talawas blog

Chuyên mục:

Kiến Hào – Trần & Hồ tranh vấn

26/08/2010 | 1:00 sáng | Phản hồi đã bị khóa

Tác giả: Kiến Hào

Chuyên mục: Lịch sử, bình luận
Thẻ: >

Bình Dương, mùa đông, tháng 10 năm Giáp Ngọ 2014. Nhân dịp về Bến Cát ăn giỗ, trên đường trở về nhà kẻ hàn sĩ vui chân lạc bước vào thành phố mới. Cảm thấy trong người không được khỏe vội dừng lại bên đường, ngã lưng trên vệ cỏ ngay góc ngã tư Trần Thủ Độ & Hồ Quý Ly. Không ngờ thấm hơi men nên nhắm mắt làm luôn một giấc. Gió heo may đem hơi lạnh hoà cùng sương đêm càng làm cho không gian thêm phần cô tịch. Tình cờ trong buổi âm dương giao hoà, mập mờ nhân ảnh nửa hư nửa thật lại có cơ duyên trộm nghe những lời trao đổi của hai nhân vật lịch sử nêu trên. Nay xin ghi chép lại hầu các bạn yêu Việt sử, với tất cả lòng nghiêm cẩn sợ sệt. Nếu có điều chi không được như ý xin người đọc lượng thứ vì trong cõi u minh tâm thần bất định, rất dễ nghe gà hoá cuốc. Nay kính.

***

“Phàm là kẻ mang ơn vua, hưởng lộc nước phải giữ lấy lòng trung, đem hết tài sức ra báo đáp mà hòng truyền phúc lộc cho con cháu lâu dài. Xét ngươi là kẻ quyền thần, lợi dụng buổi suy vi của bản triều mà mưu điều thoán nghịch. Tiếc thay cho (Trần) Nghệ Tông, trong chỗ nhân hậu cũng có điều bất tường, để đến nỗi đem Huy Ninh công chúa[1] mà gả cho ngươi, có khác gì giao trứng cho ác. Nhà ngươi đã lợi dụng quan hệ thân tộc ngoại thích (vợ vua) để dòm ngó ngôi cao, mượn việc bổ nhiệm quan lại mà tăng cường vây cánh. Khen cho ngươi một tay che mờ ánh dương, cũng bởi Nghệ Tông hôn ám không phân biệt được chính tà mà cơ nghiệp 175 năm nhà Trần phải dứt.”

“Không dám, không dám. Trước khi trách người, xin ngài Thái sư tự nhìn lại bản thân. Họa ngoại thích không phải triều Trần mới có. Kìa Lý triều buổi gặp hoạ Quách Bốc làm náo loạn kinh thành (1209), đến nỗi Thái tử Lý Sảm phải chạy về Hải Ấp lánh nạn. Ai chống lưng cho người trẻ làm càn: gả bán con gái cho thái tử thoả điều dâm dật, xúi dục lập vương triều riêng để phong tước cho người họ Trần[2]. Cũng nhờ danh nghĩa thân thích của Trần nguyên phi mà Trần Cảnh mới được vào hầu Lý Chiêu Hoàng, khen cho ngài Thái sư khéo sắp xếp màn kịch gả chồng cho vua rồi lại vua nhường ngôi cho chồng[3]. Nếu bảo họ Hồ tôi dùng thủ đoạn ngoại thích mà gây họa cho triều Trần của ngài, thì đó cũng chỉ là sự lặp lại của lịch sử, giống như độc chiêu đó mà ngài Thái sư đã làm cho triều Lý 215 năm phải dứt nghiệp mà thôi.”

“Xưa nay việc làm tuy có thể giống nhau nhưng mục đích thì mỗi việc mỗi khác. Nhà ngươi đã nhận lời phó thác của (Trần) Nghệ Tông lúc sắp mất, sao không một lòng giúp rập nhà Trần cho có thủy có chung, tướng mạnh vua hiền thì dẫu giặc Minh có thế mạnh đến đâu chăng nữa, cũng chưa hầu dễ đã cướp được nước Nam, mà ngươi lại được tiếng thơm muôn thuở. Thân là cha vợ của vua, chức tước cao tột đỉnh, quyền trùm cả thiên tử, có thể nói dưới một người mà trên muôn vạn người. Bổng lộc truyền đời, biết đến bao giờ mới hết. Còn như ta, triều Lý đến đời Dụ Tông thì đã bắt đầu mục ruỗng, trải qua đến đời Cao Tông, Huệ Tông thì chỉ còn hư danh, thực quyền chỉ quanh quẩn vùng ngoại thành Thăng Long. Trộm cướp, giặc giã xảy ra như ong, đó là điềm trời lấy lại ngôi vương, họ Lý thất lộc. Đó là một tất yếu lịch sử. Ví phỏng họ Trần ta không chiếm lấy ngôi vua, thì thử hỏi họ Đoàn (Thượng), họ Nguyễn (Nộn) kia có chịu ngồi yên mà nhìn ngai vàng rơi vào tay họ khác? Hơn nữa những việc làm của ta phần nhiều chỉ gây đau khổ cho tôn thất triều Lý chứ không ảnh hưởng đến đại cuộc. Ngược lại, chính nhờ ta quyết liệt bảo vệ cho sự tồn tại của triều Trần lúc khai quốc, lịch sử Việt Nam mới có cơ hội sau đó ghi nhận một chính quyền quân sự, một hào khí Đông A mạnh đến mức có thể ba lần chặn đứng vó ngựa xâm lược của quân Nguyên Mông[4].”

“Tôi trộm nghĩ ngài Thái sư nói sai rồi. Đem việc sẽ xảy ra hơn 30 năm sau để biện minh cho hành động nhổ cỏ tận gốc của mình liệu có khiêm cưỡng lắm không? Lúc tru diệt tôn thất họ Lý[5], ngài Thái sư có ý thức được việc làm của mình là vì nước vì dân, hay chỉ để bảo vệ ngôi vương của dòng họ Trần? Lịch sử vốn dĩ rất công bằng, công là công mà tội là tội, không thể lấy công mà bù đắp, che lấp mất tội được. Ngàn năm sau, hậu thế vẫn ghi nhớ câu nói của Ngài “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ chớ lo” làm nức lòng ba quân tướng sỹ, nhưng cũng không bao giờ quên Trần Thủ Độ giết vua, hãm hại công thần, dùng thủ đoạn để đoạt ngôi vua cho dòng họ. Than ôi, Hồ Quý Ly tôi tiếc rằng thời gian quá ngắn ngủi, không đủ để những cải cách đầu triều Hồ phát huy tác dụng: phát hành tiền giấy, thống nhất đo lường, cải cách thi cử, chấn chỉnh quân đội, xây thành, đóng thuyền, dùng chữ Nôm, phân phối lại ruộng đất… Nếu trời cho thư thả mươi năm nữa thì nước thịnh quân cường, có sợ gì bọn giặc Minh xâm lược.”

“Thương thay cho Bình Chương[6] đến lúc chết vẫn chưa tỉnh ngộ. Nguyên nhân dẫn đến thất bại của nhà ngươi chính là sự mất lòng tin nên không tập hợp được sức mạnh đoàn kết của toàn dân chớ phải đâu do cải cách chưa tới. Lấy tên nước là Đại Ngu, mong kế thừa Nghiêu Thuấn mà việc làm không khác gì Kiệt Trụ. Nuốt lời thề, phụ lòng ủy thác của Nghệ Tông, giết hại trung thần, tự ý dời đô, tiếm xưng ngôi Thái tử cho con, hại chết Phế Đế, bức tử Thuận Tông, phế truất Thiếu Đế, những việc làm kinh động quỷ thần mà xưa nay chưa một kẻ chuyên quyền lộng thần nào sánh kịp. Vua là đầu mối của kỷ cương một nước, giết vua đi[7] thì hỏi sao bọn quan triều không lập đảng chống đối. Một lúc giết những 370 người[8] bất kể già trẻ trai gái, sao mà bạo ngược lắm vậy? Lòng dân ly tán, nước mất nhà tan, mới hay họa bại vong không phải ngày một ngày hai mà đến. Cái tội làm mất nước Nam của nhà ngươi sử sách chép rành rành ra đó; sao lại còn mê muội mà cho rằng tại trời không chiều lòng?”

“Xin ngài Thái sư đừng vì luyến tiếc vương triều Trần mà quá nặng lời. Chẳng qua là tôi học theo sách của người đi trước đó thôi. Kìa Huệ Quang Thiền Sư chỉ một câu nói “nhổ cỏ tận gốc”[9] của ai mà phải tự tận. Nước mất, thân bị giảo, con bị ép nhường ngôi, vợ về tay người hại mình. Kìa bao oan hồn tôn thất họ Lý, bị chôn sống ngay trước bài vị tổ tông, kẻ còn sống cũng buộc đổi sang họ khác cho tiệt trừ hậu hoạn. Giết vua, lấy vợ vua, lừa thầy, phản bạn, dâm loạn, phản trắc… toàn những việc làm nối gót theo Trung Từ, Tự Khánh và làm gương xấu cho bọn Ích Tắc sau này noi theo. Đạo vợ chồng là một trong tam cương, là giềng mối của một dân tộc. Sao lại vì quá coi trọng việc bảo vệ ngôi vương cho dòng tộc mà làm chuyện thương luân bại lý, khác gì chó lợn[10]. Hoán vợ đổi chồng, anh em chú bác lấy nhau, cô cháu lấy nhau, anh em cô cậu lấy nhau, em rể lấy chị vợ, gán vợ cũ cho người có công gọi là ban thưởng[11]… Hỏi từ trước đến nay có triều đại nào làm chuyện nghịch đạo như thế hay không? Xem ra việc hôn nhân chỉ là phương tiện để họ Trần bảo vệ vương triều khỏi tay người ngoài mà thôi, không lý gì tới đạo lý thánh hiền. Cũng bởi vì làm chuyện mờ ám soán nghịch bằng con đường hôn nhân nên sợ người khác cũng sẽ làm vậy với dòng họ mình. “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”, việc ta làm với con cháu họ Trần chính là lặp lại việc ông đã làm cho con cháu triều Lý, đúng như lời nguyền của Lý Huệ Tông lúc sắp mất: “Thiên hạ nhà ta đã vào tay ngươi, ngươi lại còn giết ta, ngày nay ta chết, đến khi thác con cháu ngươi cũng sẽ bị như thế”. Điềm trời báo ứng , lẽ đâu ông không hiểu thấu? Ngày nay bọn làm sử lại bẻ cong ngòi bút, mưu đồ tô nhạt lỗi lầm của ông mà chuốc hồng công trạng. Bảo rằng Thủ Độ chỉ một lòng tận trung với triều đại mới, không ham vương vị dù dư sức làm thế ư? Vốn dĩ ông cũng tự biết rất rõ rằng những việc làm tàn độc của mình rất không được lòng dân chúng, làm sao dám nghĩ đến ngôi vua? Lại nói Huệ Tông mắc chứng điên nên phải chịu bị ông phế truất. Thực ra chứng điên khùng của nhà vua là do phẫn uất, bất lực và do phe cánh họ Trần nói vu ra cho nặng thêm để người ngoài nghĩ rằng vua không còn đủ “năng lực hành vi” để trị quốc. Nghe ông nói câu nhổ cỏ tận gốc, rõ ràng nhà vua nhận thức được thâm ý độc ác của ông, chứng tỏ còn hoàn toàn tỉnh táo. Than ôi, đạo thờ vua không tội nào lớn bằng thí nghịch, đạo vợ chồng không tội nào lớn bằng cướp vợ người làm vợ mình. Dù công trạng có lớn lao đến đâu, lẽ nào lại mong lấp liếm lỗi lầm mà viết lại trang sử cũ…”

“Than ôi. Ghi công ta là hậu thế mà lên án ta cũng là hậu thế!”

 … đến đây thì tiếng gà đã eo óc gáy vang, chân trời phía đông sáng dần báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Mọi hình ảnh âm thanh mờ nhạt dần rồi tan loãng trong cõi hư vô, kẻ hàn sĩ tỉnh giấc mà vai áo còn ướt đẫm sương đêm. Về nhà vội ghi ra trang giấy, lòng xiết bao cảm thán…    

Tài liệu tham khảo:

-         Đại Việt sử ký toàn thư - mộc bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697)- NXB KHXH 2004.

-         Việt sử giai thoại – Nguyễn Khắc Thuần – NXB Giáo Dục 2007.

-         Hỏi đáp Lịch sử Việt Nam – NXB Trẻ 2007.

-         Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

© 2010 Kiến Hào

© 2010 talawas


[1] Công chúa Huy Ninh là con gái của Trần Minh Tông ( 1314-1329), được Nghệ Tông gả cho Quý Ly năm 1371. Là mẹ của Hồ Hán Thương và công chúa Thánh Ngâu (sau là hoàng hậu của Trần Thuận Tông).

[2] Quách Bốc đánh vào kinh thành để trả thù cho chủ là Phạm Bỉnh Di. Vua Cao Tông chạy lên Quy Hoá, thái tử Lý Sảm cùng mẹ và hai em gái chạy về Hải Ấp nương náu Trần Lý. Nhân đó Trần Lý và Tô Trung Từ lập thái tử làm vua xưng là Thắng Vương, lại đem con gái là Trần Thị Dung gả cho. Năm ấy thái tử mới 15 tuổi. Trần Lý được phong là Minh Tự, Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ. Vua Cao Tông không chấp nhận cả hai việc xưng vương và lấy vợ của Thái tử. Mãi sau này khi vua Cao Tông chết đi và thái tử Lý Sảm nối ngôi (vua Lý Huệ Tông), Trần thị Dung mới được lập làm nguyên phi.

[3] Cha Trần Cảnh là Trần Thừa, vốn là anh em chú bác ruột với Trần Thủ Độ. Năm 1225, Thủ Độ đưa Trần Cảnh vào cung làm Chính thủ chi hậu, phục vụ vua là Lý Chiêu Hoàng (cả hai cùng sinh năm 1218, Cảnh sinh trước 3 tháng). Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: “Cảnh lúc ấy mới lên 8 tuổi, phải giữ việc bưng nước rửa, nhân thế được vào hầu bên trong. Chiêu Hoàng trông thấy lấy làm ưa, mỗi khi chơi đêm cho gọi đến để cùng chơi, thấy Cảnh ở chỗ tối thì thân đến trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng lên bóng. Có một hôm, Cảnh bưng chậu nước hầu, Chiêu Hoàng rửa mặt lấy tay vốc nước té ướt cả mặt Cảnh rồi cười trêu, đến khi Cảnh bưng khăn trầu thì lấy khăn ném cho Cảnh. Cảnh không dám nói gì, về ngầm thưa với Thủ Độ. Thủ Độ nói: “Nếu thực như thế thì họ nhà ta thành hoàng tộc hay bị diệt tộc đây?” Một hôm, Chiêu Hoàng lại lấy khăn trầu ném cho Cảnh, Cảnh lạy rồi nói: “Bệ hạ có tha tội cho thần không? Thần xin vâng mệnh”. Chiêu Hoàng cười và nói : “Tha tội cho ngưoi. Nay ngươi đã biết nói khôn rồi đó”. Cảnh lại về nói với Thủ Độ. Thủ Độ sợ việc tiết lộ thì bị giết cả, bấy giờ mới tự đem gia thuộc thân thích vào trong cung cấm. Thủ Độ đóng cửa thành và các cửa cung, sai người coi giữ, các quan đến chầu không được vào.Thủ Độ loan báo rằng: “Bệ hạ đã có chồng rồi”. Các quan đều vâng lời, xin chọn ngày vào chầu. Ngày 11 tháng 10 năm Ất Dậu (1225), các quan vào chầu lạy mừng.”

[4] Theo Hoài Nam, báo CAND ngày 15.6.2009.

[5] Năm 1232, nhân lúc tôn thất nhà Lý về quê ở làng Hoa Lâm (nay là xã Mai Lâm, Gia Lâm, Hà Nội) làm lễ cúng tổ tiên, Thủ Độ đã làm bẫy sập chôn sống tất cả.

[6] Triều Trần Nghệ Tông, Hồ Quý Ly làm quan chức Đồng Bình chương sự.

[7] Tháng 4 năm Kỷ Mão 1399, Quý Ly cưỡng bức vua Trần Thuận Tông phải xuất gia thờ Đạo giáo, ra ở quán Ngọc Thanh, thôn ĐạmThủy, Quảng Ninh, mật sai nội tẩm học sinh Nguyễn Cẩn đi theo. Vua ngờ hỏi rằng: “Ngươi theo hầu ta là muốn làm gì chăng?” Cẩn không nỡ trả lời. Quý Ly làm bài thơ bảo Cẩn rằng: “Nguyên Quân (chỉ vua) không chết thì ngươi phải chết” lại làm bài thơ đưa cho Nguyên Quân như sau: (dịch)

Trước có vua hèn ngu

Hôn Đức và Linh Đức

Sao không sớm (tự) liệu đi

Để cho người nhọc sức

Cẩn bèn dâng thuốc độc. Vua không chết. Lại dâng nước dừa và không cho ăn mà vua vẫn không chết. Đến đây, sai Xa kỵ vệ thượng tướng quân là Phạm Khả Vĩnh thắt cổ cho chết.

[8] Năm Kỷ Mão 1399, nhân hội thề đền Đồng Cổ, bọn Khát Chân đã có ý muốn giết Quý Ly để trả thù cho vua. Quý Ly ngồi trên lầu nhà Khát Chân để xem hội thề, cứ y như lệ thiên tử ngự đến các miếu các đền. Cháu Phạm Khả Vĩnh là Phạm Tổ Thu và thích khách là Phạm Ngưu Tất định lên. Khát Chân trừng mắt ngăn lại nên việc không xong. Quý Ly chột dạ đứng dậy, vệ sĩ hộ vệ xuống lầu. Ngưu Tất vứt gươm xuống đất nói rằng: “Chết uổng cả lũ thôi”. Sự việc bị phát giác, bọn tôn thất Trần Hãng, Trụ quốc Nhật Đôn, tướng quân Trần Khát Chân, Phạm Khả Vĩnh, hành khiển Hà Đức Lân, Lương Nguyên Bưu, Phạm Ông Thiện, Phạm Ngưu Tất và các liêu thuộc, thân thích gồm hơn 370 người đều bị giết và tịch thu gia sản. Con gái bị bắt làm nô tỳ, con trai từ 1 tuổi trở lên hoặc bị chôn sống, hoặc bị dìm nước. Lùng bắt dư đảng liền mấy năm không ngớt.

[9] Sau khi bị bức phải nhường ngôi cho con gái và đi tu, Lý Huệ Tông có lần dạo chơi qua chợ Đông, dân chúng nhận ra xúm lại xem, có người còn khóc thương. Thủ Độ sợ lòng dân còn nhớ vua cũ, bèn chuyển Huệ Quang (Huệ Tông) vào chùa Chân Giáo. Một lần Thủ Độ đến chùa, thấy Huệ Tông ngồi nhổ cỏ bèn nói rằng: “Nhổ cỏ thì phải nhổ cả rễ sâu”. Huệ Tông đáp: “Điều ngươi nói ta hiểu rồi”. Bèn thắt cổ tự tử ở vườn sau chùa.

[10] Lời của vua Tự Đức.

[11] Chiêu Thánh lấy Trần Cảnh đã lâu mà không có con, Thủ Độ bèn ép Trần Cảnh bỏ vợ lấy người chị ruột của Chiêu Thánh là Thuận Thiên, khi ấy đang là vợ Trần Liễu và có mang 3 tháng. Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung là anh em chú bác ruột lấy nhau. Trần Quốc Tuấn và công chúa Thiên Thành là hai cô cháu lấy nhau. Trần Liễu- Thuận Thiên, Trần Cảnh-Chiêu Thánh là hai cặp anh em cô cậu lấy nhau. Trần Cảnh và Thuận Thiên là em rể lấy chị vợ. Thái Tông (Trần Cảnh) đem vợ cũ là Chiêu Thánh gả cho tướng có công là Lê Tần.

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Kiến Hào – Trần & Hồ tranh vấn”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả