French argument being that of sovereignty as first occupant, that sovereignty can only be terminated if expressly abandoned. Despite their confusion, can the debates, particularly in the Assembly of the French Union in 1952, be regarded as heralding a desire to abandon the islands? And is that desire confirmed by France’s diplomatic silence on this matter? Or, on the contrary, must it be accepted that the case regarding the Spratlys will not be definitively settled unless Franceonce again makes its views known?
    Supposing France were definitively removed from this case, cannot Vietnam be regarded as successor to the rights established by France*, on the basis both of the Vietnamese occupation hard on the heels of the independence of South Vietnam and also of the fact that France had administratively attached the islands to Cochin China? And that therefore the islands could but share the fate of the territory to which they were attached?
    (* The decree of 21 December 1933 attached the islets to one of the provinces of Cochin China: Ba Ria)
    However, if the Franco-Vietnamese title, on the basis of one argument or another, proves the most ancient and soundly based, does it apply to all the lands? Is there room for other partial occupations which took place at a later date, but which might nevertheless have engendered rights – for instance on the periphery of this vast set of islands, where these shards of land lie just off the coats of other States such as the Philippines or Malaysia? A purely legal answer to this question is difficult.
    On the other hand, it is easy to see that China’s claim to the Spratlys has no legal basis and it is just one aspect of a maritime expansion policy. On this point, the People’s Republic of China even overlooks its deep-seated antagonism to Taiwan and endorses the claims of the rival Chinese Government. (See Michael Bennett. “The People’s Republic of China and the Use of International Law in the Spratly Islands Dispute”(1991-1992) Stanford Journal of International Law at p. 448.)

    (còn tiếp)

  5. Hoàng Trường Sa viết:

    SUBSTANCE OF RIGHTS TO THE ARCHIPELAGOS

    The facts illuminated through the various historical phases considered above confirm that the cases of the Paracels and the Spratlys must be dealt with separately.

    The case of the Paracels

    As regards the Paracels, only two States are concerned: Vietnam and China.
    The rights of Vietnam are ancient and well founded even if China’s claims assumed more concrete form through its occupation by force of part of the archipelago 39 years ago and of the rest 21 years ago.
    The detailed examination of the historical titles attempted in the preceding pages, based on the most reliable documents, shows that the Vietnamese title has been clearly asserted since the beginning of the 18th century. The arguments put forward so far by China do not make it possible to confirm the existence of ancient legal ties between Imperial China and these territories such that they could be interpreted nowadays as ties of sovereignty. Vietnam’s vassalage with respect to China, terminated with China’s consent on the advent of France, could on no account leave China with any rights to the islands. While the Vietnamese title may have been weakened by the indifference of the colonial power during the early decades of colonization, it does not amount to effective abandonment since, from a certain point, France effectively administered the Paracels and clearly asserted its rights.
    China’s interest in these uninhabited lands only amounts to a claim of sovereignty after 1909. This claim was asserted in the face of a Vietnamese title established two centuries earlier.
    During the first half of the 20th century, there were in all only three occasions when China expressed a desire to exercise its rights over the Paracels (1909, 1921, 1932), and even these were only made possible by lack of effective opposition from the colonial power.
    The thrust of the whole corpus of the law of decolonization built up under the aegis of the United Nations has been to protect peoples, particularly when they have fallen under the hegemony of another power, from actions which might breach their inalienable rights.
    The period of World War II and the following years created circumstances propitious to a (military) change of hands in the uninhabited islands on a number of occasions.
    The French authorities, and simultaneously with them, the representatives of Vietnam, and, after the departure of the French, the representatives of Vietnam alone, occupied the islands as far as political circumstances permitted them to do and never ceased to assert their rights. The only hesitations on this score were after the second Vietnam war, in certain statements by the representatives of the Democratic Republic of Vietnam. Although these can be explained by the circumstances and by the extreme dependence of that Government on China, they were not such as to affect the conclusion that Vietnam has a title superior to China’s.
    By its silence in the Cairo Declaration or in its bilateral peace treaty with Japan, Nationalist China abandoned the assertation of its rights. The claim of the People’s Republic of China which emerged in 1951 has the appearance neither of the assertion of a title taken over from an earlier period nor of a right derived from effective administration. In its favour, however, there remains an occupation by force in 1956 and another in 1974. Yet there are two obstacles to the transformation of this occupation into a title. The first lies in the contemporary peremptory norm of the prohibition of the use of force against the territorial integrity of a State. The second resides in Vietnam’s reiterated declarations of protest against this unlawful occupation with a view to preserving its ancient rights, since:
    Possession of a territory does not cease solely by virtue of the disappearance of its material manifestation, which must be accompanied by the intention to abandon it.
    (Paul Fauchille, ‘Le conflit de limites entre le Bre’sil et la Grande-Bretagne’(1904) Revue générale de droit international public at p. 138).

    The case of the Spratlys

    The situation of the Spratlys is quite different from that of the Paracels. Irrefutable proof of the two archipelagos being treated as one in the administration of the emperors of Annam is hard to find, even if there are traces of the subdivision of the maritime companies on the basis of different geographical areas. Whatever the pre-colonial situation may have been, the French attitude has not been the same for the two archipelagos.
    Liberated by the absence of any Chinese claim to the islands further away, France, during the colonial period, was less hesistant about manifesting its presence than in the Paracels.

    (còn tiếp)

  6. Hoàng Trường Sa viết:

    “Nghiên cứu này và các tuyên bố của TS Vũ Quang Việt trên các mạng truyền thông chắc chắc sẽ được nhiều bên tranh chấp với Việt Nam khai thác sử dụng, tương tự như Công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Trung Quốc và các nước khác chắc sẽ chỉ đồng ý với TS VQ Việt phân nửa: quần đảo đó không thuộc chủ quyền của Việt Nam. Và giả sử, nếu các nước đều đồng ý là các đảo đó vô chủ, thì phía Phi Luật Tân có lẽ sẽ cám ơn TS Vũ Quang Việt, vì cơ sở pháp lý của họ xưa nay là như thế: khi các đảo này vô chủ thì họ có quyền chiếm đóng và tuyên bố chủ quyền. Ý kiến này củng cố cơ sở lập luận của Phi. Trung Quốc (và Đài Loan) chắc sẽ phải cám ơn TS Vũ Quang Việt nhiều hơn, vì lý luận cơ bản về chủ quyền của họ có rất nhiều sơ hở vì không nhất quán, luôn thay đổi theo hoàn cảnh. Từ nay họ có thể lý luận vì là các đảo vô chủ, do đó ai tuyên bố chủ quyền trước, ai đổ quân chiếm đóng trước, thì đảo đó thuộc về người đó. Việt Nam có thể nói adieu với Hoàng Sa, với Ba Bình!” (Trương Nhân Tuấn)

    Tôi chia sẻ với bác Trương Nhân Tuấn nhận định nói trên. Dù tôn trọng quyền phát biểu ý kiến của Tiến sĩ Vũ Quang Việt, tôi vẫn nghĩ ông đã thiếu thận trọng và gây ra những tiếng động ồn ào vô bổ trong những tuyên bố rộng rãi gần đây trên báo chí và đài phát thanh, qua đó chỉ đem đến thiệt hại cho VN mà thôi.

    Về Hoàng Sa, bằng cứ lịch sử đã quá rõ là thuộc VN. Tôi không hiểu tại sao Ts VQV lại cho rằng VN không có bằng cớ chủ quyền trên HS, và đề nghị (trong một bài trước đây) là VN và TQ chia nhau quần đảo HS.

    Dưới đây là ý kiến của Giáo sư Pháp Monique Chemilier-Gendreau trong Chương IV về Kết luận và cơ sở để giải quyết tranh chấp”:

    SOVEREIGNTY OVER THE PARACEL AND SPRATLY ISLANDS
    By Monique Chemillier-Gendreau

    Chapter IV – CONCLUSIONS AND BASES FOR A SETTLEMENT OF THE DISPUTE

    Almost three centuries have set their stamp on the legal status of these archipelagos.
    The bulk of the works hitherto published have made use of verifiable data from the most recent past, the period after World War II. Older historical data have generally been mentioned simply by reviewing documents drawn up by the various States concerned or published by their national research centres. In this respect, there is a considerable imbalance in favour of the Chinese argument, which is the best publicized.
    In this book, an effort has been made to take stock of the arguments expounded by the various States concerned and also to verify the historical arguments of the past using documentation in the French National School of Far Eastern Studies and French archives from the colonial period. This redressing of the balance as regards the sources consulted shows the case in a different light.
    We will now see what the result of this is by posing the following two questions:
    What picture can be given of the rights of each of the parties concerned?
    What prospects does contemporary international law offer for settling a dispute of such complexity?

    (còn tiếp)

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...