talawas blog

Chuyên mục:

Phạm Hoàng Quân – “Minh Thực lục” và sách “Minh Thực lục: Quan hệ Trung Hoa –Việt Nam thế kỷ XIV-XVII” (3)

02/10/2010 | 2:28 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Phạm Hoàng Quân – “Minh Thực lục” và sách “Minh Thực lục: Quan hệ Trung Hoa –Việt Nam thế kỷ XIV-XVII” (3)

Tác giả: Phạm Hoàng Quân

Category: Lịch sử, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ:

(Xem kì 1kì 2, và xem toàn bộ bài bằng bản PDF)

IV. 3. Sự ảnh hưởng của Sử quan và thời điểm biên chép đối với sử liệu

Thời điểm biên chép dữ liệu khác với thời điểm mà sử liệu đề cập. Thời điểm biên chép và người biên chép hoặc giám sát việc biên soạn đều có ảnh hưởng đến độ chân xác của các mẩu sử liệu trong Minh Thực lục. Tác động chính đối với việc lưu truyền sự kiện dĩ nhiên là của lãnh đạo tối cao [các hoàng đế nhà Minh] và ở cấp độ thấp hơn là ý đồ đại cương của Tổng tài, kế đến là thuộc về phạm vi nghiệp vụ của sử quan trực tiếp chấp bút biên soạn. Ba đối tượng ấy đều có khả năng đưa sự kiện đến chỗ thiếu chân xác.

Trong Minh Thực lục: Quan hệ Trung Quốc-Việt Nam thế kỷ XIV-XVII hơn một nửa sự kiện nằm ở giai đoạn nhà Hồ, thuộc Minh, khởi nghĩa Lam Sơn, và vua Lê Thái Tổ, tức ứng với triều Vĩnh Lạc và Tuyên Đức. Nói cụ thể hơn là sự kiện của 30 năm (1400–1430) chiếm đến 6/10 dung lượng, và các sự kiện của hơn 240 năm là trong 4/10 còn lại. Do đặc thù này, tôi đặc biệt lưu ý đến tác giả (Tổng tài) và thời điểm hình thành bốn bộ Thực lục đầu nhà Minh là Thái Tổ (Hồng Vũ) Thái Tông (Vĩnh Lạc), Nhân Tông (Hồng Hi) và Tuyên Tông (Tuyên Đức).

Thực lục của ba triều Vĩnh Lạc, Hồng Hi và Tuyên Đức đều do Dương Sĩ Kỳ làm Tổng tài, Thái TôngNhân Tông Thực lục hoàn thành năm 1430 dưới triều Tuyên Đức, ba năm sau thất bại ở nước ta; Tuyên Tông Thực lục hoàn thành năm 1438 dưới triều Anh Tông (niên hiệu Chính Thống 3). Dương Sĩ Kỳ lại là Tổng tài của lần biên soạn thứ 3 (tức sửa chữa lần 2) của Thái Tổ Thực lục, hoàn thành năm 1418[1]. Không khó để thấy ra vai trò đặc biệt quan trọng của Dương Sĩ Kỳ trong việc biên soạn Thực lục giai đoạn đầu và cả trong lịch sử biên soạn 13 Thực lục[2].

Những thông tin trên cho thấy Dương Sĩ Kỳ là người quán xuyến dữ liệu cho việc biên soạn Thực lục ba triều và rộng tay hơn nữa là có cả quyền điều chỉnh đối với Thái Tổ Thực lục cho phù hợp với giai đoạn sau. Giới sử học Trung Quốc thường phân tích các Thực lục giai đoạn đầu theo hướng giải tỏa sự cố “chính biến Tĩnh nạn”, do sự cố này là tiền đề của nhiều uẩn khúc trong thời hoàng đế Kiến Văn. Các biên chép thời Kiến Văn – vị vua thứ hai nhà Minh (1399 – 1402) cháu nội Chu Nguyên Chương – không thành Thực lục được vì bị Chu Đệ (Thái Tông) tách ra làm đôi, phần đầu nhập vào Thái Tổ Thực lục, phần sau nhập vào Thái Tông Thực lục, tức một nửa đầu nhập vào thời của ông nội, và nửa sau nhập vào thời của người chú cướp ngôi. Chỉ đạo việc cắt nhập, chỉnh lý này là do Chu Đệ (Thái Tông – Vĩnh Lạc) và việc trực tiếp cơ cấu sử liệu hẳn là Dương Sĩ Kỳ. Đối với sử Đại Việt, các ghi chép biến hóa linh động có thể thấy trong triều Hồ – Hậu Trần và kết thúc khởi nghĩa Lam Sơn.

Đạo quân Trương Phụ nhanh chóng đánh bại sự chống trả của quân đội nhà Hồ, nguyên nhân chính là nhờ vào chiêu bài khôi phục nhà Trần, hàng loạt quan binh các địa phương thuộc Đại Việt đã vội vã đầu hàng Trương Phụ vì tin vào lời rao “tìm con cháu họ Trần lập làm vương”. V.b ngày 14 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 5 (21/02/1407) cho biết: “lúc này người châu Nam Sách là Mạc Thúy, vốn giận giặc họ Lê [Quý Ly], bèn mang lính địa phương vạn người đến theo, nhiều lần gắng sức lập công”. Nửa tháng sau Mạc Thúy được Trương Phụ cử đứng ra “tuyên cáo lòng nhân đức của Thiên tử” và “Thăm hỏi tìm họ hàng nhà Trần, chọn một người hiền tài thuộc dòng đích đưa về kinh sư, để xin mệnh khôi phục tước vương”[3]. Một v.b sau 40 ngày cho biết, bọn Mạc Thúy và một số người quanh phủ Bắc Giang cùng các kỳ lão do Duẫn Bái dẫn đầu gồm hơn ngàn người đến doanh trại Trương Phụ thưa rằng: “…con cháu nhà Trần trước đây bị giặc họ Lê tru diệt hết, không còn sót ai, không thể kế thừa” và nêu nguyện vọng: “xin được duy trì trở lại quận huyện cũ, ngõ hầu sửa đổi tục Man Di, vĩnh viễn thấm nhuần thánh hóa” v.v…[4] Một báo cáo nhanh của Trương Phụ về kết quả cuộc tìm kiếm và nguyện vọng của dân Giao Chỉ qua tiếng nói của hơn ngàn kỳ lão đưa về kinh. Ngày 1 tháng 6 cùng năm, Trương Phụ nhận chỉ dụ thiết lập các phủ, châu, huyện thuộc Giao Chỉ[5]. Diễn biến của chuỗi sự kiện này có thể thấy then chốt trong 40 ngày tìm kiếm con cháu nhà Trần, cho dù có hơi cập rập nhưng cũng đủ để tỏ thiện chí của thiên triều và không gây trở ngại nhiều cho việc xếp đặt sử liệu. Những sự kiện sau này về sự xuất hiện của Giản Định đế Trần Ngỗi và Trùng Quang đế Trần Quý Khoáng được ghi nhận là “bọn nổi loạn” hoặc “xưng càn là cháu Vương trước”[6]. Chuỗi sự kiện nêu trên khiến người đọc không khỏi nghi ngờ về hành tung của Mạc Thúy qua việc sốt sắng với Trương Phụ, qua việc nhanh chóng thay đổi thái độ và ý hướng đối với nhà Trần…

Vấn đề cơ cấu dữ liệu thể hiện rõ hơn qua sự xuất hiện lẻ loi đột ngột của vài văn bản mang hình thức Khởi cư chú, những tường thuật về các cuộc trò chuyện thân mật của Hoàng đế Tuyên Đức với các cận thần là một điểm khá lạ trong mạch Thực lục. Lần đầu thấy qua văn bản ngày 27/11 năm Hồng Hi thứ nhất (5/1/1426), v.b này chép việc Tuyên Đức tiết lộ nỗi lòng với Dương Sĩ Kỳ và Dương Vinh, phân vân giữa rút quân hoặc tiếp tục cuộc chiến ở Giao Chỉ, ý thiên về hướng bãi binh[7]. Một ngày trước cuộc trò chuyện đó, Tuyên Đức đã ban sắc: “Trần Trí, Phương Chính chuyên trách tiến binh, cốt ở hòa hợp để thành công, không cho phép trì hoãn để lỡ việc. Nếu mùa xuân tới không có tin chiến thắng báo về, sẽ bị quy tội”[8] đồng thời cũng trách cứ “bọn Trần Trí, Lý An, Phương Chính không quyết đánh mà cứ mãi lo chiêu dụ [Lê Lợi] để dưỡng giặc mạnh lên”. Ngày hôm sau Tuyên Đức lại nảy ra ý muốn làm theo di huấn Thái Tổ “không nên đánh An Nam trừ khi họ xâm phạm Trung Quốc”. Kế đến là một v.b sau đó chưa đầy 5 tháng, “ban mệnh Tổng binh Vương Thông lãnh ấn Chinh Di tướng quân, đến Giao Chỉ chinh tiễu giặc”[9] lần đi này điều động quân binh Phúc Kiến, Quảng Đông, Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Hồ Quảng…cộng hai vạn[10], điều động bắt thêm lính trong dân Giao Chỉ ba vạn[11], Vương Thông đòi thêm hơn 500 quân thuộc doanh Thần cơ chuyên dụng hỏa khí, vốn chỉ để tùy tùng Hoàng đế khi thân chinh, Tuyên Đức cũng duyệt cho[12]. Nhìn vào quyết định sống mái ấy mới phải đáng ngờ khi một văn bản Khởi cư chú đầy kịch tính xuất hiện ngay ngày hôm sau, khi gặp riêng bốn cận thần Dương Sĩ Kỳ, Dương Vinh, Kiển Nghĩa, Hạ Nguyên Cát, Hoàng đế Tuyên Đức nói: “Hôm qua sai tướng xuất sư, Trẫm suốt đêm không yên lòng, không nỡ phạm đến sinh linh vô tội. Đào sâu suy nghĩ chỉ muốn như thời Hồng Vũ và những năm đầu Vĩnh Lạc, cho nơi này tự lập một nước, hàng năm triều cống, bảo toàn sinh mệnh dân một phương, mà cũng để người Trung Quốc được nghỉ ngơi nữa. Ý các ngươi thế nào?” Kiển Nghĩa và Nguyên Cát tâu: “…Hơn 20 năm cần lao, lại bỏ đi trong một buổi, há lại không nghĩ đến sự tổn thương uy vọng, xin suy nghĩ thêm nữa”. Dương Sĩ Kỳ đương nhiên là [được chép] đồng quan điểm với Tuyên Đức, với lời bàn nên rút quân[13]. Ở đây không có hai phe chủ hòa và chủ chiến, cũng không có vị hoàng đế ngày trước tế cờ cử soái ngày sau nghĩ muốn bãi binh, ở đây chỉ có ngòi bút của sử quan Dương Sĩ Kỳ với toan tính bảo toàn quốc sỉ, để việc thu cờ xếp giáo của Vương Thông vào năm sau (1427) ở tư thế đường hoàng, trong chủ trương đã định sẵn từ trước.

Thực lục triều Tuyên Đức hoàn thành năm 1438, tức Dương Sĩ Kỳ sắp xếp lại chuyện của 12 năm trước, có thể bổ sung loại hình Khởi cư chú cho những chỗ cần. Xét kỹ về thời điểm biên chép sử liệu chúng ta có thể phân tích một số văn bản chứa nội dung “lời nói của hoàng đế”[14] vì đây là loại sử liệu có nhiều khả năng bị biên tập lại.

IV. 4. Giá trị sử liệu của “Minh Thực lục: Quan hệ Trung Quốc-Việt Nam thế kỷ XIV-XVII

Đối chiếu Minh Thực lục: Quan hệ Trung Quốc-Việt Nam thế kỷ XIV-XVII với Toàn thư chúng ta thấy có nhiều nội dung sự kiện cùng được hai sách ghi chép, tuy nhiên trong các tình tiết có nhiều dị biệt. Có rất nhiều sự kiện Minh Thực lục chép rộng hơn Toàn thư, đây là điểm có thể lợi dụng để bổ sung cho thông sử.

Quá trình kê cứu sơ bộ cho thấy có nhiều v.b Minh Thực lục liên quan đến giai đoạn nhà Hồ, thời thuộc Minh thì hẳn nhiên là Minh Thực lục ghi chép tường tế hơn Toàn thư: những v.b liên quan đến sắc tộc Thái ở vùng tây bắc Đại Việt nơi giáp giới đất Miến Điện, Lão Qua, là những sử liệu phản ánh tình trạng lấn cấn đất đai phức tạp nhiều đời; Nhân vật thời Hậu Trần và các thủ lĩnh địa phương khởi nghĩa trước Lê Lợi vốn gây nhiều phiền phức cho bộ mấy cai trị/đô hộ nên được ghi nhận khá chi tiết, nhiều nhân vật và sự kiện không thấy chép trong Toàn thư v.v… Ngoài giá trị bổ sung, tập sử liệu này còn giúp ích nhiều cho việc khảo chứng cục bộ đối với thông sử. Độc giả có quan tâm đến vấn đề sử liệu hẳn sẽ thấy nhiều chú thích thiên về hướng khảo chứng trong bản dịch Toàn thư (1967–1973)[15], trong đó học giả Đào Duy Anh đã trích dịch nhiều đoạn từ Tống sử, Nguyên sử, Minh sử, Minh sử kỷ sự bản mạt… để đối chiếu, so sánh với cách ghi chép trong Toàn thư về một sự kiện nào đó, công việc này giúp cho độc giả chuyên sâu có cái nhìn từ nhiều phía đối với sự kiện.

Thí dụ v.b. [193], cho thấy việc lấn cấn biên giới mà Hồ Quý Ly phải cắt trả đất vào năm 1405 vốn có tiền sự từ năm 1397 mà trong vụ này Toàn thư chỉ chép việc năm 1405 trong khi Minh Thực lục chép cả hai niên điểm của sự kiện giúp chúng ta nắm rõ hơn quá trình diễn biến của sự kiện này[16]. Thời đó sử liệu Minh Thực lục chưa được học giả Đào Duy Anh khai thác triệt để, nên chỉ lấy Minh sử làm nguồn chính. Trong tương lai, có thể lấy thêm nguồn sử liệu Minh Thực lục vào việc khảo chứng Toàn thư.

Các chuyên đề lịch sử là nơi cần nhiều sử liệu ở dạng chi tiết về loại mục, cụ thể về số liệu hoặc khá hơn nữa là có tính liên tục, những yêu cầu này, sử liệu Minh Thực lục có thể đáp ứng được phần nào. Trước mắt, các chuyên đề về lịch sử địa lý, lịch sử bang giao Trung – Việt, về quan chế thời nhà Hồ, Hậu Lê, lịch sử quân sự, lịch sử các cuộc khởi nghĩa nông dân… có thể trích lục được nhiều chi tiết. Bên cạnh, đối với các công trình biên soạn về lịch sử từng thời kỳ thì sử liệu Minh Thực lục cũng là một nguồn tham khảo và ứng dụng đáng kể.

Trong nghiên cứu sử, ngoài việc dùng sử liệu Minh Thực lục vào việc khảo chứng[17] như đã nêu trên, có thể đặt làm cơ sở để tiến hành vài phương án, theo nhận định chủ quan, chúng tôi có một vài gợi ý như sau:

a. Nghiên cứu Trung Quốc.

Đối với số tư liệu Minh Thực lục hiện có, phối hợp thêm các nguồn khác ở bối cảnh thời Minh được viết trong thời Minh hoặc được viết sau thời Minh để nghiên cứu về quan điểm viết/chép sử (Lịch sử quan) đương thời , hoặc sự tác động và mức độ ảnh hưởng của loại sử liệu Minh Thực lục đối với các tác phẩm lịch sử sau này …

b. Nghiên cứu nguồn sử liệu Minh Thực lục

Dù sao, sử liệu Minh Thực lục vẫn là nguồn từ bên ngoài. Để việc ứng dụng ngày càng khoa học và gần với sự thực lịch sử dân tộc, cần phải đầu tư thời gian nghiên cứu, từng bước có thể phân định đúng/sai, chính xác/không chính xác, loại nào (hay cụ thể hơn là v.b nào) có thể sử dụng và sử dụng cho loại hình/trường hợp nào… Trong quá trình hiệu đính và chú thích, tôi nhận thấy rằng có nhiều trường hợp phải căn cứ vào Minh Thực lục để cải chính những nhầm lẫn sai sót trong sử Việt, như tên người Trung Hoa, địa danh Trung Hoa thì chúng ta phải thừa nhận Toàn thư hoặc Cương mục chép sai, nếu khác Minh Thực lục và ngược lại tên người Việt, địa danh Việt thì phải căn cứ nguồn sử liệu Việt để cải chính Minh Thực lục. Thí dụ như trong v.b [91], cách ghi chép thiếu trật tự về địa lý hành chính đối với các khu tự trị vùng biên giới tây nam Trung Hoa và lại đặt lẫn lộn với các quốc gia Triều Tiên, An Nam, Tiêm La, cho thấy kiến thức của các sử quan cũng có chỗ lơ mơ[18]. Tuy nhiên đó mới chỉ là những nhận biết ban đầu, nếu đào sâu phân tích về tính hợp lý (logic) của sự kiện và mạch sử liệu hẳn sẽ có thêm nhiều vấn đề khác tinh tế hơn.

Đối với chúng ta, nghiên cứu nguồn sử liệu Minh Thực lục hoặc các nguồn sử liệu khác có cùng xuất xứ lại là việc quan trọng và cần thiết, một mặt giúp cho số đông yên tâm hơn khi sử dụng nguồn tư liệu ấy, mặt khác có thể dự phần nghiên cứu Trung Quốc cùng với các nước trong khu vực Đông Nam Á hoặc trong vùng ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc.

c. Nghiên cứu tương quan Đại Việt – Champa – Đông Nam Á trong sử liệu Minh Thực lục

Với số tư liệu Minh Thực lục hiện có, phối hợp với bản dịch bài nghiên cứu “Minh Thực lục, một nguồn sử liệu Đông Nam Á” (Geoff Wade), có thể nghiên cứu về sự tương quan giữa các nước trong khu vực vào thế kỷ XIV đến XVII, việc này có nhiều thuận lợi vì có thể tham khảo công trình của NUS. Mặt khác, vì cùng khai thác một nguồn với NUS, nên chúng ta sẽ rút được nhiều kinh nghiệm của họ hoặc có thể sẽ cải chính những sai lạc đối với phần sử liệu liên quan Việt Nam trong bản tiếng Anh.

IV.5. Một số khiếm khuyết của “Minh Thực lục: Quan hệ Trung Quốc-Việt Nam thế kỷ XIV-XVII

Minh Thực lục: Quan hệ Trung Quốc-Việt Nam thế kỷ XIV-XVII” là một sưu tập sử liệu, tự nó không là một tác phẩm lịch sử mà chỉ là chất liệu – phần nào mang tính cơ bản – nhằm phục vụ cho các sách sử và các công trình nghiên cứu sử. Vì mang tính chất ấy nên yêu cầu trên hết là phải trung thực và chính xác. Nhận thức được điều này, nhóm thực hiện (chúng tôi) đã cố hết sức với mong muốn có được một công trình tương đối khá về chất lượng nhằm trước là để phục vụ nhu cầu tư liệu của mình và sau là chia sẻ với độc giả.

Về bản dịch, tất nhiên khó tránh được sai lầm hoặc thiếu sót, là loại sử liệu tổng hợp, nội dung đề cập khá nhiều lĩnh vực, gồm chính trị, kinh tế, quân sự, giáo dục, nhân vật, địa lý, văn hóa, xã hội. Mỗi lĩnh vực lại có khi đề cập đến chuyên môn, nên bản dịch này, ngoài những sai lầm về văn nghĩa, chắc hẳn sẽ có những khiếm khuyết ở phần thuật ngữ chuyên ngành.

Về phần chú thích, các chú giải cho rõ nghĩa và kê cứu mở rộng thật sự chưa thỏa đáng, còn nhiều nơi đáng ra phải chú thích mà tôi đành bó tay. Thí dụ như v.b [314], xuất hiện một loại thuyền ở Đại Việt tên “Đằng Bộ 藤 步” [Đằng: dây mây; Bộ: bước chân/bãi ven nước] có thể hiểu mang máng rằng loại thuyền này dùng vật liệu dây mây cho một bộ phận nào đó (?), tuy nhiên hiểu như thế không thể cho vào chú giải được. Từ điển tổng hợp và chuyên ngành sử của Trung Quốc cũng không đến độ chi tiết để có thể tra cứu. Tư liệu Đại Việt thời Trần thì ghi chép rất sơ sài về công nghệ, đến mãi thời Lê Trung hưng thì thấy Phan Huy Chú chép về các đội thuyền ngoại binh có loại Đằng trung, Đằng tiểu, (Binh chế chí), tuy nhiên đó lại là hiệu thuyền [còn Đằng bộ thì là tên thuyền]. Tương tự như trên ta thấy trong v.b [794], v.b này nói về chuyện quân Lam Sơn tấn công thành Xương Giang đã dùng các loại chiến cụ như: Ô Quy Ba 烏 龜 芭, Lữ Công Xa 吕 公 車, Vân Thê 雲 梯. Trong mấy loại này chỉ có Vân Thê/thang mây là chiến cụ công thành phổ biến, từ điển Trung Quốc có cả hình vẽ, còn “Ô Quy Ba” thì dịch tạm là “hàng rào rùa đen”, tuy có hơi mô hồ, nhưng không có cơ sở để hiệu đính và giải thích nên cũng đành cho qua. Có thể các loại hình chiến cụ này có xuất xứ từ Trung Quốc, khi sang ta được gọi bằng tên khác nên khó tra cứu tài liệu Trung Quốc. Cũng có thể đó là những chiến cụ do người Việt chế tạo theo giải pháp tình thế rồi quên đi. Đối với những chi tiết tương tự như trên, chúng tôi vẫn lưu ý để tìm hiểu thêm, nhằm bổ sung cho lần tái bản. Phần mở rộng đối chiếu sử Việt, do điều kiện về thời gian nên cũng chưa được chu đáo.

Về lịch pháp, bởi “Lịch có quan hệ mật thiết với sử. Lịch và sử phải tương trợ kiểm soát nhau”[19], tôi lưu ý các quy đổi từ lịch can chi sang dương lịch trong các đầu mục mỗi v.b. Thời gian của bối cảnh sự kiện và kể cả thời gian sử quan biên chép về các sự kiện ấy đều nằm trong khoảng áp dụng lịch Đại Thống, vốn kế thừa phép tính của lịch Thụ Thời (chỉ đổi tên lịch từ Thụ Thời thành Đại Thống). Theo thời đại thì Nguyên (Thụ Thời) và Minh (Đại Thống) kế tục, sử liệu không sai lệch nhiều về ngày, tháng nếu sử gia biên chép cẩn thận. Những chỗ đáng ngờ chúng tôi đã kiểm tra lại theo bảng lập thành có uy tín là sách “Lưỡng thiên niên Trung – Tây lịch đối chiếu biểu[20]. Tuy nhiên, đó chỉ là phần đúng của lịch Trung Hoa với Dương lịch tức chỉ là phần ngọn. Gốc của vấn đề lại là lịch Trung Hoa đối với lịch Việt, rất ít sự kiện trùng khớp (ngày) tháng giữa Minh Thực lụcToàn thư [Toàn thư chỉ ghi tháng và năm, rất ít sự kiện được ghi ngày]. Có nhiều sự kiện trùng khớp mà chênh lệch vài tháng, có khi cả năm. Một chi tiết trong Toàn thư cho thấy nhà Trần – Hồ dùng lịch khác tên với lịch Trung Hoa: “Năm Tân Tỵ [1401] (Hồ Hán Thương Thiệu Thành thứ I; Minh Kiến Văn thứ 3). Mùa xuân, tháng 2…Hán Thương đổi lịch Hiệp Kỷ của nhà Trần dùng lịch Thuận Thiên” (Tập 2, tr. 210). Điều này cho thấy thời Trần – Hồ có khi hệ thống lịch pháp của ta khác Trung Quốc, tuy nhiên nếu sự sai lệch ngày, tháng theo một chu kỳ tương đối thì mới có thể kết luận về phép áp dụng lịch trong sử. Vấn đề chênh lệch ngày, tháng, năm giữa sử Việt và Minh Thực lục đành phải dừng lại ở các chú thích đối chiếu để lưu ý. Trong một văn bản, chúng tôi thấy sử quan Minh Thực lục chép sai ngày [can chi] trong tháng mà v.b nêu, tức là sự lập lại không hợp phép tính. Từ chi tiết này cũng có thể suy đoán về mức độ chính xác của ngày tháng có phần là do sử quan. Tuy nhiên, việc này phải nghiên cứu thêm mới có thể đi đến kết luận. Trong sách này, chúng tôi cho vấn đề lịch pháp quan trọng chưa khảo sát đến nơi là một khiếm khuyết.

Chúng tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo và góp ý về các khuyết điểm nêu trên và những sai phạm khác mà độc giả nhận thấy.

Lời kết

Minh Thực lục là tập hợp sử liệu về nhà Minh, được viết bởi các sử quan đương thời, nội dung bao quát cả chế độ chính trị và những hoạt động xã hội một triều đại. Với một khối lượng đồ sộ, Minh Thực lục là một kho tư liệu cơ bản giúp ích rất nhiều cho việc biên soạn và nghiên cứu sử ở Trung Quốc. Trước đây, giới sử học Việt Nam đã từng biết đến nguồn tài liệu Minh Thực lục và đã trích dịch phần nào để ứng dụng vào việc biên soạn lịch sử nước nhà. Minh Thực lục: Quan hệ Trung Quốc-Việt Nam thế kỷ XIV-XVII là bản dịch tập hợp hầu hết các sử liệu Minh Thực lục có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến lịch sử Việt Nam. Tập tư liệu này, ngoài mục đích bổ sung cho sử Việt, nó còn khơi gợi những nghiên cứu lâu dài về nhiều lĩnh vực, trong đó có cả việc phải nghiên cứu chính nó, tức nghiên cứu về nội hàm sử liệu Minh Thực lục.

Sử thần Cao Xuân Dục từng dẫn lời người xưa rằng: ”Việc cần bàn rất rộng mà không đặt gốc ở lý gọi là tiền tung tán không có dây xâu; bàn luận sâu xa mà không thiết thực với công việc thì chỉ là bàn suông, vồ trăng đáy nước; viết hết sức mà trống rỗng thường là chỗ lệch của người lập ngôn vậy”[21]. Chúng tôi muốn mượn hình tượng sợi dây xâu những đồng tiền tung tán trong lời nói trên để ví công việc của mình qua hình thức tập sử liệu này, và mong rằng, chính quý độc giả là những người sẽ đưa tập sử liệu này vào những mục tiêu phát triển học thuật với hiệu quả thật cao.

Sài Gòn, tháng 7/2009 – tháng 4/2010

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Tiền Mục, Trung Quốc lịch sử nghiên cứu pháp, Tam Liên thư điếm, Bắc Kinh, 2001.

2.     Tiễn Bá Tán, Trung Quốc sử luận tập, Quốc tế văn hóa phục vụ xã, Thượng Hải, 1947.

3.     Lương Khải Siêu, Trung Quốc lịch sử nghiên cứu pháp & Tân sử học, Trung Quốc hiện đại học thuật kinh điển, Hà Bắc Giáo dục Xuất bản Xã (xbx), Thạch Gia Trang, 1996.

4.     Đặng Quảng Minh (chủ biên), Trung Quốc lịch sử nghiên cứu tri thức thủ sách, Hà Nam Nhân dân xbx, 1990.

5.     Tạ Quý An, Minh Thực lục nghiên cứu, Hồ Bắc Nhân dân xbx, 2003.

6.     Môn Khuy (chủ biên), Trung Quốc lịch đại văn hiến tinh túy đại điển, Học uyển xbx, Bắc Kinh, 1991.

7.     Hoàng Trác Việt, Tang Tư Phấn (chủ biên), Trung Quốc đại thư điển, Trung Quốc Thư điếm xuất bản, Hà Bắc, 1994.

8.     Trịnh Thiên Đĩnh, Ngô Trạch, Dương Chí Cửu (chủ biên), Trung Quốc lịch sử đại từ điển, Thượng Hải Từ thư xbx, 2000.

9.     Trần Khánh Kỳ, Trung Quốc đại sự niên biểu, Thương vụ ấn thư quán, Hương Cảng, 1964.

10.  Sử thần đời Lê, Đại Việt Sử ký toàn thư, Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, chú giải và khảo chứng, nxb KHXH, Hà Nội, 1967.

11.  Đặng Thai Mai, Xã hội sử Trung quốc, nxb KHXH, Hà Nội, 1994.

12. Geoff Wade, Ming Shi-lu as a source for Southeast Asian History, http://epress.nus.edu.sg/msl.

13.  Geoff Wade, Minh Thực lục, một nguồn sử liệu Đông Nam Á, Trần Công Khanh dịch – Phạm Hoàng Quân hiệu chú, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, sở Khoa học và công nghệ Thừa Thiên Huế, số 1, 2, 3 (78, 79, 80) 2010.

© 2010 Phạm Hoàng Quân

© 2010 talawas


[1] Xem lại phần tổng quan về Minh Thực lục.

[2] Sau Dương Sĩ Kỳ chỉ có Trương Cư Chính làm Tổng tài của hai bộ Thế TôngMục Tông Thực lục.

[3] v.b [191], ngày 1/2 năm Vĩnh Lạc 5 (10/3/1407), Thái Tông Thực lục, q. 64, tr. 1a.

[4] v.b [194] ngày 10/3 năm Vĩnh Lạc 5 (17/4/1407), Thái Tông Thực lục, q. 65, tr. 1b-2a.

[5] v.b [203], ngày 1/6 năm Vĩnh Lạc 5 (5/7/1407), Thái Tông Thực lục, q. 68, tr. 1a-2b; v.b[204], ngày 1/6 năm Vĩnh Lạc 5 (5/7/1407), Thái Tông Thực lục, q. 68, tr. 2b-7a.

[6] v.b [272] ngày 7/8 năm Vĩnh Lạc 6 (31/8/1408), Thái Tông Thực lục, q. 82, tr. 5a-5b; v.b [275] ngày 19/8 năm Vĩnh Lạc 6 (8/9/1408), Thái Tông Thực lục, q. 82, tr. 6b-7a.

[7] v.b [664] ngày 27/11 năm Hồng Hi 1 (5/1/1426), Tuyên Tông Thực lục, q. 11, tr. 11b- 12a.

[8] v.b [663] ngày 26/11/ năm Hồng Hi 1 (4/1/1426), Tuyên Tông Thực lục, q. 11, tr. 10a-10b.

[9] v.b [686] 2/4 năm Tuyên Đức 1 (8/5/1426), Tuyên Tông Thực lục, q. 16, tr. 1a.

[10] v.b [680] 13/3 năm Tuyên Đức 1 (20/4/1426), Tuyên Tông Thực lục, q. 15, tr. 6b.

[11] v.b [688] 2/4 năm Tuyên Đức 1 (8/5/1426), Tuyên Tông Thực lục, q. 16, tr. 1a.

[12] v.b [690] 3/4 năm Tuyên Đức 1 (9/5/1426), Tuyên Tông Thực lục, q. 16, tr. 1b.

[13] v.b [691] 3/4 năm Tuyên Đức 1 (9/5/ 1426), Tuyên Tông Thực lục, q. 16, tr. 1b-2a.

[14] “lời nói của Hoàng đế” và “hành động của Hoàng đế” được chép lại bởi sử quan theo hầu bên tả và bên hữu Hoàng đế, loại sử liệu này gọi là Khởi cư chú.

[15] Hầu hết các khảo chứng này không thấy bản dịch Toàn thư xuất bản năm 1993 sử dụng lại.

[16] Xem v.b [103], ngày 21/2 năm Hồng Vũ 30 (20/3/1397), Thái Tổ Thực lục, q. 250, tr. 3b-7a; v.b [132], ngày 26/6 năm Vĩnh Lạc 3 (22/7/1405), Thái Tông Thực lục, q. 43, tr. 4a-4b.

[17] Việc khảo chứng có ý nghĩa khảo sát nhiều tư liệu để đối chứng, vì vậy có thể được xem là “chú thích” ở cấp độ sâu hơn, mặt khác khảo chứng lại là cơ sở cho một số loại hình nghiên cứu.

[18] v.b [91], ngày 1/1 năm Hồng Vũ 26 (12/2/1393), Thái Tổ Thực lục, q. 224, tr. 1a.

[19] Hoàng Xuân Hãn, Lịch và lịch Việt Nam, “Phẩm bình và gợi ý về sách Bảng đối chiếu”, KHXH, H., 2003.

[20] Tiết Trọng Tam, Âu Dương Di. Thương vụ ấn thư quán, Hương Cảng, 1961.

[21] lời Tựa, Nhân thế tu tri, nxb Văn học, H., 2001.

Bình luận

Không có phản hồi (bài “Phạm Hoàng Quân – “Minh Thực lục” và sách “Minh Thực lục: Quan hệ Trung Hoa –Việt Nam thế kỷ XIV-XVII” (3)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...