talawas blog

Chuyên mục:

Về bài viết «Xin đừng xúi Việt Nam bỏ Biển Đông»

07/04/2009 | 3:06 chiều | 27 phản hồi

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Chuyên mục: Vấn đề Biển Đông
Thẻ: >

Về bài viết của ông Phạm Quang Tuấn «Xin đừng xúi Việt Nam bỏ Biển Đông », tôi chỉ xin trả lời bằng cách trích nguyên văn hai đoạn trong hai bài viết của tôi viết từ tháng 9 năm 2008 và đầu tháng 2 năm 2009, không thêm bớt, đó là bài «Những vấn đề lãnh thổ – lãnh hải và hồ sơ thềm lục địa mở rộng của Việt Nam» và bài “Bàn lại cùng TS Dương Danh Huy về giải pháp cho tranh chấp Biển Đông“.  Tôi nghĩ hai bài này đủ để tôi giải thích lập trường của tôi về Biển Đông đồng thời chứng minh sự hiểu biết của các bên mà không cần phải viết thêm một bài khác.

I. Trích dẫn 1, trong bài «Những vấn đề lãnh thổ – lãnh hải và hồ sơ thềm lục địa mở rộng của Việt Nam»

… từ nay cho đến ngày 13 tháng 5 năm 2009, người ta có thể kiểm chứng lại lập trường Biển Đông của Việt Namqua hồ sơ «thềm lục địa mở rộng».

Thật vậy, luật quốc tế về biển 1982 có qui định một số các điều khoản, cho phép những nước cận biển có thể mở rộng thềm lục địa đến tối đa là 350 hải lý nhưng phải thỏa mãn một số điều kiện. Thí dụ: những nước muốn khai thác vùng thềm lục địa mở rộng phải chia sẻ tài nguyên khai khác được với một tỉ lệ sẽ được xác định với một cơ quan quốc tế thuộc LHQ (chú thích thêm: tỉ lệ hiện nay, bắt đầu từ 5% trên số lời khai thác được, sau đó sẽ là 10%/năm). Hồ sơ (về kỹ thuật và pháp lý) thềm lục địa mở rộng của các nước phải nộp cho Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS) thuộc LHQ trước ngày 13 tháng 5 năm 2009. (Ghi chú thêm: Việc này chỉ áp dụng cho các nước đã thông qua Luật Biển 1982 trước ngày 13 tháng 5 năm 1999. Thời điểm 13-5-1999 là ngày mà CLPC đồng ý về một chỉ thị hướng dẫn về kỹ thuật hồ sơ «thềm lục địa mở rộng», các nước có 10 năm để hoàn tất hồ sơ. Trường hợp các nước thông qua Luật Biển sau ngày 13-5-1999, những nước này cũng có thời hạn 10 năm để lập hồ sơ. Việt Nam đã thông qua Luật Biển ngày 23 tháng 6 năm 1994, như thế Việt Nam thuộc danh sách các quốc gia phải nộp hồ sơ trước ngày 13-5-2009). Như thế vấn đề “thềm lục địa mở rộng” là một vấn đề hoàn toàn kỹ thuật và pháp lý, mỗi nước phải làm một hồ sơ riêng và kết quả sẽ do CLCS quyết định.

Trường hợp của Biển Đông được bao bọc bởi các nước: Việt Nam, Mã Lai, Nam Dương, Brunei, Phi Luật Tân và Trung Quốc. Đài Loan cũng có tiếng nói tại Biển Đông do hiệu quả của đảo Itu-Aba, tức là đảo Ba Bình, chiếm của Việt Nam năm 1946. Đây là đảo lớn nhất TS, nếu chủ quyền của Đài Loan được xác định, đảo Ba Bình có thể hưởng vùng ZEE và thềm lục địa 200 hải lý, tương tự một vài đảo hiếm hoi khác tại đây có nước ngọt và cây cối có thể tạo một nền kinh tế tự túc cho một số người sinh sống. Điều hay là các đảo này đều thuộc Việt Nan.

Biển Đông có chiều dài trung bình 3.520km, chiều rộng 1.200km.

Các nước nói trên (ngoài Đài Loan) có thể mở vùng biển ZEE và thềm lục địa nước mình mỗi bên tối đa là 200 hải lý (370km), tính từ đường cơ bản. Trường hợp hai nước đối diện (theo chiều rộng), giả sử Việt Nam và Phi, tổng cộng vùng ZEE lý thuyết của hai bên là 740km. Như thế còn lại trên lý thuyết là 460km (xem hình 1), hai nước có thể phân chia vùng này, nếu tình trạng kỹ thuật cho phép, dựa trên điều ước về thềm lục địa mở rộng của Luật Biển 1982.

Hình 3, nguồn Mark Valencia, minh họa việc phân chia thềm lục địa mở rộng giữa các nước chung quanh Biển Đông, với điều kiện các nước hội đủ các điều kiện kỹ thuật theo qui ước của luật quốc tế về biển 1982.

Nhưng Việt Nam là nước có chủ quyền các đảo thuộc hai quần đảo HS và TS. Như đã nói trên, các đảo này tuy rất nhỏ nhưng một số có nước ngọt và cây cối, có thể làm nơi trú ngụ thường trực và phát triển kinh tế tự túc cho một số nhân sự nhất định. Như thế một số các đảo ở đây hội đủ điều kiện của luật quốc tế về biển để được hưởng lãnh hải 12 hải lý và vùng kinh tế độc quyền ZEE 200 hải lý. Việt Nam vì thế có thể mở rộng vùng biển của mình, như bản đồ đính kèm các tuyên bố 1977 và 1982 (hình 2).

Tuy nhiên, một số đảo của Việt Nam bị nước ngoài xâm chiếm: toàn bộ các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Quốc xâm lăng từ năm 1974. Phi Luật Tân chiếm một số đảo của Việt Nam thuộc TS rải rác từ thập niên 60-70 như đảo Loại Ta, đảo Vĩnh Viển, đảo Song Tử Đông, đảo Thị Tứ… Đài Loan chiếm của Việt Namđảo Ba Bình (đã nói trên). Mã Lai chiếm của Việt Nam các đảo Kỳ Vân, Hoa Lau và Kiệu Ngựa. Một số các đảo này hội đủ điều kiện để có hải phận và vùng kinh tế độc quyền 200 hải lý. Một số các đảo nhỏ khác đã được các nước xây dựng, làm bồn chứa nước, xây phi đạo, be bờ, đổ đất, trồng cây cối, mở rộng diện tích để các đảo này có thể có nền kinh tế tự túc, cho phù hợp điều kiện của Luật Biển 1982, để có vùng biển ZEE. Nhưng việc xây dựng lại khiến các đảo này trở thành đảo nhân tạo, như thế lại mâu thuẩn với một điều ước khác của Luật Biển 1982, do đó vô hiệu hoá vùng biển ZEE của các đảo nhân tạo đó.

Các nước liên hệ vì thế có thể dựa trên hiệu lực các đảo chiếm được của Việt Nam để đòi hỏi vùng biển ZEE của mình.

Trường hợp Trung Quốc, từ lâu họ đòi hỏi toàn bộ Biển Đông qua bản đồ 9 gạch. Một trong những lý lẽ của họ là do hiệu lực của các đảo HS và TS mà họ ngang ngược chiếm của Việt Nam và tuyên bố có chủ quyền. Họ cũng chiếm luôn nhóm đá ngầm Scarborough Reef, ở phía đông, khoảng giữa HS và TS, để vùng biển này được liên tục, vì hiệu quả ZEE của các đảo HS và TS vẫn không phủ hết Biển Đông, mặc dầu vùng đá ngầm Scarborough Reef chìm sâu dưới nước đến 80m.

Như thế muốn phân định hải phận Biển Đông thì các nước trước hết phải xác định chủ quyền các đảo thuộc hai quần đảo HS và TS. Việt Nam có ưu thế hơn tất cả các nước khác vì Việt Nam có đầy đủ hồ sơ lịch sử và pháp lý để chứng minh chủ quyền của mình tại hai quần đảo này.

Thời hạn chót nộp hồ sơ «thềm lục địa mở rộng» là ngày 13 tháng 5 năm 2009. Hiện nay, các nước bao bọc chung quanh Biển Đông, chỉ có Nam Dương là hoàn tất hồ sơ và đã nộp cho CLCS trước thời hạn nhiều tháng.

Việc tranh chấp chủ quyền các đảo vì thế làm cho hồ sơ «thềm lục địa mở rộng» của các nước mang tính chiến lược, nhất là đối với Việt Nam và Trung Quốc.

Chắc chắn các nước từ đây đến ngày 13 tháng 5 năm 2009 cũng phải nộp hồ sơ. Nếu không có đồng thuận trước, sẽ không nước nào nộp trước, tất cả sẽ chờ cùng nộp vào thời khắc cuối cùng. Nước nào nộp hồ sơ trước, hay để lộ nội dung hồ sơ, nước kia có thể lập hồ sơ khác hóa giải hay nắm phần trên.

Như thế có thể tiên đoán rằng hai nước Việt Nam và Trung Quốc (có thể có cả Phi) sẽ cùng nộp hồ sơ một lúc. Nếu nộp trước thời hạn 13-5-2009, các bên Việt Nam và Trung Quốc (và Phi) đã đạt được một thoả thuận về Biển Đông. Nếu các bên cùng nộp vào phút chót ngày 13-5 thì chưa chắc các bên có một sự đồng thuận nào đó.

Trường hợp có sự đồng thuận giữa Việt Nam và Trung Quốc, phía nhượng bộ chắc chắn là Việt Nam, nội dung thỏa thuận có thể là nguyên tắc phân chia theo 3 điểm ở trên: 1/ để qua một bên vấn đề tranh chấp chủ quyền các đảo ; 2/ phân chia hải phận trên nguyên tắc đường trung tuyến; 3/ các đảo HS và TS có hiệu lực 12 hải lý lãnh hải (lãnh địa hải phận) và không có vùng kinh tế độc quyền (ZEE) cũng như thềm lục địa 200 hải lý.

Nếu không có thoả thuận, hồ sơ của Việt Nam có thể là nội dung của hai bản tuyên bố 1977 và 1982 đồng thời đính kèm thêm một số chi tiết kỹ thuật và pháp lý về các đảo thuộc HS và TS. Đương nhiên Trung Quốc cũng lập hồ sơ với vùng biển thu nhỏ lại, vì không thể tính hiệu quả lãnh hải và ZEE của nhóm đá ngầm Scarborough Reef.

Sự «chồng lấn» giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ phải giải quyết bằng một trọng tài quốc tế mà phần thắng sẽ thuộc về phía Việt Nam, nếu lãnh đạo CS Việt Nam biết cách hóa giải các cam kết, các tuyên bố ngày trước của Đảng CS Việt Nam đã nhìn nhận HS và TS thuộc chủ quyền Trung Quốc.

II. Trích dẫn 2, trong bài “Bàn lại cùng TS Dương Danh Huy về giải pháp cho tranh chấp Biển Đông“:

2/ Phương pháp phân chia:

Về nội dung đề nghị của TS Huy, nói đúng ra là của học giả Valencia, tôi nhận thấy có một số điều không ổn như sau:

2.1. TS Huy đề nghị: “tạm gác chủ quyền các đảo sang một bên…”

2.2 TS Huy đề nghị: “chia vùng biển này thành các vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa cho những nước…”

Chia thành các vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa? Nhìn trên bản đồ thì phương pháp chia là phương pháp chia thềm lục địa mở rộng. TS Huy hình như không phân biệt được “vùng kinh tế độc quyền” và “thềm lục địa mở rộng”.

Tôi cho rằng phương pháp “chia hai” của TS Huy có nhiều điều không ổn vì không tôn trọng tinh thần Luật Biển 1982 về các nguyên tắc phân chia “vùng kinh tế độc quyền – zone économique exclusive ZEE” cũng như về thềm lục địa mở rộng (Plateau continental étendu).

Về việc phân chia theo ZEE hay thềm lục địa:

Biển Đông có chiều dài trung bình 3.520km, chiều rộng 1.200km.

Hai nước đối diện có thể mở ra vùng biển ZEE và thềm lục địa nước mình mỗi bên tối đa là 370km (200 hải lý), tính từ đường cơ bản, tức tổng cộng hai bên là 740km.

Phương pháp của TS Huy đã làm cho hai nước đối diện chiếm trái phép vùng biển (và thềm lục địa) của nhân loại có bề dày là 1.200km – 740km = 460km.

Về việc phân chia theo thềm lục địa mở rộng:

Luật Biển 1982 cho phép những nước cận biển có thể mở rộng thềm lục địa đến tối đa là 350 hải lý nhưng phải thỏa mãn một số điều kiện. Trong trường hai nước đối diện là Việt Nam và Phi, thì Phi Luật Tân bị hai trở ngại: 1/ Do Luật Biển 1961 của xứ này và 2/ Độ sâu của biển quanh các đảo của Phi vượt trên 2.500m. Trở ngại khác, những nước muốn mở rộng thềm lục địa của mình phải nộp hồ sơ (về kỹ thuật và pháp lý) thềm lục địa mở rộng của mình cho Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS) thuộc LHQ trước tháng 5 năm 2009. Mặt khác, những nước muốn khai thác vùng thềm lục địa mở rộng phải chia sẻ tài nguyên khai khác được với một tỉ lệ sẽ được xác định với một cơ quan quốc tế thuộc LHQ, có thẩm quyền về những gì thuộc về đáy biển (fond marin).

Như thế vấn đề “thềm lục địa mở rộng” là một vấn đề hoàn toàn kỹ thuật và pháp lý, mỗi nước phải làm một hồ sơ riêng và kết quả sẽ do CLCS quyết định. Việc này sẽ không sớm hơn tháng 5 năm 2009.

Phương pháp “chia hai” của ông Valencia là một giả thuyết (trong nhiều giả thuyết khác mà ông đã đưa ra) để thử giải quyết việc tranh chấp. Phương pháp này đã dành cho Phi Luật Tân những ưu điểm mà đáng lẽ nước này không có. Ta có thể thông cảm cho ông Valencia. Ông này người Phi Luật Tân.

Nhưng TS Huy lấy “giả thuyết” của ông Valencia, vội xem đó là một kiểu mẫu cho việc giải quyết tranh chấp.

Tranh chấp Biển Đông và chủ quyền HS và TS, cũng sẽ như bất kỳ tranh chấp nào, nếu không có sự thỏa thuận giữa các bên, cách giải quyết cuối cùng là một vấn đề của một trọng tài quốc tế.

Một kiểu mẫu giải quyết tự nó đã không tôn trọng pháp lý thì nó có thể là một phương pháp giải quyết hay không?

Như thế, về vấn đề «thềm lục địa mở rộng», theo tôi thì ít nhất cho đến ngày 16-9-2008, ông Huy chưa có khái niệm về «thềm lục địa mở rộng». Chỉ sau khi có sự góp ý của tôi ông Huy mới có các khái niệm về việc này.

III. Vài chi tiết cần làm sáng tỏ về đá Rockall và ý nghĩa của ZEE

Tài liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam Sổ tay pháp lý cho người đi biển do Ban Biên giới Chính phủ và NXB Chính trị Quốc gia phát hành năm 2002, do Tuần ViệtNam đăng lại, có viết:

Năm 1955, Nữ hoàng Anh đã ra lệnh cho Hải quân cắm cờ, dựng bia chủ quyền trên Rock All rộng 3 m vuông, cao 21 m, để tuyên bố vùng đặc quyền về kinh tế xung quanh Rock All là 200 hải lý.

Tài liệu thuộc Bộ Ngoại giao của một nước đương nhiên có tính «qui chiếu» (référence), tuy nhiên tài liệu này đã sai ít ra trên 2 chi tiết: lỗi chính tả và hiệu lực thực tế của nó. Tài liệu này ấn hành năm 2002, tức đến 5 năm sau khi Anh tuyên bố rút lại đòi hỏi ZEE, cho thấy phía tài liệu phía Việt Nam có vấn đề.

Tài liệu do Việt Nam công bố cực kỳ hiếm hoi, nhưng khi công bố thì lỗi sai đầy dẫy. Đây là một điều mà phía Việt Namcần nhanh chóng điều chỉnh lại.

Tôi có kiểm chứng tài liệu này qua tự điển mở http://fr.wikipedia.org/wiki/Rockall; nguyên văn như sau:

L’île proprement dite se réduit à un rocher d’une taille insuffisante pour justifier de droits à une zone économique exclusive (ZEE). Jusqu’en 1997, le Royaume-Uni prétendait que Rockall devait être pris en compte pour la détermination des limites des zones économiques exclusives dans le secteur, mais a désormais renoncé à cette revendication. Demeure aujourd’hui un désaccord concernant les droits sur le plateau continental.

Đoạn gạch dưới nhấn mạnh việc ngày hôm nay vẫn còn có những bất đồng về thềm lục địa tại đây.

Về ý nghĩa của ZEE – vùng kinh tế độc quyền, ông Phạm Quang Tuấn không hiểu là trong vùng ZEE gồm có: cùng nước (cột nước), mặt đáy biển và phần dưới đáy biển (thềm lục địa). Trường hợp Rockall là một thí dụ cho thấy một nước có thể tuyên bố bỏ một số quyền nào đó và giữ một số quyền nào đó về vùng ZEE.

Thí dụ khác, hiện nay giữa Ý và Tunisie, hai bên ký kết hiệp ước năm 1971, lúc đó lãnh hải của Ý được xác định là 6 hải lý (thay vì 12 hải lý như qui định của UNCLOS 1982). Trên tinh thần đó đảo Lampedusa, Linosa và Pantelleria được hưởng 13 hải lý và đảo Lampione được 12 hải lý.

Nhưng sau khi có công ước 1982, phía Ý đã thay đổi lập trường về việc phân định như trên. Phía Ý công nhận «vùng nước» theo tinh thần hiệp ước 1971, nhưng đặt lại vấn đề chủ quyền «thềm lục địa». Tháng 2 năm 2006, chính phủ Ý thông qua một vùng « ZPE », đặt lại vấn đề hiệp ước 1971, đòi hỏi phân chia thềm lục địa với Tunise, theo đó các đảo trên phải được chia theo đường trung tuyến với bờ biển Tunise. Hồ sơ này đang chờ phân xử.

IV. Kết luận

Cá nhân tôi đã nghiên cứu về tranh chấp biên giới Việt-Trung bắt đầu từ năm 2000. Đây là thời gian rất ngắn so với nhiều học giả khác (như ông Nguyễn Nhã, gần cả cuộc đời nghiên cứu Hoàng Sa & Trường Sa). Tôi không có tham vọng đề nghị một giải pháp giải quyết Biển Đông ở tầm mức quốc gia, vì tôi biết, muốn đề nghị một giải pháp như thế, người đề nghị phải am tường ít nhất ba lãnh vực: lịch sử – pháp lý – địa lý chính trị, mà cả ba lãnh vực tôi chỉ là người nghiên cứu tài tử. Tuy nhiên, với một số kiến thức nhất định, tôi nghĩ mình có thẩm quyền phê bình những người mạo hiểm, chỉ trong vài tháng trước, không biết gì về «thềm lục địa mở rộng».

Về các góp ý của ông Phạm Quang Tuấn, tôi cho rằng không quan trọng, tác giả chỉ viết theo thành kiến, thiếu tham khảo hồ sơ và thiếu kiến thức cơ bản vầ địa lý HS&TS cũng như về Luật Biển. Tôi không chấp nhất, cho dầu ông Phạm Quang Tuấn đã phê bình tôi đầy ác ý trong những nhận định nông cạn cũng như các suy diễn hàm hồ.

Tôi sẽ trở lại qua một bài khác, nói về nguy cơ «buông» HS&TS của nhà nước Việt Nam, trình bày một số bằng chứng sai mà ông Dương Danh Huy đã đưa ra chứng minh trong các bài viết, cũng như các chi tiết khác chưa kịp nói trong bài này.

© 2009 Trương Nhân Tuấn

© 2009 talawas blog

 

Phản hồi

27 phản hồi (bài “Về bài viết «Xin đừng xúi Việt Nam bỏ Biển Đông»”)

  1. [...] Tuy nhiên, TN Tuấn nhiều lần công kích DD Huy vì cho rằng ông Huy ăn cắp giải pháp của Valencia, mà Valencia là người Philippines nên đã cố ý đưa ra những giải pháp có lợi cho Phi: “Một trong các bài viết theo lối dọn sân đó của ông Dương Danh Huy, dựa (?) trên thèse của ông Marc Valencia người Phi Luật Tân” (http://www.talawas.org/?p=1613) “«giải pháp Biển Đông» của ông Dương Danh Huy thực ra là «giải pháp» của ông Mark Valencia… ông Mark Valencia đề nghị một loạt các giải pháp, nhưng giải pháp nào cũng có lợi cho Phi, vì ông ta là người Phi.” (http://www.talawas.org/?p=1944) “ông Huy nhiễm phải «bùa» Mark Valencia, dọn sân cho Phi Luật Tân vào hưởng các đảo TS của Việt Nam (và hải phận phải có của chúng).” (http://www.talawas.org/?p=1944) “Phương pháp “chia hai” của ông Valencia [...] đã dành cho Phi Luật Tân những ưu điểm mà đáng lẽ nước này không có. Ta có thể thông cảm cho ông Valencia. Ông này người Phi Luật Tân.” (http://www.talawas.org/?p=2383) [...]

  2. Hoà Nguyễn nói:

    (TT)
    Gần đây,không biết TQ uy hiếp VN ở TS để vào được Tây nguyên, hay VN dùng bô xít để giảm sức ép của TQ trên mõ dầu gần TS. Bên ngoài có vẻ tốt đẹp vì hai đối tác kinh tế không muốn làm mất lòng nhau, nhưng với kinh nghiệm lịch sử dày hơn, TQ rất giỏi dùng mưu sâu để thủ lợi nhiều hơn.
    Dù sao, sau vụ TQ chiếm Mischief reef của Phi (năm 1995),và bị các nước Đông Nam Á phản đối mạnh, TQ hứa dùng giải pháp hoà bính cho các tranh chấp.Từ đó ở TS chỉ có những “sự cố” nhỏ do TQ gây ra. Nên hy vọng được khi TQ còn bị ràng buộc bởi những lời hứa hẹn nhân danh hoà bình, và hải quân Mỹ còn hiện diện ở Biển Đông (ít ra đằng sau Phi),vùng TS vẫn giữ được nguyên trạng một thòi gian. Tất nhiên, phải với nỗ lực và kế sách khôn ngoan của các nước trong vùng.
    Vụ TQ gây chuyện ở Tư Chính-Vũng Mây cũng nên xét lại. Các chỗ tranh chấp nằm gần đường ranh EEZ của VN. Nhiều nước và chuyên gia cho đường cơ sở VN ra xa quá, nội hải rộng quá. Muốn được xử công bằng,VN cần theo đúng quy định của UNCLOS

  3. Hoà Nguyễn nói:

    Tôi cảm được sự bức xúc của ông DD Huy,và ghi nhận thiện chí về một giải pháp (mới) cho vấn đế TS dường như đang bế tắc.Nhưng với giải pháp nào, tôi hay ai khác cũng băn khoăn về mặt hiệu quả và khả thi, đồng thời cũng muốn giữ tối đa quyền lợi của VN. Chính sách TQ đối với TS thể hiện bằng nhiều mặt, với mục tiêu duy nhất là từng bước lấn chiếm toàn quần đảo TS. VN và các nước trong vùng không nên có ảo tưởng về điều đó, dù bên ngoài TQ luôn kêu gọi giải quyết bằng thương thảo hòa bình, hay mới vài hôm trước cam kết “hợp tác quân sự chặt chẽ” với VN (để chống ai ?. Với VN, thường TQ uy hiếp và khiêu khích tạo cớ gây sự, đồng thời giở trò “ngụy quân tử” (là một đặc tính TQ mà chỉ Kim Dung mới hiểu rõ và diễn tả xuất sắc).Điển hình từ cù lao Ré (Đà Nẵng)ra HS cách xa chừng 145 HL, mà hiện nay VN chì còn sử dụng được hơn 40 HL. Chắc đã thỏa thuận chia đôi bằng trung tuyến, và phần giữa là vùng đánh cá chung,nhưng từ sau vụ ngư dân VN bị bắn và bị bắt, vùng chung đó trở thành của riêng TQ

  4. Nguyễn Văn Nguyên nói:

    (tt)
    Khi các bên có chung quyền lợi kinh tế ràng buộc, có sự tin tưởng lẫn nhau mới hy vọng sự đoàn kết nhằm ngăn chặn tham vọng thôn tính Biển Đông của Trung Quốc.

    Quyền lợi và nguy cơ về an ninh chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông là lớn nhất nên chúng ta cần chủ động thiết lập các mối liên kết, hợp tác với khối ASEAN. Thụ động ngồi chờ, bên này chỉ lo nhìn bên kia và hô hào đoàn kết suông sẽ làm trò hề cho thiên hạ mà thôi. Từ những cuộc họp thượng đỉnh ASEAN hàng năm mang tính trình diễn cải lương, các kỳ vận hội thể thao, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa Thái Lan và Camphuchia, gấu ó nhau ở Biển Đông,… có thể kết luận ASEAN vẫn là một vùng trũng của thế giới về nhiều mặt.

  5. Nguyễn Văn Nguyên nói:

    Theo tôi, trong tranh chấp các khu vực đặc quyền kinh tế giữa Việt Nam, Phi, Mã Lai, Việt Nam nên chủ động giải quyết các thế găng với các bên một cách hợp lý, càng nhanh càng tốt để tập trung đối phó với Trung quốc. Nếu vùng đặc quyền kinh tế của mỗi nước được xuất phát từ những đường cơ sở phù hợp với UNCLOS 1982 bị chồng lấn lên nhau thì nên thương lượng hình thành các vùng khai thác chung cả tài nguyên đáy biển lẫn nguồn lợi hải sản. Khi các nước trong khối ASEAN cùng nhau khai thác tài nguyên đáy biển, sẽ tận dụng được sức mạnh mỗi bên về nguồn vốn, công nghệ và chia sẽ trách nhiệm an ninh. Về khai thác hải sản, so với riêng các nước trong khối ASEAN Việt Nam có đội ngư thuyền nhiều nhất trong Biển Đông.

  6. Nguyễn Văn Nguyên nói:

    (tt1)
    Không thể phủ nhận trong mấy thập kỷ qua Trung Quốc đã có những bước phát triển nhảy vọt ở một số mặt. Tuy nhiên, họ phát triển mặt này nhưng cũng thoái hóa những mặt khác. Và, mặt nào là chính yếu giúp mỗi con người thăng tiến, hạnh phúc, gây dụng hòa bình, ổn định, thiết tưởng, mới là quan trọng. Phát triển mặt thứ yếu tột bực, nhưng thoái hóa về mặt chính yếu một cách nghiêm trọng vẫn có thể dẫn tới tiêu vong như thường. Do vậy, Trung Quốc „phát triển“ mặc kệ họ, vấn đề là mình phải tự nhìn lại chính mình.

  7. Nguyễn Văn Nguyên nói:

    @ bác Trương Nhân Tuấn,
    Mọi chuyện có thể xãy ra với chủ quyền đất nước nếu Việt Nam không có đối sách hữu hiệu để bảo vệ an ninh. Dĩ nhiên, tôi không có ý cho rằng nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền Tổ quốc trước tham vọng của ngoại bang là bất khả thi đối với Dân tộc Việt Nam. Trong bài phân tích của tác giả Trần Vũ cho thấy, suốt chiều dài lịch sử, trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Dân tộc Việt Nam luôn khuất phục mọi kẻ thù trên chiến trường nếu chúng ta có một trình độ công nghệ quân sự tương đương với đối phương dù tương quan lực lượng ta kém thua họ với một điều kiện là sự đoàn kết toàn Dân tộc. Ngày nay, Việt Nam thua sút Trung quốc về công nghệ quân sự. Tuy nhiên, mặt khác Trung quốc dù có phát triển ghê gớm thế nào, trình độ công nghệ quân sự của họ còn lâu mới theo kịp nhiều nước phương Tây, nhất là trong lĩnh vực hải quân, không quân và đạn đạo.

  8. Dương Danh Huy nói:

    Bác Hoà Nguyễn và TNTuấn chủ trương “giữ nguyên hiện” trạng.

    Hiện trạng đó là gì?

    Là TQ ký hợp đồng khảo sát vùng Tư Chính mà không nước nào ủng hộ VN.

    Là TQ yêu sách các vùng sâu trong vùng Nam Côn Sơn của VN mà không nước nào ủng hộ VN.

    Là tàu TQ ủi chìm thuyền đánh cá VN gần mũi Đại Lãnh.

    Là nếu TQ tiến hành khảo sát vùng Tư Chính thì VN cho ông Lê Dũng ra tuyên bố “VN có đầy đủ chứng cớ cho chủ quyền đối với HSTS”.

    Là nếu TQ tiến hành khảo sát vùng biển giữa HS và vờ biển đất liền VN thì VN cho ông Lê Dũng ra tuyên bố “VN có đầy đủ chứng cớ cho chủ quyền đối với HSTS”.

    Thêm nữa, đừng tưởng là 15 năm tới VN sẽ giữ được như 15 năm qua.

    15 năm qua VN được tương đối yên thân là nhờ trong thời gian đó TQ có chủ trương “vươn lên trong hoà bình” và TQ chưa có công nghệ khảo sát và khai thác vùng nước sâu. 2 điều đó đều đang thay đổi rất nhanh.

    Hiện trạng ngày nay không phải là hiện trạng tĩnh mà là hiện trạng động. Động theo chiều có hại cho VN.

  9. Hoà Nguyễn nói:

    Ông PQ Tuấn viết: “Đài Loan là nước giàu có, dân chủ. Họ có “tôn trọng luật pháp quốc tế hơn, bỏ đòi hỏi vô lý về cái “lưỡi bò” ở Biển Đông… ?”.
    Đài Loan gần đây có dân chủ, nhưng đã tiếp nối chính sách độc tài của Quốc Dân đảng rất lâu. Xét vế tranh chấp Biển Đông, từ 1932-35 TQ thời QDĐ đã tranh chấp với Pháp và triều đình Huế ở HS, TS (nhắc lại Pháp thám sát TS năm 1930, cho biết có dấu vết ngư dân TQ ở đó tạo cớ cho TQ tranh chấp).Nhưng không hiểu sao,tại hội nghị San Francisco,TQ của QDĐ không đòi trả TS cho TQ,và TT Trần Văn Hữu nêu chủ quyền VN trên TS mà không gặp phản đối. Năm 1958,TQ đòi hải phận 12 HL từ bờ biển và quanh HS,TS, nên có công hàm của TT Phạm Văn Đồng,dù vậy vẫn chưa đòi “lưỡi bò” như ngày nay. Không thấy nói ĐL cũng đòi cái “lưỡi bò” đó,hay đòi 200 HL quanh đảo Itu Aba ĐL hiện chiếm. ĐL cũng không dùng vũ lực để chiếm TS,như TQ. Hiện DL dùng Itu Aba làm chỗ dừng chân cho ngư dân TQ, và giữ đảo đó để bảo đảm đường biển giao thông quốc tế mà ĐL sử dụng nhiều.

  10. Hoà Nguyễn nói:

    Theo tôi thấy, từ đầu ông PQ Tuấn đưa ra lý lẽ 30 năm nữa TQ sẽ giàu mạnh nhất thế giới, vô phương chống cự, nên phải chọn giải pháp của ông DD Huy: giới hạn lãnh hải các đảo TS 12 HL, không để TQ chiếm nội thủy TS, và chia vùng biển Đông, ít ra ở gần TS, giữa 3 nước Việt, Phi, Mã, gạt TQ ra ngoài vùng. Tôi cố lý luận: nếu gạt TQ và VN khỏi nội thủy TS, Phi sẽ chiếm hết;không thể chia vùng TS theo trung tuyến mà vẫn phải theo EEZ 200 HL, và điều không thực tế là làm sao gạt TQ ra khỏi TS, và khiến Phi, Mã không đòi EEZ 200 hl quanh các đảo họ chiếm. UNCLOS theo giải thích của ông Huy không phải cách giải thích duy nhất, vì văn bản này còn nhiều điểm không sáng tỏ và nước nào cũng hiểu UNCLOS theo quyền lợi riêng.Có người cho vì giải pháp ông TN Tuấn có chỗ không ổn, nên ngã về giải pháp ông Huy. Tôi cho vì quyền lợi VN không nên chọn giải pháp ông Huy, nhưng không hề nói vì vậy mà chọn giải pháp ông TN Tuấn. Sao không thử nghĩ đến giải pháp 3 hay 4. Trong chờ đợi, cố giữ nguyên trạng.

  11. Phạm Quang Tuấn nói:

    Bác Nguyễn Hòa: “Ông PQT cho 30 năm nữa, Trung quốc vẫn phát triển cao như những năm qua?”

    Không, tôi nói là tỷ số GDP TQ/GDP thế giới sẽ tăng thêm.

    Bác NH: “Nhưng ít ra trong năm nay đã có dự đoán TQ tăng trưởng chừng 6 hay 8%.”

    Và thế giới thì tăng trưởng âm, vậy chẳng phải tôi nói đúng sao?

    Bác NH: Nhiều người cho khi đời sống kinh tế cao hơn TQ dễ chấp nhận chế độ dân chủ hơn. Hiện nay, tuy nền kinh tế TQ đứng hàng thứ ba thế giới,nhưng thu nhập đầu người(per capita)đứng thứ 97(so với VN thứ 127 ,Đài Loan thứ 25). Người ta có thể hy vọng ngày nào đó khi là nước dân chủ TQ sẽ tôn trọng luật pháp quốc tế hơn, bỏ đòi hỏi vô lý về cái “lưỡi bò” ở Biển Đông, và muốn giải quyết tranh chấp bằng thương thuyết theo luật pháp quốc tế.

    Đài Loan là nước giàu có, dân chủ. Họ có “tôn trọng luật pháp quốc tế hơn, bỏ đòi hỏi vô lý về cái “lưỡi bò” ở Biển Đông, và muốn giải quyết tranh chấp bằng thương thuyết theo luật pháp quốc tế” không? Hay họ cũng đòi lưỡi bò y như TQ?

  12. Phạm Quang Tuấn nói:

    Trương Nhân Tuấn tự xưng là “học giả” và hay chê người khác (DD Huy, PQ Tuấn) là bịa đặt bằng chứng, phạm lỗi tối kỵ của “học thuật”. Kì lạ thay, tôi hỏi ông về vụ ông nói Valencia là người Phi (một luận cứ TNT đã nhiều lần đem ra để đập giảp pháp DD Huy) từ mấy hôm nay mà ông êm re. Không giải thích, không cải chính, không xin lỗi.

    Để độc giả khỏi làm phiền học giả thứ thiệt Mark Valencia và gửi thư hỏi ông theo lời đề nghị của ông Nghiêm Quang, tôi xin đăng lại đây email của Valencia đã trả lời tôi:

    “MY ORIGINAL SURNAME IS OF PORTUGUESE ORIGIN–IT WAS DE VALENCA WITH A CIDILLA UNDER THE C WHEN MY GREAT GRANDFATHER IMMIGRATED TO AMERICA–I AM A FOURTH GENERATION AMERICAN” (Tên tôi là gốc Bồ, nguyên thủy là De Valenca, chữ c có đuôi, ông cố tôi nhập cư Mỹ, tôi là người Mỹ bốn đời).

    Xin để bạn đọc tự suy xét về tư cách của “học giả” Trương Nhân Tuấn!

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả