talawas blog

Chuyên mục:

Susanne K. Langer – Triết học trong một yếu tố mới

12/10/2010 | 1:28 sáng | Comments Off on Susanne K. Langer – Triết học trong một yếu tố mới

Tác giả: Cao Hùng Lynh

Chuyên mục: Tư tưởng
Thẻ:

Cao Hùng Lynh dịch

Chào đời tại New York năm 1895 trong một gia đình cha mẹ là người Đức, Susanne theo học tại đại học Radcliffe, nơi bà nhận hai văn bằng cử nhân văn khoa và tiến sĩ, rồi tiếp tục dạy tại khoa triết mười lăm năm. Sau năm năm dạy tại đại học Columbia và năm năm làm giảng sư thỉnh giảng tại các đại học Northwestern, bang Ohio, Washington và Michigan, bà trở thành giáo sư triết tại đại học Connecticut vào năm 1954.

Theo lời Langer, giai đoạn quan trọng nhất trong công việc dạy triết của bà là mười năm nghiên cứu về luận lý học biểu tượng. Sự ảnh hưởng của cuộc nghiên cứu này đối với quan điểm của bà là điều hoàn toàn dễ nhận thấy. Là tác giả của The Practice of Philosophy (1930), Introduction to Symbolic Logic (1937), Philosophy in a New Key (1942) và Feeling and Form (1953), bà Langer đã gây được sự chú ý trong giới triết gia trên toàn quốc khi xuất bản cuốn Philosophy in a New Key. Cuốn sách này đã đưa đến việc Sáng hội Rockefeller cấp cho bà Langer một khoản tài trợ để bà có thể phát triển một cách trọn vẹn hơn triết lý mỹ học được đề cập trong tác phẩm của bà. Feeling and Form là kết quả của sự phát triển đó.

“Yếu tố mới” trong triết học, theo bà Langer, được cung cấp bởi vai trò quan yếu của chủ nghĩa tượng trưng trong đời sống và tư tưởng con người – không chỉ trong hội họa, tôn giáo và văn chương, mà còn trong khoa học, luận lý học và tâm lý học thâm viễn (depth psychology). Bà chỉ ra rằng bởi vì trong thế hệ hiện nay, chúng ta đã đánh mất sự tiếp xúc với các biểu tượng của cuộc sống, những biểu tượng đã ủng hộ tổ tiên chúng ta về phương diện tinh thần, cho nên chúng ta cảm thấy càng lúc càng khó khăn trong việc khám phá ý nghĩa và cứu cánh của cuộc đời. Khi nhận thấy rằng ý nghĩa được phát biểu không chỉ bằng ngôn ngữ, mà còn bằng các “hình thức biểu tượng,” thì đó là lúc một sự tái định hướng trong triết học đang bắt đầu diễn ra trong thời đại chúng ta. “Yếu tố mới trong triết học không phải là cái mà tôi đã đưa ra,” bà Langer viết, “Người ta đã đưa nó ra một cách rõ ràng và liên tục. Cuốn sách này được viết chỉ để minh họa cho sự việc chưa được nhìn nhận đó: một yếu tố mới, và để cho thấy các chủ đề chính của tư tưởng chúng ta được đưa vào đó như thế nào.” Hai trích đoạn từ Philosophy in a New Key sẽ nói lên điểm nhấn mạnh quan trọng này, đồng thời chỉ ra cái ý nghĩa của quan niệm này đối với sự hiểu biết về nghệ thuật.

I

Mọi thời đại trong lịch sử triết học đều có mối ưu tư riêng. Các vấn đề của nó đều có tính chất đặc thù, không phải vì các lý do thực tế – chính trị và xã hội – mà vì nhiều lý do sâu xa hơn trong sự phát triển tri thức. Nếu nhìn lại diễn trình hình thành và tích lũy chậm chạp của những học thuyết tiêu biểu cho một thời kỳ lịch sử, chúng ta có thể nhận ra một số nhóm tư tưởng nào đó trong nó, không phải qua đề tài, mà qua một yếu tố chung tinh tế hơn, một yếu tố được gọi là “kỹ pháp” của các nhóm tư tưởng. Chính cách thức giải quyết vấn đề, chứ không phải những gì các nhóm tư tưởng ấy nói về, đã làm cho chúng – các nhóm tư tưởng – gắn chặt với một thời đại nào đó. Đề tài của chúng có thể mang tính ngẫu nhiên và tùy thuộc vào những cuộc khám phá, những cuộc chinh phục, những trận dịch bệnh hoặc vào nhà cầm quyền; nhưng cách giải quyết đề tài của chúng luôn luôn khởi phát từ một nguồn gốc ổn định hơn rất nhiều.

“Kỹ pháp,” hay cách giải quyết, một vấn đề thường bắt đầu bằng sự biểu đạt như là một câu hỏi. Cách một câu hỏi được hỏi luôn luôn được phơi bày và giới hạn trong các cách thức mà qua đó câu trả lời – dầu đúng hay sai – có thể được đưa ra. Nếu hỏi: “Ai tạo nên thế giới này?” chúng ta có thể trả lời: “Thượng đế đã tạo ra nó,” “Sự ngẫu nhiên đã tạo ra nó,” “Tình yêu và lòng hận thù đã tạo ra nó.” Nhưng nếu trả lời: “Không ai tạo ra nó,” chúng ta sẽ bị cáo buộc đang cố làm ra vẻ bí ẩn, thông minh hoặc thiếu cảm thông. Trong trường hợp này, nhìn bề ngoài, hình như chúng ta vừa đưa ra một câu trả lời; nhưng trên thực tế, chúng ta đã phản đối câu hỏi. Người hỏi sẽ cảm thấy bị yêu cầu lặp lại câu hỏi của mình. “Vậy thì làm thế nào để thế giới trở thành cái như hiện nay?” Nếu chúng ta đáp: “Nó chẳng ‘trở thành’ gì cả,” anh ta sẽ thực sự khó chịu. Câu “trả lời” này rõ ràng đã khước từ cái khuôn mẫu tư duy của anh ta, đã thoái thác các khuynh hướng suy nghĩ, các giả định nền tảng mà anh ta luôn luôn nuôi dưỡng như là những quan niệm có tính chất lẽ thường về vạn vật. Mọi thứ đã trở thành cái chúng đang là; mọi thứ đều có duyên do; mọi sự đổi thay đều phải đi đến một cứu cánh nào đó; thế giới này là một sự vật và có lẽ đã được kiến tạo bởi tác lực nào đó, từ một nguyên nhân ban đầu và vì một lý do nào đó. Tất cả những điều này đều là những cách thức suy tư tự nhiên. Những lối suy tư tiềm ẩn như thế không hề được người bình thường thú nhận, nhưng anh ta lại tin theo một cách hết sức dễ dàng. Anh ta không dựa trên một nguyên lý căn bản nào cả. Đây là cái mà người Đức gọi là “Weltanschauung,” một thái độ của tâm thức, chứ không phải là tín điều. Chúng – những lối suy tư như trên – đã hình thành quan điểm của anh ta; chúng bí ẩn hơn những sự thật mà anh ta có thể nhận thấy, hoặc những ý kiến mà anh ta có thể nêu ra để bàn luận.

Mặc dầu không được tuyên xưng, nhưng chúng tìm cách thể hiện dưới hình thức các câu hỏi. Thực ra, câu hỏi chính là sự gợi ý mơ hồ; câu trả lời là sự xác quyết cho câu hỏi. Chỉ có thể có một số chọn lựa nào đó sẽ hoàn tất ý nghĩa của nó. Bằng cách này, sự giải quyết về phương diện lý trí dành cho các dữ kiện, các trải nghiệm, các đề tài sẽ được định đoạt bởi bản chất của câu hỏi và được thực hiện trong câu trả lời.

Trong triết học, sự xếp đặt các vấn đề là điều quan trọng nhất mà một trường phái, một trào lưu hoặc một thời đại góp phần tạo ra. Đây là “tài nghệ” của một hệ thống triết lý lớn; theo quan niệm của nó, nhiều hệ thống sẽ xuất hiện, chi phối và lụi tàn. Do vậy, đặc tính của triết lý là sự hệ thống hóa, hơn là sự giải quyết các vấn đề. Câu trả lời của nó sẽ thiết lập một dinh thự của sự thật; nhưng câu hỏi của nó tạo ra khung sườn, trong đó bức tranh sự thật được phác họa. Chẳng những tạo ra khung sườn, các câu hỏi còn cung cấp góc nhìn, sắc thái, và phong cách mà theo đó bức tranh được vẽ. Các câu hỏi của chúng ta đã chứa đựng sẵn trong chúng các nguyên lý phân tích, và câu trả lời của chúng ta sẽ diễn tả bất cứ cái gì mà các nguyên lý này có thể đưa ra.

Có một đoạn văn trong tác phẩm Science and the Modern World của Whitehead đã trình bày hành động định trước này của tư tưởng. “Khi bạn đang phê bình triết lý của một thời đại,” giáo sư Whitehead nói, “đừng chú ý nhiều đến những quan điểm tri thức mà người biện minh cho triết lý ấy cảm thấy cần phải biện hộ cho nó một cách dứt khoát. Luôn luôn có một số giả định nền tảng mà những kẻ trung thành của các hệ thống triết lý khác nhau trong thời đại đó sẽ ước định một cách vô thức. Các giả định như thế thường mang tính hiển nhiên, đến nỗi người ta không hề biết những điều mà chúng đang giả định, bởi vì chẳng còn cách diễn đạt nào khác được đặt ra cho chúng. Nhờ vào các giả định này, một số hệ thống triết lý sẽ tồn tại, và những hệ thống triết lý loại này sẽ hình thành nền triết học của thời đại đó.”

Cách đây vài năm, giáo sư C. D. Burns cho đăng một bài báo rất hay có nhan đề là “The Sense of the Horizon,” trong đó ông đã áp dụng rộng rãi hơn nguyên lý này. Ông đã nói rõ rằng mọi nền văn minh đều có những giới hạn về sự hiểu biết – những giới hạn về nhận thức, cảm xúc, phản ứng và tư tưởng. Xin trích một đoạn như sau:

Kinh nghiệm của mỗi thời điểm đều có đường chân trời của nó. Kinh nghiệm của ngày hôm nay, cái không phải của ngày mai, mang trong nó một số hàm ý và những gợi mở mà sẽ dẫn đến kinh nghiệm của ngày mai. Kinh nghiệm của mỗi người đều có thể được bổ sung bằng kinh nghiệm của người khác, những người đang sống cùng thời đại với anh ta, hoặc trước đó; và như thế, một thế giới kinh nghiệm chung, lớn hơn cái thế giới nằm trong sự quan sát của riêng anh ta, sẽ là cái thế giới mà mỗi người đều có thể sống trong đó. Nhưng cho dù có rộng đến đâu đi chăng nữa, thì cái thế giới ấy cũng phải có đường chân trời của nó; và tại đường chân trời đó, kinh nghiệm mới sẽ nảy sinh…

Các triết gia của mọi thời đại đều tìm cách mô tả càng nhiều kinh nghiệm càng tốt. Một vài triết gia đã làm ra vẻ rằng những gì họ không lý giải được đều không hiện hữu; nhưng hầu hết các triết gia lớn đều cho rằng có nhiều thứ hiện hữu mà họ không thể giải thích, và vì thế, đã ký trước giấy khai tử cho các triết lý của mình, nếu như chúng chưa lỗi thời.

II

Sự kết thúc một thời đại triết học thường xuất hiện bằng tình trạng kiệt quệ của các khái niệm của nó. Khi tất cả mọi câu hỏi có thể giải đáp, những câu hỏi có thể được phát biểu một cách có hệ thống bằng các thuật ngữ của nó, đã bị lạm dụng, thì chúng ta chỉ còn lại những vấn đề mà đôi lúc được gọi là “siêu hình” theo nghĩa xấu – những vấn đề không giải quyết được mà việc phát biểu nó chỉ đem đến những điều nghịch lý. Sự kỳ quặc của những ngụy-vấn-đề như thế nằm ở chỗ chúng có thể mang lại nhiều lời giải đáp đúng đắn như nhau, những lời giải đáp thủ tiêu lẫn nhau. Một lời giải đáp từng được đưa ra thường thu phục được một số người ủng hộ nào đó, bất chấp sự thật rằng nhiều người đã chứng minh nó đã sai trái và không còn thích hợp nữa; vì các giải pháp đối nghịch với nó cũng có nhược điểm tương tự, nên sự chọn lựa một trong số chúng đều dựa trên những lý do rất cảm tính. Chúng không phải là những khám phá tri thức, giống như những câu trả lời tốt cho những câu hỏi thích đáng, mà chỉ là những học thuyết. Tại điểm này, triết học trở nên có tính học thuật; lời lẽ của nó, kể từ đây, chỉ là những phản luận; sinh khí của nó nằm ở sự tranh cãi, hơn là ở sự suy tư cá nhân; tính chiếu cố đến lý lẽ của kẻ khác được cho là quan trọng hơn tính quả quyết; và toàn bộ trọng tâm sẽ được chuyển từ các vấn đề triết học thực sự sang các đề tài ngoài lề — phương pháp luận, sự phát triển tinh thần, địa vị của triết gia trong xã hội, sự biện giải cho tôn giáo.

Dòng chảy tư tưởng triết học, một lần nữa, đã cạn kiệt. Ít nhất trong suốt năm mươi năm qua, chúng ta đã chứng kiến tất cả các triệu chứng dễ nhận thấy, những triệu chứng đánh dấu sự kết thúc của một thời đại; đó là sự đồng nhất tư tưởng với các loại “chủ nghĩa” càng lúc càng lòe loẹt, sự ồn ào nơi các môn đồ của những chủ nghĩa này, sự bảo vệ triết học như là một cứu cánh quan trọng và khả kính, sự gia tăng các hội nghị chuyên đề, và sự tràn ngập các bài phê bình chỉ dựa trên văn bản, các bài nghiên cứu, sự đại chúng hóa và các cuộc khảo cứu chung. Người có học bình thường không hề vồ lấy một cuốn sách triết mới, giống như người ta đã từng làm như thế đối với Leviathan, Critiques, hay The World as Will and Idea. Anh ta không còn trông mong thông tin tri thức từ một vị giáo sư đại học. Đúng hơn là, điều anh ta trông mong là được thuyết phục để chấp nhận các chủ nghĩa duy tâm, duy thực, thực dụng hoặc duy lý như là niềm tin của mình. Một lần nữa, chúng ta đã tìm đến những lý lẽ của sự tuyệt vọng ngõ hầu tìm ra một niềm tin hợp lý.

Nhưng một người bình thường và có niềm tin, thực ra, không hề quan tâm đến việc niềm tin ấy có hợp lý hay không. Anh ta dùng lý trí chỉ để làm thỏa mãn tính hiếu kỳ của mình – và triết học, trong hoàn cảnh hiện nay, lại không hề khơi dậy, huống hồ chi là làm thỏa mãn, tính hiếu kỳ ấy. Nó chỉ làm cho anh ta hoang mang bằng bằng những vấn đề rắc rối và không thực tế. Lý do không phải vì anh ta là một kẻ ngu đần hay quá bận rộn, đến nỗi không thể thưởng ngoạn triết học. Đó chỉ là vì các tư tưởng tạo sinh (generative ideas) của thế kỷ mười bảy – “thế kỷ của thiên tài,” theo cách nói của giáo sư Whitehead – đã hoàn tất thời kỳ của chúng. Những trở ngại cố hữu trong các ý niệm căn bản của chúng hiện đang cản trở chúng ta; những nghịch lý của chúng đang bít lối suy tư của chúng ta. Nếu muốn có một nguồn tri thức mới, chúng ta phải đặt ra cho mình những câu hỏi mới.

Trong khi đó, cái thời đại triết lý đang hấp hối hiện nay đang bị lu mờ trước một thời đại khoa học và kỹ nghệ có tính cách năng động dị thường. Các nguồn gốc của tư duy khoa học của chúng ta đang vươn trở về, khi vượt qua toàn bộ giai đoạn triết học chủ quan và chủ nghĩa duy nghiệm, đặc tính hướng ngoại của thời kỳ Phục hưng. Bất chấp sự phản đối của các nhà tư tưởng, bất chấp tiếng kêu gào của các nhà đạo đức và thần học trong việc chống lại triết thuyết duy vật thô lậu và đặc tính duy cảm của các khoa học gia, vật lý học phát triển như cây đậu của Jack và phủ bóng lên tất những thứ mà tư tưởng con người tạo ra để cạnh tranh với nó. Sự ưa thích quan sát đã thay thế lòng say mê tranh luận học thuật, và nhanh chóng phát triển một phương pháp thực nghiệm có thể cung cấp cho nhân loại gấp ba lần các sự kiện. Các ứng dụng thực tế của tri thức cơ khí đã sớm được truyền bá rộng rãi và củng cố chỗ đứng của nó bên ngoài các viện đại học. Các ích lợi truyền thống của triết học giờ đây không thể theo kịp tri thức cơ khí, bởi vì chúng đã hoàn toàn lùi vào để trú ẩn trong kho tàng tri thức không được nhiều người biết đến: học đường. Không còn ai thực sự quan tâm nhiều đến tính nhất quán trong sự định nghĩa các thuật ngữ, đến các khái niệm chính xác, hoặc đến suy luận hình thức. Các giác quan, vốn từ lâu bị khinh miệt và liệt vào lãnh địa của quỷ ma, giờ đã được nhìn nhận như là những kẻ tôi tớ đắc lực nhất của con người, và được giải thoát khỏi tình trạng bị ghét bỏ ngày xưa để phục dịch con người trong cuộc phiêu lưu mới của anh ta. Chúng tỏ ra hữu hiệu cho đến nỗi không chỉ cung cấp một số lượng vô cùng to lớn những điều đáng suy nghĩ cho tinh thần con người, mà còn nắm trong tay phần lớn các vấn đề nhận thức của nó. Tri thức nảy sinh từ kinh nghiệm giác quan được xem là loại tri thức duy nhất làm chứng cho chân lý, bởi vì chân lý, đối với cách suy nghĩ hiện đại, đã bị đồng nhất với sự thật duy nghiệm.

Giữa nỗi ưa thích khám phá sự thật duy nghiệm, không ai thấy rằng toán học cổ đại đã đi theo con đường tĩnh mịch của lý trí thuần túy. Nó thừa nhận một cách tinh tế các nhu cầu của tư duy khoa học; nó vừa xứng với cái thế giới sự kiện đã được con người quan sát, vừa xứng đến nỗi những kẻ học và sử dụng nó không bao giờ dừng làm điều đó để cáo buộc những người đã khám phá và phát triển nó là những người chỉ biết lý luận, để cáo buộc nó không có những dữ kiện xác thực có thể sờ mó được. Tuy nhiên, một số nhà duy nghiệm có lương tâm, những người nghĩ rằng các nền tảng dựa trên dữ kiện cần phải được thiết lập cho toán học, lại là những kẻ làm cho toán học trở nên nghèo nàn. Ít nhà toán họa nào thực sự nghĩ rằng nhờ vào quan sát mà người ta khám phá ra các con số, hoặc rằng các tương quan hình học mà chúng ta biết đến bằng suy luận quy nạp là nhờ vào quan sát. Nhà vật lý có thể nghĩ về một số sự kiện nào đó để thay thế cho hằng số và biến số, nhưng chính các hằng số và biến số ấy sẽ được dùng, trong một địa hạt khá, để tính toán những sự kiện khác, và nhà toán học không hề tỏ ra thiên vị đối với một hệ thống dữ kiện nào. Họ chỉ đề cập đến những thứ hoàn toàn không liên quan gì đến các đặc tính cảm quan: “dữ kiện” của họ là những thanh âm hoặc dấu hiệu tùy ý được gọi là biểu tượng.

Đằng sau những biểu tượng này là những ý niệm trừu tượng nhạt nhẽo, thuần khiết và đậm nét nhất mà con người từng tạo ra. Chưa một nhà triết học nào, khi suy niệm về bản thể và thuộc tính, từng tiếp cận một cái gì có sự trừu tượng tương tự như sự trừu tượng của đại số học. Tuy nhiên, các khoa học gia, những kẻ thường tự hào về sự hiểu biết dựa trên dữ kiện cụ thể của họ, những kẻ từng tuyên bố sẽ phản đối bất cứ bằng chứng nào ngoại trừ những bằng chứng thực nghiệm, lại không hề do dự trong việc thừa nhận những chứng minh, những tính toán, những thực thể vô hình, đôi khi còn được gọi là “hư cấu” một cách công khai, của nhà toán học. Số zéro và vô cực, căn bậc hai của số âm, độ dài vô ước và chiều thứ tư của không gian; tất cả những thứ này đều không bị chất vấn trong phòng thí nghiệm.

Điều gì làm nên sức mạnh bí ẩn này của toán học, một sức mạnh đánh gục các nhà duy nghiệm cứng đầu, một sức mạnh chiến thắng những niềm tin mãnh liệt nhất của họ, một sức mạnh đưa họ đến những suy niệm thuần lý tính và những “sự kiện” không thể sờ mó được? Nhà toán học hiếm khi nào là những người thực dụng, và cũng không phải là những kẻ giỏi quan sát các biến cố. Họ có dễ trở thành những người tự giam mình trong bốn bức tường, giống như triết gia và nhà thần học. Tại sao các ý niệm trừu tượng của họ không chỉ được xem là những dữ kiện đúng đắn, mà còn là những dữ kiện căn bản và tuyệt đối cần thiết đối với những kẻ quan sát các tinh cầu trên trời hoặc các cuộc thí nghiệm hóa học?

Sự bí ẩn nằm ở chỗ nhà toán học không hề tuyên xưng bất cứ điều gì về sự tồn tại hay tính hiệu quả của sự vật. Điều ông ta quan tâm là khả năng biểu tượng hóa sự vật và biểu tượng hóa những mối tương quan mà trong đó chúng có thể tương tác với nhau. “Thực thể” của ông ta không phải là “dữ kiện,” mà là khái niệm. Đó là lý do tại sao các yếu tố như “số ảo” và số thập phân tuần hoàn vô hạn (infinite decimals) được chấp nhận bởi những khoa học gia ghét cay ghét đắng các tác nhân và các “nguyên lý” không thể quan sát được. Toán học được xây dựng bằng các biểu tượng; chúng có ý nghĩa thông qua các mối tương quan, chứ không phải thông qua sự có thật; một sự vật trong thực tế sẽ chịu sự chi phối của chúng, chứ chúng không được cho là những yếu tố nằm trong cái thực tế đó. Nói “x có ý nghĩa thế này, y có ý nghĩa thế kia” là nói theo ý các nhà khoa học. Tất cả những gì mà toán học khẳng định là xy phải được liên hệ với nhau theo cách như thế này hay như thế kia. Không một nhà toán học nào nói rằng đây là x, và x có những thuộc tính như thế này hay như thế kia.

Sự tin tưởng của nhà khoa học vào sức mạnh và tính đúng đắn của toán học mang tính chất hiển nhiên đến nỗi công việc của họ các lúc càng ít cần đến sự quan sát, và càng lúc càng dùng nhiều đến sự tính toán. Sự sưu tập và sắp xếp bừa bãi các dữ kiện đã nhường chỗ cho một tiến trình gán những ý nghĩa khả dĩ nào đó, những cái được cho là những thực thể có thật, cho các thuật ngữ toán học, nhằm đưa ra các kết quả hợp lý, rồi sau đó mới thực hiện các cuộc thí nghiệm quan trọng để kiểm tra tính xác thực của giả thuyết dựa trên kết quả thực nghiệm. Nhưng các dữ kiện được thừa nhận thông qua những trắc nghiệm này không hề được quan sát gì cả. Với sự tiến bộ của phương pháp toán học trong vật lý học, những kết quả thực nghiệm có thể nhìn thấy càng lúc càng không tạo ra được sự chú ý; ý nghĩa của chúng – các kết quả ấy –  cũng vậy. Người nghiên cứu trong phòng thí nghiệm giờ đây đã tránh xa các hình thức thực nghiệm cũ – những hình thức kiểu như vật rơi tự do của Galileo và con diều của Franklin – thay vào đó, họ nhìn vào những chiếc kim của các loại đồng hồ đo đạc, trụ xoay và đĩa từ. Không thể có sự liên tưởng nào thuộc kinh nghiệm giác quan có thể gắn kết các dữ kiện này với những vật thể mà các dụng cụ kể trên biểu hiện, bởi vì trong hầu hết các trường hợp, các vật thể ấy không bao giờ được cảm nghiệm. Sự quan sát, giờ đây, gần như hoàn toàn có tính cách gián tiếp; và sự đọc đã thay thế cho chứng kiến. Dữ kiện giác quan mà phần lớn khoa học hiện đại dựa vào đa phần là những điểm hình ảnh nhỏ bé hoặc các đường cong được in trên giấy. Những dữ kiện này đã có đầy đủ tính thực nghiệm, nhưng cố nhiên tự thân chúng không phải là các hiện tượng được bàn đến; những hiện tượng đích thực thì đang nằm đằng sau chúng và được cho là những cái tạo nên chúng. Thay vì quan sát tiến trình làm chúng ta chú ý, cái tiến trình cần phải được xác minh – tức là, thay vì quan sát diễn biến của các sự kiện diễn ra trong vũ trụ hoặc sự hoạt động của các vật thể như phân tử và sóng trong môi trường Aether – chúng ta chỉ thực sự quan sát sự dao động của một mũi tên bé nhỏ nào đó, hay vệt di chuyển của mũi kim, hoặc sự xuất hiện của một đốm sáng để tính toán các “sự kiện” khoa học của chúng ta. Những cái có thể quan sát trực tiếp chỉ là một dấu hiệu của “sự kiện vật lý”; nó đòi hỏi một sự diễn giải để đem lại các định đề khoa học. Không phải chỉ nhìn không thôi là có thể tin tưởng, mà phải nhìn và tính toán, nhìn và diễn giải.

Dĩ nhiên, đây quả là điềm gở cho một chủ thuyết duy nghiệm triệt để. Dữ kiện giác quan chắc chắn không tạo nên toàn bộ, hoặc thậm chí một bộ phận chính yếu sự thật của nhà khoa học. Các biến cố được anh ta khảo sát có thể bị “giả mạo” bằng hàng chục cách – nghĩa là: những biến cố được nhìn thấy như nhau có thể xuất hiện với những ý nghĩa khác nhau. Bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể hiểu sai ý nghĩa của chúng, ngay cả ở những nơi không ai lừa dối chúng ta; chúng ta là những thằng ngốc đối với thiên nhiên. Tuy nhiên, nếu không gán một quá trình nhân quả có tính chất phức tạp, thuần lý tính và giả định cho các dao động nhỏ bé của các dụng cụ đo lường, chúng ta không tài nào ghi nhận chúng như là những kết quả thực nghiệm quan yếu. Nhưng bài toán quan sát hầu như đã bị bài toán ý nghĩa làm cho lu mờ. Và sự chiến thắng của chủ nghĩa duy nghiệm trong khoa học đã bị hủy hoại bở sự thật đáng kinh ngạc rằng dữ kiện giác quan của chúng ta, trước hết, chỉ là những biểu tượng.

Đến đây rõ ràng là thời đại khoa học đã sản sinh một vấn đề triết lý mới sâu sắc hơn chủ thuyết duy nghiệm ban đầu của nó: trong sự lặng lẽ hoàn toàn và bằng những phương cách thuần túy lý tính, toán học đã phát triển một cách rực rỡ và sinh động như bất cứ kỹ pháp thực nghiệm nào, đồng thời đã từng bước cập nhật hóa các phát kiến và những điều được quan sát; tức thì, tòa nhà tri thức nhân loại đứng sừng sững trước mắt chúng ta không phải như là một sự thu thập khổng lồ các bản phúc trình của giác quan, mà như là một cấu trúc của sự kiện dưới dạng những biểu tượng và những định luật nói lên ý nghĩa của các biểu tượng ấy. Một đề tài triết lý mới đã được đặt ra cho thời đại sắp tới: một đề tài có tính chất nhận thức, một sự nhận thức về khoa học. Sức mạnh của chủ nghĩa tượng trưng nằm ở những ký hiệu của nó, trong khi đặc tính chung cuộc của dữ kiện khách quan là ký hiệu của một thời đại đã qua.

Nhưng không phải triết học là nơi thích hợp duy nhất để cái yếu tố chính yếu đó được đề cập đến. Có ít nhất hai lãnh vực đột nhiên được phát triển ngoài dự liệu nhờ vào sự khám phá tầm quan trọng của việc sử dụng biểu tượng hoặc việc đọc biểu tượng. Chúng là hai lãnh vực hoàn toàn tách biệt nhau, đồng thời các vấn đề và phương pháp nghiên cứu của chúng dường như không hề tùy thuộc vào nhau, đó là: tâm lý học hiện đại và luận lý học hiện đại.

Trong lãnh vực trước, chúng ta đã cảm thấy lúng túng – hoặc cảm thấy xúc động, hay bực bội, tùy theo tâm tính của mỗi người – trước sự xuất hiện của phân tâm học. Ở lãnh vực sau, chúng ta đã chứng kiến sự ra đời của một phương pháp suy luận mới, được biết dưới cái tên luận lý học biểu tượng. Sự xuất hiện trùng hợp nói trên hoàn toàn có tính cách ngẫu nhiên; một cái xuất phát từ y học, một cái từ toán học, và giữa chúng, không có bất cứ điểm tương đồng hoặc tương khác nào. Tuy nhiên, tôi tin rằng cả hai đều mang cùng một ý tưởng tạo sinh, một ý tưởng sẽ ám ảnh và truyền cảm hứng cho thời đại triết lý của chúng ta. Mỗi lãnh vực nói trên, theo cách riêng của nó, đã khám phá được uy lực của sự biểu tượng hóa.

Chúng có hai quan niệm khác nhau về chủ nghĩa tượng trưng và chức năng của nó. Luận lý học biểu tượng không có “tính biểu tượng” theo ý nghĩa của tâm lý học Freud, và The Analysis of Dreams hoàn toàn không có đóng góp gì vào cú pháp luận lý. Sự chú trọng đến chủ nghĩa tượng trưng trong hai lãnh vực nói trên đã khởi nguồn từ những mối lưu tâm khác nhau hoàn toàn. Cho đến nay, các nhà phê bình thường xem phân tâm học là một thử nghiệm diệu kỳ của “triết học tâm thần,” và luận lý học biểu tượng chỉ là một phương cách nghiên cứu trong luận lý học và nhận thức luận…. Tuy vậy, trong cả hai, chúng ta đều có một đề tài trọng tâm: phản ứng của con người, một phản ứng mang tính xây dựng, chứ không phải mang tính thụ động. Các nhà nhận thức luận và tâm lý học đã đồng ý rằng sự biểu tượng hóa là yếu tố then chốt cho tiến trình dựng xây như thế, mặc dầu họ có thể sẵn sàng tiêu diệt lẫn nhau về vấn đề biểu tượng là gì và nó có tác dụng ra sao. Một ngành nghiên cứu về cấu trúc của khoa học, còn ngành kia về những giấc mộng; mỗi ngành đều có những giả định của riêng mình khi đánh giá bản chất của biểu tượng. Các giả định và ý tưởng tạo sinh là những thứ mà chúng ta tranh đấu để có được. Chúng ta thường đồng ý minh chứng cho các kết luận của mình bằng những phương tiện hòa nhã. Nhưng, về phương diện triết lý, các giả định này là kỹ năng thú vị nhất mà chúng ta có.

Trong quan niệm căn bản về sự biểu tượng hóa – dù là nó mang tính chất huyền bí, thực dụng hoặc toán học, thì cũng không có gì khác biệt – chúng ta hiện có nguyên tắc chính yếu cho mọi vấn đề nhân văn. Trong nguyên tắc đó, luôn luôn hàm ngụ một ý niệm mới về “tinh thần” có thể soi sáng các vấn đề về cuộc sống và sự nhận thức, thay vì làm mờ tối chúng như các phương pháp “khoa học” truyền thống từng làm. Nếu đây quả thực là một ý tưởng tạo sinh, thì nó sẽ mang lại những phương pháp đáng tin cậy để khai thông các nghịch lý đang bị bế tắc về tinh thần và thể xác, về lý trí và thúc giục, về tự do ý chí và lề luật, và nó sẽ vượt qua những cuộc tranh cãi không có lối thoát về một thời đại trước đó bằng cách xóa bỏ cách biểu đạt của những cuộc tranh cãi đó và định hình những cách biểu đạt tương đương bằng cách biểu đạt có ý nghĩa hơn. Sự nghiên cứu triết học về các biểu tượng không phải là một kỹ pháp được vay mượn từ các lãnh vực tri thức khác, thậm chí cũng không phải từ toán học; nó mọc lên từ những cánh đồng mà sự phát triển vượt bực của tri thức đã làm cho chúng bị bỏ hoang. Có lẽ sự nghiên cứu này đang gieo mầm cho một vụ mùa tri thức mới, và mùa sau hẳn sẽ là mùa gặt.

Nguồn: The Humanities in Contemporary Life; Robert F. Davidson, Sarah Herndon, J. Russell Reaver và William Ruff biên soạn; Holt, Rinehart and Winston, Inc. xuất bản; New York, 1960.

Bản tiếng Việt © 2010 Cao Hùng Lynh

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Susanne K. Langer – Triết học trong một yếu tố mới”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả