talawas blog

Chuyên mục:

Lại không được nhập cảnh Việt Nam

08/04/2009 | 10:45 chiều | 15 phản hồi

Tác giả: Nguyễn Hưng Quốc

Chuyên mục: Tổng hợp
Thẻ:

Lần này chuyến đi Việt Nam của tôi được tiến hành một cách khá bí mật. Trừ vợ con và một số ít đồng nghiệp ở đại học nơi tôi dạy, tôi không hề hé môi với bất cứ ai cả. Người quen: không. Bạn bè: không. Ngay với thân nhân của tôi, trong đó có ba tôi, người lúc nào cũng khắc khoải mong gặp lại tôi “lần cuối” – theo chữ ông thường dùng – tôi cũng giấu bặt. Tôi định chỉ thông báo cho mọi người biết khi tôi đã đặt chân an toàn trên đất Việt Nam.

Thật ra, chuyến đi cũng chẳng có một “sứ mệnh” gì đặc biệt đến nỗi phải giữ bí mật đến như vậy. Tôi chỉ về Việt Nam để tham dự một cuộc hội nghị quốc tế do đại học Monash ở Úc và Đại Học Mở ở Việt Nam đồng tổ chức tại Hà Nội. Chủ đề của cuộc hội nghị rất hiền lành: Vai trò của ngôn ngữ và giáo dục đa văn hoá trong việc giáo dục các cộng đồng địa phương trong nền kinh tế toàn cầu (The role of language and multicutural education in educating local communities in global economies) dự định được tổ chức trong hai ngày 7 và 8 tháng 4. Bài tham luận tôi sẽ trình bày cũng rất hiền lành: “Việc bảo tồn tiếng Việt tại Úc: nhìn từ kinh nghiệm của các gia đình hôn nhân dị chủng Việt Úc” (Vietnamese language maintenance in Australia: A perspective from cross-language Australian – Vietnamese families). Đây là một phần trong dự án lớn được trường Đại Học Victoria ở Melbourne tài trợ để nghiên cứu trong năm 2008. Kết quả các cuộc điều tra dân số trong nhiều năm qua cho thấy: tiếng Việt là một trong vài ngôn ngữ cộng đồng được bảo tồn tốt nhất tại Úc. Tỉ lệ những người Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhất chuyển từ tiếng Việt sang tiếng Anh như ngôn ngữ giao tiếp trong gia đình rất thấp; ở thế hệ thứ hai cũng thấp; thấp hơn hẳn các ngôn ngữ cộng đồng lớn khác ở Úc. Số lượng học sinh học tiếng Việt tại các trường ngôn ngữ sắc tộc ở Melbourne rất cao, chỉ đứng sau tiếng Hoa (gồm cả tiếng Quảng Đông và tiếng Quan Thoại). Nhưng đó là trong các gia đình Việt Nam. Còn trong các gia đình hôn nhân dị chủng giữa người Việt và người Úc thì sao? Ở đây cũng có điều cần ghi nhận: cộng đồng Việt Nam là cộng đồng ít lấy người nước ngoài nhất tại Úc: ở thế hệ thứ nhất, tỉ lệ người Việt có vợ hay chồng khác chủng tộc chỉ khoảng 8 hay 9 phần trăm; ở thế hệ thứ hai chỉ khoảng 14%. Vấn đề tôi đặt ra trong đề tài nghiên cứu của mình là: Con cái trong các gia đình hôn nhân dị chủng này có biết nói tiếng Việt hay không? Nếu có, tại sao? Và mức độ thông thạo đến đâu? Vai trò của cha mẹ trong việc duy trì tiếng Việt của con cái như thế nào? V.v… Để trả lời các câu hỏi ấy, tôi và các phụ tá nghiên cứu đã phỏng vấn 14 gia đình. Phỏng vấn bố. Phỏng vấn mẹ. Phỏng vấn con. Tư liệu thu nhặt được khá phong phú. Đủ để phân tích và đi đến một số phát hiện thú vị liên quan đến quan niệm của bố mẹ, người Việt và người Úc, về vấn đề song ngữ (bilingualism) và vấn đề bản sắc song văn hoá (bicultural identity).

Tôi giữ bí mật cũng không phải vì có âm mưu gì ghê gớm cần giấu giếm cả. Không. Ngoài việc tham dự hội nghị, nếu có chương trình gì khác, chắc chắn cũng chỉ quanh quẩn trong mấy việc quen thuộc: đi mua sách, đi bát phố, gặp gỡ và tán dóc với thân nhân và bạn bè. Vậy thôi. Tôi giữ bí mật chỉ vì dè dặt. Dè dặt chỉ vì một kinh nghiệm cay đắng đã từng xảy ra vào cuối năm 2005, lúc tôi dẫn một đoàn sinh viên Úc về Việt Nam du khảo. Lần ấy, tôi cũng có visa. Vậy mà đến phi trường Tân Sơn Nhất vẫn bị từ chối nhập cảnh, cuối cùng, phải bay ngược về lại Úc, bỏ mặc đám sinh viên Úc ngơ ngác ở phi trường, không biết chuyện gì xảy ra với thầy của mình, và cũng không biết làm gì ở một đất nước, với phần lớn các em, hoàn toàn xa lạ. Lần ấy, không ai cho tôi biết lý do tại sao tôi bị cấm vào Việt Nam. Trong biên bản, phần lý do, công an cửa khẩu chỉ ghi mấy chữ: “Theo lệnh trên”. Trên là ai? Và lệnh ấy là gì? Không ai cho biết. Về lại Úc, trường đại học nơi tôi công tác, viết thư lên Toà Đại Sứ Việt Nam để hỏi, cũng chẳng có ai trả lời, bất chấp những quy tắc ngoại giao và xã giao tối thiếu.[i]

Chuyện xảy ra năm 2005 cũng có thể xảy ra bây giờ. Tôi biết vậy. Nhưng tôi vẫn muốn thử. Trước hết, tôi cho việc cấm tôi nhập cảnh vào Việt Nam năm 2005 chỉ là một quyết định vu vơ, chẳng có lý do gì chính đáng, và do đó, càng không có lý do gì để kéo dài cả. Vả lại, tôi cũng nhớ Việt Nam. Nhiều thân nhân tôi còn ở đó. Nhiều bạn bè tôi còn ở đó. Quá khứ với gần 30 năm đầu tiên trong đời của tôi ở đó. Tiếng Việt, cái ngôn ngữ gần gũi nhất của tôi, cái làm cho tôi-là-tôi, cũng chủ yếu ở đó. Trên các ngả đường. Trong các tiệm ăn. Ở mọi nơi. Hơn nữa, đó cũng là quê hương của tôi, điều mà tôi tin là không có ai có thể dành độc quyền hay trấn lột được.

Khi được chính thức mời tham dự cuộc hội nghị, tôi gửi đơn xin nhập cảnh. Cũng chẳng hy vọng gì lắm. Cũng là một cách “thử” thôi. Không ngờ, mấy ngày sau, tôi lại nhận được visa với chữ ký của tham tán Toà Đại Sứ Việt Nam tại Úc, bà Hồ T. Phương Thảo. Cẩn thận, tôi không kể với ai cả. Để khỏi làm “rách việc”, nói theo ngôn ngữ đang thông dụng trong nước. Nhưng trong lòng vẫn tự nhủ: chẳng có lý do gì để gặp trục trặc lần nữa. Bởi, tôi nghĩ, Toà Đại Sứ Việt Nam ở Úc thừa biết tôi là ai. Họ cũng thừa biết là tôi đã từng gặp trục trặc trong việc nhập cảnh lần trước. Chắc thế nào họ cũng “tham khảo” với Bộ Công An để tránh lặp lại cái điều đã từng xảy ra hồi cuối năm 2005.

Cuộc hội nghị chính thức diễn ra trong hai ngày 7 và 8 tháng Tư. Tối Thứ Hai, ngày 6, là buổi tiệc khoản đãi các diễn giả. Tôi muốn đến Hà Nội trước một ngày. Ngày ấy không có chuyến bay thẳng nào từ Melbourne đến Hà Nội. Nên tôi phải ghé lại Bangkok và phải mất thêm hai tiếng đồng hồ chờ đợi đổi chuyến bay, cộng thêm một tiếng rưỡi nữa để bay về Hà Nội. Tổng cộng là 12 tiếng. Mệt, nhưng nghĩ đến chuyện được gặp lại thân nhân và bạn bè, kể cũng vui.

Chiếc máy bay TC682 từ Bangkok hạ cánh xuống phi trường Nội Bài vào lúc 9:27 sáng Chủ Nhật 5/4. Phi trường quốc tế Nội Bài, với tôi, khá lạ. Lần đầu tiên tôi đến phi trường này là vào năm 1996, trên một chuyến bay từ Hong Kong. Sau đó, tôi về Việt Nam vài lần nữa, nhưng lần nào cũng ghé Sài Gòn trước, làm hết thủ tục nhập cảnh rồi mới bay ra Hà Nội, trên một chuyến bay nội địa. Bởi vậy, lần này, tôi thấy mọi sự đều mới mẻ. Từ cảnh đến người. Chỉ duy có một điểm chung nhất, ở tất cả các phi trường tại Việt Nam, từ quốc tế đến quốc nội: đó là gương mặt lạnh lùng, vô cảm của các nhân viên hải quan. Đặt chân đến các nước khác qua ngả hàng không, điều chúng ta bắt gặp đầu tiên có thể là một nụ cười. Ở Việt Nam thì không. Tuyệt đối không. Gương mặt nào cũng lạnh tanh. Ánh mắt nào cũng lạnh tanh. Không khí chung quanh lạnh tanh.

Nhân viên hải quan ở quầy tôi đến mang bảng tên Đặng Tiến Dũng với mã số 008-688. Còn trẻ. Nhưng vẫn lạnh tanh. Dũng săm soi tờ hộ chiếu của tôi rất lâu. Rồi nhìn trên computer. Lại lật tới lật lui tờ hộ chiếu. Lại chăm chú đọc gì đó trên màn ảnh computer. Tôi linh cảm có gì không ổn. Nhưng vẫn kiên nhẫn chờ đợi. 10, rồi 15 phút trôi qua. Các hành khách trên chuyến bay từ Bangkok đã đi gần hết. Sau đó, Dũng đi gọi một nhân viên hải quan khác, mang bảng tên Dương Văn Huấn đến. Huấn cũng lại nhìn trên màn ảnh computer. Sau đó, Huấn cầm tờ hộ chiếu của tôi đi ra và bảo tôi đi theo. Đến phòng Công An Cửa Khẩu Nội Bài, Huấn bảo tôi ngồi chờ trên dãy ghế ngoài cửa rồi vào trong. Bằn bặt. Ngồi buồn, tôi mở điện thoại di động ra gọi cho một số người thân. Là, tôi đang chờ ở phi trường Nội Bài. Cả nửa tiếng đồng hồ sau, mới có một người mặc thường phục – sau này tôi biết tên là Lê Thao, đại diện hãng Hàng Không Thái Lan tại Việt Nam – ra hỏi tôi có hành lý không. Tôi bảo có. Thao bảo tôi ra ngoài lấy hành lý. Có mấy công an đi sau. Lúc ấy quầy hành lý đã vắng lắm. Chỉ có hai cái va-li của tôi chạy lòng vòng. Thao và một viên công an khác đẩy hành lý của tôi, cả bọn vào lại văn phòng công an cửa khẩu. Vẫn đứng ở ngoài cửa. Thao rút điện thoại di động nói chuyện với ai đó. Bảo, thu xếp gấp một vé máy bay đi Bangkok cho ông Nguyễn Ngọc Tuấn. Tôi vọt miệng hỏi: “Chuyện gì xảy ra cho việc nhập cảnh của tôi?” Thao đáp: “Em là đại diện của hãng Hàng Không Thái Lan. Em được công an cho biết là phải lo vé cho anh về lại Bangkok.” Tôi ngạc nhiên: “Nhưng tôi có visa vào Việt Nam mà?” Lúc ấy, một trong bốn, năm tên công an đứng chung quanh mới lên tiếng: “Nhưng nhà nước Việt Nam không hoan nghênh anh vào Việt Nam.” Tôi lặp lại câu nói vừa rồi: “Nhưng tôi đã được Toà Đại Sứ Việt Nam tại Úc cấp visa nhập cảnh vào Việt Nam rồi mà!” Viên công an ấy lại lặp lại câu nói vừa rồi: “Nhưng nhà nước không hoan nghênh việc nhập cảnh của anh.” Tôi ngạc nhiên thực sự: “Nếu vậy, tại sao Toà Đại Sứ Việt Nam ở Úc lại cấp giấy nhập cảnh cho tôi?” Viên công an ấy đáp: “Chuyện ấy thì anh về hỏi lại Toà Đại Sứ ở Úc.” Nói xong, viên công an ấy và mấy người khác kéo hành lý của tôi và giục tôi đi. Tôi hỏi: “Đi đâu?” Lê Thao dành đáp: “Anh lên máy bay về lại Bangkok. Chuyến bay đang chờ anh.” Tôi bảo đưa tôi xem giấy quyết định cấm tôi vào Việt Nam. Một viên công an chạy vào trong; một lát, chạy ra đưa tôi tờ biên bản đã ký sẵn, trừ chữ ký của “khách không đủ điều kiện nhập cảnh” – là tôi.[ii]

 nhq1

 

Đọc tờ biên bản, tôi mới thấy những câu “nhà nước Việt Nam không hoan nghênh việc nhập cảnh của anh” là câu đã được in sẵn. Họ chỉ lặp lại. Như vẹt.

Tôi điện thoại cho người đại diện Ban tổ chức cuộc hội nghị, báo tin tôi không được nhập cảnh. Chị bảo sẽ liên lạc ngay với công an. Tôi gọi điện thoại cho gia đình và một số bạn bè. Cũng để thông báo cái điều tương tự. Các công an cửa khẩu đứng kiên nhẫn nghe tôi trò chuyện. Xong, Lê Thao bảo: “Chúng ta đi.” Tôi sực nhớ lại cảnh tôi bị trục xuất ở phi trường Tân Sơn Nhất vào chiều Thứ Bảy 19 tháng 11 năm 2005. Lần đó, tôi ở phi trường đến hơn 5 tiếng. Trời oi bức lạ thường. Tôi phải vào toilet mấy lần để đi tiểu hoặc rửa mặt. Lần nào cũng có một, hai tên công an đi theo. Tôi rửa mặt, họ đứng bên cạnh. Tôi đứng đái, họ cũng ở bên cạnh. Thực tình, tôi chẳng biết họ canh chừng điều gì. Nhưng tôi không hề muốn lặp lại cái cảnh mình đứng đái có người kè kè bên cạnh. Tôi đứng dậy, đi theo Lê Thao.

Đó cũng là chiếc máy bay mới chở tôi từ Bangkok sang. Vẫn những cô tiếp viên cũ. Có người nhận ra tôi ngay. Tôi mới ngồi xuống ghế, chiếc máy bay đã lăn cánh ra phi đạo. Lúc ấy là 10:45 phút sáng. Tính ra, tôi chỉ ở phi trường Nội Bài đúng một tiếng 15 phút. Lúc máy bay cất cánh, tôi chợt nhớ đến bài thơ “Lần tới… là bao giờ!” của Trần Tiến Dũng. Bài thơ được viết sau ngày tôi bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 2005, đã được đăng trên Tiền Vệ. Tôi lẩm nhẩm đọc, một mình, bài thơ trong trí nhớ:

mưa và nước đái chảy qua thành phố ngây ngất ướt

tiếp tục đi dưới mưa tháng mười hai

ngóng dòng sông người và ngó xuống

con cặc của mình chờ tới giờ đi đái với sự áp tải của hai gã công an

mọi sắc óng ánh đều lạnh sau gáy

tiếp tục đọc thơ và đái

và cầm cặc nhịp nhịp từng giọt

mừng tưng tưng rơi ướt từ ống quần đến mõm giày

rơi dài dài và nhớ lại

một bệt phân mùa cúm chim rớt trúng đầu

cái màu đỏ hắt nước mưa đầy mặt

nhớ lại đi em

mọi người sống trơ trơ trong đô thị tháng mười hai

những cái đầu trống rỗng đến mát mẻ

chúng ta là bạn tù

một người nào đó núp dưới cửa sổ đã gọi tên em

nhớ lại đi em

một thằng gieo mình vào vòng tay tuyệt vọng

thằng đó tin rằng nách em thơm như ngày xưa

lông nách và mùi nách không bao giờ có tuổi

chúng ta ở tù chưa đủ lâu để viết những câu cuối cho bài thơ

chưa đủ lâu để có cái la bàn và tranh cãi và cá độ

cửa nhà tù ở hướng nào trong cơn mưa của đôi mắt?

Nguyễn Hưng Quốc

Lần tới… là bao giờ!

được phép thăm nuôi người cha mỏng manh và bạn tù văn nghệ

 

về hai con nhỏ chân dài

ngây ngất ướt dưới tháng mười hai Sài Gòn

chúng ta tiếp tục đọc thơ và cá độ

hai con nhỏ dâm hết biết đó

tìm đường Tự Do hay chìm giữa hố người Đồng Khởi.

30/11/2005

Lúc ấy, tôi chợt nhớ là, trong suốt hơn một tiếng đồng hồ ở phi trường quốc tế Nội Bài, tôi chưa kịp đái một phát nào cả.

Thật tức.

Thôi, hẹn dịp khác vậy.

Melbourne ngày 7.4.2009


[i] Xem bài “Không được nhập cảnh vào Việt Nam!” đăng trên Tiền Vệ.

[ii] Hai trang trên passport với hai lần visa bị huỷ:

nhq2

Phản hồi

15 phản hồi (bài “Lại không được nhập cảnh Việt Nam”)

  1. […] tuần qua kể từ khi nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc phổ biến bài “Lại không được nhập cảnh Việt Nam” ngày 8/4/2009,[i] đã có một vài nhận định vì sao ông Quốc không được […]

  2. […] Hưng Quốc, người bạn thân thiết của tôi và là đồng chủ bút TIỀN VỆ, đã bị trục xuất khỏi Việt Nam khi vừa đặt chân xuống sân bay Nội Bài, mặc dù ông có visa hợp pháp do toà […]

  3. bac phong says:

    Tôi nghĩ một nước Việt Nam dân chủ thực sự sẽ hoanh nghênh anh Nguyễn Hưng Quốc về quê hương bất cứ lúc nào và với bất cứ mục đích gì. Anh có bất bình thế mấy chuyện chế độ Cộng Sản không cho anh nhập cảnh cũng chẳng đi đến đâu. Có những cách khác tích cực hơn nhiều.

  4. Hoà Nguyễn says:

    Làm sao giải thích tại sao ông Nguyễn Ngọc Tuấn không được chính quyền cho vào nước.Phải biết lý do để lần sau ông Tuấn không gặp cảnh này tnữa. Ông Tuấn trả lời phỏng vấn trên RFA(trích):
    “..một điều mà tôi vẫn luôn luôn khẳng định với tất cả mọi người một cách công khai hay là ở chỗ riêng tư với bạn bè là tôi chưa bao giờ làm chính trị, tôi không bao giờ làm chính trị.

    Làm một người vựơt biên thì đương nhiên tôi có lập trường chính trị, làm một người viết lách đương nhiên tôi có lập trường chính trị, làm một trí thức đương nhiên tôi có lập trường chính trị, nhưng mà tôi vẫn không biến cái lập trường đó thành một hành động.

    Tôi không tham gia bất cứ đảng phái nào, tôi cũng không tham gia bất cứ một cuộc biểu tình nào.. .

    Nhưng mà cho đến bây giờ, tôi cũng xin nói ngay là tôi in đến hơn 10 quyển sách và tôi viết khá nhiều, nhưng mà tất cả các quyển sách cũng như các bài viết của tôi đều tập trung vào lãnh vực văn học. Tuyệt đối không có bất cứ một bài viết nào thuần tuý.”

  5. coquocquoc77 says:

    Xin có mấy lời mà tôi cho rằng có thể khó nghe đối với các bác về sự việc này.
    Thứ nhất, các bác cho rằng có Visa thì đương nhiên đã được chấp nhận nhập cảnh là sai. Quy định này không của riêng VN đâu ạh. Một ngày ở những của khẩu quốc tế lớn như Orhare-Chicago, Narita-Tokyo hay Charge Degaulle-Paris, Heathrow-London có bao nhiêu hành khách đi máy bay có đủ Visa, hộ chiếu hợp lệ mà vẫn bị từ chối nhập cảnh? Trong quy định về xuất nhập cảnh trên hệ thống Travel Information Manual (TIM) thì hầu hết đều có dòng chữ kiểu như “final decision to let a Visitor to enter any country’s border depends on the Immigration authority at point ò entry…”
    Cái vấn đề đáng xấu hổ của nhà cầm quyền ở đây là đã hành xử không cho ra đại diện của nhà cầm quyền. Họ hoàn toàn có thể nói rằng việc Mr Quốc cái Visa vào Việt nam là hợp lệ, vì ngừơi cấp Visa cho Mr Quốc có thể cho rằng bình thường, nhưng đến khi nhập cảnh thì nhân viên quản lý xuất nhập cho rằng không đủ điều kiện. Các bác không còn là người Việt nam XHCN(??) nên chưa thấy cái cảnh cả một ông là chuyên viên của một Bộ, khi nhập cảnh ở Osaka, chỉ vì không cung cấp được số tel của người đón, đơn vị đón mà Công an của khẩu Kansai-Osaka họ cho “hồi” luôn đấy ạh.
    Việc bác Quốc nói về thái độ của nhân viên sân bay cũng vậy, bác nói qúa phiến diện. Dĩ nhiên việc chào hỏi khách du lịch là nên làm ở bất kỳ nơi nào, nhưng hãy tưởng tượng. Bác Quốc là một người Việtnam 100% (theo bề ngoài), Nội bài nói riêng hay Việt nam nói chung chưa có nền công nghiệp dịch vụ du lịch loại tốt, nếu không muốn nói là quá tệ. Thế thì làm gì có ai đó sẵn sàng nở một nụ cười tươi chào bác khi nhìn thấy bác? Nhất là lúc ấy bác vừa qua một chuyến bay dài, trong lòng lại đang suy nghĩ về chuyện “người ta” sẽ đối xử với mình như thế nào(trong khi lại quên mình đang đối xử ra sao:?) Mà bác cũng nên cân nhắc cả chuyện bác đi của hãng hàng không nào, vì nếu bác đi của Nhật bản chẳng hạn, khi bác ra khỏi máy bay, bất kể nhân viên người Việt hay ngừời Nhật đều cúi đầu chào bác và cảm ơn bác đã bay cùng họ. Còn nếu bác thử làm ngược lại, tức là bác nở nụ cười tươi kia trước, bác nghĩ phản ứng của họ sẽ sao? Người Việt mà, “lời chào cao hơn mâm cỗ”. Bác làm như thế mà ai cũng vẫn cứ “hằm hằm” với bác, lúc đó mới đáng nói.
    Thêm nữa, các bác không nên nhầm lẫn giữa cán bộ hải quan cửa khẩu, nhân viên kiểm soát xuất nhập cảnh và nhân viên hàng không. Ở một của khẩu như Nội bài, toàn bộ cán bộ hải quan nhập chỉ có khoảng 20 chục người (trên tổng số gần 10.000 nhân viên làm việc tại sân bay). Quân số của Công an cửa khẩu thì nhiều hơn, khoảng 40 cho một ca trực.

  6. tracy says:

    Theo tôi, ông Nguyễn Hưng Quốc phải đổi lại biệt hiệu thôi vì Hưng Quốc là làm hưng thịnh quốc gia, có thể các ông CA hiểu là ông muốn làm hưng thịnh lại thời VNCH vì người Viêt thường được phân loại thành hai phạm trù quốc gia (VNCH) và cộng sản (CHXHCNVN-độc lập-tự do-hạnh phúc), ông lấy biệt hiệu như thế thì ma nào dám cho ông nhập cảnh .

  7. dahieu says:

    Nhắn ông Nguyễn Hưng Quốc: Các cụ ta có câu “Quá tam ba bận”. Lần sau bất cứ tổ chức nào ở VN có gửi thư mời ông về VN thuyết trình thì ông đem thư mời ấy vô cầu tiêu, để thư mời xuống chân, đái một phát thì sẽ… hết tức ngay.

  8. THIENSAU says:

    Việc không cho bác Nguyễn Hưng Quốc nhập cảnh vào VN cho thấy mẹ hiền VN luôn dang tay đón con về thăm mẹ, nhưng mẹ VN lại là tài sản thuộc quyền sở hữu của mẹ “mìn” CSVN, suy ra việc cho phép bác vào hay không còn phụ thuộc vào quyết định của “mẹ mìn” này.

    Bác Hưng Quốc cũng đừng lấy gì làm ngạc nhiên về cách hành xử kiểu độc tài của “mẹ mìn” CSVN. Tôi có nhiều người bạn còn gặp rắc rối hơn bác vì những kiểu hành xử luật rừng này lắm. Với lại, bác là “khúc ruột thừa nghìn dặm” nên có hay không có bác đối với “mẹ mìn” cũng chẳng thành vấn đề gì.

  9. lam truong phong says:

    Nếu lần sau có hội nghị chuyên đề về Việt Nam, tôi đề nghị ông Nguyễn Hưng Quốc ngồi trong một căn phòng ấm cúng tại Úc và chiếu bài thuyết trình bằng Power Point trên màn hình. Tham dự viên ở Việt Nam cũng xem trực tiếp mấy cái slides này. Thỉnh thoảng xen kẽ là camera thu hình ông và nghe tiếng giảng dõng dạc của ông. Ngoài ra tham dự viên có thể đặt câu hỏi với ông qua phone có gắn speaker thì mọi chuyện bữa thuyết trình của ông sẽ chỉnh chu. Nhờ thế ông sẽ thoát khỏi bị mấy “tên công an” lẽo đẽo theo ngay cả khi ông có đi đái.

  10. Công tử Bạc Liêu says:

    Chính phủ Nam Phi có sáng kiến rất hay: Tại địa chỉ
    http://www.dha.gov.za/
    người dân có thể “check your status” để biết rằng mình… còn sống hay đã chết. Nếu còn sống thì rất tốt. Nếu đã chết thì ít nhất là cũng biết mình… đã chết. Ở Việt Nam thì ai cũng sống hạnh phúc, không cần áp dụng cái nầy cho người trong nước. Nhưng cần áp dụng cho Việt kiều, để họ biết rằng họ tiếp tục tồn tại và được nhập cảnh VN hay đối với chính phủ VN thì coi như họ… đã chết rồi. Trước khi lên Toà Đại sứ làm đơn, rồi lại khăn gói quả mướp, bỏ tiền bạc, thời gian mua vé rồi lên máy bay, các Việt kiều chỉ cần “check” xem cái status hiện nay của mình ra sao, có được về với “mẹ hiền” không, đã “lầm đường lạc lối” đến mức nào… Ngoài các option như “VK yêu nước” và “VK không yêu nước” nên có thêm “VK chưa yêu nước”, “VK chưa yêu nước như Đảng và chính phủ mong đợi”, “VK chưa hiểu đất nước”, “VK quá hiểu đất nước”, v.v.

  11. Lancome says:

    Công tử Bạc Liêu và HL nói có lý.
    Ông Quốc bị trục xuất vì “ngoan cố”, và vì “hiểu rõ đất nước” quá.
    Trước kia, năm 1991, ông Quốc xuất bản cuốn “Văn học Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản”. Bây giờ, trên Amazon.com lại thấy có cuốn mới của ông ấy:
    “Socialist Realism in Vietnamese Literature: An Analysis of the Relationship Between Literature and Politics” do VDM Verlag xuất bản tại Đức năm 2008.
    http://www.amazon.com/Socialist-Realism-Vietnamese-Literature-Relationship/dp/363909803X/ref=sr_1_4/175-9681445-5677647?ie=UTF8&s=books&qid=1239221122&sr=1-4

    Nếu nhà cầm quyền CSVN mà không trục xuất ông Quốc, thì mới là chuyện lạ.

  12. Công tử Bạc Liêu says:

    Chính phủ Việt Nam không có bổn phận điều trần trước công dân Úc Nguyễn Hưng Quốc về việc vì sao việc nhập cảnh của ông không được “hoan nghênh”. Toà Đại sứ Việt Nam lại không có bổn phận điều trần trước chính phủ Việt Nam về việc tại sao cứ cấp visa cho một công dân nước ngoài lẽ ra không được cấp visa. Còn bổn phận của ông Quốc thì tất nhiên là rõ rồi: ông hãy thành tâm tự kiểm điểm xem mình đã có những hành động, phát ngôn nào khiến chính phủ Việt Nam phải bất đắc dĩ đi đến biện pháp đó. Nếu cần thì ông nên xem lại mình có viết gì trong… nhật ký mang tính chống đối nhà nước VN không. Chẳng chuyện gì giấu được mắt trời đâu ông ơi. Có khi mấy trang nhật ký từ thuở nảo thuở nào nó làm hại ông đó. Tìm được nguyên nhân rồi thì ông lại phải thành khẩn tự cải tạo. Nếu ông chịu giác ngộ, không ngoan cố, không gọi các đồng chí công an là “tên công an”, thì chính phủ VN lại “nối vòng tay lớn” ômg cả ông vào lòng thôi mà. Chúc ông may mắn cho lần sau!

  13. HL says:

    (Tiếp theo) Một tin nữa cũng “hay” không kém: trong khi cơ quan an ninh cửa khẩu hoạt động hiệu quả như thế, thì ở đảo Lý Sơn, có kẻ giả danh cán bộ định chiếm đoạt sắc chỉ về HS (và đây không phải hiện tượng “cá biệt”, vì báo chí cho biết là trước đây cũng có những bận như vậy rồi).

    http://www.nld.com.vn/2009040809044220P0C1002/gia-danh-can-bo-de-chiem-doat-sac-chi-ve-hoang-sa.htm

    Bản tin khiến một độc giả bức xúc, phải thốt lên: “Khẩn cấp có lực lượng an ninh, quân đội tại đảo Lý Sơn. Tại sao lại không thấy nói đến chuyện kiểm tra, rà soát xem người đàn ông thấp đen ấy là ai, ở đâu? Đảo giữa biển chứ có phải đất liền đâu mà không biết kẻ đó là ai? Lực lượng an ninh, công an, bộ đội trên đảo đủ sức tìm ra thủ phạm?”

    Có lẽ lực lượng an ninh dồn đi ngăn ông Quốc hết rồi!

  14. HL says:

    Chuyện xảy ra với ông Nguyễn Hưng Quốc, dù có thể tức cười ra nước mắt vì sự lố bịch của nó, nhưng lại rất bình thường ở Việt Nam ta.

    Cái “hay” ở đây, đối với tôi, là tay quan liêu nào nghĩ ra cái câu “Nhà nước Việt Nam không hoan nghênh việc nhập cảnh của khách”. Nghe rất trang trọng! Thay vì Nhà nước Việt Nam bác bỏ/ từ chối việc nhập cảnh của ông Quốc, ở đây, họ chỉ rất nhã nhặn, không “hoan nghênh” mà thôi. Chữ với cả nghĩa, đại bút!

    Nhớ lại hôm Giỗ Tổ, chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã khuyên nhủ kiều bào (tham dự lễ): “Đảng và Nhà nước không có thành kiến với những kiều bào còn chưa hiểu rõ về đất nước. Mẹ hiền Việt Nam luôn dang rộng cánh tay đón những người con về với Tổ quốc, kể cả những người từng lầm đường, lạc lối”. Ông Trần Hữu Dũng bên Mỹ bình luận rất chí lý về ý này: “Nhưng hình như [Đảng và Nhà nước] có thành kiến với nhiều kiều bào đã hiểu rõ đất nước!” Cái “tội” của ông Quốc sờ sờ ở đấy: do ông đã hiểu rõ đất nước. Nên việc ông bị cấm nhập cảnh là… phải 🙂

  15. Binh says:

    Đọc câu chuyện nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc kể về việc lại không được nhập cảnh Việt Nam lần nữa, tôi vừa tiếc cho ông vừa “tâm phục khẩu phục” cách làm việc cực kỳ kỹ lưỡng của công an cửa khẩu tại phi trường này. Trên chuyến bay đó, chỉ có duy nhất “01” hành khách là ông Quốc không được nhập cảnh. Ông đã “giấu” kỹ như vậy thì ai biết được mà chỉ điểm? Trường Đại Học Mở ở Hà Nội có phải báo cáo danh sách khách mời cho công an không? Nếu có cũng chẳng ai biết ông Quốc “đi đứng” thế nào.

    Ông Quốc có nói: “Nhưng tôi có visa vào Việt Nam mà?”. Có visa mà cũng “không được hoan nghênh”? Tôi chợt hiểu. Cái đầu dây “tinh vi” nhất nằm ở cái chỗ cấp visa cho ông Quốc ở tận bên Úc chăng?

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả