talawas blog

Chuyên mục:

Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai

08/10/2010 | 12:58 sáng | 141 phản hồi

Tác giả: Trần Kiêm Đoàn

Chuyên mục: Tôn giáo
Thẻ:

Đã hơn một năm rưỡi, thường xuyên xem hình, đọc bài viết, nghe lời luận bàn, theo dõi tin đồn về Phật Ngọc[1] và hiện tượng Phật Ngọc, nhưng mãi đến hôm nay tôi mới được tiếp cận và chiêm bái trong thầm lặng riêng tư với Phật Ngọc ngay giữa rừng người. Quá trình nghĩ vềđến với trong mối liên hệ nhân quả có khi chỉ là một. Nhân quả đồng thời. Nhân quả nối đuôi nhau trong chớp mắt. Nhưng cũng có khi là con đường dài biền biệt, có khi hết cả đời không mong gì thấy được nhân thành quả. Mây trắng có thể chẳng bao giờ thành mưa nếu trên đường gió lộng gặp trời xanh và nắng ấm. Nghĩ vềthực chứng là đi từ hư đến thật; từ vọng đến chân.

Sáng Chủ nhật (3-10-2010), tại chùa Kim Quang, thành phố thủ phủ tiểu bang California, theo sau những nghi lễ đầy âm thanh và màu sắc, tượng Phật Ngọc đã chính thức được trưng bày trước đại chúng. Hơn một trăm tăng ni và sáu nghìn người (theo quan sát và ước tính của nhật báo Sacramento Bee[2]) gồm quan khách đồng hương cũng như người nước ngoài, thân hữu và Phật tử tham dự nghi thức khai mạc lễ hội cung nghinh Phật Ngọc. Khi toàn hình ngôi tượng được trưng bày trong âm thanh trầm vọng của tiếng cầu kinh niệm Phật hòa quyện với tiếng vỗ tay nồng nhiệt của đại chúng, tôi mới chợt hiểu nghệ thuật biểu hiện tâm linh có con đường bay riêng của nó mà phương tiện diễn đạt của ngôn ngữ và tranh luận của lý trí sẽ trở thành bất lực, vô phương.

Khai mạc Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại chùa Kim Quang, Sacramento

Bên cạnh tiền đình với nhiều đường nét mỹ thuật của ngôi chùa Kim Quang mới được tái tạo và khánh thành chưa lâu là lễ đài tôn trí tượng Phật Ngọc. Màu xanh ngọc bích bóng ngời của thân tượng phản chiếu nắng vàng mùa Thu nổi bật giữa rừng áo vàng của quý tăng ni, hòa với màu lam dịu hiền của nhiều đơn vị Gia đình Phật tử khắp nơi tụ về đã tạo thành một bức tranh mang tính pháp hội thật nhu hòa mà cũng sinh động đầy thu hút.

Gặp dịp, tôi dán mắt mình quan chiêm ngôi tượng Phật bằng Ngọc để cố tìm cho ra những đường nét hiển hiện đầy thiêng liêng mà nhiều người đã từng ca tụng. Nhưng tất cả hiện ra trước mắt tôi là một tác phẩm điêu khắc mỹ thuật tạc ra từ một chất liệu vật thể quý hiếm mang bóng dáng đức Phật. Thật ra, mọi hình tướng tượng đài tự bản chất là một sự phỏng định không quy ước. Đó chỉ là cách thể hiện cụ thể cái “sự” bắt nguồn từ cái “lý”; cái dụng thể hiện cho cái ứng. Vì vậy, càng tranh luận hơn thua, đúng sai, tốt xấu, cao thấp về niềm tin tôn giáo “linh tại ngã, bất linh tại ngã” càng có cơ dẫn tới sự xung đột cá nhân và phân hóa tình người chẳng có lợi cho ai mà chỉ làm dày đặc thêm bóng tối vô minh của cực đoan và chấp ngã.

Mãi đến khi mắt rời ngôi tượng, quan sát chung quanh, tôi mới thật sự bắt gặp những gì mình chưa thấy qua đôi mắt trần vật lý. Đó là hình ảnh phản chiếu long lanh hình tượng Phật Ngọc trong đôi mắt của hàng nghìn người đang chiêm bái. Tâm thế nào thì ảnh tượng Phật Ngọc sẽ hiện ra trong mắt như thế ấy. Sự mặc khải của dòng trực cảm tâm linh không  đo lường hay dò tìm được bằng những phương tiện phàm trần quy ước. Sẽ không ai có đủ khả năng phân tích và lý giải được những gì thuộc về phạm trù tâm linh, tôn giáo trước một khối người đông tới sáu nghìn quanh khuôn viên chùa Kim Quang hôm nay. Tất cả đều như đang trầm lắng lại bằng sự tĩnh tâm quan chiêm cùng một đối tượng: Phật Ngọc.

Xin nghỉ chân rong chơi một chút loanh quanh dòng  Tâm lý Trị liệu Thực hành (Practical Psychotherapy) hiện đại. Những tay nghiên cứu tâm lý sừng sỏ thường nói đến sự vi tế và giao hưởng đầy sinh động của năng lượng, sóngtần số xuất phát từ tâm thức và đời sống thực tế của mỗi con người. Năng lượng lành (thanh khí), năng lượng ác (trọc khí) vần vũ xuôi ngược thường xuyên trong trời đất bao la từ vô thủy đến vô chung. Năng lượng nhiều hay ít tùy theo sóng cao thấp của thể lý và tâm linh. Sóng lớn hay nhỏ, vi tế hay thô trần tùy theo mức độ lành hay dữ của năng lượng. Tần số là cửa ngõ phát tán và thu hút năng lượng. Cửa ngõ mở rộng, đóng hờ hay khép kín đều phát xuất từ tâm và thức. Xin nhớ lại chuyện “Đi Chùa Hương”: Cô bé bận quần lĩnh áo the mới đi lễ hội chùa Hương với Thầy Mẹ. Chàng thư sinh lòng phơi phới lên chùa chiêm bái. Năng lượng lành xuất hiện. Cả hai không quen nhau nhưng cùng được tưới tẩm trong dòng suối tâm linh “Nam mô A Di Đà” của đại chúng. Mỗi bên đều phát tán và thu nhiễm năng lượng của bên kia. Thuyền càng tới gần chùa, làn sóng tâm linh của cá nhân và đại chúng càng cuồn cuộn vực dậy trong biển năng lượng thanh thoát của vạn lời cầu nguyện phát ra từ những tâm thành. Tần số tâm thức của đôi lứa thanh xuân cùng cường điệu bắt gặp nhau nhẹ nhàng và tự nhiên như đến từ tiền kiếp: “Em ư? Em không cầu. Đường vẫn thấy đi mau. Chàng cũng cho như thế.  Ra ta hợp tâm đầu.

Sự nghiên cứu về năng lượng, sóng và tần số thuộc về lĩnh vực tâm linh của khoa Tâm lý Trị liệu Thực hành khởi từ thời đại cổ sơ của người thượng cổ khi chưa có hình thức tôn giáo ra đời. Phật và Chúa mấy chục nghìn năm sau mới xuất hiện. Đó là khi loài người thực hành nếp sinh hoạt tâm linh qua những hình thái bái vọng thiên nhiên hay ngẫu tượng. Tiến thêm bước nữa là thời kỳ Bái Vật giáo; rồi Phiếm Thần giáo, Đa Thần giáo. Nhiều bộ lạc chỉ chiêm bái và thờ cúng một tảng đá đầu truông, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông đầu làng mà họ hết lòng tín cẩn và cầu nguyện. Khi những năng lượng tâm linh vi tế ẩn chứa phần lớn là năng lượng lành của một khối người có chung một tảng đá, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông… làm đối tượng “chứng tri” thì năng lượng lành hay sóng, tần số tâm linh của cả một khối người đông đảo có sự tương tác giao thoa. Đó là một gia tài tâm linh tích lũy càng ngày càng lớn của một tập thể có chung niềm tin trong cùng một tín hiệu. Gặp khi nguy biến, thành tâm cầu nguyện là lúc cá nhân bị nạn “giải mã” (như mở password ngày nay) để nhận nguồn năng lượng lành đã tích lũy.  Nếu minh họa bằng hình tượng cho dễ hiểu thì cũng tương tự như hoạt động tích lũy và sử dụng tài sản – gởi và rút tiền – qua trương mục của một ngân hàng trung tâm. Kẻ tích thiện làm lành có vốn giàu to. Kẻ độc ác sẽ bị trắng tay hay phá sản[3].

Với tinh thần Phật giáo “vô lượng pháp môn tu” – thì những ý kiến cá nhân hay nhóm phái chủ quan, cảm tính, cực đoan là phi Phật giáo vì đi ngược lại con đường Trung Đạo cố hữu của nhà Phật. Nói và viết về đạo Phật – con đường thênh thang mây trắng – mà phải nhăn trán, nhíu mày loay hoay mãi với tâm lý uẩn ức tiêu cực quanh mấy chuyện được thua, giàu nghèo, có không… trong giới hạn cá nhân nhỏ hẹp để khích bác và đối kháng lẫn nhau thì thật là uổng phí thời gian tĩnh lặng giữa cuộc đời ngắn ngủi. Thú vị chi ngồi khuấy tách trà làm bão tố phù du!

Sáng hôm nay 4-10-2010, đọc bài tường thuật của phóng viên Stephen Magagnini của nhật báo Sacramento Bee về lễ khai mạc cung nghinh Phật Ngọc tại Sacramento với tiêu đề “Jade Buddha draws throng praying for peace, health and prosperity” (Phật Ngọc làm dấy lên lời cầu nguyện đa dạng cho hòa bình, sức khỏe và phồn vinh.) Nội dung bài báo tương đối xứng hợp với tiêu đề đưa ra. Trước đó vài tuần, khi tượng Phật Ngọc còn đang trưng bày ở San Jose, thành phố có đông người Việt thứ nhì tại tiểu bang California sau Quận Cam, phóng viên Bruce Newman của nhật báo địa phương Mercury News, số ngày 15-9-2010 đã viết bài tường thuật về lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại đây dưới tiêu đề “The Jade Buddha, symbol of peace and harmony, everywhere but in San Jose” (Phật Ngọc, biểu tượng của hòa bình và hòa hợp khắp mọi nơi, ngoại trừ San Jose.)[4]

Thật ra, đứng trên quan điểm tôn giáo nói chung, Newman đã dẫn chứng các sự kiện và nhân vật trong cộng đồng người Việt tại San Jose mà ảnh hưởng và tác dụng của vấn đề cần đặt trong bối cảnh chung của tình hình xã hội và chính trị tại địa phương, chẳng có sự liên quan trực tiếp nào đáng kể trên sinh hoạt của Phật giáo tại San Jose. Trên tiêu chuẩn “handbook” của ngành báo chí Hoa Kỳ, Bruce Newman săn tin rất “động” nhưng lại chưa đủ “tĩnh” để có thể hiểu hết thực chất “tướng” và “tánh” – bóng và hình – của một cộng đồng dân tộc và văn hóa “bốn nghìn năm văn hiến” quá nhiêu khê như người Việt Nam.

Trong một bài viết trước đây về Phật Ngọc nhan đề “Phật Ngọc, hình tướng và thật tánh của hoà bình, an lạc”, kẻ đang viết những dòng nầy đã cố gắng ứng dụng đồng thời hai tuyến dữ kiện “động” và “tĩnh” để trình bày một phần quan điểm của mình về Phật Ngọc. Nay trong bài viết tiếp theo nầy, người viết bằng vào diễn biến thực tế và ý kiến của nhiều Phật tử trực tiếp tham dự Lễ Hội để nhận định về tác dụng trực tiếp cuộc du thỉnh “world tour” vòng quanh thế giới của Phật Ngọc đối với cộng đồng Phật giáo Việt Nam.

Xin tạm gác qua lắm chuyện thị phi bên lề diễn biến của tiến trình trưng bày Phật Ngọc liên quan đến sự được thua, hơn kém, to nhỏ, mạnh yếu, khen chê… về thế lực, tài chánh, khả năng tranh chấp quyền lợi; cùng những hào quang dễ dãi và bóng đen vu vạ mà xưa nay trong bất cứ hoàn cảnh nào và thời điểm nào cũng có. Một khi có sự tương tác từ hai người trở lên thì sự va chạm cá nhân và phe phái không thể nào tránh khỏi. Nhà sư Tích Lan, Tikhome Lanka, đã viết trong Pháp Ngữ Diễn Đàn (Dharma, 2001) rằng: “Tôn giáo dính vào tiền bạc và quyền thế tranh chấp đời thường là đang bước lên cỗ xe năng động: Chạy lên trời Đâu Suất hay rớt xuống Địa Ngục dễ dàng như trở bàn tay! Nhà tu ngày nay đến với cảnh giới giải thoát hay cứu cánh đắc đạo thường mua vé xe bằng tiền bạc nên chỉ đi được xe ngựa xe đò; trong lúc đó, cuộc đời quá ngắn ngủi thì phải đi bằng tốc độ tâm linh nhiệm màu nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng mới mong về kịp chốn ước mơ trước khi nhắm mắt xuôi tay!

Trong khi tôi đang viết những dòng nầy tại Sacramento thì đang hàng trăm người từ San Jose, Fresno, Stockton và các vùng lân cận đã kiên tâm chờ đợi tới mấy ngày, nhưng không ít người đã ra về tay không. Hầu hết những người ở xa cho biết là họ đã phải thức dậy từ 2, 3 giờ sáng để lái xe về địa điểm Phật Ngọc, xếp hàng chờ đợi để cố mua cho được một miếng tượng mỏng, nhỏ hơn hai ngón tay. Đại chúng được cho biết và có giấy chứng nhận đây là thành phẩm chiết ra từ khối ngọc chính tạc tượng Phật Ngọc. Tôi quan sát những khuôn mặt chờ đợi phờ phạc nhưng phát nụ cười hớn hở khi vừa ra khỏi cửa với miếng tượng nhỏ xíu trên tay. Cũng đã có quá nhiều lời bình phẩm – trong cũng nhiều mà đục cũng lắm – về ý nghĩa, động cơ và tác dụng của việc mua và bán tượng đeo bằng ngọc nầy. Trong muôn một, tôi thử tiếp xúc với một người vừa mua được tượng ngọc và “phỏng vấn”. Anh cho biết anh là Trần Quốc Mỹ, ở Stockton, đã trải qua “công đoạn” đợi chờ hết sức vất vả suốt mấy ngày mới mua được tượng ngọc. Anh cho biết là đã nghe quá nhiều chuyện thật hư, nhưng “tội ai nấy hứng, ai tu nấy chứng”, nên chẳng quan tâm đến chuyện thị phi, tin hay không tin là do mình. Anh kết luận thoải mái rằng: “Bạc vàng thì có giả, có thiệt do người ta mang tới, nhưng lòng tin là do mình. Mua một niềm tin có khả năng biến thành nguồn vui, hay hơn nữa thành nguồn an lạc thì quả là vô giá. Nhưng ở đây tốn kém chỉ bằng mua một cái vé đại nhạc hội Paris by Night thì cũng là thú vị.” Câu nói của anh làm tôi nhớ tới những hòn đá “tô-tem” làm vật thờ cúng của người cổ sơ.

Ông Trần Quốc Mỹ với tượng ngọc trên tay

Hai mẫu tượng ngọc phát hành trong dịp Lễ Hội cung nghinh Phật Ngọc

Niềm tin tôn giáo, dù chỉ là năng lực vô hình của tinh thần và tâm linh, nhưng lại chiếm ngự phần đời rất lớn của những người tôn giáo. Có tôn giáo hành đạo mỗi ngày năm lần bảy lượt để cầu nguyện. Có tôn giáo khi đã theo là hiến trọn đời mình cho giáo chủ. Đạo Phật thường nói đến con đường từ bi và trí tuệ không phải vì có một pháp môn chuyên nhất đưa tới giác ngộ, nhưng đức Phật đã chỉ ra vô lượng pháp môn hành đạo mà đời thường đưa ra con số làm biểu tượng là tám vạn bốn ngàn. Trên con đường thênh thang tùy duyên ấy, có những hình ảnh quán niệm tĩnh lặng cao thâm; nhưng cũng có lúc phải cần tới “lục thời công phu” và môn phái Tịnh độ hành trì Pháp môn Niệm Phật, giữ cho được “nhất tâm bất loạn” thì niệm Phật thường hằng không lúc nào dứt niệm. Nói tóm lại, đi vào lĩnh vực đức tin tôn giáo là đi vào một thế giới khác mà những tiêu chí và luận lý đời thường không thể nào lý giải và hiểu cho rốt ráo được.

Trong những ngày qua, môi trường truyền thông đại chúng người Việt cũng như người nước ngoài đã đưa ra một lượng thông tin khá phong phú và đa dạng về Phật Ngọc. Khuynh hướng đồng nhất hóa giữa biểu tượng và chân pháp; giữa phương tiện và mục tiêu; giữa lòng tin và lợi dụng; giữa hoằng dương và quảng cáo, giữa lý và sự đã đưa tới nhiều sự duy diễn quá xa vời.

Hiện tại, tượng Phật Ngọc đang được trưng bày tại Sacramento sang ngày thứ tư. Nhiều khách hành hương đã bày tỏ sự tán đồng về danh xưng: “Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc…” vì nó tránh được sự cường điệu và thánh hóa không hợp với tinh thần đạo Phật. Người ta ước mong rằng, nếu lễ hội được mở ra bằng những tấm lòng và ý hướng chân chính tất sẽ thành Pháp hội. Phật giáo cận đại và hiện đại có nhiều khả năng lập ra nhiều Giáo hội nhưng thiếu Pháp hội. Giáo hội là để lãnh đạo và khống chế nhau bằng thế và lực; nhưng Pháp hội là để đến với nhau trong tinh thần hòa đồng, bình đẳng, tin yêu và chia sẻ.

Lời phát biểu của thầy Thích Minh Đạt trong lễ khai mạc đã một phần làm sáng tỏ cho một cách nhìn chánh niệm: “Phật vẽ trên giấy, Phật thêu trên lụa, Phật tạo bằng đất sét, bằng xi măng, bằng thạch cao, bằng tất cả các loại đá trong đó có loại đá quý mà chúng ta gọi là “Ngọc”… tất cả đều không có khả năng mang lại hòa bình cho thế giới. Chỉ có một vị Phật duy nhất có đủ khả năng mang lại hòa bình cho thế giới, đem lại an lạc hạnh phúc cho mọi loài, đó là Phật Tâm (…) Tâm bình thế giới bình.”

Phật Ngọc không ở đâu, không giống định kiến nào, không thuộc về ai cả mà ở chính trong đôi mắt của người nhìn. Cái nhìn xuất phát từ Tâm. Phật Ngọc trong mắt ai… sẽ không giống Phật Ngọc trong tưởng tượng và suy diễn của tha nhân. Phải chăng vì nó không giống ngón tay chỉ mặt trăng mà bởi nó là đôi mắt thật của tâm sinh và tâm khởi trong nguồn năng lượng lành: Ai nhìn nấy thấy.

Sacramento, 4-10-2010

© 2010 Trần Kiêm Đoàn

© 2010 talawas


[1] Sở dĩ có cái phụ chú nầy vì đã có ý kiến phản bác danh xưng Phật Ngọc.Ý kiến này cho rằng “Phật là Phật; là đấng giác ngộ viên mãn chứ không có Phật ngọc, Phật vàng, Phật bạc gì cả).Vì người viết không tự đặt mình ở vị trí để tranh biện về chính danh – định phận hay dính líu vào một hình thức luận bàn hình thức không cần thiết tương tự, nên xin gọi theo thế danh đại chúng về ngôi tượng là Phật Ngọc. Thật ra, mọi danh xưng, danh vị, danh từ tạm dùng để gọi tên vạn pháp theo tinh thần đạo Phật đều là giả danh. Lời Phật: “Chân pháp không phân biệt. Nhìn đúng là nhìn thẳng vào bản lai diện mục của tất cả các pháp đều không có tự tánh nên chẳng chấp trước nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả. Nhìn cành hoa không phải là cành hoa mới thật là cành hoa.”

[2] Xem toàn văn tường thuật tại trang web: http://www.sacbee.com/2010/10/04/3076893/jade-buddha-draws-throng-praying.html

[3] Practical Psychotherapy: Adaptation of dialectical behavior. Gerald Amada. Batam, NY; NY, 2009.

[4] Toàn văn bài viết nầy đã đăng lên mạng lưới toàn cầu, ở địa chỉ: http://www.mercurynews.com/ci_16087076?nclick_check=1

Phản hồi

141 phản hồi (bài “Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai”)

  1. P nói:

    Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ.


    Bấy giờ, ngài Xá-Lợi-Phất nói với Long-Nữ rằng: “Ngươi nói không bao lâu chứng được đạo vô thượng, việc đó khó tin. Vì sao? Vì thân gái nhơ uế chẳng phải là pháp khí, thế nào có thể được thành vô-thượng chánh-giác? Đạo Phật xa rộng phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ chứa nhóm công hạnh, tu đủ các độ, vậy sau mới thành được. Lại thân gái còn có năm điều chướng: Một, chẳng được làm Phạm-thiên-vương; hai, chẳng được làm Đế-Thích; ba, chẳng được làm Ma-vương; bốn, chẳng được làm Chuyển-luân thánh-vương; năm, chẳng được làm Phật. Thế nào thân gái được mau thành Phật?”.

    Lúc đó, Long-Nữ có một hột châu báu, giá trị bằng cõi tam-thiên đại-thiên đem dâng đức Phật. Phật liền nhận lấy. Long-nữ nói với Trí-Tích Bồ-Tát cùng tôn giả Xá-Lợi-Phất rằng: “Tôi hiến châu báu, đức Thế-Tôn nạp thọ, việc đó có mau chăng?”.

    – Đáp: “Rất mau”.

    – Long-Nữ nói: “Lấy sức thần của các ông xem tôi thành Phật lại mau hơn việc đó”.

    Trích: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm “Đề-bà-đạt-đa”.

  2. Trung Thứ nói:

    Thưa bác Lê Anh Dũng,

    Thời giờ cũng đã mãn, tôi tranh thủ vài dòng hồi âm với bác. PH trước tôi gửi tới bác địa chỉ e-mail liên lạc quả tình xuất phát từ lòng quyến luyến, trân quý của tôi đối với bác.

    1. Nếu lấy tiêu chuẫn đạo đức lên án việc Chúa bảo ông Abraham nướng Asaac làm của lễ toàn thiêu thì chính Chúa cũng mâu thuẫn với lề luật, giao ước sau này của Người với dân Do Thái. Có một tôn giáo nào ngày nay lên án mạnh mẽ hơn, xem việc nạo phá thai là một tội ác giết người man rợ ngoài đạo Công giáo? Hình ảnh Tổ phụ Abraham đã không tiếc đứa con đối với Chúa tương giao với hình ảnh Chúa cũng đâu tiếc gì mà không sai Con một của mình xuống với loài người. Nếu cho rằng Chúa độc ác với Abraham thì – trong mối tương quan giữa mình với Chúa- Abraham là người hiểu rõ và có thẩm quyền phán xét nhất.

    2. Trích: „Về kỹ thuật làm cho cá nhân tốt đẹp hơn thì Ki-tô giáo (Công giáo, Tin Lành) rất nghèo nàn so với Khổng giáo, Phật giáo. Một phần vì có bảng giá trị khác và việc làm cá nhân tốt đẹp (tu nhân, tích đức) không là quan tâm chính, một phần là Kinh Thánh dưới hình thức một truyện dài không trình bày những kỹ thuật sửa đổi làm cá nhân tốt đẹp hơn dưới dạng xúc tích, dễ nhớ, dễ hiểu như “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”, “Từ, Bi, Hỷ, Xả”. Bác Trung Thứ cho tôi một vài thí dụ nếu có.“

    Đúng vậy, dạy về đạo đức, luân lý thì chẳng tôn giáo nào bằng Khổng giáo, về triết lý cao siêu thì không tôn giáo nào bằng Phật giáo. Còn giáo hội Công Giáo có thể ví như một khu bệnh xá trong đó bao gồm một đám lang băm và những người bệnh nhân nhếch nhác. Từ giáo dân cho tới giáo hoàng hằng ngày đều đấm ngực mà than rằng: „Lỗi tại tôi! Lỗi tại tôi! Lỗi tại tôi mọi đàng!“. Và, không phải những vị đạo cao đức trọng mà là cô gái điếm cùng tên trộm cướp lại được Chúa phong thánh đầu tiên. Chúa đã phán với đám người Pha-ri-siêu khi họ chất vấn Người chỉ đàn đúm với phường tội lỗi là quân thu thuế cùng những kẻ du thủ du thực: “Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu! Các ông hãy đi học xem lời này có ý nghĩa gì: ‘Ta muốn lòng nhân từ, chứ không phải là hy lễ’. Vì Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi.”

    Mặt khác, ta thử xét xem coi. Đạo đức cũng chỉ là những quy phạm giúp cho mỗi con người có cách ứng xử phù hợp với những đối thể xung quanh : con người, sự vật, muông thú. Một người không quan tâm tới các kỷ thuật thực hành đạo đức nhưng nếu đã đong đầy tình yêu trong tâm hồn thì có dễ dàng để làm một điều bất nhân, bất nghĩa, bất tín với người yêu dấu của mình hay không? Chúa phán :“Ai nói mến Chúa mà không yêu mến anh chị em mình, thì là kẻ nói láo” (I Ga 4:20). Ai yêu sẽ thấy, không có gì hạnh phúc cho bằng làm được cho người mình yêu hạnh phúc.

    3. Nếu ai tin rằng Chúa hoặc không có hoặc không phải là đứng tuyệt đối vượt trên mọi loài thì cứ tuyên xưng rằng không có Chúa hoặc đi tìm một đức chúa khác quyền phép, khả ái, phù hợn với mình hơn thôi. Đó là quyền tự do mỗi người thôi mà.

    Thân Ái.

  3. Lê Anh Dũng nói:

    Thưa bác Trung Thứ,

    Cám ơn bác về nhã ý cho đ/c email, tôi sẽ giữ nó để dùng khi có dịp, nhưng thật ra tôi thấy một trao đổi trên một diễn đàn chung mới mang lại lợi ích tương xứng với công của chúng ta.

    Xin đi lướt qua một số điểm trong thơ của bác:

    2. Điểm này bác trình bày rối rắm, khó theo dõi nắm bắt ý chính. Đồng ý là không dùng tiêu chuẩn của thời đại này để phán xét thời đại kia, nhưng chính vì vậy mà không thể gò ép tín đồ của thế kỷ 21 tuân theo những qui tắc cứng nhắc của 2, 3 ngàn năm trước, thí dụ như không thờ lạy đấng nào khác, dù tốt dù xấu.
    Cũng phải nhận rõ những nguyên tắc phổ quát xuyên suốt qua nhiều thời đại, dù dụ ngôn có mượn hình thức nào thì chuyện cha giết con vì nghe lời một tác nhân khác cũng là hành động đáng lên án, không thể chấp nhận và phi nhân tính, bất kể trong một khung cảnh lịch sử nào. “Hùm dữ cũng không ăn thịt con”, chả lẽ “hổ ái” lại hơn “nhân ái”?! Do đó biện bạch cho bằng được ý nghĩa thâm thúy, cao siêu về việc Abraham sẵn sàng giết Isaac để nghe theo lời Thiên Chúa là chuyện không thể nào tiêu hóa được bởi một người có đầu óc lành mạnh ở thế kỷ 21.

    4. Để xây một ngôi nhà đẹp cần có quan niệm đẹp lẫn vật liệu, kỹ thuật, qui trình. Những điểm sau mà thiếu thì ngôi nhà đẹp chỉ hiện diện trên bản vẽ, và là một ngôi nhà xấu xí trong thực tế.

    Kinh nghiệm đi nhà thờ Tin Lành, Công Giáo của tôi cho tôi thấy mặt mạnh của Công Giáo VN là những hoạt động giáo dục, từ thiện cộng đồng (Tin Lành VN sinh sau đẻ muộn còn rất yếu về mặt này), lẫn lòng kiên trì, kỷ luật trong việc truyền giảng, và tôi đã thấy có những cá nhân trở nên tốt đẹp hơn khi tin nhận Chúa, đây là sự tương thích” đúng thầy, đúng thuốc”.

    Về kỹ thuật làm cho cá nhân tốt đẹp hơn thì Ki-tô giáo (Công giáo, Tin Lành) rất nghèo nàn so với Khổng giáo, Phật giáo. Một phần vì có bảng giá trị khác và việc làm cá nhân tốt đẹp (tu nhân, tích đức) không là quan tâm chính, một phần là Kinh Thánh dưới hình thức một truyện dài không trình bày những kỹ thuật sửa đổi làm cá nhân tốt đẹp hơn dưới dạng xúc tích, dễ nhớ, dễ hiểu như “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”, “Từ, Bi, Hỷ, Xả”. Bác Trung Thứ cho tôi một vài thí dụ nếu có.

    5. Chuyện đề cập tới ma quỷ không quan trọng bằng trọng lượng, tần số dành cho phát biểu về chúng. Nếu chúng tồn tại cũng nhiều như lời phát biểu về chúng thì sẽ có tình trạng “ra ngõ gặp anh hùng” chứ không phải như các nhà khoa học giăng mắc dụng cụ đi tìm chúng mà tìm không ra. Dầu sao tôi nghĩ là “tin cái gì thì thấy cái đó”, như có giăng ăng-ten thích hợp ra mới bắt được sóng, tôi chỉ tiếc là việc nhắc nhở tới ma quỷ nhiều qúa làm cuộc đời này ảm đạm, xấu xi một cách bất công vì con người nhiều lúc đáng sợ hơn ma qủy gấp triệu lần.

    Tóm lại về trao đổi của chúng ta tới nay, tôi thiết tưởng hướng đi của chúng ta không nên đi theo lối mòn suy nghĩ, mà chính vì Đức Tin hay lòng mong muốn xây dựng những điều tốt đẹp, mà chúng ta phải liên tục nhìn vào thực tế để tìm khiếm khuyết, tìm cách tiếp cận, nhìn nhận vấn đề mới, sẵn sàng đón nhận quan điểm mới của người khác.

    Talawas với quyết định ngưng hoạt động, có thể đúng, có thể sai, nhưng là thể hiện của một sự tự đánh giá, và tìm cách thích ứng, tìm giải pháp tốt hơn với một hiện thực luôn biến chuyển.

  4. Tonnguyen147 nói:

    Bác Trung Thứ và các bác ơi,

    Chủ Nhật nào rảnh các bác quá bộ lại các nhà thờ Tin lành gặp gỡ các tín đồ và ông mục sư mà người ta thường gọi các cuộc họp này là đi nhóm.

    Ở nơi ấy nếu các bác thử bàn về lòng nhân ái, tôn kính niềm tin của người khác xem họ nhìn các bác với con mắt như thế nào…

  5. Hoà Nguyễn nói:

    Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện hoài thì chủ sẽ không đóng cửa và không mời khách ra về. Nhất là nếu nói về tình yêu và tình thương nhân nghe câu chuyện giữa ông Trầm Kha (nóí là Thương) và ông Lê Anh Dũng (nói là Yêu).

    Trong tiếng Việt yêu và thương thường dùng thay cho nhau trong nhiều trường hợp, nhưng vẫn có nghĩa khác nhau.
    Về quan điểm Phật giáo theo như tôi hiểu thì “tình yêu” vẫn còn xa gần với “ái dục”, thấy rõ nhất là trong quan hệ nam nữ, tuy vẫn nói cha mẹ yêu con cái, con yêu cha mẹ. Yêu trong tiếng Việt là tình cảm mạnh hơn của lòng ưa, thích, ham, muốn. Thích hay ưa ai hoặc cái gì rồi sẽ đi tới yêu cái đó hay người đó, và sau cùng tiến tới ước muốn có được cái mình thích,lấy được người mình yêu, bằng không sẽ thất vọng, buồn khổ lắm. Như thế, tình yêu thường dẫn tới ý chiếm hữu, muốn đối tượng yêu thuộc về mình, là điều tuy rất tự nhiên, nhưng Phật giáo tránh để rơi vào trường hợp như vậy để khỏi bị trói buộc trong phiền não (phiền trược). Như thế có thể bị trách thương là không dành cho nhiều tình cảm bằng yêu, nhưng chủ ý ở đây là không để phải (cuối cùng) chịu nhiều sầu muộn, hoặc đau khổ, khi không có được hay khi mất đối tượng mình thương yêu. Điều đơn giản nhất ở đạo Phật là giữ cho lòng thanh thản gọi là an vui, không để chìm đám hay bị lôi cuốn vào tình cảm quá mãnh liệt của hoan lạc hay bi ai. Tất nhiên, con người dù tu hay không vẫn bị chi phối bởi sức mạnh của ái dục, và vẫn còn cái tình yêu mang nặng tính ái dục, nhưng khi “xuất gia” có nghĩa là muốn cắt lìa sợi dây ái dục đó. Và đây cũng là một lý do tại sao khó tu tại nhà, tại chợ.

    Thương vẫn có ý nghĩa khác với yêu, như khó nói là mình yêu một người ăn mày, hay người mắc bệnh hủi, và chỉ nói được là thương họ. Thật cũng không phải dễ mà thương được những người như vậy, nhưng đây là chuyện lý tưởng, và nếu yêu được họ thì càng khó hơn. Tình thương cũng không phải (chỉ) là thương hại (tội nghiệp), và có khi là thương xót (thương và thấy đau buồn vì cái khổ đau của người khác), nhưng đạo Phật tránh những bi lụy thái quá, vì không lợi nhiều cho người và cho mình..

    Đạo Phật nói đến Từ Bi và giải thích Từ là lòng an hoà muốn đem lại niềm vui cho người khác, và Bi là lòng thương xót muốn giúp người khác giảm được buồn khổ đang gặp. Phật giáo không nhấn mạnh ở chỗ yêu người (như yêu mình), nhưng ở chỗ thấy mình và người như nhau (chúng sinh đều bình đẳng).
    Đạo Thiên Chúa hình như giải thích Bác Ái là yêu mọi người vì đều là con cái của Chúa, và (nhất là) yêu nhau qua tình yêu (chung) Thiên Chúa.

    Tóm lại theo tôi hiểu, Bác Ái của đạo Thiên Chúa và Từ Bi của đạo Phật tuy gần nhau, nhưng thấy vẫn có chỗ không giống nhau.

  6. Trung Thứ nói:

    Thưa bác Lê Anh Dũng,
    Tôi xin chia sẻ thêm vài vấn đề được bác nêu ra. Nếu sau khi talawas ngừng hoạt động mà bác còn có nhã ý trao đổi với tôi thì tôi cũng rất lấy làm hân hạnh. Xin gửi tới bác địa chỉ e-mail của tôi: glueckauf03@googlemail.com

    1. Trích: „Theo hồng y, lòng tin Kitô giáo sẽ mai một không phải vì chủ nghĩa cộng sản mà vì chủ nghĩa tiêu thụ. Khi một dân tộc nghèo khó bước vào nền văn minh giải trí và tiêu thụ, thì tinh thần tôn giáo bị suy vong. “
    http://www.diendan.org/viet-nam/linh-muc-p-h-quynh-ab-phai-xay-dung-lai-tam-hon-kito-cua-giao-dan-viet-nam-bb/
    Theo tôi, đây là vấn nạn, thách thức của những người lãnh đạo các tôn giáo không chỉ ở Việt Nam mà khắp hoàn vũ.

    2. Để có thể bàn về những điều được viết trong kinh thánh chúng ta cần phải thừa nhận „…vài nguyên tắc căn bản của khoa Thánh Kinh học: tuy Thánh Kinh là Lời Chúa, nhưng Lời Chúa (thật ra là ý tưởng của Chúa và đó là nội dung chân lý mà Thiên Chúa mặc khải) phải mặc lấy hình thức của con người viết Thánh Kinh: những quan niệm triết học, những kiến thức khoa học, những khái niệm, những biểu tượng, những văn thể, những ngôn từ mà những hình thức này thì thuộc về một thời đại, một địa phương, một xã hội, một văn hoá, một cá tính, một trình độ của cá nhân người viết. Vậy phải phân biệt cái NỘI DUNG (chính là Lời Chúa trong chính chủ ý Ngài muốn mặc khải) với các hình thức mà người viết Thánh Kinh muốn khoác lên cái nội dung ấy. Tất nhiên chỉ có nội dung mới là chân lý của Thiên Chúa, còn những hình thức được khoác lên thì chỉ có giá trị bình thường như bất cứ cái gì của con người: nghĩa là có thể sai hoặc tương đối.“ (nguồn: http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=310&ict=3411)

    Như vậy, chẳng hạn, không thể nào dùng chuẫn mực đạo đức ở vùng Á Đông của thời đại này để phán xét đời sống của con người cách đây hàng chục ngàn năm được.

    Trích: “Cơ bản ở mức độ nào đó, tôn giáo không cho phép thoả hiệp. Nó khẳng định cái không thể. Nếu Chúa đã từng thuyết giảng thì tín đồ hẳn phải sống theo những lời dạy đó, bất kể hậu qủa ra sao. Nếu một người sống dựa vào lời cam kết không thoả hiệp đó thì là siêu phàm, còn nếu chính sách được dựa trên cam kết không thoả hiệp đó thì sẽ là nguy hiểm.“

    Với những gì trong kinh thánh thuộc về „những quan niệm triết học, những kiến thức khoa học, những khái niệm, những biểu tượng, những văn thể, những ngôn từ mà những hình thức này thì thuộc về một thời đại, một địa phương, một xã hội, một văn hoá, một cá tính, một trình độ của cá nhân người viết“ thì không những không theo cam kết đó mà còn phải phá vỡ nó như là vén bức màn để khai quang vậy.

    Trong câu chuyện về Abraham và Isaac không phải là việc Chúa thử cho biết lòng ông Abraham. Chúa toàn năng gì mà phải dùng một phép thử để đo lòng người kiểu vậy! Nếu đọc hạnh các Thánh thì bác Lê Anh Dũng sẽ thấy, Thiên Chúa như một huấn luyện viên, tùy theo cấp độ của từng vận động viên mà Ngài thiết lập cho những giáo án phù hợp để giúp người ấy tiến xa hơn. Dường như vị huấn luyện viên này có phần ưu ái với những học viên ít năng lực. Tuy nhiên, Ngài không ngừng đòi hỏi sự thanh luyện cho nên hoàn thiện ở từng người vận động viên của mình. Do vậy, các Thánh chẳng ông nào Chúa để cho yên hàn, an nhiên tự tại một giây phút nào cả.

    Chúa biết trong tâm tư của Abraham có gì lớn lao hơn được chọn Chúa làm gia nghiệp nữa đâu. Vậy nên, qua đứa con mà Ngài giúp cho mối tương quan giữa Ngài và tổ phụ Apraham trở nên mật thiết hơn.

    Ý nghĩa được rút tỉa ra: trong lẽ sống ở dương thế không phải khi nào cũng tuân thủ nghiêm nhặt quy luật nhân quả – những người ở hiền vẫn có thể không gặp lành mà gặp những nghịch cảnh. Những ai ăn ở ngay lành mà vẫn gặp những tai ương khốn khó qua câu chuyện này có thể tin tưởng đó là một phương thế Chúa dùng để thanh luyện con người mình. Một người mẹ già có đứa con trai duy nhất bị chết vì tai nạn giao thông, nếu tin vào sự mọi sự do Chúa quan phòng, thì có khác gì Abraham giết Isaac đâu.

    3. „Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần ghen tương. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông.“

    Suốt trong dòng lịch sử, dân Do Thái chỉ là một dân tộc hèn yếu, bị làm nô lệ, bị đô hộ, bị sát hại bởi hết các thế lực hùng mạnh của trần gian; phải rời bỏ quê hương đi lưu đày nhưng Dân tộc ấy vẫn không bị xóa sổ. Theo tôi, có được điều đó là bởi nguồn cơn từ câu kinh thánh được trích dẫn trên đây. Tôi cũng có một trỉa nghiêm bản thân như thế ở tuổi ấu thơ. Đến nay, tôi còn nhớ nhập tâm câu thơ được học thời cấp I trường làng: „Bác Hồ là vị cha chung/ Là sao bắc đẩu là vừng thái dương.“ Khi đọc phải câu thơ đó tự dưng tôi khựng lại và thủ hỏi thầm: Không lẽ Bác Hồ bằng được Thiên Chúa? Và từ đó bắt đầu những sự hoài nghi. Lên tới cấp II trong giờ học văn tôi được làm cái việc là: phân tích câu thơ: „Bác Hồ hơn mẹ hơn cha/ Công cao, nghĩa cả bao la đất trời“. Thật ra, phân thì phân mà tích thì tích nhưng cái bụng mình vẫn thầm nhủ (như mình đã tuyên xưng trong các Thánh lễ ngày chúa nhật): CHỈ CÓ Chúa là Chúa, CHỈ CÓ Chúa là Đấng tối cao! Trình bày trải nghiệm này không phải tôi có ý xúc phạm một nhân vật lịch sử là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhưng để khẳng định một điều rằng do tin vào một Đức Chúa trong Ki-tô giáo khiến cho một đứa trẻ lên 9 đã không bị đánh lừa bởi một hình ảnh hết sức hấp dẫn. Giả sử, đứa bé đó tôn kính cụ Hồ thế nào đi nữa, nhưng xin lỗi, nó đã không thể để ai đặt cụ ngồi trên đầu được.

    4. Trích: „TÌNH YÊU đòi hỏi một số điều kiện: Hiểu biết lẫn nhau, dung hòa, tương nhượng “yêu nhau chín bỏ làm mười”. Hiểu biết lẫn nhau đòi hỏi người Ki-tô hữu nhìn nhận những nguyên tắc có giá trị phổ quát của nhân loại như “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”, những biểu hiện “Tham, Sân, Si” có thể giải quyết tốt bằng những kỹ thuật như “Từ, Bi, Hỷ, Xả” … đóng góp rất nhiều cho việc xây dựng Tình Yêu.“

    Trong Ki-tô giáo thì ngược lại: Tình Yêu là cội rễ của những giá trị tốt đẹp kia. Nhân, nghĩa, Trí, Tín hay Từ, Bi, Hỷ, Xả … được đong đầy ý nghĩa nếu khởi nguồn từ tình yêu còn không chỉ là những thứ hàng mã.

    5. Trích „Số lượng chữ “ma qủy” mà cuộc đời 2 thứ tóc của tôi được nghe trước khi biết tới nhà thờ Tin Lành chỉ bằng 1/10 lượng chữ “ma quỷ” mà tôi nghe ở nhà thờ Tin Lành trong vài năm gần đây! “

    Ngược lại, tôi có cảm tưởng người phương Tây cũng theo Ki-tô giáo nhưng chẳng mấy khi quan tâm tới ma quỷ bác ạ.

    6. „Ở nhà thờ Tin Lành VN, tôi được biết tới một hình thức tôn giáo hẹp hòi, sự tu nhân, tích đức, hoàn thiện hoàn toàn không là một ưu tiên, chỉ được nhắc tới cho có như trang điểm. Tuyệt đại đa số lời giảng hướng về việc thờ phượng Thiên Chúa để được cứu rỗi, được phước từ Chúa.“

    Theo tôi biết, điều này không chỉ là hình thức mà thậm chí là tâm thức tôn giáo cũng dễ nhận thấy nơi một số giáo dân Công giáo. Có người còn xem Chúa chỉ là phương tiện, là một vị thần cầu được ước thấy để thỏa nhu cầu vật chất của họ. Và, khi thấy không được đáp ứng thì niềm tin trong họ bắt đầu lụi tàn. Nếu quan niệm thiên đàng, ơn cứu độ chỉ là một món hàng để dổi chác thì chẳng khác gì coi Thiên Chúa chỉ là tên lái buôn bần tiện, hẹp hòi. Nếu Thiên đàng chỉ là một chốn thuộc về không gian địa lý thì ơn cứu độ của chúng là cơ quan vũ trụ Nasa chứ đâu phải là Chúa nào đây. Trong khi, thiên đàng có thể hiểu là một trạng thái kết hiệp giữa bản thân mỗi người với Thiên Chúa Ba Ngôi và với tha nhân dựa trên tình yêu.
    “Cha khát khao được kết hợp với các linh hồn; niềm vui sướng lớn lao của Cha là được hợp nhất với các linh hồn. Ái nữ của Cha, con hãy biết rằng khi đến với một trái tim khi họ hiệp lễ, tay Cha đầy ắp mọi thứ ân sủng mà Cha muốn tặng ban cho linh hồn ấy. Nhưng các linh hồn không thèm để ý đến Cha; họ bỏ mặc Cha thui thủi một mình vì bận rộn những chuyện khác. Ôi, Cha buồn sầu biết bao vì các linh hồn không nhận ra Tình Yêu! Họ xử với Cha như một vật vô hồn.”
    „http://www.longthuongxotchua.com/tieusuthanhfaustina/204-thong-diep-ltxc-tt.html“

    Bác Trầm Kha,
    Cảm ơn bác đã quan tâm tới những phản hồi của tôi. Còn tôi thì không dám nhận sự tạ lỗi của bác vì bác đâu có lỗi gì? Chúng ta có điều kiện tham gia vào talawas với nhau đã là một điều quý hóa rồi chứ đâu phải hơn thua ở câu chữ. Bởi vậy, tôi biết nhiều khi những suy nghĩ(chưa bàn đúng sai nhưng chân thành) của tôi trong các phản hồi khác với của nhiều bác ở đây. Nhưng tôi tin vào lòng rộng lượng của các bác nên mới dám trình bày như thế mà không hề bận tâm gì cả.

    Thân Ái.

1 ... 8 9 10
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả