talawas blog

Chuyên mục:

Bùi Xuân Bách – Vài ý kiến đóng góp với bản dịch “Việt Nam khai quốc” (kỳ 2)

22/09/2010 | 4:52 sáng | 10 Comments

Tác giả: Bùi Xuân Bách

Category: Lịch sử, Ngôn ngữ - Dịch thuật
Thẻ:

(Xem kỳ 1)

Việt Nam khai quốc – Chương 4 phần 1 (sách trang 132-143)

bản dịch nguyên văn (Wade-Giles) Hán tự pinyin Hán-Việt
1 Tinh Thiệu Ching Shao 井韶(/紹) Jǐng Sháo Tỉnh Thiều/Thiệu
2 Tôn Chung Sun Ch’iung 孫冏 Sūn Jiǒng Tôn Quynh
3 Trần Văn Giỏi Ch’en Wen-chieh 陳文戒 Chén Wénjiè Trần Văn giới
4 Giám quan Chien chün 監軍 Jiān jūn Giám quân
5 Nan Yueh Nan Yüeh 南越 Nán Yuè Nam Việt
6 Amitabha A-mi-to Fo 阿彌陀佛 Āmítuó Fó A-di-đà Phật

(Phật A-di-đà)

7 Lao (man di) Lao Lǎo Lão
8 hồ Điển Triết Tien-cheh 典澈 Diǎnchè hồ Điển Triệt
9 sơn lam chướng khí sửa: lam sơn chướng khí

Chú giải

1- Tác giả (K. W. Taylor) cho ta cả hai chữ Hán 韶/紹 trong cái tên này. Có lẽ ông gặp trong hai cuốn sách khác nhau. Hai chữ này đọc trong tiếng Hán thì đồng âm sháo, nhưng trong tiếng Việt thì lại đọc khác nhau là Thiều và Thiệu. Vậy ta dùng chữ Thiệu cũng đúng nhưng chữ Ching (井) thì phải đọc là Tỉnh.

2- Chữ 冏 theo Khang Hy tự điển đọc là Quynh, còn theo Từ Hải đọc là Cảnh.

5- Có lẽ do sơ ý, dịch giả vẫn để nguyên Nan Yueh trong bản tiếng Việt (Nan Yüeh).

6- Trong bản tiếng Anh viết là A-mi-to Fo, không hiểu sao dịch giả không dùng A-di-đà

Phật trong bản tiếng Việt mà lại dùng Phạn ngữ (Amitābha).

7- Chữ 獠 có hai cách đọc trong tiếng Hán: Lǎo và Liáo, âm Hán Việt tương đương là Lão và Liêu. Liêu thì có nghĩa là đi săn đêm, hoặc là kẻ hung ác, tàn bạo. Lão là tên một bộ tộc cổ ở Trung Quốc, phân bố tại vùng Quảng Tây, Quảng Đông, Hồ Nam, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu ngày nay. Còn dùng với nghĩa phiếm chỉ, nói chung các dân tộc thiểu số phương Nam. Tương tự như chữ Man trong Đông Di, Tây Nhung, Bắc Địch, Nam Man, những từ miệt

thị để chỉ các dân tộc không phải Hán. Trường hợp này ta phải đọc là Lão.

9- “Lam sơn chướng khí” rõ ràng là thành ngữ gốc Hán vì ta thấy các từ cấu thành là từ Hán Việt và trật tự từ trong thành ngữ cũng vẫn là trật tự từ Hán, nghĩa là tính từ đứng trước danh từ (khác với trật tự từ Việt là danh từ đứng trước tính từ). Có lẽ, do mượn đã lâu, người Việt đã quen dùng và vẫn giữ nguyên trật tự từ cũ. Nay nếu ta đổi lại là “sơn lam chướng khí” (danh-tính-tính-danh) thì hóa ra lại “đầu gà đít vịt”.

Việt Nam khai quốc – Chương 4 phần 2 (sách trang 144-151)

bản dịch nguyên văn

(Wade-Giles)

Hán tự pinyin Hán-Việt
1 Nguyễn Cảnh Trọng Yüan Ching-chung 元景仲 Yuán Jǐngzhòng Nguyên Cảnh trọng
2 Âu dương Nguy Ou-yang Wei 歐陽頠 Ōuyáng Wěi Âu dương Ngỗi
3 Âu dương Hốt Ou-yang Ho 歐陽紇 Ōuyáng Hé Âu dương Hột
4 Thái Ngung Ts’ai Ning 蔡凝 Cài Níng Thái/Sái Ngưng
5 Đại Hoàng Tai Huang 戴晃 Dài Huǎng Đái Hoảng
6 Trần Khắc Shen K’o 沈恪 Shěn Kè Thẩm Khác
7 Phượng Tần Fang T’ai 方泰 Fāng Tài Phương Thái
8 Trần Quân cảo Shen Chün-kao 沈君高 Shěn Jūngāo Thẩm Quân cao
9 Li Li
10 Dương Hựu phổ Yang Hsiu-p’u 楊休浦 Yáng Xiūpǔ Dương Hưu phố
11 Lý Hữu Vinh Li Yu-jung 李幼榮 Lǐ Yòuróng Lý Hữu (Ấu) Vinh

Chú giải

9- Vào thế kỷ V, Lý (俚) là tiếng để chỉ người thuộc các bộ lạc miền núi phía Nam. Sang thế kỷ VI thì nó lại được dùng để chỉ các dân tộc thiểu số (không phải Hán) đã chuyển xuống định cư ở vùng thấp, vùng đồng bằng.

11- Chữ “Hữu” tác giả lại chú bằng chữ Ấu “幼”. Có lẽ là nhầm lẫn. Lý Hữu Vinh là tên Việt.

Việt Nam khai quốc – Chương 4 phần 3 (sách trang 151-155)

bản dịch nguyên văn

(Wade-Giles)

Hán tự pinyin Hán-Việt
1 Khuất Liễu Ch’ü-liao 屈獠 Qūliáo Khuất Liệu
2 Điển Triết Tien-cheh 典澈 Diǎnchè (hồ) Điển Triệt
3 Âu dương Ngụy Ou-yang Wei 歐陽頠 Ōuyáng Wěi Âu dương Ngỗi
4 Âu dương Hốt Ou-yang Ho 歐陽紇 Ōuyáng Hé Âu dương Hột
5 Cao Nương Kao Niang 杲娘 Gǎo Niáng Cảo Nương

Việt Nam khai quốc – Chương 4 phần 4 (sách trang 155-158)

bản dịch nguyên văn

(Wade-Giles)

Hán tự pinyin Hán-Việt
1 Tăng Thiện T’an Ch’ien 曇遷 Tán Qiān Đàm Thiên
2 Trí Nghi Chih I 智顗 Zhì Yǐ Trí Ỷ
3 Tuệ Khả Hui K’o 慧可 Huì Kě Tuệ/Huệ Khả
4 Trần Quân cảo Shen Chün-kao 沈君高 Shěn Jūngāo Thẩm Quân cao
5 Pháp Hiển Fa Hsien 法賢 Fǎ Xián Pháp Hiền
6 Lý Hữu Vinh Li Yu-jung 李幼榮 Lǐ Yòuróng Lý Hữu (Ấu) Vinh
7 Lý Xuân Li Ch’un 李春 Lǐ Chūn Lý Xuân
8 chùa Chung Thiên temple of Chung-thiên chùa Chúng Thiện
9 ba tông phái Thiền Phật giáo ba Thiền phái lớn ở Việt Nam

Chú giải

1- sư Đàm Thiên (542-607).

3- Huệ Khả là học trò của Bồ đề đạt ma, là Nhị Tổ của Thiền tông Trung Quốc. Chữ 慧 có âm Hán Việt là Tuệ, nhưng tiền nhân vẫn thường nói là (Nhị Tổ) Huệ Khả.

5- theo tác giả chú chữ Hán 法賢 thì ta phải đọc là Pháp Hiền. Ông thuộc thế hệ thứ nhất của Thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi.

8- theo mục “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” trong Wikipedia thì: Nay lại có Pháp Hin thượng sĩ, đắc pháp với Tì-ni-đa-lưu-chi, truyền tông phái của tam tố, là người trong làng Bồ-Tát, đang ở chùa Chúng Thiện dạy dỗ học trò.

9- Phật Giáo có 10 tông, như Thiên Thai tông, Tịnh Độ tông, Mật tông, Thiền tông…, là những nhánh lớn. Trong nhánh lớn lại có những cành con, gọi là phái. Ở đây tác giả muốn nói đến một trong 3 phái của Thiền tông tại Việt Nam. Ta không nên lẫn lộn giữa tông và phái. Thiền thì đương nhiên thuộc về Phật giáo rồi, ta nói Thiền Phật giáo là thừa.

Việt Nam khai quốcChương 4 phần 5 (sách trang 158-165)

bản dịch nguyên văn

(Wade-Giles)

Hán tự pinyin Hán-Việt
1 Thái Ngung Ts’ai Ning 蔡凝 Cài Níng Thái/Sái Ngưng
2 Đại Hoàng Tai Huang 戴晃 Dài Huǎng Đái Hoảng
3 Dương Hữu phổ Yang Hsiu-p’u 楊休浦 Yáng Xiūpǔ Dương Hưu phố
4 Dương Khiêm Yang Chien 楊堅 Yáng Jiān Dương Kiên
5 Ninh Mãnh lực Ning Meng-li 寗猛力 Nìng Měnglì Nịnh Mãnh lực
6 Lý Phổ Định Li P’u-ting 李普鼎 Lǐ Pǔdǐng Lý Phổ Đỉnh
7 27 tiểu đoàn army of twenty-seven batalions 27 nghìn quân
8 đèo Đỗ Long Do-long pass 都隆 Dūlóng Đô Long
9 Dương Tấn Yang Chien 楊堅 Yáng Jiān Dương Kiên
10 Lưu Phương Liu Fang 劉方 Liú Fāng Lưu Phương
11 Chu Diên, Ô Diên Wu-yüan 烏鳶 Wūyuān Ô Diên

Chú giải

4- và 10- Dương Kiên (楊堅) hay Tùy Văn đế, người sáng lập nhà Tùy.

7- Tiếng Anh trong nguyên bản dùng “army of twenty-seven batalions”, nếu dịch là “một đạo quân 27 tiểu đoàn” như trong bản tiếng Việt thì đúng quá rồi còn gì. Thế nhưng ở Trung Quốc thời cổ đại và trung đại, chắc chắn người ta không phân chia các đơn vị quân đội và gọi là tiểu đoàn, trung đoàn v.v… như hiện nay. Với trực giác tôi chỉ có cảm thấy là dùng từ “tiểu đoàn” trong văn cảnh này có điều gì đó không ổn, vì đây là thời nhà Tùy, nhưng chưa rõ là nên dịch thế nào, tìm ở đâu. Nghĩ nát óc mà chưa ra, đã rơm rớm nước mắt, thì Bụt hiện lên hỏi: “Làm sao con khóc?” Tôi thưa lại sự tình thì Bụt chỉ bảo: “Con đã xem phim ‘Xích Bích’ của đạo diễn Ngô Vũ Sâm (John Woo) chưa? Câu trả lời ở trong ấy.” Nói xong thì ngài biến. Tôi vội chạy đi thuê phim về xem. Y như rằng, nhờ phim có phần phụ đề thuyết minh bằng cả hai thứ chữ: chữ Anh và chữ Hán, là thứ mà tôi có thể đánh vần được, tôi đã tìm được đáp số. Ở đoạn Tào Tháo ngồi xem quân mình đá bóng (xưa gọi là đá cầu) có một anh chàng đá rất giỏi, ghi nhiều bàn thắng. Sau trận đấu, Tào Tháo gọi anh ta đến và nói: “Từ nay ta phong cho ngươi là Thiên phu trưởng (千夫長)” (phần chữ Hán). Đây là chức võ quan chỉ huy đơn vị gồm một ngàn quân. Phần chữ Anh thì thuyết là: “Từ nay ta phong cho ngươi là Tiểu đoàn trưởng.” Thì ra ông Mẽo dùng chữ Tiểu đoàn cho Thiên phu. Cái tổ con chuồn chuồn đây rồi. Ta cũng biết là ngày xưa người ta chia quân đội thành những đơn vị 10 người, 50 người, 100 người, 1 nghìn người, 1 vạn người và tương ứng có các chức vụ Thập phu trưởng, Ngũ thập phu trưởng, Bách phu trưởng, Thiên phu trưởng, Vạn phu trưởng.

Vậy thì ở đây ta có thể dịch là “một đạo quân 27 nghìn người”.

Việt Nam khai quốc – Chương 5 phần 1 (sách trang 166-177)

bản dịch nguyên văn

(Wade-Giles)

Hán tự pinyin Hán-Việt
1 Tiêu Thiết Hsiao Hsien 蕭銑 Xiāo Xiǎn Tiêu Tiển
2 Lâm Sĩ hoàng Lin Shih-hung 林士弘 Lín Shìhóng Lâm Sĩ hoằng
3 Cao Sĩ liên Kao Shih-lien 高士廉 Gāo Shìlián Cao Sĩ liêm
4 kinh đô Trường Sa Ch’ang An 長安/ 长安 Cháng’ān Tràng (/Trường) An

Việt Nam khai quốc – Chương 5 phần 3 (sách trang 181-187)

bản dịch nguyên văn

(Wade-Giles)

Hán tự pinyin Hán-Việt
1 Huệ Minh Hui Ming 慧命 Huì Mìng Huệ Mệnh
2 Văn Kí Yün Ch’i 運期 Yùn Qí Vận Kỳ
3 Mộc Xoa Đề Mokṣadeva 木叉提婆 Mù-chā-tí-pó Mộc-xoa-đề-bà
4 Huệ Diễm Hui Yen 慧琰 Huì Yǎn Huệ Diệm
5 Đại Thắng Đặng Ta Sheng Teng 大乘燈 Dàshèngdēng Đại Thặng Đăng
6 Lữ Tổ thượng Lu Tsu-shang 盧祖尚 Lú Zǔshàng Lô/Lư Tổ thượng
7 Văn Bi Wan Pei 萬備 Wàn Bèi Vạn Bị
8 Lý Nghĩa phủ(ở dưới nữa: Nghĩa Phụ) Li I-fu 李義府 Lǐ Yìfǔ Lý Nghĩa phủ
9 Lý Thọ Li Yu 李友 Lǐ Yǒu Lý Hữu
10 Nghiêm Thiên tư Yen Shan-ssu 嚴善思 Yán Shànsī Nghiêm Thiện tư
11 Lăng Dư Khánh Lang She-ch’ing 郎佘慶 Láng Shéqìng Lang Xà khánh
12 Thẩm Toàn kỳ Shen Ch’üan-ch’i 沈佺期 Shěn Quánqí Thẩm Thuyên kỳ
13 Lý Sao Li Ch’ao 李巢 Lǐ Cháo Lý Sào
14 Biển Trang Chang (Sea) 漲海 Zhǎng (hǎi) Trướng hải
15 Trang vương của nhà Châu King Cheng of Chou 周成王 Zhōu Chéng wáng Châu Thành Vương

Chú giải

2- Pháp sư Vận Kỳ là một trong sáu vị tăng sĩ Việt Nam từng qua Ấn Ðộ du học vào cuối thế kỷ thứ bảy đầu thế kỷ thứ tám.

3- Pháp sư Giải Thoát Thiên từng qua Ấn Ðộ bằng đường thủy, tham bái Bồ Ðề Ðạo

Tràng (Ðại Giác Tự) và các thánh tích quanh đó. Tên của ông theo Phạn ngữ là Mokṣadeva (Mộc Xoa Ðề Bà). Ông mất lúc khoảng 25 tuổi.

4- Pháp sư Huệ Diệm là đệ tử của thiền sư Vô Hành người Trung Hoa. Ông họ Hứa, đã cùng du hành đi Tích Lan và ở luôn tu học tại đây.

5- Thiền sư Ðại Thừa Ðăng, (hay Đại Thặng Đăng), tên Phạn ngữ là Ma Ha Dạ Na Bát Ðịa Dĩ Ba (Mahayanapradipa).

14- Biển Nam Trung Hoa (South China Sea) hay biển Đông (theo cách gọi của Việt Nam). Thời Hán và thời Nam Bắc triều gọi là Trướng hải (漲海), Phí hải (沸海). Từ thời Đường trở về sau gọi là Nam hải (南海).

15- Sách Việt sử lược chép: Đến đời Thành Vương nhà Chu, Việt Thường Thị mới đem dâng con chim trĩ trắng. Đoạn này dịch là Trang vương của nhà Châu thì không đúng.

Châu Thành vương Cơ Tụng (姬誦) trị vì từ 1042 đến 1021 trước CN.

Việt Nam khai quốc – Chương 5 phần 4 (sách trang 187-194)

bản dịch nguyên văn

(Wade-Giles)

Hán tự pinyin Hán-Việt
1 Ưng Huệ Vương Yung-hui period (650-655) 永徽 Yǒnghuī Vĩnh Huy
2 người Lao Lao Lǎo Lão
3 Lý Tự Tiến / Lý Tư Hiến Lý Tự Tiên     (Li Ssu-hsien) 李嗣先 Lǐ Sìxiān Lý Tự Tiên
4 Đinh Kiên Đinh Kiến   (Ting Chien) 丁建 Dīng Jiàn Đinh Kiến
5 Đường Cao Hoàng Emperor Kao 唐高宗 Táng Gāozōng Đường Cao tông
6 Ching Tsung Hoàng Đế Chung Tsung (705-707) 唐中宗 Táng Zhōngzōng Đường Trung tông
7 Phúc Lâm Ch’ü Lan 曲覽 Qū Lǎn Khúc Lãm
8 Ching Lung Hoàng đế Ching Lung period (707-709) 景龍 Jǐnglóng Cảnh Long (707-710)
9 Núi sông Hoan Diên 驩演 Huān Yǎn Hoan Diễn
10 Thẩm Toàn Kỳ Shen Ch’üan-ch’i 沈佺期 Shěn Quánqí Thẩm Thuyên kỳ
11 Chin Li  (Kim Lân) Chin-lin 金鄰 Jīnlín Kim Lân
12 Quang Sở Khánh Kuang Ch’u-k’e 光楚客 Guāng Chǔkè Quang Sở khách
13 She-pô She-p’o 闍婆 Shépó hay Dūpó Đồ bà

Chú giải

1- Vĩnh Huy (650-655) là một trong những niên hiệu của Đường Cao tông Lý Trị.

5- Đường Cao tông (高宗 Gāozōng) Lý Trị (李治 Lǐ Zhì) 650-683.

6- và 8- Cảnh Long (707-710) là một trong những niên hiệu của Đường Trung tông (中宗 – Zhōngzōng) Lý Hiển (李顯 Lǐ Xiǎn).

13- Đồ bà chính là đảo Java của Indonesia.

Việt Nam khai quốc – Chương 5 phần 5 (sách trang 194-208)

bản dịch nguyên văn (Wade-Giles) Hán tự pinyin Hán-Việt
1 Lư Ngư / Lưu Ngư Lu Yü 盧魚 Lú Yú Lô/Lư Ngư
2 kỷ nguyên Khai Nguyên the current imperial reign period K’ai-yüan 開元 Kāiyuán niên hiệu Khai Nguyên
3 Tổng Quản Đường T’ang administrators
4 Abe No Nakamaro, Triệu Hanh Abe-no Nakamaro, Chao Heng 趙衡 Zhào Héng Triệu Hoành
5 giặc Côn Lôn và giặc Sa Bà K’un-lun, She-p’o 崑崙, 闍婆 Kūnlún, Dūpó/ Shépó Côn Luân, Đồ bà
6 “lô ch’eng” Lo-ch’eng 羅城 Luóchéng La thành
7 Hạ Lý Quang Ho Li-kuang 何履光 Hé Lǐguāng Hà Lý quang
8 Hoàng Đế Ta Ly (766-78) Ta-li period 大曆 Dàlì Đại Lịch (niên hiệu)
9 Bi An Bì An (P’i An) 皮岸 (ngạn) Pí Àn Bì An (Việt)
10 Lý Nguyên Do Ly Nguyen Do 李元度 Lǐ Yuán Dù Lý Nguyên Độ
11 “Đô Quản” Metropolitan Lord (Do Quan) 都君 Dū jūn Đô Quân
12 “Đô Báo” Metropolitan Guardian (Do Bao) 都保 Dū bǎo Đô Bảo
13 Đỗ Anh Hàn Do Anh Han 杜英倫 (luân) Dù Yīnglún Đỗ Anh Hàn
14 Phùng Đại Vương Metropolitan Lord Phung Phùng Đô Quân
15 Bồ Phá Lạc Bo Pha Lac 蒲破勒 Púpòlè Bồ Phá Lặc
16 chữ “mồm” kǒu chữ “khẩu”
17 Hoàng Đế Tề Tông nhà Đường Emperor Te Tsung (791) 唐德宗 Táng Dézōng Đường Đức tông

Chú giải

2- Kai-yuan (開元 Kāiyuán) (713-741) là một trong những niên hiệu của Đường Huyền tông (玄宗 Xuán Zōng) Lý Long cơ (李隆基 Lǐ Lóng Jī).

3- Theo ý tôi, câu “Họ đuổi hết các ông Tổng Quản Đường ra khỏi bờ cõi” nên sửa lại là “Họ đuổi hết các Tổng Quản của nhà Đường ra khỏi bờ cõi” thì rõ ràng hơn.

8- Đại lịch (大曆 Dàlì) (766-779) là niên hiệu của Đường Đại tông (代宗 Dài Zōng) Lý Dự (李豫 Lǐ Yù). Trị vì: 762-779. Ngoài ra còn có các niên hiệu: Bảo ứng (寶應 Bǎoyìng) 762-763; Quảng đức (廣德 Guǎngdé) 763-764; Vĩnh thái (永泰 Yǒngtài) 765-766

9- Tác giả Taylor cho chữ Bì An bằng tiếng Việt, nhưng lại chua chữ Hán là 皮岸 – Bì Ngạn. Không rõ lý do.

13- Tác giả cho chữ Đỗ Anh Hàn bằng tiếng Việt, nhưng lại chua chữ Hán là 杜英倫 – Đỗ Anh luân. Không rõ lý do.

17- Đường Đức tông (德宗 Dé Zōng) Lý Quát (李适 Lǐ Kuò). Trị vì: 780-805. Niên hiệu: Kiến trung (建中 Jiànzhōng) 780-783; Hưng nguyên (興元 Xīngyuán) 784; Trinh nguyên (貞元 Zhēnyuán) 785-805.

Lời kết

Bản dịch đăng trên Da Màu đã đưa đến đây thì tạm dừng. Tôi cũng đã chuyển sang Microsoft Word toàn bộ phần Bảng từ (Glossary), gồm Nhân danh và địa danh (Hán, Việt, Phạn), đơn vị hành chính và chức danh, một số thuật ngữ và danh từ riêng. Tôi thêm vào Bính âm Hán ngữ và âm Hán Việt. Nếu bạn nào vẫn còn muốn làm “bài tập về nhà” cho những phần tiếp theo, xin liên lạc với Tòa soạn tôi sẽ gửi biếu các bạn.

© 2010 Bùi Xuân Bách

© 2010 talawas

Bình luận

10 Comments (bài “Bùi Xuân Bách – Vài ý kiến đóng góp với bản dịch “Việt Nam khai quốc” (kỳ 2)”)

  1. Bùi Xuân Bách viết:

    Thưa anh Thai Nguyen,
    Hôm qua tôi nhận được email của người bạn nhắc nhở: sao anh nói là sẽ lần lượt trả lời các phản hồi mà lại bỏ sót một? Hay là “nhất bên trọng, nhất bên khinh? Tôi giật mình xem lại thì ra bỏ sót thật. Tôi xin lỗi. Tôi cũng sợ “ngoảnh mặt sang Tề, e Sở giận”.
    Trong phản hồi của anh có 2 ý chính:
    1/ Về 27 tiểu đoàn nên dịch ra sao. Điều này trùng hợp với ý kiến của anh Lê Bắc và tôi đã thưa chuyện cùng anh ấy rồi. Nay không cần phải nhắc lại ở đây nữa.
    2/ Về chính tả tiếng Anh của chữ “tiểu đoàn”. Vậy thì tôi chỉ cần phải trả lời anh về ý thứ hai.
    Cũng xin tự giới thiệu qua, tôi vốn là người vùng sâu, vùng xa, nên quen ăn nói theo kiểu dân dã, trình bầy lại có phần thô lậu, chỉ mong giãi bầy được “cỗ” lòng thành của mình. Mong anh thông cảm mà thể tất cho.
    Bây giờ tôi cũng xin theo cách thức anh đã dùng, xin đăng lại cái đoạn phản hồi anh viết để bà con trong xã cùng xem, nhỡ ra talawas lại khóa phản hồi thì việc giả nhời cũng là hơi khó. Anh viết:

    “Tối hôm qua đọc xong bài giải toán đố sử học về “batalions” [sic] rất lý thú của cụ đồ Bùi Xuân Bách thì lăn ra ngủ. Trong giấc mơ thấy Phật Bà Quan Âm hiện ra rất từ ái phán rằng: “Con ơi, nghiên cứu lịch sử phải cẩn thận, không thể dựa trên mấy phim truyện nhảm nhí đời nay kiểu như dùng Đường Về Thành Thăng Long để tìm hiểu về thời Hùng Vương thì bể cái tổ con chuồn chuồn đó! Ngay cả khi sách sử ghi Lê Hoàn làm Thập Đạo Tướng Quân mà diễn thành Lê Hoàn chỉ huy 1 triệu quân sĩ thì hẳn đúng là cái… tổ trác con ạ!”
    Xin lật vài sách sử Việt Nam để tìm các đáp số khác cho bài toán “battalions” cùng cụ đồ Bách:
    – Đại Việt Sử Ký Toàn Thư …
    – Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục …
    Cũng xin ghi thêm là trong nguyên bản The Birth of Vietnam, Keith Weller Taylor viết đúng chính tả tiếng Anh là “army of twenty-seven battalions” [trang 162].
    Xin ghi lại đoạn văn của Bùi Xuân Bách:
    Tiếng Anh trong nguyên bản dùng “army of twenty-seven batalions”, nếu dịch là “một đạo quân 27 tiểu đoàn” như trong bản tiếng Việt thì đúng quá rồi còn gì….”

    Ý kiến của anh rất đúng, chữ “battalion” tôi đánh máy thiếu một chữ “t”. Anh lại có nhã ý nhắc đi nhắc lại không phải là “quá tam ba bận”, mà tới bốn lần, ý chừng là anh cũng biết tôi đã đông tuổi rồi, đầu óc bây giờ lại cũng “nhớ nhớ quên quên” nên phải nhắc nhiều lần cho nhớ. Tôi xin cảm tạ. Tôi chả dám bắt chiếc cụ cố Hồng mà cãi rằng: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”. Tôi cũng chả ước ao, giá mình là cái anh Đào Duy Quát bên báo Nhân Dân, đổ hết tội cho người đánh máy. Khốn nỗi ở đây, thằng đánh máy cũng là cái thằng tôi, chả đổ cho ai được. Chúng tôi từ bé đã quen với chuyện phê và tự phê, nên tôi cũng xin thành khẩn nhận cái đại tội “ẩu”, tức là sách ở trước mắt, chỉ có copy lại mà cũng sai, cũng thiếu. Mù à? Hay là phá hoại đây? Tội này ngang với tội “phản động”. Chưa biết được, nhốt đấy cái hẵng, hậu xét. Tôi lại nghĩ đến cái thời Cách mạng Văn hóa bên Tầu. Chuyện này thì ai cũng biết. Bác Mao tài thật đấy, bác í làm cho cả nước một tỷ người cứ như lên đồng. Đời thủa nhà ai, học sinh từ tiểu học đến đại học đều mang thầy, cô giáo ra đấu tố. Ngay cả tầng lớp ưu tú, tinh hoa của nước Tầu, là học sinh Bắc Đại, Thanh Hoa cũng mang các GS của mình ra, cho đội mũ lừa, dẫn đi diễu phố, đánh đập phỉ nhổ, rồi lấy thế làm sung sướng lắm. Việc xong thì bác Mao tống hết cả lũ mất dạy ấy về các công nông trường, hoặc tống ra miền biên viễn. Cứ nghĩ đến đấy là tôi toát mồ hôi hột, “ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa”. May là mình không đi dạy học bên Tầu. Đấy là chuyện thiên hạ, bây giờ xin kể chuyện làng tôi với riêng anh, nếu anh có thì giờ.
    Làng tôi từ xưa vẫn có tên là Kẻ Nho, thuộc Luy Lâu xã, Thuận Thành huyện, tỉnh Bắc. Tên làng thế thì cư dân cũng thế, hiền lành, chịu khó lắm. Làng thì thuần nông, vốn nằm cạnh con sông Đuống, “ngày xưa cát trắng phẳng lỳ”. Ấy là bác nhà thơ “váy Đình Bảng” bác ấy nói. Ngày xưa thì quả có thế, chứ bây giờ, nói thật anh bỏ quá cho, kinh bỏ mẹ, ô nhiễm lắm rồi. Chả biết sao mà mấy bác nhạc sĩ lại cứ về làng tôi mà sáng tác, nào là “làng tôi có cây đa cao ngất từng mây…”, rồi lại “làng tôi xanh bóng tre…”, toàn là làng tôi cả đấy. Làng vốn ít người nên biết nhau cả, quanh đi quẩn lại cũng vẫn cái cảnh “ông Nảng ông Nang, ông ra đầu làng ông gặp ông Nỉnh ông Ninh / ông Nỉnh ông Ninh, ông ra đầu đình ông gặp ông Nảng ông Nang”, chứ chả mấy khi mà đi ra khỏi lũy tre làng.
    Hai tháng trước làng tôi vừa được nhận danh hiệu” Làng văn hóa điển hình”. Thật là một ngày “đại” hội. Trên tỉnh, trên huyện về đông lắm. Thế là gà không rù, lợn chẳng xanh tai mà cũng lăn ra chết hàng loạt. Hôm qua tôi đi tỉnh về, rẽ vào nhà anh Giáp ngay đầu xóm, tính ngồi uống ấm trà, bắn một bi thuốc lào rồi nói chuyện “làng lên phố”. Anh Giáp hồi xưa cũng có đi bộ đội mấy năm, thời đánh quân bành trướng. Phục viên về làng, trong người cũng còn mấy vết thương. May là toàn vào phần mềm cả nên cũng không nguy hiểm. Chỉ còn có một mảnh ở mông, bác sĩ không dám lấy ra, bảo là nó chạm vào dây thần kinh đít, gắp ra thì nguy. Thành ra anh ấy cứ đi được mấy bước thì lại phải nhảy cẫng lên một cái, rõ khổ. Anh chị ấy lập gia đình muộn, mãi mới đẻ được thằng con giai. Thằng bé kháu khỉnh, lại thông minh học giỏi, toàn là trường chuyên lớp chọn cả. Lại ngoan ngoãn nữa, tháng nào cũng hạnh kiểm 10. Tôi quý nó lắm. Bà nội cháu thì cưng như trứng mỏng.
    Ai ngờ vừa bước vào nhà thì thấy anh mặt hầm hầm, nửa vàng nửa tím, nhìn kỹ thì hình như mặt ngắn lại, tay đang lăm lăm cái xe điếu. Chả hiểu chuyện gì. Thằng bé thì trốn sau lưng bà, khóc ầm ĩ. Bà cụ thấy tôi vào liền bảo: “À bác sang chơi. Khổ, thằng bé nó nhỡ mồm nhỡ miệng mà anh ấy đánh con như quân thù quân hằn. Tôi can chả được…” Tôi nhìn sang thằng bé, thấy khóc to lắm, tay túm vạt áo bà, chân giãy đành đạch, nhưng nước mắt ráo hoảnh, chả có giọt nào. Thằng này vốn láu, mọi khi thấy bố vừa lừ mắt thì nó đã chạy biến, chạy mất cả dép. Bố nó làm sao mà đuổi được. Lần này, ý chừng có bà thì nó làm già chứ bố nó thì đã đánh được roi nào đâu. Anh Giáp tức quá tức, cầm xe điếu chỉ vào mặt con: “Tao đã đụng đến mày chưa, hả thằng kia? Bố mày đã chết đâu mà mày gào khỏe thế?” Tôi vội túm tay bạn, giúi anh ngồi xuống cái chõng tre: “Ấy chết, làng mình là làng văn hóa điển hình, ai lại nói phũ thế.” Bà cụ lại quay sang phân bua: “Đấy bác xem, cha mẹ sinh con giời sinh tính. Tôi đã bảo anh í rồi mà anh í chả nghe.” Tôi nghĩ bụng, thôi biến đi là hơn: “Cháu chào bác, để mai cháu sang”, rồi quay sang bạn: “Tôi mới mua được gói chè Thanh Tâm. Để mai anh em mình uống cho giải nhiệt.”
    Đấy, làng tôi thì chỉ toàn những chuyện nhàn nhạt thế thôi.
    Ấy chết, bây giờ tôi lại có việc phải đi. Chúc anh tối nay ngủ ngon, kẻo đêm dài lắm mộng. Chào anh nhá. Đến hẹn tôi lại lên.

  2. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Buì Xuân Bách viết: “ anh nói: “Dù sao, tôi nghĩ Chiêu Ly cũng là người đầu tiên thấy giá trị của tác phẩm này, có khả năng và bỏ công ra dịch (để chưa chắc xuất bàn được) ” thì tôi cho rằng ý kiến này có phần vội vã “.

    Thật ra, tôi đã thấy ông Tạ Chí Đại Trường dẫn chứng, hay nhắc tới tác giả và tác phẩm này, trong loạt bài viết của ông ấy ngay trên Da Màu, nhưng tôi chưa thấy ai chịu khó bỏ công ra dịch trước ông Chiêu Ly hay ông Lê Hồng Chương. (tôi hiện hoàn toàn không có cách tiếp cận với sách in trong nước).

    Tôi nghĩ người dịch (là Chiêu Ly hay Lê Hồng Chương ?) có nhiều chỗ phiên âm và dĩch sai vì sơ ý, quá vội vã hơn là vì không đọc được chữ Hán. Thí dụ “shu” đã phiên âm sai ra là Chu thay vì Sở là do vội vã, và tôi cũng thấy nhiều lỗi sơ suất khác đã phạm phải chỉ vì vô ý,và phải kể thiếu thận trọng ( đây không là lý do bào chữa, mà để tìm hiểu tại sao). Tôi đánh giá cao việc làm của người đầu tiên, khi họ đứng trước nhiều bất định, như bỏ công ra dịch về thời đại “Việt Nam khai quốc” nhưng sẽ có bao nhiêu người đọc, ai chịu cho đăng, chưa nói là chịu giúp tiền in thành sách. Khi nói đó là đầu tiên, tôi cũng biết là chủ quan, chỉ vì tôi chưa thấy ai đưa lên mạng bản dịch tác phẩm này.

    Nhân đây, có một câu hỏi chỉ để vui hay tò mò: khi ông Bùi Xuân Bách được bạn tặng cho tác phẩm đó, và đọc xong đã đánh giá nó như thế nào. Tôi cũng tò mò là bao nhiêu người muốn biết phần lịch sử VN vào thờì đại đó. Còn những ai quan tâm, muốn biết, chưa muốn quên, muốn tìm hiểu để kể lại, giới thiệu cho người khác biết (như ông Tạ Chí Đại Trường viết ở loạt bài khác), tôi rất thán phục.

    Về (các) tác giả thật sự là ai, tôi căn cứ theo bản dịch đăng trên Da Màu trước đây. Quả thật là thiếu minh bạch, gây ngộ nhận, thí dụ các chương đầu ghi khác, nhưng từ vài phần ở chương 3 trở đi lại ghi là:
    việt nam khai quốc, chương 3, phần 5: nhà Tống với Lâm Âp
    Keith Weller Taylor, Chiêu Ly
    ♦ Chuyển ngữ: Lê Hồng Chương

    việt nam khai quốc: KINH TẾ, XÃ HỘI & VĂN HOÁ VIỆT NAM DƯỚI ÁCH ĐÔ HỘ CỦA NHÀ ĐƯỜNG (chương 5, phần 6)
    Keith Weller Taylor, Chiêu Ly
    ♦ Chuyển ngữ: Lê Hồng Chương ♦

    Riêng tôi, thấy mừng là loạt bài dịch này vẫn tiếp tục đăng trên Da Màu cho tới hôm nay (9-15-10), và hy vọng qua nhiều nhận xét về phiên âm chính xác từ ngữ và cách dịch của ông Bùi Xuân Bách, các chương, phần mới sẽ được chuyển ngữ tốt hơn.

    Tôi cũng thấy nhiều nhận xét của ông Bùi Xuân Bách rất cần thiết và quan trọng cho việc chỉnh sửa phần tác phẩm đã dịch và cho công việc chuyển ngữ các phần tiếp theo tốt hơn.

  3. Bùi Xuân Bách viết:

    Thưa anh Hòa Nguyễn,
    Định thưa chuyện cùng anh đã lâu nhưng thấy anh đang bận tranh luận về đề tài khác nên chưa dám làm anh phân tâm. Thôi thì tôi cứ để sẵn đây, lúc nào anh xong “đại sự” thì anh xem cũng được.
    Trong phản hồi của anh có vài chỗ nhầm lẫn, có lẽ anh mới đọc lướt. Tôi xin đính chính: về cuốn “The Birth of Vietnam” thì chỉ có một tác giả là Keith Weller Taylor, dịch giả là ông Lê Hồng Chương, còn anh Chiêu Ly và chị Đinh Từ Bích Thúy là người nhuận sắc. Khi anh nói: “Dù sao, tôi nghĩ Chiêu Ly cũng là người đầu tiên thấy giá trị của tác phẩm này, có khả năng và bỏ công ra dịch (để chưa chắc xuất bàn được).” thì tôi cho rằng ý kiến này có phần vội vã.
    Anh viết: “Nhưng tôi thấy dịch giả dịch đúng “Chin” hay “Qin” là “Tần”, không như ông Bùi Xuân Bách dẫn (một trường hợp chuyển âm thành Tấn).” Tôi xin trích lại đoạn sau trong “việt nam khai quốc: các lạc hầu (chương 1, phần 1)”:
    Năm 333 TCN, nhà Chu chinh phục đất Việt (Yueh); 18 năm sau nữa, nhà Tấn ở trên miền Bắc lại chinh phục được nhà Thục.
    Đối chiếu với nguyên bản tiếng Anh, lẽ ra phải là: nhà Sở chinh phục đất Việt; 18 năm sau nữa, nhà Tần ở trên miền Bắc lại chinh phục được nhà Thục.
    Tất nhiên là có nhiều chỗ dịch đúng thì tôi không cần nêu ra làm gì, mà tôi chỉ lưu ý các bạn nào muốn sửa lấy trong bản của mình, rằng có một chỗ sai thì các bạn sửa đi, còn lý do tại sao sai thì tôi không bàn. Một điểm nữa, khi anh viết “Chin” thì nó chính là Tấn (hoặc Kim), còn Tần thì là “Ch’in”.
    Tuy nhiên anh đã bớt chút thì giờ để lại phản hồi và có lời động viên tôi, tôi xin cám ơn anh.

    *****

    Thưa anh khonglaai,
    Cám ơn anh đã bỏ thời gian tra cứu và chia sẻ thông tin cùng tôi. Tôi rất cảm động trước sự nhiệt tình của anh vì quả thật trong cái thế giới ảo này, là cái “mảnh đất lắm người nhiều ma”, thì những người bạn như anh “hơi bị” hiếm. Rất mong sẽ được làm bạn với anh sau này khi có dịp.
    Có lẽ anh cũng như tôi vẫn còn băn khoăn về chức “Tổng quản”. Trong phần trả lời anh hôm trước tôi có lưu ý anh rằng chính tác giả, trong phần Bảng từ ở cuối sách, có cho ta hai chữ Tổng quản và Tổng quàn phủ cùng chữ Hán đi kèm. Trong phản hồi của anh mới đây, anh cũng có cho biết, theo ĐVSKTT (Kỷ Thuộc Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương):
    Đến khi nhà Tùy mất, Hòa hàng phục nhà Đường. Vua Đường sai Lý Đạo Hựu mang cờ tiết sang cho Hòa làm [b]Giao Châu đại tổng quản[/b], tước Đàm quốc công.
    Tôi xem lại An Nam chí lược của Lê Tắc cũng có chép:

    Các Đô Đốc, Thứ-Sử Giao-Châu

    Khâu-Hoà
    Người Lạc-Dương, cuối năm Đại-Nghiệp, (605-616) nhà Tuỳ, làm Thái-Thú quận Giao-Chỉ,…. Nhà Tuỳ mất nước, Hoà về làm tôi nhà Đường. Vua Đường cho làm Tổng-Quản Giao-Châu.

    Từ đó ta có thể suy ra rằng thời sơ Đường có chức Tổng quản (đứng đầu châu), nhưng chỉ dùng một thời gian ngắn, rồi sau đó họ dùng những tên khác lần lượt là Đốc Hộ, Đô Hộ, Kinh Lược Sứ, Tiết độ Sứ. Ta lại lan man sang lĩnh vực Sử mất rồi, trong khi tôi chỉ đề cập đến việc dịch mà thôi.
    Cũng để đáp lại thịnh tình của anh, tôi xin gửi anh thêm một số thông tin khác để anh “gom lại cất đó”, theo như anh nói. Tuy nó không liên quan đến việc ta bàn ở trên, mà có lẽ nó liên quan nhiều hơn đến phản hồi của anh bacle, nhưng tôi đưa ra đây (sau khi đã xin phép tác giả lá thư) để các bạn cùng tham khảo.

    I. Về việc anh nhờ tìm số quân của doanh thì xin thú thực với anh là trong các tài liệu viết bằng các tiếng Việt, Hoa và Anh mà tôi hiện có trong nhà không có tài liệu nào nói tới “doanh” cả.
    Qua các tài liệu trên, tôi chỉ biết được mấy điểm sau về tổ chức quân đội:
    A. Từ thời Viêm-đế 炎帝 (tương truyền tại vị năm 3000 TCN đến bao giờ không rõ) họ Thần-nông 神農 đến hết thời nhà Hạ 夏 (2205-1766 TCN), không một tài liệu Trung-quốc nào viết về tổ chức quân đội cả, phần lớn chỉ nói đến tổng số quân tham dự một chiến trận mà thôi.
    B. Thời nhà Thương/Ân (1766-1122 TCN), các tài liệu thường nói đến các đơn vị quân đội 3.000 người khi đi đánh trận, nhưng không cho biết biên chế ra sao. Theo một vài tác giả, con số 3.000 này không có nghĩa đó là quân số thường xuyên của quân đội Thương/Ân.
    Mặt khác, trong các giáp cốt văn thường thấy chép đến các “tộc” 族 mà Đinh-Sơn 丁山 giải thích nguyên là một đơn vị quân đội (Giáp Cốt Văn Sở Kiến Thị Tộc Cập Kỳ Chế Độ 甲骨文所見氏族 及其制度, Khoa học xbx., Bắc-kinh, 1956, tr. 33). Đó là những đơn vị xã hội căn bản thời nhà Thương/Ân, gồm những người cùng chung một ông tổ và hoạt động trong các chiến trận, cho nên được nhiều học giả cho là đơn vị quân đội (thí dụ: Đinh-Sơn, sđd.; Trần Mộng-gia 陳夢家, Ân-Hư Bốc Từ Tổng Thuật 殷墟卜 辭綜述, Khoa học xbx., Bắc-kinh, 1956, tr. 497; Kim Tường-hằng 金祥恆, “Tùng Giáp Cốt Bốc Từ Nghiên Cứu Ân Thương Quân Lữ Trung Chi Vương Tộc Tam Hàng Tam Sư” 從甲骨辭研究殷商軍旅中之王族三行三師, trong tập san Trung-quốc Văn Học 中國文學, 1974, số 52, tr. 1-26). Chỉ huy các “tộc” này là tộc trưởng 族長.
    Tuy nhiên, không phải là lúc nào toàn thể một “tộc” cũng tham dự chiến trận mà có khi chỉ một phần nào của tộc thôi và phần này gọi là “lữ” 旅. Quân số “lữ” tham dự chiến trận có khi lên tới 10.000 người, như trong vụ đánh người tộc Khương 羌 trong đời vua Vũ-đinh 武丁(tại vị năm 1324-1265 TCN), một người ái phi của vua là Phụ-Hảo 婦好đã chỉ huy một lữ 10.000 người gồm những người trong tộc của bà cùng chiến đấu với vua.
    Ngoài ra, theo Trần Mộng-gia, thời nhà Thương/Ân, ngoài “tộc” và “lữ” ra, quân đội có khi còn có liên 連 gồm 100 người và ba liên (tả liên, hữu liên và trung
    liên) làm thành một đoàn 團 (Ân-hư Bốc Từ, sđd, tr. 513).
    C. Trong thời nhà Châu (1122-256 TCN), theo quyển Hạ Quan Tư Mã 夏官司馬 (quyển 4) sách Châu Lễ 周禮 (nguyên tên gọi là Châu Quan 周官, còn gọi là Châu Quan Kinh 周官經, tương truyền do Châu-công Cơ-Đán 周 公姬旦, em trai của Châu Vũ-vương Cơ-Phát 周武王姬發, soạn) thì quân đội biên chế như sau:
    1. quân 軍 (army) có 12.500 người, tướng chỉ huy quân (quân tướng 軍將) là khanh 卿. Ngoài ra, một quân còn có thêm 2 phủ 府, 6 sử 史, 10 tư 胥, và 100 đồ 徒. Vua Châu có 6 quân, đại quốc (tức chư hầu loại lớn) có 3 quân, thứ quốc (chư hầu loại nhỡ) có 2 quân, tiểu quốc (chư hầu loại nhỏ) có 1 quân.
    2. sư 師 (regiment) có 2.500 người, tướng chỉ huy sư (sư soái 師帥 hay sư thị 師氏) là trung đại phu 中大夫.
    3. lữ 旅 (battalion) có 500 người, tướng chỉ huy lữ (lữ soái 旅帥) là hạ đại phu下大夫.
    4. tốt 卒 (company) có 100 người, người chỉ huy tốt (tốt trưởng 卒長) là thượng sĩ 上士.
    6. lưỡng 兩 (platoon) có 25 người, người chỉ huy lưỡng (lưỡng tư mã 兩司馬) là trung sĩ 中士.
    7. ngũ 伍 (squad) có 5 người, người chỉ huy ngũ (ngũ trưởng 伍長) là công tư mã 公司馬.
    Trên đây là theo sách Châu Lễ (bản tôi sử dụng là do Lưu-Ba 劉波 và Vương-Xuyên 王川 chú thích và Đông-nam Đại học xbx., Nam-kinh, xuất bản năm 2010, tr. 143). Tuy nhiên, có một vài tài liệu, chẳng hạn sách La Chine Antique của Henri Maspéro lại chép rằng sư có 500 người và 5 sư làm thành một lữ 2.500 người (bản Anh dịch của Frank A. Kierman, Jr., theo ấn bản Pháp ngữ năm 1965 của Presses Universitaires de France, do The University of Massachusetts Press xuất bản năm 1978, tr. 53).
    Ngoài ra, có 3 điều đáng chú ý là:
    (a) Đại đa số các tài liệu khác chỉ nói đến sư chứ không hề nói tới quân. Thí dụ: Tả Truyện 左傳, Tương-công 襄公, 14 niên; Mạnh-tử 孟子, Cáo Tử Chương Cú Hạ 告子章句下, chương 7, tiết 2.
    (b) Cho tới thời Xuân-thu (770-476 TCN) dường như đơn vị quân đội “tộc” vẫn tồn tại, vì Tả Truyện, Thành-công 成公 16 niên còn nói tới các đơn vị quân đội “tộc” tham chiến trong trận đánh ở Yên-lăng 鄢陵 năm 574 TCN.
    (c) Như đã nói trong một đoạn bên trên, các nước chư hầu, tùy theo lớn nhỏ, chỉ được phép có từ 1 đến 3 quân. Sự giới hạn này trong thời Xuân-thu và Chiến-quốc (476-221 TCN) dần dần không được tuân theo. Thí dụ nước Tấn khi mới được thành lập (năm 1112 TCN) chỉ là một nước nhỏ nên chỉ được phép có 1 quân; đến năm 661 TCN, vì nhu cầu chiến tranh và vì thế lực nhà Châu đã suy yếu nhiều, Tấn đã lập 1 quân thứ hai, rồI đến năm 633 TCN lập thêm 1 quân thứ ba. Tuy nhiên, để tránh vi phạm nghiêm cấm của thiên từ Châu, các quân của Tấn được gọi là “hàng” 行.
    II. Tôi không có một tài liệu nào nói rõ “doanh” được lập năm nào và quân số ra sao.
    “Doanh” thường được định nghĩa là “quân lũy” 軍壘, tức trại lính. Tuy nhiên, trong thời nhà Minh (1368-1644) doanh (division) chỉ là đơn vị huấn luyện binh sĩ (training unit). Còn quân đội thời nhà Minh được biên chế như sau:
    1. Vệ 衛 (guard): dưới quyền chỉ huy của 1 Vệ Chỉ huy sứ 衛指揮使 (Guard Commander), 2 Chỉ huy đồng tri 指揮同知 (Vice Commanders), 4 Chỉ huy thiêm sự 指揮僉事 (Assistant Commanders). Ngoài ra, Vệ còn có 2 Trấn phủ 鎮撫 (Judges). Quân số Vệ không xác định, có lúc nhiều, có lúc ít. Năm 1374, trên lý thuyết, 1 Vệ có 5.600 quân, chia đều làm 5 thiên hộ sở.
    2. Thiên hộ sở 千戶所 (battalion): trên lý thuyết có 1.120 quân, dưới quyền chỉ huy của 1 Thiên hộ (Battalion Commander), 2 Phó Thiên hộ 副千戶 (Vice Commanders); ngoài ra còn có 2 Trấn Phủ. Thiên hộ sở chia đều làm 10 Bách hộ sở.
    3. Bách hộ sở 百戶所 (company): trên lý thuyết có 112 quân, dưới quyền chỉ huy của 1 Bách hộ 百戶(Company Commander). Bách hộ gồm 2 tổng kỳ 總旗 (Platoon Commanders), mỗi tổng kỳ chỉ huy 5 tiểu kỳ 小旗 (Squad Commanders), mỗi tiểu kỳ chỉ huy 10 lính.
    Ngoài ra còn có Thủ ngự thiên hộ sở 守禦千戶所 (independent battalion) do các Đô chỉ huy ty 都指揮司 (Regional Military Commissions; gọi tắt là Đô ty) trực tiếp điều khiển, chứ không thuộc vào một vệ nào.
    XIN CHÚ Ý:
    a- Sáo: nguyên có nghĩa là đồn binh phòng đạo tặc.
    b- Thiên phu trưởng: chỉ là một quan danh, chứ không có nghĩa là người chỉ huy 1000 quân.

  4. Bùi Xuân Bách viết:

    Thưa anh bacle,
    Cám ơn anh về ý kiến anh đã trao đổi và cái đường link anh cho. Đối với tôi thì rất quý vì mình khỏi phải đi tìm. Tôi sẽ thu xếp thì giờ đọc dần dần vì thì giờ eo hẹp quá. Chỗ tôi lại xa thư viện mà nhiều khi mình đến, họ lại không có sách mình cần.
    Vậy cái chỗ này trong “VN khai quốc” (đã có ĐVSKTT làm chỗ dựa, ta lại lấy nó đánh nó), thế thì dịch là “một đạo quân gồm 27 doanh” theo anh đã được chưa? Số quân cụ thể, nếu muốn thì ta cho một cái ghi chú ra ngoài, theo sách cụ Thiều Chửu. Tôi xin rút lại ý kiến “27 nghìn quân”. Việc này đóng lại ở đây.
    Bây giờ tiện thể ta lại đi tìm hiểu thêm về chữ doanh nhé, nhưng ta giới hạn là chỉ tìm hiểu xem một doanh có bao nhiêu quân thôi chứ không cần đến các nghĩa khác. Cứ coi như chúng mình uống trà nói chuyện vui thôi.
    Nói chung mấy cuốn từ điển Hán Anh tôi tra thì chỉ cho ta chữ doanh là battalion, chứ không nói rõ hơn. Tôi lại lần mò tra thử cuốn “Hoa Nga đại từ điển” của Viện Đông phương học, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, in năm 1983-1984, chủ biên GS. Ô-sa-nhin. Đây là cuốn từ điển song ngữ (với các mục từ chữ Hán) lớn nhất mà tôi biết (trừ Hán Hòa đại từ điền tôi mới được nghe chứ chưa thấy). Bộ này gồm 4 tập, 3820 trang. Nhưng tôi thất vọng, vì cái ta cần tìm thì ở mục chữ doanh họ chỉ giải thích là: (tôi chỉ trích phần ta cần tìm hiểu)
    營-yíng
    II сущ. 2) воен. батальон; дивизион.
    Батальон là tiểu đoàn bộ binh; дивизион có khi là sư đoàn (дивизия), có khi là tiểu đoàn pháo binh hoặc tên lửa, có khi là tiểu đoàn kỵ binh, tùy ngữ cảnh.
    Sau tôi chợt nghĩ ra, đây là từ điển đối dịch cho nên họ chỉ cần cung cấp từ tương đương mà không cần giải thích nội dung (như Từ điển bách khoa chẳng hạn). Vậy thì lại phải trở về với ông anh “lạ” thôi. Chắc là phải tìm trong từ điển tường giải.
    Tra Hán ngữ đại từ điển (bản trên CD):

    7.軍隊編制單位名稱。古今不同,今制上屬團,下轄連。亦有不屬於團的獨立營。《後漢書‧順帝紀》:“調五營弩師,郡舉五人,令教習戰射。” 宋 司馬光《涑水記聞》 卷十二:“五都為 一營,指揮使一人教習。” 陶成章 《浙案紀略‧濮振聲傳》: “五哨為營,有營官,號曰千夫長。”
    Chắc anh thông thạo Hán ngữ, tôi không dám “múa búa trước cửa Lỗ Ban”, nhưng để các bạn khác cùng hiểu, tôi xin dịch thoát:
    7. Đây là tên gọi một đơn vị theo biên chế trong quân đội. [Doanh] Xưa và nay khác nhau. Thời nay đơn vị này trên thì thuộc đoàn (= trung đoàn), dưới thì cai quản liên (= đại đội). (như vậy có nghĩa là Tiểu đoàn)
    Hậu Hán Thư – Kỷ Thuận đế chép rằng: “điều động năm doanh quân cung nỏ, quận cử năm người, tới huấn luyện xạ chiến (cho 5 doanh này)”. Tư Mã quang đời Tống trong “Tốc thủy kí văn” quyển mười hai viết: “năm đô làm thành một doanh, do một chỉ huy sứ trông coi việc huấn luyện”. Đào Thành chương trong “Chiết án kỷ lược – Bộc Chấn thanh truyện” kể rằng: “năm sáo là một doanh, có một doanh quan, hiệu là thiên phu trưởng”.
    Ta lại phải đi tìm tiếp, đô có bao nhiêu quân, sáo có bao nhiêu quân?
    Cũng theo sách này (tôi xin rút gọn chỉ nêu ý của họ chứ không cần trích nữa), thời Ngũ đại Tống sơ một trăm người hoặc một nghìn người là một đô (dĩ bách nhân hoặc thiên nhân vi đô). Như vậy doanh có khi là 500 người mà cũng có khi là 5000 người vào thời này.
    Sách viết tiếp: Thời Đường và Ngũ đại, đô gồm một nghìn người; thời Tống rút lại chỉ gồm một trăm người (đường hòa Ngũ Đại, đô vi thiên nhân, tống thời súc vi bách nhân).
    Tra tiếp chữ sáo: Thời vua Hàm Phong nhà Thanh, 100 người là một sáo, ba sáo là một kỳ, năm sáo thành một doanh (Thanh Hàm phong hậu lập dũng doanh, kì chế dĩ bách nhân vi sáo, tam sáo vi nhất kỳ, ngũ sáo vi nhất doanh). Vậy thì thời này doanh chỉ có 500 người.
    Ta lại thấy năm sáo chỉ có 500 người sao lại gọi người chỉ huy là Thiên phu trưởng? Hoang mang quá! Tôi chạy đi hỏi một người bạn vong niên (năm nay bác ấy gần 80 rồi) và rất am tường Hán ngữ. Bác ấy có giải thích cho tôi là Thiên phu trưởng chỉ là tên gọi chức vụ của người đứng đầu một doanh, chứ không phải đứng đầu 1000 người. Thời nhà Minh có Thiên hộ sở 千戶所 (battalion): trên lý thuyết có 1.120 quân, dưới quyền chỉ huy của 1 Thiên hộ (Battalion Commander), 2 Phó Thiên hộ 副千戶 (Vice Commanders); ngoài ra còn có 2 Trấn Phủ. Thiên hộ sở chia đều làm 10 Bách hộ sở.
    Thế này thì chắc tôi phát điên lên mất, nhưng cũng sáng mắt ra là quân số của doanh không đồng nhất mà tùy theo thời, và Hoa Nga đại từ điển dịch cũng không sai.
    Tôi xin tạm dừng ở đây. Nếu có dịp chúng ta lại tiếp tục mạn đàm nhé.

  5. khonglaai viết:

    Thưa anh/bác Bách.
    1. Việc anh chỉnh lý lại bản dịch mà theo tôi thấy có quá nhiều lỗi là rất đáng hoan nghênh. Còn chúng tôi với sở học của mình chỉ dám góp ý cho thêm đúng theo sử mà thôi.
    2. Tôi cũng như anh không phải là nhà sử học, chỉ là người muốn tìm những gì sót lại trong văn hóa Việt của Kinh Dịch Nòng Nọc vì thế tôi cũng hay đọc sử nhà. Đọc thấy đoạn hay có thể làm dẫn chứng được thì gom lại cất đó chứ hoàn toàn không có ý thuộc làu làu.
    3. Xuất phát từ chỗ bài chủ của anh đoạn tổng quản không cho chú thích tiếng Hán mà sử nước nhà ít nhắc đến từ Tổng quản nên tôi mới nghĩ cần phải dùng từ khác thích hợp hơn. Rồi đưa ra từ Thái Thú mà chưa điều nghiên kỹ càng. Từ Thái thú theo tôi biết là chỉ dùng cho đến hết nhà Tùy. Còn đến đời Đường thì đầu tiên người ta dùng quan Đô hộ, Đô đốc, Kinh Lược Sứ sau đó là Tiết Độ Sứ. Như vậy tôi xin nhận có sơ suất vào chức quan đô hộ đời Đường. Tuy nhiên, có nên dùng là Tổng quản không thì chúng ta phải xét tiếp.
    4. Từ Tổng quản được nhắc theo tôi thấy có hai lần kèm với từ “hành quân” và một lần cho quan đầu Châu. ĐVSKTT (Kỷ Thuộc Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương): Vua Tùy xuống chiếu lấy Tố (tức Dương Tố) làm [b]Giao Châu đạo hành quân tổng quản[/b], thống lĩnh 27 doanh quân sang xâm chiếm. Kỷ Thuộc Tùy Đường: Ất Sửu, [605], (Tùy Dạng Đế Quảng, Đại Nghiệp năm thứ 1). Mùa xuân, tháng giêng, Lưu Phương mới dẹp yên nước ta, bầy tôi nhà Tùy có người nói nước Lâm Ấp có nhiều báu lạ. Vua Tùy bèn cho Phương làm [b]Hoan Châu đạo hành quân tổng quản[/b]. Trong Kỷ này cũng có nhắc đến quan Thái Thú cuối cùng của nước ta vào đời Tùy là Khâu Hòa (Tức từ Tùy trở về trước luôn có chức Thái Thú). Theo ĐVSKTT thì: Đến khi nhà Tùy mất, Hòa hàng phục nhà Đường. Vua Đường sai Lý Đạo Hựu mang cờ tiết sang cho Hòa làm [b]Giao Châu đại tổng quản[/b], tước Đàm quốc công.
    5. Năm 622, Vua Đường đổi Giao Châu thành An Nam dô hộ phủ. Từ đây các chức quan sẽ là hoặc Đô đốc, hoặc An Nam đô hộ, hoặc Kinh lược sứ (An Nam kinh lược sứ). Xem thêm trong An Nam chí lược của Lê Tắc tại đây: http://thuvien.maivoo.com/Lich-su-c4/An-Nam-Chi-Luoc-Cac-quan-Do-Doc-Do-Ho-d16055. Năm 758 lại đổi thành Trấn Nam đô hộ phủ. Đến năm 768 lại đổi Giao Châu thành An Nam đô hộ phủ.
    6. Chức Tiết độ sứ tại Giao Châu đầu tiên phong cho Cao Biền cùng lúc với việc nhà Đường đổi Giao Châu thành Tỉnh Hải quân tiết trấn vào tháng 11 năm 866: Tháng 11, ngày Nhâm Tý, vua Đường xuống chiếu cho các lộ quân Giao Châu, Ung Châu, Tây Châu phải giữ bờ cõi, không tiến đánh nữa; đặt Tĩnh Hải quân ở Giao Châu, lấy Biền làm Tiết độ sứ. (Từ đây cho đến đời nhà Tống, An Nam gọi là Tĩnh Hải quân tiết trấn). Có thể tham khảo thêm tư liệu ở wiki: http://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFt_%C4%91%E1%BB%99_s%E1%BB%A9
    7. Tuy nhiên, trước đó cũng đã từng có chức Tiết độ sứ do vua Nam Chiếu phong: (Quý Mùi, [863]), …[Vua] Nam Chiếu cho thuộc hạ là Đoàn Tù Thiên làm Tiết độ sứ phủ [Giao Châu] ta. (ĐVSKTT).
    8. Vị Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ người Hán cuối cùng là Độc Cô Tổn (905), sau đó bắt đầu giai đoạn chức Tiết độ sứ do người Việt đảm trách người đầu tiên là Khúc Thừa Dụ, người cuối cùng là Kiều Công Tiễn (938).
    9. Tôi nghĩ tất cả điều viết trên chắc anh cũng đã biết, nhưng cứ mạo muội viết ra cho tất cả cùng tham gia góp ý. Theo tôi, T’ang administrators mang tính chất chung chung chứ không chỉ là quan đứng đầu châu; vì thế có thể dịch là [b]các quan đô hộ (không viết hoa) hoặc các quan cai trị nhà Đường[/b] là được.
    Nay kính,
    KLA

  6. Hoà Nguyễn viết:

    Dịch giả Chiêu Ly chắc chắn đọc được chữ Hán chú thích trong nguyên tác của tác giả Taylor, nên đã dịch và phiên âm qua Hán Việt đúng nhiều từ, chỉ thấy sai sót một số ít. Nhưng dịch giả tỏ ra không thận trọng khi gõ tiếng Việt, nên phạm nhiều lỗi về chữ Việt hơn, như “Hoằng” viết thành “Hoàng”, “Liêm” viết là “Liên”, thấy trong bảng kê của ông Bùi Xuân Bách dưới đây:

    1 Tiêu Thiết Hsiao Hsien 蕭銑 Xiāo Xiǎn Tiêu Tiển
    2 Lâm Sĩ hoàng Lin Shih-hung 林士弘 Lín Shìhóng Lâm Sĩ hoằng
    3 Cao Sĩ liên Kao Shih-lien 高士廉 Gāo Shìlián Cao Sĩ liêm
    4 kinh đô Trường Sa Ch’ang An 長安/ 长安 Cháng’ān Tràng (/Trường) An

    Trên dịch giả đọc sai chữ Tiển thành Thiết, và thật vô ý khi viết Trường An thành Trường Sa.

    Nhưng tôi thấy dịch giả dịch đúng “Chin” hay “Qin” là “Tần”, không như ông Bùi Xuân Bách dẫn (một trường hợp chuyển âm thành Tấn), như trong câu dịch trích sau đây.

    “Năm 222 TCN, nhà Tần chinh phục nhà Chu và đến năm sau, Tần Thủy Hoàng, vị đệ nhất Hoàng Đế của Tần sai nửa triệu binh mã xâm nhập đất Việt (Yueh)”

    Dù vậy, sự thiếu thận trọng khi viết tiếng Việt khiến trong câu dịch khác dịch giả vẫn giữ phiên âm Yueh thay vì Việt đã được chuyển âm Hán Việt như trên:

    Trong những năm kế tiếp, quân đội Tần và quân Yueh chiến đấu sống còn để dành miền Nam

    Tóm lại, trong góp ý ngắn này, tôi đánh giá cao tập sử của ông Keith Weller Taylor và Lê Hồng Chương có quan điểm và nhiều tài liệu mới về sử Việt Nam, công trình dịch để giới thiệu với độc già người Việt (ngoài này) của Chiêu Ly nhưng cũng tiếc là bản dịch thiếu cẩn trọng. Dù sao,tôi nghĩ Chiêu Ly cũng là người đầu tiên thấy giá trị của tác phẩm này, có khả năng và bỏ công ra dịch (để chưa chắc xuất bàn được). Những nhận xét về sai sót khi phiên âm từ ngữ Hán của ông Bùi Xuân Bách rất đáng tán thưỏng, và chắc hẳn khi bản dịch tập “Việt Nam khai quốc” này in thành sách sẽ được chỉnh sửa để tốt hơn.

  7. Bùi Xuân Bách viết:

    Thưa anh khonglaai,
    Trước hết xin cám ơn anh đã “để mắt” tới bài viết này. Cũng xin thưa anh cùng các bạn khác là trong bản tôi gửi đến, dưới những bảng liệt kê ấy tôi có ghi thêm thông tin, nhưng tôi không đề chữ Chú giải (BBT thêm vào). Lý do là thoạt tiên tôi làm cho bản lưu của tôi thôi, rồi tra cứu thêm được thông tin nào thì tôi “quét vun” vào đấy, để sau này dễ tìm lại, chứ cũng không dám chú với giải cho ai cả.
    Xin thưa chuyện cùng anh như thế này: Trong bản dịch dùng chữ “Tổng Quản Đường”, tôi e có khi người đọc lại hiểu nhầm là ông Tổng quản họ Đường, nên mới đề nghị như vậy. Tôi chỉ đề nghị thêm một chữ “nhà (Đường)” thôi cho minh bạch hơn chứ không phải do tôi dịch.
    Để minh họa tôi chỉ xin lấy một ví dụ:
    Ta thường nghe “Chu Tổng lý”, nếu phục nguyên cho đầy đủ cả ngữ này (xin phân biệt ngữ và câu) thì sẽ là “Chu Ân lai, Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”. Nếu nói kiểu Hán thì là Chu Tổng lý, còn nói kiểu Việt thì là Tổng lý Chu, một vế là chức vụ, một vế là họ người. Do đó tôi mới có đề nghị như trên.
    Ý thứ hai của anh là về chức Tổng Quản.
    Vâng, tôi có được nghe chức Thái Thú thì đứng đầu một quận, Thứ Sử thì đứng đầu một châu. Đoạn anh trích lại về đời Hán Kiến Hưng, Ngô Hoàng Vũ chứ không phải đời Đường. Tiện anh sẵn có sách trong tay, tôi cũng muốn nhờ anh coi hộ cái đoạn nào nói về đời Đường giúp tôi. Xin cám ơn anh trước. Thú thực là trước mặt tôi chỉ có bản dịch tiếng Việt trên máy tính và cuốn sách tiếng Anh người bạn cho.
    Trong phần Bảng từ ở cuối sách, Keith Weller Taylor có liệt kê:
    Administrative Jurisdictions and Titles from the Provincial Period

    Jurisdictions
    Central Administration Tổng quản phủ 總管府

    Titles
    Administrator Tổng Quản 總管

    Tôi cũng đã thưa trước là tôi không phải sử gia, nên không rõ thực hư thế nào, tôi chỉ xin bàn về việc dịch âm Hán Việt của các tên người và tên đất mà thôi. Chuyện khác tôi không dám lạm bàn.
    Cũng trong hai phản hồi khác, hai người bạn cũng có nêu: “Giao-châu đạo hành quân tổng quản” trích từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Vậy thì chắc chắn là có chức “hành quân tổng quản” còn chức “Tổng quản” thì ta lại tra cứu tiếp.
    Một lần nữa, xin cám ơn anh.
    Tôi sẽ lần lượt xin hồi âm các bạn khác.

  8. bacle viết:

    * Nguyên văn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Bản in Nội các quan bản MỘC BẢN KHẮC NĂM CHÍNH HOÀ THỨ 18 (1697) tại http://www.nomna.org/DVSKTT/dvsktt.php?IDcat=11), phần Ngoại Kỷ, tờ 22a, cột 3, dòng 15:

    隋帝詔以爲交州道行軍縂管統二十七營來侵. (Tuỳ Đế chiếu dĩ vi Giao Châu Đạo hành quân tổng quản, thống nhị thập thất doanh lai xâm).

    * Chữ 營, theo Tự Điển Hán Việt của Thiều Chửu:

    營 doanh, dinh:
    – Dinh quân, cứ 500 quân gọi là một doanh.

    Vậy 27 doanh = 27 * 500 = 13500 quân.

  9. khonglaai viết:

    T’ang administrators, ông Bách dịch là Tổng quản nhà Đường tôi e không hợp. Xưa nay trong sử ta đều thấy có chức Thái thú: Thái thú Tô Định, Thái thú Sĩ Nhiếp… chứ đâu hề có chức Tổng quản.

    Trích một đoạn trong Đại Việt Sử ký Toàn thư:

    Kỷ Thuộc Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương

    Đinh Mùi, [227], (Hán Kiến Hưng năm thứ 5; Ngô Hoàng Vũ năm thứ 6), Vua Ngô nghe tin Sĩ Nhiếp mất, thấy Giao Châu ở xa cách, mới chia từ quận Hợp Phố trở về bắc thuộc vào Quảng Châu, cho Lữ Đại làm Thứ sử; từ quận Hợp Phố trở về nam thuộc vào Giao Châu, cho Đái Lương làm Thứ sử. Lại sai Trần Thì làm Thái thú thay Sĩ Nhiếp. Đại ở lại Nam Hải. Lương và Thì cùng lên đường. Đến Hợp Phố nghe tin ở Giao Châu con Sĩ Nhiếp là Huy đã tự làm Thái thú, đem tông binh ra chống cự.

  10. Thai Nguyen viết:

    Tối hôm qua đọc xong bài giải toán đố sử học về “batalions” [sic] rất lý thú của cụ đồ Bùi Xuân Bách thì lăn ra ngủ. Trong giấc mơ thấy Phật Bà Quan Âm hiện ra rất từ ái phán rằng: “Con ơi, nghiên cứu lịch sử phải cẩn thận, không thể dựa trên mấy phim truyện nhảm nhí đời nay kiểu như dùng Đường Về Thành Thăng Long để tìm hiểu về thời Hùng Vương thì bể cái tổ con chuồn chuồn đó! Ngay cả khi sách sử ghi Lê Hoàn làm Thập Đạo Tướng Quân mà diễn thành Lê Hoàn chỉ huy 1 triệu quân sĩ thì hẳn đúng là cái… tổ trác con ạ!”

    Xin lật vài sách sử Việt Nam để tìm các đáp số khác cho bài toán “battalions” cùng cụ đồ Bách:

    – Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Tập I, NXB KHXH, in lần thứ hai, 1972, Cao Huy Giu phiên dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, chú giải và khảo chứng): … Dương Tố nhà Tùy tiến cử Lưu Phương người Trường-an, hiện làm thứ sử Qua-châu, có tài thao lược, làm tướng. Tùy đế chiếu cho làm Giao-châu đạo hành quân tổng quản, thống lĩnh 27 doanh quân sang lấn. [trang 125]

    – Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (Tập I, NXB GD, bản in lại năm 1998, Hoa Bằng, Phạm Trọng Điềm, và Trần Văn Giáp biên dịch năm 1957): … Theo Tùy thư, Phật Tử giữ châu, tự xưng đế. Dương Tố tiến cử thứ sử Qua Châu là Lưu Phương có tài làm tướng. Vua Tùy dùng Lưu Phương làm hành quân tổng quản đạo Giao Châu, thống lĩnh quân sĩ 27 dinh sang đánh. [trang 179]

    Cũng xin ghi thêm là trong nguyên bản The Birth of Vietnam, Keith Weller Taylor viết đúng chính tả tiếng Anh là “army of twenty-seven battalions” [trang 162].

    Xin ghi lại đoạn văn của Bùi Xuân Bách:

    Tiếng Anh trong nguyên bản dùng “army of twenty-seven batalions”, nếu dịch là “một đạo quân 27 tiểu đoàn” như trong bản tiếng Việt thì đúng quá rồi còn gì. Thế nhưng ở Trung Quốc thời cổ đại và trung đại, chắc chắn người ta không phân chia các đơn vị quân đội và gọi là tiểu đoàn, trung đoàn v.v… như hiện nay. Với trực giác tôi chỉ có cảm thấy là dùng từ “tiểu đoàn” trong văn cảnh này có điều gì đó không ổn, vì đây là thời nhà Tùy, nhưng chưa rõ là nên dịch thế nào, tìm ở đâu. Nghĩ nát óc mà chưa ra, đã rơm rớm nước mắt, thì Bụt hiện lên hỏi: “Làm sao con khóc?” Tôi thưa lại sự tình thì Bụt chỉ bảo: “Con đã xem phim ‘Xích Bích’ của đạo diễn Ngô Vũ Sâm (John Woo) chưa? Câu trả lời ở trong ấy.” Nói xong thì ngài biến. Tôi vội chạy đi thuê phim về xem. Y như rằng, nhờ phim có phần phụ đề thuyết minh bằng cả hai thứ chữ: chữ Anh và chữ Hán, là thứ mà tôi có thể đánh vần được, tôi đã tìm được đáp số. Ở đoạn Tào Tháo ngồi xem quân mình đá bóng (xưa gọi là đá cầu) có một anh chàng đá rất giỏi, ghi nhiều bàn thắng. Sau trận đấu, Tào Tháo gọi anh ta đến và nói: “Từ nay ta phong cho ngươi là Thiên phu trưởng (千夫長)” (phần chữ Hán). Đây là chức võ quan chỉ huy đơn vị gồm một ngàn quân. Phần chữ Anh thì thuyết là: “Từ nay ta phong cho ngươi là Tiểu đoàn trưởng.” Thì ra ông Mẽo dùng chữ Tiểu đoàn cho Thiên phu. Cái tổ con chuồn chuồn đây rồi. Ta cũng biết là ngày xưa người ta chia quân đội thành những đơn vị 10 người, 50 người, 100 người, 1 nghìn người, 1 vạn người và tương ứng có các chức vụ Thập phu trưởng, Ngũ thập phu trưởng, Bách phu trưởng, Thiên phu trưởng, Vạn phu trưởng.

    Vậy thì ở đây ta có thể dịch là “một đạo quân 27 nghìn người”.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...