talawas blog

Chuyên mục:

Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai

08/10/2010 | 12:58 sáng | 141 phản hồi

Tác giả: Trần Kiêm Đoàn

Chuyên mục: Tôn giáo
Thẻ:

Đã hơn một năm rưỡi, thường xuyên xem hình, đọc bài viết, nghe lời luận bàn, theo dõi tin đồn về Phật Ngọc[1] và hiện tượng Phật Ngọc, nhưng mãi đến hôm nay tôi mới được tiếp cận và chiêm bái trong thầm lặng riêng tư với Phật Ngọc ngay giữa rừng người. Quá trình nghĩ vềđến với trong mối liên hệ nhân quả có khi chỉ là một. Nhân quả đồng thời. Nhân quả nối đuôi nhau trong chớp mắt. Nhưng cũng có khi là con đường dài biền biệt, có khi hết cả đời không mong gì thấy được nhân thành quả. Mây trắng có thể chẳng bao giờ thành mưa nếu trên đường gió lộng gặp trời xanh và nắng ấm. Nghĩ vềthực chứng là đi từ hư đến thật; từ vọng đến chân.

Sáng Chủ nhật (3-10-2010), tại chùa Kim Quang, thành phố thủ phủ tiểu bang California, theo sau những nghi lễ đầy âm thanh và màu sắc, tượng Phật Ngọc đã chính thức được trưng bày trước đại chúng. Hơn một trăm tăng ni và sáu nghìn người (theo quan sát và ước tính của nhật báo Sacramento Bee[2]) gồm quan khách đồng hương cũng như người nước ngoài, thân hữu và Phật tử tham dự nghi thức khai mạc lễ hội cung nghinh Phật Ngọc. Khi toàn hình ngôi tượng được trưng bày trong âm thanh trầm vọng của tiếng cầu kinh niệm Phật hòa quyện với tiếng vỗ tay nồng nhiệt của đại chúng, tôi mới chợt hiểu nghệ thuật biểu hiện tâm linh có con đường bay riêng của nó mà phương tiện diễn đạt của ngôn ngữ và tranh luận của lý trí sẽ trở thành bất lực, vô phương.

Khai mạc Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại chùa Kim Quang, Sacramento

Bên cạnh tiền đình với nhiều đường nét mỹ thuật của ngôi chùa Kim Quang mới được tái tạo và khánh thành chưa lâu là lễ đài tôn trí tượng Phật Ngọc. Màu xanh ngọc bích bóng ngời của thân tượng phản chiếu nắng vàng mùa Thu nổi bật giữa rừng áo vàng của quý tăng ni, hòa với màu lam dịu hiền của nhiều đơn vị Gia đình Phật tử khắp nơi tụ về đã tạo thành một bức tranh mang tính pháp hội thật nhu hòa mà cũng sinh động đầy thu hút.

Gặp dịp, tôi dán mắt mình quan chiêm ngôi tượng Phật bằng Ngọc để cố tìm cho ra những đường nét hiển hiện đầy thiêng liêng mà nhiều người đã từng ca tụng. Nhưng tất cả hiện ra trước mắt tôi là một tác phẩm điêu khắc mỹ thuật tạc ra từ một chất liệu vật thể quý hiếm mang bóng dáng đức Phật. Thật ra, mọi hình tướng tượng đài tự bản chất là một sự phỏng định không quy ước. Đó chỉ là cách thể hiện cụ thể cái “sự” bắt nguồn từ cái “lý”; cái dụng thể hiện cho cái ứng. Vì vậy, càng tranh luận hơn thua, đúng sai, tốt xấu, cao thấp về niềm tin tôn giáo “linh tại ngã, bất linh tại ngã” càng có cơ dẫn tới sự xung đột cá nhân và phân hóa tình người chẳng có lợi cho ai mà chỉ làm dày đặc thêm bóng tối vô minh của cực đoan và chấp ngã.

Mãi đến khi mắt rời ngôi tượng, quan sát chung quanh, tôi mới thật sự bắt gặp những gì mình chưa thấy qua đôi mắt trần vật lý. Đó là hình ảnh phản chiếu long lanh hình tượng Phật Ngọc trong đôi mắt của hàng nghìn người đang chiêm bái. Tâm thế nào thì ảnh tượng Phật Ngọc sẽ hiện ra trong mắt như thế ấy. Sự mặc khải của dòng trực cảm tâm linh không  đo lường hay dò tìm được bằng những phương tiện phàm trần quy ước. Sẽ không ai có đủ khả năng phân tích và lý giải được những gì thuộc về phạm trù tâm linh, tôn giáo trước một khối người đông tới sáu nghìn quanh khuôn viên chùa Kim Quang hôm nay. Tất cả đều như đang trầm lắng lại bằng sự tĩnh tâm quan chiêm cùng một đối tượng: Phật Ngọc.

Xin nghỉ chân rong chơi một chút loanh quanh dòng  Tâm lý Trị liệu Thực hành (Practical Psychotherapy) hiện đại. Những tay nghiên cứu tâm lý sừng sỏ thường nói đến sự vi tế và giao hưởng đầy sinh động của năng lượng, sóngtần số xuất phát từ tâm thức và đời sống thực tế của mỗi con người. Năng lượng lành (thanh khí), năng lượng ác (trọc khí) vần vũ xuôi ngược thường xuyên trong trời đất bao la từ vô thủy đến vô chung. Năng lượng nhiều hay ít tùy theo sóng cao thấp của thể lý và tâm linh. Sóng lớn hay nhỏ, vi tế hay thô trần tùy theo mức độ lành hay dữ của năng lượng. Tần số là cửa ngõ phát tán và thu hút năng lượng. Cửa ngõ mở rộng, đóng hờ hay khép kín đều phát xuất từ tâm và thức. Xin nhớ lại chuyện “Đi Chùa Hương”: Cô bé bận quần lĩnh áo the mới đi lễ hội chùa Hương với Thầy Mẹ. Chàng thư sinh lòng phơi phới lên chùa chiêm bái. Năng lượng lành xuất hiện. Cả hai không quen nhau nhưng cùng được tưới tẩm trong dòng suối tâm linh “Nam mô A Di Đà” của đại chúng. Mỗi bên đều phát tán và thu nhiễm năng lượng của bên kia. Thuyền càng tới gần chùa, làn sóng tâm linh của cá nhân và đại chúng càng cuồn cuộn vực dậy trong biển năng lượng thanh thoát của vạn lời cầu nguyện phát ra từ những tâm thành. Tần số tâm thức của đôi lứa thanh xuân cùng cường điệu bắt gặp nhau nhẹ nhàng và tự nhiên như đến từ tiền kiếp: “Em ư? Em không cầu. Đường vẫn thấy đi mau. Chàng cũng cho như thế.  Ra ta hợp tâm đầu.

Sự nghiên cứu về năng lượng, sóng và tần số thuộc về lĩnh vực tâm linh của khoa Tâm lý Trị liệu Thực hành khởi từ thời đại cổ sơ của người thượng cổ khi chưa có hình thức tôn giáo ra đời. Phật và Chúa mấy chục nghìn năm sau mới xuất hiện. Đó là khi loài người thực hành nếp sinh hoạt tâm linh qua những hình thái bái vọng thiên nhiên hay ngẫu tượng. Tiến thêm bước nữa là thời kỳ Bái Vật giáo; rồi Phiếm Thần giáo, Đa Thần giáo. Nhiều bộ lạc chỉ chiêm bái và thờ cúng một tảng đá đầu truông, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông đầu làng mà họ hết lòng tín cẩn và cầu nguyện. Khi những năng lượng tâm linh vi tế ẩn chứa phần lớn là năng lượng lành của một khối người có chung một tảng đá, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông… làm đối tượng “chứng tri” thì năng lượng lành hay sóng, tần số tâm linh của cả một khối người đông đảo có sự tương tác giao thoa. Đó là một gia tài tâm linh tích lũy càng ngày càng lớn của một tập thể có chung niềm tin trong cùng một tín hiệu. Gặp khi nguy biến, thành tâm cầu nguyện là lúc cá nhân bị nạn “giải mã” (như mở password ngày nay) để nhận nguồn năng lượng lành đã tích lũy.  Nếu minh họa bằng hình tượng cho dễ hiểu thì cũng tương tự như hoạt động tích lũy và sử dụng tài sản – gởi và rút tiền – qua trương mục của một ngân hàng trung tâm. Kẻ tích thiện làm lành có vốn giàu to. Kẻ độc ác sẽ bị trắng tay hay phá sản[3].

Với tinh thần Phật giáo “vô lượng pháp môn tu” – thì những ý kiến cá nhân hay nhóm phái chủ quan, cảm tính, cực đoan là phi Phật giáo vì đi ngược lại con đường Trung Đạo cố hữu của nhà Phật. Nói và viết về đạo Phật – con đường thênh thang mây trắng – mà phải nhăn trán, nhíu mày loay hoay mãi với tâm lý uẩn ức tiêu cực quanh mấy chuyện được thua, giàu nghèo, có không… trong giới hạn cá nhân nhỏ hẹp để khích bác và đối kháng lẫn nhau thì thật là uổng phí thời gian tĩnh lặng giữa cuộc đời ngắn ngủi. Thú vị chi ngồi khuấy tách trà làm bão tố phù du!

Sáng hôm nay 4-10-2010, đọc bài tường thuật của phóng viên Stephen Magagnini của nhật báo Sacramento Bee về lễ khai mạc cung nghinh Phật Ngọc tại Sacramento với tiêu đề “Jade Buddha draws throng praying for peace, health and prosperity” (Phật Ngọc làm dấy lên lời cầu nguyện đa dạng cho hòa bình, sức khỏe và phồn vinh.) Nội dung bài báo tương đối xứng hợp với tiêu đề đưa ra. Trước đó vài tuần, khi tượng Phật Ngọc còn đang trưng bày ở San Jose, thành phố có đông người Việt thứ nhì tại tiểu bang California sau Quận Cam, phóng viên Bruce Newman của nhật báo địa phương Mercury News, số ngày 15-9-2010 đã viết bài tường thuật về lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại đây dưới tiêu đề “The Jade Buddha, symbol of peace and harmony, everywhere but in San Jose” (Phật Ngọc, biểu tượng của hòa bình và hòa hợp khắp mọi nơi, ngoại trừ San Jose.)[4]

Thật ra, đứng trên quan điểm tôn giáo nói chung, Newman đã dẫn chứng các sự kiện và nhân vật trong cộng đồng người Việt tại San Jose mà ảnh hưởng và tác dụng của vấn đề cần đặt trong bối cảnh chung của tình hình xã hội và chính trị tại địa phương, chẳng có sự liên quan trực tiếp nào đáng kể trên sinh hoạt của Phật giáo tại San Jose. Trên tiêu chuẩn “handbook” của ngành báo chí Hoa Kỳ, Bruce Newman săn tin rất “động” nhưng lại chưa đủ “tĩnh” để có thể hiểu hết thực chất “tướng” và “tánh” – bóng và hình – của một cộng đồng dân tộc và văn hóa “bốn nghìn năm văn hiến” quá nhiêu khê như người Việt Nam.

Trong một bài viết trước đây về Phật Ngọc nhan đề “Phật Ngọc, hình tướng và thật tánh của hoà bình, an lạc”, kẻ đang viết những dòng nầy đã cố gắng ứng dụng đồng thời hai tuyến dữ kiện “động” và “tĩnh” để trình bày một phần quan điểm của mình về Phật Ngọc. Nay trong bài viết tiếp theo nầy, người viết bằng vào diễn biến thực tế và ý kiến của nhiều Phật tử trực tiếp tham dự Lễ Hội để nhận định về tác dụng trực tiếp cuộc du thỉnh “world tour” vòng quanh thế giới của Phật Ngọc đối với cộng đồng Phật giáo Việt Nam.

Xin tạm gác qua lắm chuyện thị phi bên lề diễn biến của tiến trình trưng bày Phật Ngọc liên quan đến sự được thua, hơn kém, to nhỏ, mạnh yếu, khen chê… về thế lực, tài chánh, khả năng tranh chấp quyền lợi; cùng những hào quang dễ dãi và bóng đen vu vạ mà xưa nay trong bất cứ hoàn cảnh nào và thời điểm nào cũng có. Một khi có sự tương tác từ hai người trở lên thì sự va chạm cá nhân và phe phái không thể nào tránh khỏi. Nhà sư Tích Lan, Tikhome Lanka, đã viết trong Pháp Ngữ Diễn Đàn (Dharma, 2001) rằng: “Tôn giáo dính vào tiền bạc và quyền thế tranh chấp đời thường là đang bước lên cỗ xe năng động: Chạy lên trời Đâu Suất hay rớt xuống Địa Ngục dễ dàng như trở bàn tay! Nhà tu ngày nay đến với cảnh giới giải thoát hay cứu cánh đắc đạo thường mua vé xe bằng tiền bạc nên chỉ đi được xe ngựa xe đò; trong lúc đó, cuộc đời quá ngắn ngủi thì phải đi bằng tốc độ tâm linh nhiệm màu nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng mới mong về kịp chốn ước mơ trước khi nhắm mắt xuôi tay!

Trong khi tôi đang viết những dòng nầy tại Sacramento thì đang hàng trăm người từ San Jose, Fresno, Stockton và các vùng lân cận đã kiên tâm chờ đợi tới mấy ngày, nhưng không ít người đã ra về tay không. Hầu hết những người ở xa cho biết là họ đã phải thức dậy từ 2, 3 giờ sáng để lái xe về địa điểm Phật Ngọc, xếp hàng chờ đợi để cố mua cho được một miếng tượng mỏng, nhỏ hơn hai ngón tay. Đại chúng được cho biết và có giấy chứng nhận đây là thành phẩm chiết ra từ khối ngọc chính tạc tượng Phật Ngọc. Tôi quan sát những khuôn mặt chờ đợi phờ phạc nhưng phát nụ cười hớn hở khi vừa ra khỏi cửa với miếng tượng nhỏ xíu trên tay. Cũng đã có quá nhiều lời bình phẩm – trong cũng nhiều mà đục cũng lắm – về ý nghĩa, động cơ và tác dụng của việc mua và bán tượng đeo bằng ngọc nầy. Trong muôn một, tôi thử tiếp xúc với một người vừa mua được tượng ngọc và “phỏng vấn”. Anh cho biết anh là Trần Quốc Mỹ, ở Stockton, đã trải qua “công đoạn” đợi chờ hết sức vất vả suốt mấy ngày mới mua được tượng ngọc. Anh cho biết là đã nghe quá nhiều chuyện thật hư, nhưng “tội ai nấy hứng, ai tu nấy chứng”, nên chẳng quan tâm đến chuyện thị phi, tin hay không tin là do mình. Anh kết luận thoải mái rằng: “Bạc vàng thì có giả, có thiệt do người ta mang tới, nhưng lòng tin là do mình. Mua một niềm tin có khả năng biến thành nguồn vui, hay hơn nữa thành nguồn an lạc thì quả là vô giá. Nhưng ở đây tốn kém chỉ bằng mua một cái vé đại nhạc hội Paris by Night thì cũng là thú vị.” Câu nói của anh làm tôi nhớ tới những hòn đá “tô-tem” làm vật thờ cúng của người cổ sơ.

Ông Trần Quốc Mỹ với tượng ngọc trên tay

Hai mẫu tượng ngọc phát hành trong dịp Lễ Hội cung nghinh Phật Ngọc

Niềm tin tôn giáo, dù chỉ là năng lực vô hình của tinh thần và tâm linh, nhưng lại chiếm ngự phần đời rất lớn của những người tôn giáo. Có tôn giáo hành đạo mỗi ngày năm lần bảy lượt để cầu nguyện. Có tôn giáo khi đã theo là hiến trọn đời mình cho giáo chủ. Đạo Phật thường nói đến con đường từ bi và trí tuệ không phải vì có một pháp môn chuyên nhất đưa tới giác ngộ, nhưng đức Phật đã chỉ ra vô lượng pháp môn hành đạo mà đời thường đưa ra con số làm biểu tượng là tám vạn bốn ngàn. Trên con đường thênh thang tùy duyên ấy, có những hình ảnh quán niệm tĩnh lặng cao thâm; nhưng cũng có lúc phải cần tới “lục thời công phu” và môn phái Tịnh độ hành trì Pháp môn Niệm Phật, giữ cho được “nhất tâm bất loạn” thì niệm Phật thường hằng không lúc nào dứt niệm. Nói tóm lại, đi vào lĩnh vực đức tin tôn giáo là đi vào một thế giới khác mà những tiêu chí và luận lý đời thường không thể nào lý giải và hiểu cho rốt ráo được.

Trong những ngày qua, môi trường truyền thông đại chúng người Việt cũng như người nước ngoài đã đưa ra một lượng thông tin khá phong phú và đa dạng về Phật Ngọc. Khuynh hướng đồng nhất hóa giữa biểu tượng và chân pháp; giữa phương tiện và mục tiêu; giữa lòng tin và lợi dụng; giữa hoằng dương và quảng cáo, giữa lý và sự đã đưa tới nhiều sự duy diễn quá xa vời.

Hiện tại, tượng Phật Ngọc đang được trưng bày tại Sacramento sang ngày thứ tư. Nhiều khách hành hương đã bày tỏ sự tán đồng về danh xưng: “Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc…” vì nó tránh được sự cường điệu và thánh hóa không hợp với tinh thần đạo Phật. Người ta ước mong rằng, nếu lễ hội được mở ra bằng những tấm lòng và ý hướng chân chính tất sẽ thành Pháp hội. Phật giáo cận đại và hiện đại có nhiều khả năng lập ra nhiều Giáo hội nhưng thiếu Pháp hội. Giáo hội là để lãnh đạo và khống chế nhau bằng thế và lực; nhưng Pháp hội là để đến với nhau trong tinh thần hòa đồng, bình đẳng, tin yêu và chia sẻ.

Lời phát biểu của thầy Thích Minh Đạt trong lễ khai mạc đã một phần làm sáng tỏ cho một cách nhìn chánh niệm: “Phật vẽ trên giấy, Phật thêu trên lụa, Phật tạo bằng đất sét, bằng xi măng, bằng thạch cao, bằng tất cả các loại đá trong đó có loại đá quý mà chúng ta gọi là “Ngọc”… tất cả đều không có khả năng mang lại hòa bình cho thế giới. Chỉ có một vị Phật duy nhất có đủ khả năng mang lại hòa bình cho thế giới, đem lại an lạc hạnh phúc cho mọi loài, đó là Phật Tâm (…) Tâm bình thế giới bình.”

Phật Ngọc không ở đâu, không giống định kiến nào, không thuộc về ai cả mà ở chính trong đôi mắt của người nhìn. Cái nhìn xuất phát từ Tâm. Phật Ngọc trong mắt ai… sẽ không giống Phật Ngọc trong tưởng tượng và suy diễn của tha nhân. Phải chăng vì nó không giống ngón tay chỉ mặt trăng mà bởi nó là đôi mắt thật của tâm sinh và tâm khởi trong nguồn năng lượng lành: Ai nhìn nấy thấy.

Sacramento, 4-10-2010

© 2010 Trần Kiêm Đoàn

© 2010 talawas


[1] Sở dĩ có cái phụ chú nầy vì đã có ý kiến phản bác danh xưng Phật Ngọc.Ý kiến này cho rằng “Phật là Phật; là đấng giác ngộ viên mãn chứ không có Phật ngọc, Phật vàng, Phật bạc gì cả).Vì người viết không tự đặt mình ở vị trí để tranh biện về chính danh – định phận hay dính líu vào một hình thức luận bàn hình thức không cần thiết tương tự, nên xin gọi theo thế danh đại chúng về ngôi tượng là Phật Ngọc. Thật ra, mọi danh xưng, danh vị, danh từ tạm dùng để gọi tên vạn pháp theo tinh thần đạo Phật đều là giả danh. Lời Phật: “Chân pháp không phân biệt. Nhìn đúng là nhìn thẳng vào bản lai diện mục của tất cả các pháp đều không có tự tánh nên chẳng chấp trước nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả. Nhìn cành hoa không phải là cành hoa mới thật là cành hoa.”

[2] Xem toàn văn tường thuật tại trang web: http://www.sacbee.com/2010/10/04/3076893/jade-buddha-draws-throng-praying.html

[3] Practical Psychotherapy: Adaptation of dialectical behavior. Gerald Amada. Batam, NY; NY, 2009.

[4] Toàn văn bài viết nầy đã đăng lên mạng lưới toàn cầu, ở địa chỉ: http://www.mercurynews.com/ci_16087076?nclick_check=1

Phản hồi

141 phản hồi (bài “Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai”)

  1. Hoà Nguyễn nói:

    Nguyen Mai Linh: “ … cho dù Trần Quốc Việt có thể không phải là một người chuyên làm thơ.
    Câu này nói lên được cái tột cùng, chính xác nhất khi nói về đất nước Việt. Cái u mê đó không dừng ở con số ngàn, mà vẫn còn u mê cho đến tận bây giờ
    “.

    Đó là điều tôi muốn nói thiệt thà: ai không chuyên làm thơ, làm vè thì nên viết văn xuôi là cái sở trường nổi bật hơn. (tôi thật tâm tán thưởng, và ngưỡng mộ các tác giả những bài thơ hay ở đây).

    Khi NM Linh viết “u mê cho đến tận bây giờ ” vì lễ hội trong nước và vì tượng Phât Ngọc hải ngoại, là cách giải thích “bài thơ” vô cùng độc đáo, chỉ của người được giáo dục chính quy dưới mái trường văn nào đó. Nhưng tôi nghĩ tuy nghìn năm trước “Quê hương mê lễ hội” vì chắc chắn trong dân gian đã có lễ hội, nhưng làm gì có chuyện ” Hải ngoại mê Phật ngọc” thời đó để gây nên hậu quả tai hại là bây giờ nước VN vẫn còn u mê . Nếu NML muốn nói nhà Lỳ trong 200 năm dựng nước, giữ nước và mở nước đã bày ra nhiều lễ hội và tôn sùng đạo Phật (như bỏ tiền của xây chùa Một cột), khiến người VN ngày nay vẫn còn u mê , thì người VN sẽ ra sao nếu ngay từ ngàn năm trước xây dựng được chề dộ vô thần , như tiếp tục chuyện Lê Long Đĩnh róc mía trên đầu sư. Có phải nếu vô thần sớm hơn như thế bộ mặt nuớc VN bây giờ sẽ sáng rỡ như Nhật Bản ?

    Vài người ném đá vào tượng Phật Ngọc đôi khi cũng thấy lớn tiếng chống chuyện tham nhũng quá đáng ở trong nước. Nhưng nếu ngày nào thay thế được những người cầm quyền hiện nay, họ lại có khả năng trở thành vô cùng độc đoán, ít ra độc đoán không kém, chăc chắn cũng cấm tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, nhân danh để bớt u mê. Cụ Hồ đã nói chuyện trồng người.

  2. Lê Quốc Trinh nói:

    Chào bác TriNgộ,

    Bác đã nói:

    “…Lạy Phật Ngọc hay Phật Gỗ cung kính không có gì sai. Tuy nhiên lạy như thế nào để thấy người lạy (năng lễ) và người (hoặc tượng) được lạy (sở lễ) là một (vì cả hai đều vô ngã) thì đó là cái lạy cao nhất (hoặc chân chính nhất). Lạy Phật (bất kì Phật Ngọc hay Phật Gỗ) như thế nào để niềm tin nơi khả năng thành Phật, khả năng sống hạnh phúc của chính mình càng ngày càng lớn thì đó là cái lạy xứng đáng nhất (phỏng theo Lâm Tế Lục)”…
    ___________________

    Ơ hay! Bác đã quên vị Phật trong sáng đang ngự trong Tâm bác rồi sao? Tại sao chúng ta không đem vị Phật trong Tâm ra lau chùi đánh bóng, quỳ lạy mà lại cứ chạy theo vật chất ngoại cảnh như Phật Gỗ, Phật Đất Sét, Phật Đồng hay Phật Ngọc?

    Muốn thành Phật (Giác Ngộ) ư? Đi thẳng vào Tâm là thấy ngay. Mang tinh thần Vô Ngã tại sao còn phải chấp vào vật chất (Phật Gỗ hay Phật Ngọc)? Vật chất nguyên thuỷ vẫn phải chịu sự chi phối của quy luật Luân Hồi (Thành, Trụ Hoại, Diệt) cơ mà?

    Phải chăng lạy Phật cung kính thành tâm thì ánh mắt long lanh sáng ngời như lời diễn tả của tác giả Trần Kiêm Đoàn và lời chú giải của bạn Nguyễn Mai Lĩnh?

  3. Phùng Tường Vân nói:

    “Tuy “vô thần” nhưng tôi nghiêng về Đạo Chúa vì những đóng góp cho xã hội, nghệ thuật, khoa học, giáo dục, rất lớn trong quá khứ, ảnh hưởng khắp thế giới” (NĐT)

    Những hệ lụy buồn bã của Đạo Thiên Chúa đối với quá khứ lịch sử trên đất nước ta, khiến rất nhiều người quên mất điều này. Xin được thêm rằng những định chế nhân đạo xã hội của thế giới Tây Phương mà những người tỵ nạn khốn khổ trên khắp thế giới nhận được tại các quốc gia tiếp nhận họ, ít nhât là có nguồn gốc và hứng cảm từ văn minh Thiên Chúa Giáo. Nhân có ý kiến của ông Nguyễn Đăng Thường, tôi chỉ xin góp thêm một suy nghĩ nhỏ, tuyệt đối không có ý định tranh luận.

  4. nguyen mai linh nói:

    Nước ngàn năm u mê (Trần Quốc Việt)

    Thơ có thơ vần, thơ không vần nhưng nhất thiết nó phải từ tâm với tinh hoa chữ nghĩa. Mỗi con chữ trong bài thơ phải toát lên điều sâu sắc. Tôi thấy Trần Quốc Việt đã làm được điều đó, cho dù Trần Quốc Việt có thể không phải là một người chuyên làm thơ.

    Câu này nói lên được cái tột cùng, chính xác nhất khi nói về đất nước Việt. Cái u mê đó không dừng ở con số ngàn, mà vẫn còn u mê cho đến tận bây giờ. Bao nhiêu năm qua, trong cái ngàn năm từ thời Bắc thuộc ngàn xưa cho đến thời Bắc thuộc ngày nay thì năm tháng nằm giữa hai giai đoạn này là cảnh nồi da xáo thịt, chiến tranh liên miên không ngừng nghỉ, khích bác, chống đối, chém giết tranh quyền đoạt lợi lẫn nhau giữa những người anh em. Cái u mê nó từ hồi nào đến giờ chứ không chỉ mấy chục năm trở lại đây như nguyên văn sau đây của Hòa Nguyễn:

    “Nhưng mấy chục năm nay, nguyên nhân chính làm VN sống trong u mê chẳng lẽ không phải là vì chủ nghĩa duy vật vô thần sao? Vì duy vật vô thần nên các giá trị văn hóa, nhân bản,ngay cả giá trị của sinh mạng con người cũng không được đếm xỉa tới. Trong thời gian dài, chủ nghĩa đó giết chết bao nhiêu triệu người, và giết chết, làm thui chột, biến dạng bao nhiêu ý tưởng tốt đẹp giúp con người sống hạnh phúc, cao thượng hơn.”

    Tuy nhiên, cái u mê đó được chúng ra, người Việt Nam, khéo léo che đậy, trí trá ngụy trang bằng những lễ hội linh đình ở trong nước, để cố quên đi những vấn nạn của người dân, đất đảo ngoài biển Đông. Ở Hải ngoại, chẳng phải sự mê Phật Ngọc, tán dương một cách thái quá thì chẳng phải là quá u mê chăng?

  5. Nguyễn Đăng Thường nói:

    Không chỉ có thờ Phật thờ Chúa (tôn giáo), v.v, mà còn có những sự tôn thờ khác nữa, như tôn thờ lãnh tụ (chính trị), tôn vinh vua chúa, anh hùng (chủ nghĩa quốc gia, dân tộc), v.v. Vài cái xác ướp vẫn còn được thờ phụng/thờ cúng dù đã hết “linh thiêng”.

    Tuy “vô thần” nhưng tôi nghiêng về Đạo Chúa vì những đóng góp cho xã hội, nghệ thuật, khoa học, giáo dục, rất lớn trong quá khứ, ảnh hưởng khắp thế giới (chữ “quốc ngữ” của ta chẳng hạn), dù Nhà Thờ đã có/vẫn còn những xung đột với những khám phá của các nhà khoa học (Copernic, Galillée, Darwin…) nhưng ngược lại, Nhà Thờ vẫn luôn luôn biết sửa sai, nhờ trình độ (học thức, tri thức) cao của các giáo chủ, linh mục, con chiên, v.v.

    Riêng tôi, tôi chỉ tôn thờ “Nữ thần Tự Do”, mặc cho ai chê cười đứa ngu si không có đời sống “tâm linh”. Những đừng quên, cái “tâm” không nhất thiết phải ở trong ta mà “nó” thường được “cấy” vào tim óc. Triệu triệu vệ binh đỏ hôm xưa chưa xa lắm đã vung cuốn sách đỏ như “kinh Phật”.

  6. Tri Ngộ nói:

    Nhìn theo cặp mắt vô ngã thì tượng Phật bằng ngọc thạch (tạm gọi là Phật Ngọc) chắc cũng phải quý như các tượng khác bằng vàng hay ngay cả bằng gỗ. Lạy Phật Ngọc hay Phật Gỗ cung kính không có gì sai. Tuy nhiên lạy như thế nào để thấy người lạy (năng lễ) và người (hoặc tượng) được lạy (sở lễ) là một (vì cả hai đều vô ngã) thì đó là cái lạy cao nhất (hoặc chân chính nhất). Lạy Phật (bất kì Phật Ngọc hay Phật Gỗ) như thế nào để niềm tin nơi khả năng thành Phật, khả năng sống hạnh phúc của chính mình càng ngày càng lớn thì đó là cái lạy xứng đáng nhất (phỏng theo Lâm Tế Lục).

  7. Tonnguyen147 nói:

    Nói chung không có con người thì cũng chẳng có tôn giáo và sự thật là tôn giáo nào cũng phải dựa vào vật chất để tồn tại. Nhà thờ, đền thánh, chùa chiền không có con người đóng góp các phương tiện vật chất làm sao tự thân nó tồn tại? Đóng góp thì tất có kẻ lợi dụng.

    Theo tôi, quan điểm của Đạo Phật khá rộng rãi: đối với giới trí thức hay khoa học nó như một mô thức đạo lý hay một hình thức triết lý, có một giá trị tương đối nào đó trong khoa học khác biệt với một vài tôn giáo khác. Với giới bình dân, Phật được xem như một vị thần linh có khả năng đem lại điều tốt lành cho họ. Cũng chẳng sao, ai muốn tin gì cũng được, muốn mua bán gì cũng chẳng sao miễn là niềm tin đó không dẫn dắt đến chuyện mê tín dị đoan quá lố như tàn hương nước thải, đồng bóng, bói toán, phong thủy… hoặc xúc phạm đến niềm tin của người khác dưới bất cứ hình thức nào. Tôi nghĩ một tôn giáo nào đó nếu nó tốt đẹp, cao cả, phù hợp với đạo đức chung của con người thì nó sẽ tồn tại lâu dài…

    Điểm kế tiếp cũng quan trọng không kém đó là sự giải thích tôn giáo phải phù hợp với khoa học vì khoa học vẫn tiến mà hầu như tôn giáo dậm chân tại chỗ. Thế giới tương lai chắc chắn khoa học sẽ ngự trị tất cả và một số tôn giáo sẽ tàn lụn sớm là điều không thể tránh khỏi…

  8. Hoà Nguyễn nói:

    Trần Quốc Việt :

    Quê hương mê lễ hội .
    Hải ngoại mê Phật ngọc.
    Dòng đời cứ thế trôi.
    Nước nghìn năm u mê.

    Đây là thơ sao, cũng không chắc là vè, nhưng chỉ các nhà thơ VN mới nói được là thế nào. Tôi lờ mờ cho là tiếp nối cái chủ trương người người làm vè để tuyên truyền ở VN, nhưng là bài vè bác nông dân ít học đọc cũng tức cười.

    “Nước nghìn năm u mê” từ bao giờ? Nếu từ hôm nay có phải cho là vì Phật Ngọc và vì lễ hội gần đây ? Một bài thơ viễn tưởng ?

    Nhưng mấy chục năm nay, nguyên nhân chính làm VN sống trong u mê chẳng lẽ không phải là vì chủ nghĩa duy vật vô thần sao? Vì duy vật vô thần nên các giá trị văn hóa, nhân bản,ngay cả giá trị của sinh mạng con người cũng không được đếm xỉa tới. Trong thời gian dài, chủ nghĩa đó giết chết bao nhiêu triệu người, và giết chết, làm thui chột, biến dạng bao nhiêu ý tưởng tốt đẹp giúp con người sống hạnh phúc, cao thượng hơn.
    Tối thiểu, nếu muốn giữ giá trị của talawas, nên viết những điều mình biết.

  9. nguyen mai linh nói:

    Hải ngoại mê Phật ngọc (Trần quốc Việt)

    Nếu quý vị nhìn kỹ, họ đều có ánh mắt, cái nhìn giống hệt nhau, đều chân thành, xúc động như nhau. (Tracy)

    Đối với tôi, về khía cạnh tâm linh. Phật – Ngọc hay không Ngọc – đều là những gì như cha ông ta thường nói – Có thờ có thiêng, có kiêng có lành. Khi đã thiêng rồi, thì được mọi người chiêm bái như nhau.

    Thế nhưng, chữ mê mà Trần quốc Việt dùng ở trên thật chính xác. Mê có nghĩa là thích một cách thái quá, mà mê cũng có nghĩa là mê muội mê tín. Tất nhiên, khi đã mê rồi thì theo như Tracy nói, ánh mắt cái nhìn của mọi người đều thành kính như nhau, dù đó là Phật hay Bà hay Ông theo như trích dẫn phản hồi của Hòa Nguyễn.

    Nhưng, bên cạnh đó, một số người lại lợi dụng thánh thần để kinh doanh trục lợi, đánh lận con đen, đánh bóng tô hồng tôn giáo của mình như một phương cách hoằng pháp thì đó là điều đáng chê trách

  10. Hoà Nguyễn nói:

    Nguyen mai Linh nói: Tôi đã từng đi dự ngày hội vía Bà ở Thủ Dầu Một, Bình Dương. Tượng Bà bằng gỗ đen tuyền, không phải tượng ngọc

    Thờ cúng các “Bà”, như bà Đen (Tây Ninh), bà Chúa Xứ (Châu Dốc), Thánh mẫu, Thiên mụ…,không liên quan gì tới Phật giáo, và cũng không đúng ý nghĩa tôn giáo. Họ thuộc về một nhóm tín ngưỡng dân gian, địa phương, của người Việt Nam, như bà chúa Liễu Hạnh (và các mẫu) ngoài Bắc, Thiên Y ở Trung ( gốc Chàm là “Y Na”, Thiên Y A na), bà chúa Xứ trong Nam. Chắc đã có ảnh hưởng qua lại giữa ba dân tộc Việt, Chăm, Miên về tín ngưỡng này trong cuộc sống chung đụng, giao lưu. Người Trung Hoa theo Đạo giáo thờ Thánh mẫu, Thiên phi hay Thiên hậu cũng có phần tương tự (thấy có chùa ở Hội An, Chợ Lớn, và nhiều tỉnh trong Nam đông người Hoa).
    Nhưng trên không thuộc đạo Phật. Còn “ông” là Quan Công (Vũ) thời Tam Quốc càng không phải. Nhưng nghe nói ở nhiều nơi ngoài Bắc các “mẫu” được đặt bàn thờ ở phía sau chùa. Trong Nam, trước 1975, tôi thấy có chùa đặt tượng Quan Công, cũng ở phía sau. Điều này, theo quan niệm “Tam giáo” của người VN có thể hiểu được.

  11. Trần Quốc Việt nói:

    Quê hương mê lễ hội .
    Hải ngoại mê Phật ngọc.
    Dòng đời cứ thế trôi.
    Nước nghìn năm u mê.

  12. tracy nói:

    Khi mình đứng trong vị trí là tín hữu này, thường cho những người thuộc tôn giáo khác, người khác là vô thần, mê tín dị đoan , chỉ có đạo của mình là đạo của khoa học, của ánh sánh, là con đường giải thoát. Nếu nhìn con mắt thường tình, những người đến chiêm ngưỡng Phật Ngọc, Phật Bà, Đức mẹ, Đức Chúa ngay cả Các Cô, Các Cậu… nếu quý vị nhìn kỹ, họ đều có ánh mắt, cái nhìn giống hệt nhau, đều chân thành, xúc động như nhau. Nếu có dịp về thăm Bà Chúa Xứ tại VN, các bạn hãy quan sát xem sao nhé.

  13. Lê Quốc Trinh nói:

    Lại tiếp tục Phật Ngọc nữa ?

    Hiện tượng này lan rộng từ Dân Luận đến Đàn Chim Việt rồi lây lan cho đến Talawas này. Phải công nhận ông Trần Kiêm Đoàn có kiên nhẫn viết bài ca tụng Phật Ngọc không tiếc lời.

    Tuy nhiên dưới con mắt trần tục của tôi (và chắc của hàng tỷ người khác) thì đó chỉ là một pho tượng đúc từ ngọc thạch màu xanh, đơn giản là thế! Nhìn như thế nào thì diễn tả trung thực như vậy, đúng theo tinh thần Vô Ngã.

    Còn đặt tên cho pho tượng là Phật Ngọc thì đó là cách nhìn, cách mơ tưởng và cách suy luận của một số người, hàng ngàn, chục ngàn, trăm ngàn. Dĩ nhiên nghĩ sao thì cứ nói như thế, khi bị ảo ảnh vọng tưởng thì cứ gán cho “đối tượng” những tên họ danh tính mà mình muốn gán, thế thôi.

    Trong hai chữ Phật Ngọc, thì ít ra chữ Ngọc đúng chính xác nhất bởi lẽ pho tượng được tạc từ tảng ngọc thạch lớn màu xanh đồ sộ, nhìn vào biết ngay. Còn chữ Phật ư? Phật là gì nhỉ? Hình dáng Phật ra sao? Có giống con người bình thường không? Quốc tịch gì? Màu da đen hay trắng, vàng hay đỏ? Cao bao nhiêu? Nặng cỡ nào? Có đầy đủ tứ chi, lục phủ ngũ tạng như chúng ta không? Tại sao cứ phải gọi là Phật? Ai đã thấy Phật thật chưa? Phật nào: Thích Ca Mâu Ni (thật) hay ông A Di Đà (giả tạo)?

    Có người (Nguyễn Hữu Liêm) nghĩ rằng pho tượng bằng ngọc này mang tâm an lành, hoà bình đến với mọi người? Tốt thôi, ít ra tạo được cảm giác an lành trong vài phút, vài giờ, thậm chí vài ngày…rồi sau đó thì sao? Trở lại trạng thái mất cân bằng à? lo âu, nóng nảy, bồn chồn ư? Rồi lại phải trở lại chùa chiêm bái “Phật Ngọc” tiếp để mua cái Tâm hoà bình ư?

    Hóa ra vật chất có mãnh lực sui khiến tâm trạng con người sao? Thế thì tốt nhất nên bỏ tiền di chuyển pho tượng này đến vùng chiến sự Trung Đông giữa hai nước Do Thái và Palestine thì bảo đảm vãn hồi hoà bình thế giơi’ thôi, cần gì đến bàn tay Obama? Hoặc đóng tàu chở pho tượng đến Biển Đông, thì mọi tranh giành chủ quyền HS-TS với TQ sẽ tự nhiên lắng xuống ngay? Mong thế!

    Vài giòng thắc mắc với ông Trần Kiêm Đoàn, ông không cần phải hồi âm, vì sợ làm phiền cái Tâm an lạc và hoà bình của ông.

    Chào thân ái, chuc thân tâm an lạc,

  14. nguyen mai linh nói:

    Tôi đã từng đi dự ngày hội vía Bà ở Thủ Dầu Một, Bình Dương. Tượng Bà bằng gỗ đen tuyền, không phải tượng ngọc. Nhưng khung cảnh điện thờ chung quanh tạo nên một cảnh sắc huyền bí, linh thiêng. Tôi cũng một lần nhìn vào những ánh mắt của những người tới viếng, thật lạ lùng, trong nhang khói nghi ngút đến làm chảy nước mắt người, thì vẫn có những ánh sáng long lanh của một niềm tin thiêng liêng, một hy vọng nào đó được nhen nhúm lên từ những khổ đau cuộc sống.

    Thế nhưng sau khi ra được ngoài điện thờ, thì mắt cay xè vì khói hương. Bỗng ngộ ra một điều, khi rửa mặt cho khỏi cay mắt mũi, đi vào thì mua nhang cúng bái, khi ra thì phải mua nước rửa mặt. Chung quanh đó còn biết bao nhiêu dịch vụ ăn theo. Kỳ vừa qua, tôi đi Mỹ gặp người quen cũng được tặng một miếng ngọc, và một dĩa trang trí có hình Phật ngọc. Tự nhiên tôi nghĩ đến câu chuyện Bán Lược cho Sư. Bất chợt nhận ra một điều, việc buôn thần bán thánh là chuyện muôn đời.

1 2 3 ... 10
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả