talawas blog

Chuyên mục:

Hồ Chí Minh tại Đại hội Đảng 1951 – “Đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa”

28/09/2010 | 12:00 chiều | 55 phản hồi

Tác giả: Vũ Tường

Chuyên mục: Tư liệu
Thẻ: >

Lời dẫn: Tư liệu hiếm dưới đây có lẽ chưa bao giờ được công bố. Đó là một bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ hai tại Việt Bắc vào tháng 3 năm 1951, do một phóng viên của tờ Học tập liên khu 4 ghi lại nguyên văn.[1] Tại Đại hội này, Đảng Lao động Việt Nam ra công khai sau 6 năm nấp dưới tên gọi “Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác”. Bài diễn văn thú vị này cho ta thấy Chủ tịch là một nhà cách mạng, một chính trị gia, và một nhà tuyên truyền lão luyện. Một nhà cách mạng có niềm tin ngây thơ nhưng sâu sắc rằng lý thuyết cách mạng của các “ông thầy” của mình có quyền lực vạn năng. Một chính trị gia qua thủ đoạn tâng bốc các “ông anh” (trong khán giả chắc chắn có sứ thần của các “ông anh” gửi đến. “Ông anh” Stalin lờ tịt các bức điện khẩn xin giúp đỡ của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1945. Mãi đến tháng 1 năm 1950 Chủ tịch phải lặn lội giữa mùa đông băng giá bí mật đến Mạc Tư Khoa và qua sự bảo lãnh của “ông anh” Mao Trạch Đông và có lẽ cả “ông anh” Thorez, thì “ông anh” Stalin mới tiếp đón và công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[2] Nhưng ở Đại hội, Chủ tịch vẫn phải khen nức nở chứ không có một lời oán hận). Và cuối cùng, Chủ tịch cho thấy mình là một nhà tuyên truyền lão luyện qua kỹ thuật động viên quần chúng song vẫn khéo léo biến tất cả công lao xương máu của quần chúng thành công lao của chủ thuyết của mình, và qua đó, công lao của mình và đảng mình (vì mình và đảng mình nhập khẩu chủ thuyết ấy từ Âu châu). Phản ứng của quần chúng ở cuối bài nói (hô to “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”) cho thấy kỹ thuật dẫn dắt người nghe của Chủ tịch đã thành công.

Vũ Tường, Đại học Oregon

—–

HỌC TẬP — Nội san Đảng Bộ Liên Khu Bốn (Chỉ lưu hành Trong Nội Bộ)

Số 35, Năm thứ tư, Tháng 4 – 1951, trang 1-8

LỜI HỒ CHỦ-TỊCH TRONG ĐẠI HỘI TOÀN ĐẢNG

(Sau khi đồng chí Võ-nguyên-Giáp báo cáo xong vấn đề quân sự, Hồ-Chủ-tịch lên diễn đàn, giữa những tràng pháo tay). Hồ-Chủ-tịch nói.

Các đồng chí,

Vừa nghe báo cáo của đồng chí Giáp, các đồng chí thấy – và trước khi nghe cũng đã thấy – Quân đội ta từ chỗ yếu tiến đến chỗ mạnh, từ chỗ nhỏ tiến đến chỗ to, từ không thắng tiến đến thắng, từ thắng ít đến thắng nhiều, rồi từ thắng nhiều tiến đến thắng lợi hoàn toàn (Đại hội vỗ tay).

Đó là vì đâu? Là vì trong chính trị, cũng như trong mọi mặt công tác khác, Đảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa:

(Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung 3 vị lãnh tụ: Marx, Engels, Lénine)

(Đại hội vỗ tay vang dậy)

Đó là nhờ chúng ta, toàn giai cấp lao động thế giới, toàn quân đội nhân dân thế giới có một ông Tổng tổng tư lệnh là ông kia kìa.

(Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: STALINE)

(Đại hội vỗ tay dậy vang và cùng đứng dậy hô lớn)

(Đồng chí Staline muôn năm!)

Chắc ít người biết mà có lẽ cũng không ai ngờ. Ông ở cách xa đây mấy muôn dặm, mà ông theo rõi cuộc kháng chiến của ta, của Triều-tiên, của Mã-lai và cuộc đấu tranh của các nước Đông-nam Á. Ông cảm động khi nghe kể lại những cử chỉ chiến đấu anh dũng của một chiến sĩ Thổ khi giết giặc lập công như thế nào. Vì vậy có thể nói tuy ông ở xa nhưng tinh thần của ông và hiểu biết của ông ở với chúng ta. (Đại hội vỗ tay dài)

Chúng ta lại nhờ có ông anh này:

(Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: MAO-TRẠCH-ĐÔNG) –

(Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn Đồng chí Mao-Trạch-Đông muôn năm!)

Ông Mao ở cách đây mấy nghìn dặm. Còn ông Staline thì xa những muôn dặm… Ông theo rõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta. Như lúc quân đội và nhân dân ta giải phóng biên giới, như lúc chúng ta mở chiến dịch Trung-du có thể đêm ông không ngủ mà chờ tin tức…

(Đại hội có tiếng tấm tắc)

… Có ông thầy, ông anh như thế nên quân đội ta, quân đội Việt-Mên-Lào, từ chỗ nhỏ đến chỗ lớn, từ chỗ yếu đến chỗ mạnh, từ không thắng đến thắng hoàn toàn.

Cũng vì chủ nghĩa quốc tế, cũng chủ nghĩa Marx – Engels – Lenine – Staline, mà đến ông anh kia

… (Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí Thorez và nói tiếp… là ông THOREZ …) (Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn: Đồng chí Thorez muôn năm! Muôn năm!)

… Ông lãnh đạo đảng Pháp, đảng đàn anh … vì do được đảng Pháp lãnh đạo, nhân dân lao động ở Pháp kiên quyết bảo vệ hòa bình thế giới, tranh đấu chống chiến tranh thuộc địa, ủng hộ cuộc kháng chiến của chúng ta, chống lại chiến tranh thực dân. Như hôm nọ, tôi đã nói về đồng chí Henri M…,[3] một sĩ quan trong hải quân của thực dân, mà đi phát truyền đơn ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt nam, khuyên thanh niên Pháp và bộ đội Pháp từ chối, phản đối không qua đánh Việt nam. Lại có những công nhân như Raymone Dieu, khi thực dân Pháp chở khí giới từ một ga xe lửa đến bến tàu để rồi đưa qua Việt nam. Cô Raymone nằm ngang ra giữa đường sắt để ngăn chuyến xe ấy. Và do cử chỉ cao xa này mà toàn dân xứ ấy kéo ra chặn cả đoàn xe lại.

(Đại hội vỗ tay hoan hô nhiệt liệt và hô lớn: Hoan hô tinh thần của Henri M… và Raymone Dieu!)

Đó là nhờ nhân dân lao động Pháp đã thấm nhuần tinh thần Marx – Engels –Lénine – Staline. Chẳng những nhân dân lao động Pháp có rất đông những người như thế, mà vừa rồi đây lại có tin hàng trăm người lãnh đạo công giáo – khai hội nghị chống chiến tranh thực dân ở Việt nam và ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc Việt nam.

(Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn: Đảng cộng sản Pháp muôn năm! Muôn năm!)

Có thể nói cái tinh thần, cái chủ nghĩa của đồng chí Staline đã thấm nhuần vào dân công giáo và đấu tranh giành một phần nào “lời nói” của ông Pope.

(Đại hội vỗ tay, ngồi)

Vừa đây có một giám mục đứng ra kêu gọi con chiên đấu tranh cho hòa bình. Thì ra, tinh thần của đồng chí Staline đã đi vào địa bàn của giáo hoàng.

Đây là ở phương tây. Còn ở phương Đông thì như thế nào? Do chỗ đảng Trung Quốc đã thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine nên đã áp dụng chủ nghĩa Marx – Lénine thích hợp với hoàn cảnh Trung Quốc. Do chỗ đảng ta đã thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine, thấm nhuần tinh thần ấy lực lượng ấy, mà làm thấm nhuần đến cả quân đội ta, thấm nhuần đến nhân dân ta.

Nếu không thấm nhuần như thế, thì sao lại có bộ đội nhịn đói hơn 4 ngày, vẫn cứ bám lấy giặc mà đánh và đánh thắng giặc!

(Đại hội vỗ tay dài)

Thì sao có những cử chỉ oanh liệt như ở một trận đánh nọ có chiến sĩ bị thương ở tay nói với người bên cạnh “Cậu chặt tay cho mình cái” vì thấy cánh tay gãy vướng, chặt đi cho dễ đánh, thế rồi lại cứ xung phong? Nếu không thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine thì làm sao có được những cử chỉ oanh liệt như thế?

(Đại hội vỗ tay)

Nếu không có chủ nghĩa Marx – Lénine kinh qua đảng ta thấm nhuần đến nhân dân, thì sao có những chị em phụ nữ Mán, Thổ, Mèo ban ngày thì mưa ướt, đường trơn vẫn hăng hái đi tải đồ cho bộ đội, tối đến đường trơn, ở giữa rừng không có chỗ ngủ, phải dựa lưng vào nhau mà ngồi qua đêm, để sáng sớm lại vui vẻ đi vận tải đồ cho bộ đội?

Nếu không có tinh thần Marx – Lénine thấm nhuần qua Đảng ta đến dân ta, thì sao có những cử chỉ cảm động như thế? Đó là những vô danh anh hùng. Dân tộc ta là dân tộc anh hùng.

(Đại hội vỗ tay vang dậy)

Chẳng những đồng bào ở ngoài, mà ngay đồng bào trong vùng tạm bị chiếm cũng hết sức ủng hộ ta. Tôi vừa nhận được bức thư của một bà ở ngoại thành, một bà hơn năm mươi tuổi, đây tôi đọc để dẫn chứng – (Còn nhiều bức thư khác nữa, nhưng bức thư này vừa tiếp được, tiện đây đưa ra đọc) – Bà có một đứa con chín tuổi, bà nói sự độc ác của bọn giặc Pháp, sự cực khổ của đồng bào trong vùng tạm bị chiếm. Bà viết: “Tôi già sống trong hoàn rất cực khổ, thế nhưng mà tôi luôn luôn mong mỏi, tin tưởng bộ đội ta sẽ tổng phản công để đuổi lũ giặc Tây hung ác, đưa dân chúng đến cảnh tượng hòa bình.”

Có một cháu bé 16 tuổi cũng viết thư như thế, kể nỗi khổ cực: “Cháu luôn luôn nhớ Bác, luôn luôn nhớ chính phủ. Dầu cực khổ mấy, lúc nào cháu cũng cố gắng học tập, nghe theo như lời Bác dạy, một lòng trung thành với chính phủ. Cháu cố gắng học tập, để xứng đáng là một đứa cháu của Bác và sau này trở thành người dân xứng đáng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.”

(Đại hội vỗ tay dài)

Thế là do chủ nghĩa Marx – Lénine đã thấm nhuần qua đảng ta, qua dân ta, nên chúng ta nhất định sẽ thắng lợi.

(Đại hội vỗ tay rất lâu)

Bây giờ tôi qua điểm khác. Nói đến quân đội ta, quân đội anh dũng Việt-Mên-Lào, chúng ta phải nhớ đến đoạn đầu, những người đầu. Trước hết nhớ đến những chiến sĩ Nam bộ lấy gậy tầm vông đập vào đầu thực dân Pháp.

(Đại hội vỗ tay lớn)

Đây tôi cũng sung sướng giới thiệu với các đồng chí một du kích viên đầu tiên, khi mới tổ chức đội du kích đầu tiên, chỉ có 12 người: 10 nam 2 nữ. Trong những đồng chí ấy thì đây có Lê quảng Ba (Hồ Chủ tịch nhìn quanh đại hội, và hỏi Lê quảng Ba đâu? Đứng lên nào)

(Đồng chí Lê quảng Ba đứng dậy. Cả đại hội hướng về phía đồng chí ấy, vỗ tay hoan hô vang dậy)

Và tôi giới thiệu một tư lệnh viên đầu tiên trong thời kỳ du kích Bắc sơn – Chắc các cô, các chú cũng đã biết cả – là chú này … (Hồ Chủ tịch ngoảnh về phía chủ tịch đoàn và chỉ đồng chí Chu văn Tấn hiện đang làm chủ tịch buổi họp) – chú Chu văn Tấn! (Đồng chí Tấn đứng dậy. Đại hội vỗ tay hoan hô vang dậy).

Từ 12 người ấy mà tiến lên, rồi dần dần thành đội tuyên truyền xung phong, rồi đổi ra là Nam tiến, đổi là Giải phóng quân, đổi ra là Vệ quốc đoàn. Người tổng chỉ huy đầu tiên đội Nam tiến là

… (Hồ Chủ tịch chỉ đồng chí Võ nguyên Giáp ngồi ở hàng ghế đầu và nói mạnh rằng: Võ nguyên Giáp đây này! (Đồng chí Giáp đứng dậy. Đại hội vỗ tay hoan hô vang dậy.) Còn những chiến sĩ gậy tầm vông nam bộ ở đây có nhiều!

Từ chú du kích viên, rồi đến chú tư lệnh, rồi đến chú Tổng chỉ huy đầu tiên, đều là con của Đảng cả.

(Đại hội vỗ tay rất mạnh, rất dài.)

Hồi bấy giờ từ 12 đội viên du kích đầu tiên mà bây giờ ta có – có thể nói, Một triệu hai, tính cả dân quân, bộ đội địa phương, bộ đội chính quy. Từ 12 “vawis” (?)[4] (Đại hội cười) bây giờ sinh nở ra một triệu hai trăm ngàn vắt … (Hồ chủ tịch vừa nói vừa gõ tay lên bàn).

(Đại hội vỗ tay vang dậy.) (Giữa những tràng vỗ tay tiếng nói của Hồ Chủ tịch nổi bật lên …)

Đấy chính là nhờ chủ nghĩa Marx – Lénine.

(Đại hội càng vỗ tay nhiệt liệt.)

Bây giờ tôi qua điểm thứ ba.

Đảng ta, – Nhiêm vụ Đảng ta cũng như nhiệm vụ các đảng đàn anh ta, Đảng Bolchévik, Đảng cộng sản Trung hoa, trong lúc chiến đấu bằng chính trị đã đều chiến đấu bằng quân sự. Như trước kia, trong đại chiến thứ hai – không nói đến thời kỳ cách mạng ở Xô-liên, cũng kháng chiến, kiến quốc như mới đây ở Trung quốc, là đánh Tưởng mà Tưởng do Mỹ giật mũi — , là kháng chiến chống đế quốc Mỹ, mà cũng là vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Các Đảng đàn anh ta đề ra kháng chiến đệ nhất, thắng lợi đệ nhất. Ta cũng đề ra kháng chiến đệ nhất, thắng lợi đệ nhất, vì kháng chiến thắng lợi thì các việc khác giải quyết mới dễ dàng. Thế nên, chúng ta nói, kháng chiến trên hết, thắng lợi trước hết.

Muốn kháng chiến trên hết, thắng lợi trước hết, chúng ta phải học kinh nghiệm của các Đảng anh em ta. Như chú Hai vừa kể, có lần bên Xô-liên, đảng Bolchévik động viên đến 1/5 số đảng viên, nhưng chú nói còn ít đấy chứ có chỗ động viên đến 50% lúc chiến đấu gay go. Đảng Cộng sản Trung hoa cũng động viên hầu hết các đảng viên vào bộ đội, lúc lên đường vạn lý trường chinh. Đảng ta có bảy, tám mươi vạn. Rồi đây trung ương mới sẽ có chỉ thị về việc này, – Ít ra cũng phải động viên một vạn Đảng viên. Không kể số đảng viên hiện đã ở trong quân đội trực tiếp vào công việc kháng chiến.

(Đại hội vỗ tay, hoan hô nhiều lắm)

Với chủ nghĩa như thế, với Ông thày, Ông anh như thế, với lòng trung thành và kiên quyết của nhân dân ta, của Đảng ta, nhất định chúng ta thắng lợi.

(Hồ Chủ-tịch bước xuống diễn đàn. Đại hội đứng dậy vỗ tay vang dậy và hô lớn nhiều lần: Hồ Chí Minh Muôn năm! Muôn năm!)

Bản điện tử © 2010 Vũ Tường

Bản điện tử © 2010 talawas


[1] Chúng tôi cũng đánh máy đúng theo nguyên bản, kể cả những chữ in đậm và chữ cái.

[2] Xem Ilya Gaiduk, Confronting Vietnam: Soviet Policy toward the Indochina Conflict, 1954-1963 (Washington, DC: Woodrow Wilson Center, 2003).

[3] Bản chụp tên bị nhòe.

[4] Bản chụp mờ, không nhận ra chữ gì.

Phản hồi

55 phản hồi (bài “Hồ Chí Minh tại Đại hội Đảng 1951 – “Đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa””)

  1. [...] rõ. Nhưng tôi không trách ông ấy, tôi chỉ thấy ông ấy là nghiệp quả của… bốn ông kia kìa (lấy tay chỉ vào bức hình chụp “bè lũ 4 tên” treo trên [...]

  2. Lê Thượng nói:

    @ Ông Phan Nhiên Hạo
    Việc truy tìm nguồn gốc tài liệu không liên quan gì đến ông Phan Nhiên Hạo nên việc tài liệu thật hay giả cũng chẳng liên quan đến ông. Chính thế, tôi sẽ chẳng phải “lên giọng” gì với ông cả. Tôi là ai mà lại “lên giọng”. Hơn nữa, ông không phải là bạn, cũng chẳng là đối thủ gì của tôi mà chỉ là một trong những hàng trăm hội viên của Talawas thôi, nên tôi “lên giọng” với ông để được gì.

    Tôi có cười là đã lỡ cười rồi, về việc ông dùng tên tuổi để đứng ra bảo đảm và cái việc dạy nghề. Đọc thấy ông cho sự yêu cầu kiểm chứng của ông Trần Văn Tích là lẩm cẩm và không cần thiết, tôi mới có ý: Chà làm việc nghiên cứu dưới sự chỉ bảo của ông này khỏe ru quá. Thấy được sự dẫn chứng của người quen thì biết chắc chắn đúng lắm rồi, dùng lấy, cần gì đi tìm sự kiểm chứng cho mất công? Nghĩ thế nên tôi viết ra câu ấy. Có lẽ tôi sai vì tôi quá chủ quan dựa theo kinh nghiệm bản thân trên nghành chuyên môn. Xin lỗi ông.

  3. @ông Lê Thượng

    Ông Vũ Tường có thể trả lời độc giả, có thể không, có thể trả lời sau hai ngày, có thể trả lời sau hai tháng. Đó là quyền của ông ấy. “Tư liệu” đưa lên talawas là để thiên hạ tham khảo, và nếu cần, thảo luận. Đó là quyền của độc giả. Talawas không phải là toàn án mà phải đợi cho phép mới được nói. Trường hợp vừa rồi, tôi nghĩ việc thảo luận trong khi đợi người trong cuộc lên tiếng cũng đem lại vài điều hay đó chứ.

    Tôi tranh luận với tên thật và đem cả nghề nghiệp của mình ra nói chuyện. Ông Lê Thượng tưởng tượng nếu những khẳng định, hay “đứng ra bảo đảm”, của tôi vừa qua mà sai thì bây giờ tôi “quê” đến đâu. Và ông tha hồ được dịp lên giọng. Nhưng tôi vẫn làm chuyện đó, vì tôi tin vào suy luận của mình, “dám làm dám chịu”. Rất tiếc trong cái nhìn của ông, nó “ghê gớm” (!).

    Tôi không hề phản đối việc truy tìm nguồn gốc tài liệu nói chung. Tôi chỉ thấy trường hợp cụ thể này không thật sự cần thiết, nhất là những yêu cầu của ông Trần Văn Tích, vì theo kinh nghiệm “nghề nghiệp” của tôi, cộng với những gì tôi biết về Vũ Tường, tôi nghĩ mọi việc OK. Ông không đồng ý thì cứ tiếp tục tra hỏi cụ thể, chứ sao lại móc máy chuyện học hành gì đó của tôi?

  4. Lê Thượng nói:

    @ Ông Phan Nhiên Hạo.

    Vũ Tường công bố một tư liệu hiếm lấy danh nghĩa từ một trường Đại học Mỹ (Vũ Tường, Đại học Oregon).

    Mọi người công nhận đấy là một tài liệu hiếm. Có người thắc mắc về tính đích thật hay xác thực của bản tài liệu ấy. Vì là tư liệu nên chỉ một mình ông Vũ Tường mới có thể biết được câu trả lời. Mọi người đang nóng lòng đón nghe lời phản hồi ông Vũ Tường. Ông từ đâu nhảy ra chụp lấy cơ hội. Ông đứng ra tuyên bố: “Nó không thể là một tài liệu ngụy tạo” vì ông quen biết ông “Vũ Tường ngoài đời, một học giả thận trọng, được đào tạo” từ một đại học lớn nầy (Princeton) và đến đại học lớn khác (UC Berkeley). Hẳn đại học Oregon chưa đủ nặng ký hay sao? Ông tự nhận mình là một người làm việc trong ngành thư viện đại học ở Mỹ để cho rằng những yêu cầu về việc chứng minh tài liệu là không cần thiết. Không những thế, ông lại cho người đưa ra thắc mắc ấy là người “lẩm cẩm”.

    Ông là ai mà gớm thế để đứng ra bảo đảm cho ông Vũ Tường, để bảo đảm tài liệu ấy không giả tạo? Dù ông có gớm đến đâu đi nữa, ông cũng không phải ông Vũ Tường đề trả lời những thắc mắc ấy. Ông Vũ Trưởng đã dùng diễn đàn talawas để phổ biến tài liệu ấy, thì ông ấy cũng có thể dùng nó để phản hồi những thắc mắc từ những độc giả mà ông muốn chuyển đạt đến.

  5. Đinh Công Bình nói:

    Trên trang web báo Nghệ An có ghi lại danh sách những tờ báo của đảng bộ Nghệ An đã được xuất bản trước 1945 như sau:

    Các tờ báo của Đảng bộ Nghệ An trước 1945:

    - Báo Nghệ An đỏ (1930) do Tỉnh ủy Nghệ An xuất bản

    - Báo Tiến Lên (1931) do Tỉnh ủy Nghệ An xuất bản

    - Báo Chuông Vô sản (1932) do Khu bộ Vinh xuất bản

    - Báo Tự chỉ trích (1933) do Tỉnh ủy Nghệ An xuất bản

    - Báo Chuông đánh thức (1933) do Tỉnh ủy Nghệ An xuất bản

    - Báo Chuông cách mạng (1934) do Tỉnh ủy Nghệ An xuất bản

    - Báo Vô Sản (1934) do Tỉnh ủy Nghệ An xuất bản

    - Báo Tự Cứu (1935) do Tỉnh ủy Nghệ An xuất bản

    - Báo Dân Nghèo (1936) do Tỉnh ủy Nghệ An xuất bản

    - Báo Chỉ Đạo (1938) do Tỉnh ủy Nghệ An xuất bản

    - Báo Cởi Ách (1940) do Tỉnh ủy Nghệ An xuất bản

    - Báo Kháng dịch (1945) do Việt minh liên tỉnh Nghệ Tĩnh xuất bản

    - Báo Truyền Thanh (1940) do Ty thông tin Nghệ An xuất bản

    - Báo Giữ làng (1950) do Ngành Bộ đội địa phương và Dân quân tự vệ Nghệ An xuất bản

    - Báo Dân học (1950) do Ty Giáo dục Nghệ An xuất bản

    - Báo Cứu quốc (1945) do Mặt trận Liên Việt Liên khu Bốn xuất bản

    - Báo Sự Thật (1947) do Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lê Nin liên khu IV xuất bản

    - Báo Học tập (1948) do Hội cứu quốc Liên khu IV xuất bản

    - Tạp chí Sáng Tạo (1948) do Đoàn Văn nghệ khang chiến Liên khu IV xuất bản

    - Tập san Tiền tuyến (1948) do Bộ chỉ huy lực lượng vũ trang Liên khu IV xuất bản.

    - Tập san Người Thợ mới (1951) do Tổ chức công đoàn vũ khí Liên khu III và IV xuất bản.

    - Báo Tin Nghệ An (1957) sau đổi tên là Nghệ An, do Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tinh xuất bản.

    http://www.baonghean.vn/news_detail.asp?newsid=54237&CatID=21

    Trong danh sách có ghi: báo Học Tập (1948)do Hội Cứu quốc LK IV xuất bản. Vậy so với ngày tháng ghi trên tờ Học Tập do ông Vũ Tường trích dẫn thì đó chính là tạp chí Học Tập trong danh sách trên: (1948 -> 1951 (năm thứ ba).

    Về cách thức trình bày báo trong thời kỳ này, trong phần giới thiệu bìa những tờ báo đầu tiên rất tiếc là không thấy có bìa tờ Học Tập, nhưng có hình tờ Sáng Tạo (1948) với chữ Sáng Tạo có cùng “phông” chữ với tờ Học Tập.

    Bìa tờ Sáng Tạo:
    http://www.baonghean.vn/news_detail.asp?newsid=54236&CatID=21

    Vậy, theo tôi, có thể kết luận là tờ báo do ông Vũ Tường trích dẫn là một tờ báo hoàn toàn “có thật”, không phải là hàng giả.

    Tờ này trùng tên với tạp chí Học Tập của Đảng Lao Động Việt Nam ấn hành số đầu tiên vào năm 1955.

    Tạp chí Học Tập (1955):http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=15549113&News_id=15550151

  6. Hoà Nguyễn nói:

    Tôi nghĩ xét về hình thức, nội san Học Tập cao hơn lối in thạch bản thô sơ ở thượng nguồn sông Thạch Hãn, gần chiến khu Ba Lòng, Quảng Trị, mà ông Trần Văn Tích có một thời chứng kiến. Liên khu 4 trong kháng chiến 9 năm là vùng “độc lập” (hơn cả ý nghĩa “giải phóng”) kể từ sau cách mạng tháng 8, nơi quân Pháp không bao giờ tới chiếm đóng, tuy có hành quân càn quét qua rồi rút lui. Cho nên nhiều cơ sở in ấn của các tỉnh lớn, như Thanh Hoá, Nghệ An, nhất là tại các nhà thờ công giáo lớn trong vùng chắc chắn vẫn còn và sử dụng được, tuy bị hạn chế về chuyên viên kỹ thuật, bộ phận thay thế, giấy mực. Trang bìa tờ Học Tập nếu gồm hai phần in khác nhau như là vẽ/viết tay chữ lớn, và in máy chữ bình thường, thì không phải là ngoài khả năng của nhóm người thực hiện.

    Tôi nghĩ thời tôi đọc báo ở Sài Gòn, các tờ báo đó cũng được in bằng hai loại chữ khác nhau: chữ đúc sẵn (mua từ Pháp)và chữ viết/vẽ tay (rồi “đúc” lên bản chì, bản kẽm, hay đá thì tôi thật hoàn toàn không biết).

    Tôi không đủ sức tưởng tượng có người bỏ ra nhiều công sức như thế để làm tờ Học Tập giả và chờ bán cho các ông chống Cộng hay học giả hiếu kỳ.

  7. Nguyễn Đăng Thường nói:

    GIẢ TẠO & GIẢ MẠO

    Hồ Chí Minh là một/nhiều con người giả tạo thì có giả mạo thêm một ông “hồ” nữa không những “chả sao” mà lại “càng tốt”. Càng đông càng zui.

    Nếu muốn “triết lý” một tí “à la Baudrillard” thì có thể nói đây chỉ là “simulacres et simulation”.

    Nếu muốn “nôm na” một tị “à la Lý Toét” thì có thể bảo “hồ thiệt hồ phịa hai hồ đều là hồ made in China cả”.

    Nếu sáng mai “ngài” John Kerry bỗng dưng xuất hiện tại quảng trường Ba Đình và tuyên bố “chàng” là Bác Hồ tái sinh thì tớ cũng tin chăm phần chăm và chạy lại “xin [cho em] hôn lên hai má bác”

  8. Trần Văn Tích nói:

    Kính thưa ông Phan Nhiên Hạo,

    Tôi xin được phép nói rõ là tôi thắc mắc về tính đích thật, xác thực (authenticité) của bản thân tài liệu chúng ta đang cùng nhau đề cập đến. Nói trắng ra một lần nữa, tôi nghi ngờ có thể ông Vũ Tường đã mua nhầm một tài liệu giả mạo. Khác với nhiều người gửi phản hồi đến talawas, tôi không bận tâm nhiều về nội dung. Vì nội dung dẫu hấp dẫn bao nhiêu đi nữa, mà chính bản thân tài liệu là của giả thì mọi luận bàn tự dưng trở thành uổng phí.

    Năm 1951 tôi còn ở “phía bên kia”. Tôi làm thư ký cho Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh Quảng Trị, trụ sở đóng tại chiến khu Ba Lòng, vùng Đá Nổi, Phong Nguyên, nơi thượng nguồn sông Thạch Hãn. Các văn thư của Ủy ban gửi đi nếu ít thì đánh máy, nếu nhiều thì in litho (thạch bản). Ủy ban có một anh thanh niên chuyên phụ trách việc ấn loát này. Ảnh dùng một miếng đá mềm và viết chữ lên miếng đá đó với một loài bút riêng. Sau đó ảnh bôi lên “bản vỗ” một hoá chất để nó ăn mòn những chỗ cần ăn mòn, khiến những nét chữ hiện ra trên tấm thạch. Cuối cùng ảnh bôi màu và in ra giấy. Tuyệt nghệ công phu của anh bạn chuyên viên này là khi viết chữ lên tấm thạch, ảnh phải viết ngược, như chúng ta xem trong gương vậy. Nhìn tấm bìa tờ Hoc Tap do ông Vũ Tường gửi lên mạng, tôi có cảm tưởng hai chữ Hoc Tap và dòng chữ cuối trang “CHI LUU HANH TRONG NOI BO” được in theo lối thạch bản, còn các chữ khác thì in bằng máy in công nghiệp thông thường. Tất nhiên những điều kiện ấn loát tuy rằng tương đối thô sơ như thế, cũng chỉ có được ở vùng “giải phóng” Khu Tư tức Thanh Nghệ Tĩnh. Nếu hai chữ Hoc Tap không mang dấu khiến ông tin tưởng hơn thì ngược lại, tôi lại thấy đó có thể là một chiêu thức của cao thủ làm tài liệu giả, nó khiến người mua sắm tài liệu càng dễ rơi vào bẫy hơn.

    Tôi hoàn toàn đồng ý với ông là vụ “đóng dấu” không biện biệt được tính chân giả của tài liệu. Nhưng ít nhất, nó cũng chứng minh là có một tài liệu như thế như vầy đang nằm tại chỗ đó chỗ kia. Cùng trong một chiều hướng, tôi từng hy vọng là tài liệu Hoc Tap có mang nhật ấn nhập viện. Xin thử tưởng tượng là nó được đóng triện với hàng chữ “nhập ngày 11.03.1953″ thì có phải là khả năng giả mạo sẽ giảm thiểu đến gần số không không, vì vào thời điểm đó đâu có của giả, của dởm tràn lan như bây giờ?

    Vì tính chất độc đáo của tài liệu, vì muốn việc sử dụng – và khai thác – tài liệu đoạt được tính tối ưu nếu có thể, nên tôi mới đâm ra suy nghĩ vẩn vơ như vừa hầu chuyện cùng ông. Tuy nhiên tôi e ngại rằng ước nguyện của ông theo đó có người “chứng minh ngược lại” chỉ là một mission impossible. Nhân tiện, kính xin ông vui lòng chuyển giúp lời thăm hỏi của tôi đến ông Vũ Tường cùng với lời khẳng định một lần nữa là tôi không hề có ý xúc phạm ông Vũ trong chuyện Hoc Tap này.

    Trân trọng kính thư.

  9. Thai Nguyen nói:

    Việc ông Vũ Tường sẽ cho chụp tập tư liệu để đăng trên diễn đàn Talawas là điều đáng quý. Xin cảm ơn ông. Đó cũng là điều trước đây ông Nguyễn Quang Duy đã làm khi công bố bài báo “Địa chủ ác ghê” trong đó tác giả C.B. (một bút hiệu khác của ông Hồ Chí Minh) lên án “ba mẹ con địa chủ Cát-hanh-Long, đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào!” với những lời lẽ cực kỳ cay độc.

    Tôi không nghĩ là ông Vũ Tường ra gặp notary public làm gì, vì bổn phận của họ chỉ là chứng thực người ký tên trước mặt họ là đúng tên với thẻ căn cước đệ trình (bằng lái xe chẳng hạn), chứ họ không thể xác nhận tài liệu là “sao y bản chánh” hay không. Nếu có thể, xin ông Vũ Tường cho biết đã tìm được tài tiệu đó từ đâu.

    Cùng với ông Trần Văn Tích: Đọc bài “Văn Tế Cá Sấu” hay truyện “Lĩnh Nam Dật Sử”, chúng ta không cần xem bản chính cũng đủ biết đó là tài liệu giả mạo: Chỉ cần xem qua văn phong, ngôn ngữ, và sự kiện lịch sử. Riêng tôi, việc kết tội ông phó bảng Nguyễn Can Mộng là ông cố tình chế tạo bài “Văn Tế Cá Sấu” e hơi chủ quan. Có thể ông ta công bố bài này cũng chỉ vì… mua hay thu lượm được tài liệu giả mà không thẩm định lại rõ ràng. Nếu tôi không lầm, việc lên án Nguyễn Can Mộng là do hai học giả Trần Văn Giáp và Nguyễn Lân chủ xướng sau này. Lý do có thể vì chính trị hoặc tị hiềm cá nhân: Ông Nguyễn Can Mộng cộng tác với chính quyền thực dân và được giao phó những chức vụ lớn trong khi hai vị kia chỉ lên án ông sau khi họ đi theo “cách mạng”. Trong lịch sử văn học Việt Nam, có khá nhiều tài liệu sai lệch mà trường hợp thơ chữ nôm và chữ hán của Hồ Xuân Hương là một điển hình kể cả tập Lưu Hương Ký mà nhiều học giả lúc trước coi trọng (kể cả việc muốn chiếm đoạt riêng cho mình như ông Đào Thái Tôn đã làm.)

    Việc ông Vũ Tường cho chụp ảnh tập tư liệu này còn có một điểm quan trong khác ngoài việc thẩm định sự chân thực của tài liệu: Ông cho biết bản chụp có những chỗ “chụp tên bị nhòe” hoặc “Bản chụp mờ, không nhận ra chữ gì.”. Biết đâu độc giả có thể cùng tham gia với ông khôi phục lại nguyên bản các chữ ấy. Chợt nhớ hồi đầu thập niên 1970 ở Sài Gòn ông Đỗ Quang Chính có ra một một sách rất quan trọng và hữu ích là “Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ” trong đó ông cho chụp lại các tài liệu tiếng Việt trong thế kỷ 17 mà ông đã sưu tập ở các thư viện và văn khố Âu Châu. Nhờ vậy, người ta có thể đồng ý với ông là ông Hoàng Xuân Hãn trước đó có một vài chỗ đọc sai tiếng Việt cổ. Và người ta thấy ngay cả chính LM Đỗ Quang Chính cũng vướng mắc một số lầm lạc khi ghi lại theo chữ quốc ngữ ngày nay bản tài liệu quý giá viết tay của ông Bento Thiện.

  10. Phùng Tường Vân nói:

    Tôi thì thấy có hai vấn đề cần biện biệt :

    1/Tính chính xác nguồn gốc của tài liệu tức là cái “authenticity” của tờ HOC TAP ấy, điều này tương đối dễ giải quyết và người có thẩm quyền hơn hết chính là ông Vũ Tường, người cho công bố sử liệu hiếm quý ấy. Những ai muốn phản bác, xin hãy đợi vì như ông Phan Nhiên Hạo vừa cho biết, ông Vũ đang chuẩn bị đáp ứng đòi hỏi chính đáng ấy của độc giả .

    2/ Một khi tính chính xác của nguồn gốc đã được thiết lập mà vẫn không thuyết phục được những người còn nghi nan, thì gánh nặng dẫn chứng thuộc trách nhiệm của họ. Cũng hệt như thiết lập trách nhiệm hình sự trong tội phạm học trong các pháp chế văn minh : can phạm không có bổn phận phải chứng minh rằng mình vô tội mà chính công tố viên mới phải chứng minh rằng can phạm là người có tội bằng những bằng chứng, nhân chứng không tỳ vết v..v….Tôi kéo sự song song này có thể bị nhiều vị cho là có hơi bị méo mó nghề nghiệp (cũ) chăng, nhưng rõ ràng vấn đề ở đây là, tài liệu đã được công bố, nguồn gốc, niên đại, nội dung…nếu anh bảo rằng anh không tin thì anh phải nói tại sao một cách cụ thể để phủ nhận sự hiện hữu của nó, chớ không thể nói khơi khơi : “không phải giọng văn”, “ổng đâu có hô khẩu hiệu hồi nào…” hoặc quẹo câu chuyện sang những móc máy cá nhân thì tôi thấy là “bấy” lắm !

1 2 3 4
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả