talawas blog

Chuyên mục:

Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai

08/10/2010 | 12:58 sáng | 141 Comments

Tác giả: Trần Kiêm Đoàn

Category: Tôn giáo
Thẻ:

Đã hơn một năm rưỡi, thường xuyên xem hình, đọc bài viết, nghe lời luận bàn, theo dõi tin đồn về Phật Ngọc[1] và hiện tượng Phật Ngọc, nhưng mãi đến hôm nay tôi mới được tiếp cận và chiêm bái trong thầm lặng riêng tư với Phật Ngọc ngay giữa rừng người. Quá trình nghĩ vềđến với trong mối liên hệ nhân quả có khi chỉ là một. Nhân quả đồng thời. Nhân quả nối đuôi nhau trong chớp mắt. Nhưng cũng có khi là con đường dài biền biệt, có khi hết cả đời không mong gì thấy được nhân thành quả. Mây trắng có thể chẳng bao giờ thành mưa nếu trên đường gió lộng gặp trời xanh và nắng ấm. Nghĩ vềthực chứng là đi từ hư đến thật; từ vọng đến chân.

Sáng Chủ nhật (3-10-2010), tại chùa Kim Quang, thành phố thủ phủ tiểu bang California, theo sau những nghi lễ đầy âm thanh và màu sắc, tượng Phật Ngọc đã chính thức được trưng bày trước đại chúng. Hơn một trăm tăng ni và sáu nghìn người (theo quan sát và ước tính của nhật báo Sacramento Bee[2]) gồm quan khách đồng hương cũng như người nước ngoài, thân hữu và Phật tử tham dự nghi thức khai mạc lễ hội cung nghinh Phật Ngọc. Khi toàn hình ngôi tượng được trưng bày trong âm thanh trầm vọng của tiếng cầu kinh niệm Phật hòa quyện với tiếng vỗ tay nồng nhiệt của đại chúng, tôi mới chợt hiểu nghệ thuật biểu hiện tâm linh có con đường bay riêng của nó mà phương tiện diễn đạt của ngôn ngữ và tranh luận của lý trí sẽ trở thành bất lực, vô phương.

Khai mạc Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại chùa Kim Quang, Sacramento

Bên cạnh tiền đình với nhiều đường nét mỹ thuật của ngôi chùa Kim Quang mới được tái tạo và khánh thành chưa lâu là lễ đài tôn trí tượng Phật Ngọc. Màu xanh ngọc bích bóng ngời của thân tượng phản chiếu nắng vàng mùa Thu nổi bật giữa rừng áo vàng của quý tăng ni, hòa với màu lam dịu hiền của nhiều đơn vị Gia đình Phật tử khắp nơi tụ về đã tạo thành một bức tranh mang tính pháp hội thật nhu hòa mà cũng sinh động đầy thu hút.

Gặp dịp, tôi dán mắt mình quan chiêm ngôi tượng Phật bằng Ngọc để cố tìm cho ra những đường nét hiển hiện đầy thiêng liêng mà nhiều người đã từng ca tụng. Nhưng tất cả hiện ra trước mắt tôi là một tác phẩm điêu khắc mỹ thuật tạc ra từ một chất liệu vật thể quý hiếm mang bóng dáng đức Phật. Thật ra, mọi hình tướng tượng đài tự bản chất là một sự phỏng định không quy ước. Đó chỉ là cách thể hiện cụ thể cái “sự” bắt nguồn từ cái “lý”; cái dụng thể hiện cho cái ứng. Vì vậy, càng tranh luận hơn thua, đúng sai, tốt xấu, cao thấp về niềm tin tôn giáo “linh tại ngã, bất linh tại ngã” càng có cơ dẫn tới sự xung đột cá nhân và phân hóa tình người chẳng có lợi cho ai mà chỉ làm dày đặc thêm bóng tối vô minh của cực đoan và chấp ngã.

Mãi đến khi mắt rời ngôi tượng, quan sát chung quanh, tôi mới thật sự bắt gặp những gì mình chưa thấy qua đôi mắt trần vật lý. Đó là hình ảnh phản chiếu long lanh hình tượng Phật Ngọc trong đôi mắt của hàng nghìn người đang chiêm bái. Tâm thế nào thì ảnh tượng Phật Ngọc sẽ hiện ra trong mắt như thế ấy. Sự mặc khải của dòng trực cảm tâm linh không  đo lường hay dò tìm được bằng những phương tiện phàm trần quy ước. Sẽ không ai có đủ khả năng phân tích và lý giải được những gì thuộc về phạm trù tâm linh, tôn giáo trước một khối người đông tới sáu nghìn quanh khuôn viên chùa Kim Quang hôm nay. Tất cả đều như đang trầm lắng lại bằng sự tĩnh tâm quan chiêm cùng một đối tượng: Phật Ngọc.

Xin nghỉ chân rong chơi một chút loanh quanh dòng  Tâm lý Trị liệu Thực hành (Practical Psychotherapy) hiện đại. Những tay nghiên cứu tâm lý sừng sỏ thường nói đến sự vi tế và giao hưởng đầy sinh động của năng lượng, sóngtần số xuất phát từ tâm thức và đời sống thực tế của mỗi con người. Năng lượng lành (thanh khí), năng lượng ác (trọc khí) vần vũ xuôi ngược thường xuyên trong trời đất bao la từ vô thủy đến vô chung. Năng lượng nhiều hay ít tùy theo sóng cao thấp của thể lý và tâm linh. Sóng lớn hay nhỏ, vi tế hay thô trần tùy theo mức độ lành hay dữ của năng lượng. Tần số là cửa ngõ phát tán và thu hút năng lượng. Cửa ngõ mở rộng, đóng hờ hay khép kín đều phát xuất từ tâm và thức. Xin nhớ lại chuyện “Đi Chùa Hương”: Cô bé bận quần lĩnh áo the mới đi lễ hội chùa Hương với Thầy Mẹ. Chàng thư sinh lòng phơi phới lên chùa chiêm bái. Năng lượng lành xuất hiện. Cả hai không quen nhau nhưng cùng được tưới tẩm trong dòng suối tâm linh “Nam mô A Di Đà” của đại chúng. Mỗi bên đều phát tán và thu nhiễm năng lượng của bên kia. Thuyền càng tới gần chùa, làn sóng tâm linh của cá nhân và đại chúng càng cuồn cuộn vực dậy trong biển năng lượng thanh thoát của vạn lời cầu nguyện phát ra từ những tâm thành. Tần số tâm thức của đôi lứa thanh xuân cùng cường điệu bắt gặp nhau nhẹ nhàng và tự nhiên như đến từ tiền kiếp: “Em ư? Em không cầu. Đường vẫn thấy đi mau. Chàng cũng cho như thế.  Ra ta hợp tâm đầu.

Sự nghiên cứu về năng lượng, sóng và tần số thuộc về lĩnh vực tâm linh của khoa Tâm lý Trị liệu Thực hành khởi từ thời đại cổ sơ của người thượng cổ khi chưa có hình thức tôn giáo ra đời. Phật và Chúa mấy chục nghìn năm sau mới xuất hiện. Đó là khi loài người thực hành nếp sinh hoạt tâm linh qua những hình thái bái vọng thiên nhiên hay ngẫu tượng. Tiến thêm bước nữa là thời kỳ Bái Vật giáo; rồi Phiếm Thần giáo, Đa Thần giáo. Nhiều bộ lạc chỉ chiêm bái và thờ cúng một tảng đá đầu truông, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông đầu làng mà họ hết lòng tín cẩn và cầu nguyện. Khi những năng lượng tâm linh vi tế ẩn chứa phần lớn là năng lượng lành của một khối người có chung một tảng đá, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông… làm đối tượng “chứng tri” thì năng lượng lành hay sóng, tần số tâm linh của cả một khối người đông đảo có sự tương tác giao thoa. Đó là một gia tài tâm linh tích lũy càng ngày càng lớn của một tập thể có chung niềm tin trong cùng một tín hiệu. Gặp khi nguy biến, thành tâm cầu nguyện là lúc cá nhân bị nạn “giải mã” (như mở password ngày nay) để nhận nguồn năng lượng lành đã tích lũy.  Nếu minh họa bằng hình tượng cho dễ hiểu thì cũng tương tự như hoạt động tích lũy và sử dụng tài sản – gởi và rút tiền – qua trương mục của một ngân hàng trung tâm. Kẻ tích thiện làm lành có vốn giàu to. Kẻ độc ác sẽ bị trắng tay hay phá sản[3].

Với tinh thần Phật giáo “vô lượng pháp môn tu” – thì những ý kiến cá nhân hay nhóm phái chủ quan, cảm tính, cực đoan là phi Phật giáo vì đi ngược lại con đường Trung Đạo cố hữu của nhà Phật. Nói và viết về đạo Phật – con đường thênh thang mây trắng – mà phải nhăn trán, nhíu mày loay hoay mãi với tâm lý uẩn ức tiêu cực quanh mấy chuyện được thua, giàu nghèo, có không… trong giới hạn cá nhân nhỏ hẹp để khích bác và đối kháng lẫn nhau thì thật là uổng phí thời gian tĩnh lặng giữa cuộc đời ngắn ngủi. Thú vị chi ngồi khuấy tách trà làm bão tố phù du!

Sáng hôm nay 4-10-2010, đọc bài tường thuật của phóng viên Stephen Magagnini của nhật báo Sacramento Bee về lễ khai mạc cung nghinh Phật Ngọc tại Sacramento với tiêu đề “Jade Buddha draws throng praying for peace, health and prosperity” (Phật Ngọc làm dấy lên lời cầu nguyện đa dạng cho hòa bình, sức khỏe và phồn vinh.) Nội dung bài báo tương đối xứng hợp với tiêu đề đưa ra. Trước đó vài tuần, khi tượng Phật Ngọc còn đang trưng bày ở San Jose, thành phố có đông người Việt thứ nhì tại tiểu bang California sau Quận Cam, phóng viên Bruce Newman của nhật báo địa phương Mercury News, số ngày 15-9-2010 đã viết bài tường thuật về lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại đây dưới tiêu đề “The Jade Buddha, symbol of peace and harmony, everywhere but in San Jose” (Phật Ngọc, biểu tượng của hòa bình và hòa hợp khắp mọi nơi, ngoại trừ San Jose.)[4]

Thật ra, đứng trên quan điểm tôn giáo nói chung, Newman đã dẫn chứng các sự kiện và nhân vật trong cộng đồng người Việt tại San Jose mà ảnh hưởng và tác dụng của vấn đề cần đặt trong bối cảnh chung của tình hình xã hội và chính trị tại địa phương, chẳng có sự liên quan trực tiếp nào đáng kể trên sinh hoạt của Phật giáo tại San Jose. Trên tiêu chuẩn “handbook” của ngành báo chí Hoa Kỳ, Bruce Newman săn tin rất “động” nhưng lại chưa đủ “tĩnh” để có thể hiểu hết thực chất “tướng” và “tánh” – bóng và hình – của một cộng đồng dân tộc và văn hóa “bốn nghìn năm văn hiến” quá nhiêu khê như người Việt Nam.

Trong một bài viết trước đây về Phật Ngọc nhan đề “Phật Ngọc, hình tướng và thật tánh của hoà bình, an lạc”, kẻ đang viết những dòng nầy đã cố gắng ứng dụng đồng thời hai tuyến dữ kiện “động” và “tĩnh” để trình bày một phần quan điểm của mình về Phật Ngọc. Nay trong bài viết tiếp theo nầy, người viết bằng vào diễn biến thực tế và ý kiến của nhiều Phật tử trực tiếp tham dự Lễ Hội để nhận định về tác dụng trực tiếp cuộc du thỉnh “world tour” vòng quanh thế giới của Phật Ngọc đối với cộng đồng Phật giáo Việt Nam.

Xin tạm gác qua lắm chuyện thị phi bên lề diễn biến của tiến trình trưng bày Phật Ngọc liên quan đến sự được thua, hơn kém, to nhỏ, mạnh yếu, khen chê… về thế lực, tài chánh, khả năng tranh chấp quyền lợi; cùng những hào quang dễ dãi và bóng đen vu vạ mà xưa nay trong bất cứ hoàn cảnh nào và thời điểm nào cũng có. Một khi có sự tương tác từ hai người trở lên thì sự va chạm cá nhân và phe phái không thể nào tránh khỏi. Nhà sư Tích Lan, Tikhome Lanka, đã viết trong Pháp Ngữ Diễn Đàn (Dharma, 2001) rằng: “Tôn giáo dính vào tiền bạc và quyền thế tranh chấp đời thường là đang bước lên cỗ xe năng động: Chạy lên trời Đâu Suất hay rớt xuống Địa Ngục dễ dàng như trở bàn tay! Nhà tu ngày nay đến với cảnh giới giải thoát hay cứu cánh đắc đạo thường mua vé xe bằng tiền bạc nên chỉ đi được xe ngựa xe đò; trong lúc đó, cuộc đời quá ngắn ngủi thì phải đi bằng tốc độ tâm linh nhiệm màu nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng mới mong về kịp chốn ước mơ trước khi nhắm mắt xuôi tay!

Trong khi tôi đang viết những dòng nầy tại Sacramento thì đang hàng trăm người từ San Jose, Fresno, Stockton và các vùng lân cận đã kiên tâm chờ đợi tới mấy ngày, nhưng không ít người đã ra về tay không. Hầu hết những người ở xa cho biết là họ đã phải thức dậy từ 2, 3 giờ sáng để lái xe về địa điểm Phật Ngọc, xếp hàng chờ đợi để cố mua cho được một miếng tượng mỏng, nhỏ hơn hai ngón tay. Đại chúng được cho biết và có giấy chứng nhận đây là thành phẩm chiết ra từ khối ngọc chính tạc tượng Phật Ngọc. Tôi quan sát những khuôn mặt chờ đợi phờ phạc nhưng phát nụ cười hớn hở khi vừa ra khỏi cửa với miếng tượng nhỏ xíu trên tay. Cũng đã có quá nhiều lời bình phẩm – trong cũng nhiều mà đục cũng lắm – về ý nghĩa, động cơ và tác dụng của việc mua và bán tượng đeo bằng ngọc nầy. Trong muôn một, tôi thử tiếp xúc với một người vừa mua được tượng ngọc và “phỏng vấn”. Anh cho biết anh là Trần Quốc Mỹ, ở Stockton, đã trải qua “công đoạn” đợi chờ hết sức vất vả suốt mấy ngày mới mua được tượng ngọc. Anh cho biết là đã nghe quá nhiều chuyện thật hư, nhưng “tội ai nấy hứng, ai tu nấy chứng”, nên chẳng quan tâm đến chuyện thị phi, tin hay không tin là do mình. Anh kết luận thoải mái rằng: “Bạc vàng thì có giả, có thiệt do người ta mang tới, nhưng lòng tin là do mình. Mua một niềm tin có khả năng biến thành nguồn vui, hay hơn nữa thành nguồn an lạc thì quả là vô giá. Nhưng ở đây tốn kém chỉ bằng mua một cái vé đại nhạc hội Paris by Night thì cũng là thú vị.” Câu nói của anh làm tôi nhớ tới những hòn đá “tô-tem” làm vật thờ cúng của người cổ sơ.

Ông Trần Quốc Mỹ với tượng ngọc trên tay

Hai mẫu tượng ngọc phát hành trong dịp Lễ Hội cung nghinh Phật Ngọc

Niềm tin tôn giáo, dù chỉ là năng lực vô hình của tinh thần và tâm linh, nhưng lại chiếm ngự phần đời rất lớn của những người tôn giáo. Có tôn giáo hành đạo mỗi ngày năm lần bảy lượt để cầu nguyện. Có tôn giáo khi đã theo là hiến trọn đời mình cho giáo chủ. Đạo Phật thường nói đến con đường từ bi và trí tuệ không phải vì có một pháp môn chuyên nhất đưa tới giác ngộ, nhưng đức Phật đã chỉ ra vô lượng pháp môn hành đạo mà đời thường đưa ra con số làm biểu tượng là tám vạn bốn ngàn. Trên con đường thênh thang tùy duyên ấy, có những hình ảnh quán niệm tĩnh lặng cao thâm; nhưng cũng có lúc phải cần tới “lục thời công phu” và môn phái Tịnh độ hành trì Pháp môn Niệm Phật, giữ cho được “nhất tâm bất loạn” thì niệm Phật thường hằng không lúc nào dứt niệm. Nói tóm lại, đi vào lĩnh vực đức tin tôn giáo là đi vào một thế giới khác mà những tiêu chí và luận lý đời thường không thể nào lý giải và hiểu cho rốt ráo được.

Trong những ngày qua, môi trường truyền thông đại chúng người Việt cũng như người nước ngoài đã đưa ra một lượng thông tin khá phong phú và đa dạng về Phật Ngọc. Khuynh hướng đồng nhất hóa giữa biểu tượng và chân pháp; giữa phương tiện và mục tiêu; giữa lòng tin và lợi dụng; giữa hoằng dương và quảng cáo, giữa lý và sự đã đưa tới nhiều sự duy diễn quá xa vời.

Hiện tại, tượng Phật Ngọc đang được trưng bày tại Sacramento sang ngày thứ tư. Nhiều khách hành hương đã bày tỏ sự tán đồng về danh xưng: “Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc…” vì nó tránh được sự cường điệu và thánh hóa không hợp với tinh thần đạo Phật. Người ta ước mong rằng, nếu lễ hội được mở ra bằng những tấm lòng và ý hướng chân chính tất sẽ thành Pháp hội. Phật giáo cận đại và hiện đại có nhiều khả năng lập ra nhiều Giáo hội nhưng thiếu Pháp hội. Giáo hội là để lãnh đạo và khống chế nhau bằng thế và lực; nhưng Pháp hội là để đến với nhau trong tinh thần hòa đồng, bình đẳng, tin yêu và chia sẻ.

Lời phát biểu của thầy Thích Minh Đạt trong lễ khai mạc đã một phần làm sáng tỏ cho một cách nhìn chánh niệm: “Phật vẽ trên giấy, Phật thêu trên lụa, Phật tạo bằng đất sét, bằng xi măng, bằng thạch cao, bằng tất cả các loại đá trong đó có loại đá quý mà chúng ta gọi là “Ngọc”… tất cả đều không có khả năng mang lại hòa bình cho thế giới. Chỉ có một vị Phật duy nhất có đủ khả năng mang lại hòa bình cho thế giới, đem lại an lạc hạnh phúc cho mọi loài, đó là Phật Tâm (…) Tâm bình thế giới bình.”

Phật Ngọc không ở đâu, không giống định kiến nào, không thuộc về ai cả mà ở chính trong đôi mắt của người nhìn. Cái nhìn xuất phát từ Tâm. Phật Ngọc trong mắt ai… sẽ không giống Phật Ngọc trong tưởng tượng và suy diễn của tha nhân. Phải chăng vì nó không giống ngón tay chỉ mặt trăng mà bởi nó là đôi mắt thật của tâm sinh và tâm khởi trong nguồn năng lượng lành: Ai nhìn nấy thấy.

Sacramento, 4-10-2010

© 2010 Trần Kiêm Đoàn

© 2010 talawas


[1] Sở dĩ có cái phụ chú nầy vì đã có ý kiến phản bác danh xưng Phật Ngọc.Ý kiến này cho rằng “Phật là Phật; là đấng giác ngộ viên mãn chứ không có Phật ngọc, Phật vàng, Phật bạc gì cả).Vì người viết không tự đặt mình ở vị trí để tranh biện về chính danh – định phận hay dính líu vào một hình thức luận bàn hình thức không cần thiết tương tự, nên xin gọi theo thế danh đại chúng về ngôi tượng là Phật Ngọc. Thật ra, mọi danh xưng, danh vị, danh từ tạm dùng để gọi tên vạn pháp theo tinh thần đạo Phật đều là giả danh. Lời Phật: “Chân pháp không phân biệt. Nhìn đúng là nhìn thẳng vào bản lai diện mục của tất cả các pháp đều không có tự tánh nên chẳng chấp trước nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả. Nhìn cành hoa không phải là cành hoa mới thật là cành hoa.”

[2] Xem toàn văn tường thuật tại trang web: http://www.sacbee.com/2010/10/04/3076893/jade-buddha-draws-throng-praying.html

[3] Practical Psychotherapy: Adaptation of dialectical behavior. Gerald Amada. Batam, NY; NY, 2009.

[4] Toàn văn bài viết nầy đã đăng lên mạng lưới toàn cầu, ở địa chỉ: http://www.mercurynews.com/ci_16087076?nclick_check=1

Bình luận

141 Comments (bài “Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai”)

  1. Trương Đức viết:

    “Người nói câu “Nước nghìn năm u mê”, dù với ngụ ý đã hay sẽ u mê, phải không có hay ít có chất Việt trong người. Vì không ai tự chửi dòng giống mình, cả dân tộc mình nặng nề như thế với hai lý cớ chẳng liên quan mấy.”(Hòa Nguyễn)

    @bác Hòa Nguyễn kính,

    Là một độc giả thường xuyên của talawas, tôi nhận thấy là bác là một trong các độc giả có PH nghiêm túc và sâu rộng trên diễn đàn này. Và, hình như “sở trường” của bác là về Phật Học thì phải? Tôi đã tiếp thụ được nhiều kiến thức bổ ích về Đạo Phật từ những PH của bác.

    Đọc PH mới nhất của bác, đến đoạn mà tôi trích trên đây, tôi mới “giật mình”, thôi chết, kiểu này “mắng” nhau to! Bài thơ có câu “Nước nghìn năm u mê” là của bác Trần Quốc Việt, một trong nhiều tác giả mà tôi rất quí mến trên talawas này. Và tôi xin khẳng định với bác Hòa Nguyễn rằng, tác giả Trần Quốc Việt là một người “có nhiều chất Việt” trong chúng ta đấy! Lời PH trích trên của bác Hòa Nguyễn, theo tôi, không công bằng chút nào! Bản thân tôi, là một kẻ “ngoại cuộc”, cũng thấy là bác Hòa Nguyễn đã “quá lời” trong trường hợp này với bác Trần Quốc Việt, người mà từ cái họ tên trở đi, “đầy chất Việt”!

    @bác Trần Quốc Việt kính,

    Nếu có thể, tôi xin phép sửa lại câu cuối bài thơ của bác như sau, gọi là “thử đề nghị một cách hòa giải hòa hợp”, được không ạ?

    “Quê hương mê lễ hội .
    Hải ngoại mê Phật ngọc.
    Dòng đời cứ thế trôi.
    Nước nghìn năm u mặc”

    Trân trọng.

  2. Lê Quốc Trinh viết:

    Bác Hoà Nguyễn thân mến,

    Nếu bác còn đặt căn bản Phật Giáo trên những lời giảng dạy của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, người sáng lập ra Hội Tăng Già Phật Giáo đầu tiên, cách đây 2600 năm, thì bác yên chí đi, chẳng ai có thể trù dập, phỉ báng hay phá tan Đạo Phật vốn phát triển sâu rộng hơn 2000 năm qua. Lý do rất đơn giản vì rằng đó là Đạo Vô Ngã, không có Giáo Chủ duy nhất, vì tất cả mọi chúng sinh đều có căn cơ trở thành Phật (có nghĩa là Giác Ngộ), khác hẳn các tôn giáo khác mang bản chất Duy Ngã cho nên thường xảy ra thánh chiến, xâu xé đẫm máu trong nội bộ và đụng chạm kịch liệt với nhau.

    Ngày nào bác còn tha thiết với vật chất, ngoại cảnh, bỏ quên bản tính Giác Ngộ bên trong là ngày đó bác xa rời Đạo Phật chính thống (Thích Ca Mâu Ni).

    Vài lời chia sẻ cùng với bác,

    Thân ái,

  3. Hoà Nguyễn viết:

    Thật ra, tôi chỉ đáp ứng về bài vè đó vì Nguyen Mai Linh muốn lợi dụng mấy câu vô nghĩa để chỉ trích đạo Phật, qua chuyên Phật Ngọc ở Mỹ. Vài PH của tôi về bài vè đều viết sau mấy PH của NML ca tụng nó một cách sai lạc.
    Thử đọc lại :
    Quê hương mê lễ hội
    Hải ngoại mê Phật ngọc ….
    Nước nghìn năm u mê.

    Một mũi tên bắn hai con chim, lên án:
    1/ Lễ hội trong nước (theo NML giải thích là đã có từ xưa, để tránh né chuyện lễ hội trước mắt hiện nay)
    2/ Phật ngọc hải ngoại, trong tầm nhắm xa hơn tới cả đạo Phật.

    Kẻ nào muốn vừa đả phá Cộng sản vừa đả phá Phật giáo? Tôi không cần tìm hiểu,vạch tên. Lễ hội là một hình thức văn hóa, nhiều khi phong phú đến mức phức tạp, pha trộn nghệ thuật với huyền thoại, lịch sử, tín ngưỡng cả tôn giáo, đã có từ thời rất cổ sơ ở mọi dân tộc, chẳng là nguyên nhân để làm u mê ai (mà có thể là căn nguyên phát triển nhiều hình thái nghệ thuật), chẳng làm hại dân tộc nào (kể cả lễ Halloween sắp tới ở châu Âu và Mỹ). Nhưng đối với một vài tôn giáo lễ hội dân gian là những hình thức mê tín, ngoại đạo (pagan), liên quan đền tin tưởng hay thờ lạy ma quỷ. Chỉ nói riêng Halloween, nó đã bị kết buộc như vậy. Người viết mấy câu đó không phải là người cộng sản (cũng không ở HN), và tuy chống đạo Phật nhưng không thấy chống tôn giáo khác. Nếu là thế, thì đã viết : Hải ngọai mê tôn giáo (/tín ngưỡng/ Trời Phật))

    Nước nghìn năm u mê : Ban đầu tôi chỉ đặt câu hổi (hững hờ ) là “u mê từ bao giờ”, và NML trả lời là từ ngàn xưa. Nhưng trước đây, ỏ VN chưa có Phật Ngọc mà chỉ có lễ hội. Vậy nguyên nhân (nếu thấy có ở trong bài vè) gây cho đất nước u mê cả ngàn năm trước phải là lễ hội chớ không thể là do Phật Ngọc.

    Người nói câu “Nước nghìn năm u mê”, dù với ngụ ý đã hay sẽ u mê, phải không có hay ít có chất Việt trong người. Vì không ai tự chửi dòng giống mình, cả dân tộc mình nặng nề như thế với hai lý cớ chẳng liên quan mấy.

  4. Trần Quốc Việt viết:

    “Chúng ta phải tôn trọng tôn giáo của kẻ khác, nhưng chỉ trong ý nghĩa và trong mức độ là chúng ta tôn trọng niềm tin (theory) của họ rằng vợ họ đẹp con họ thông minh.” H.L.Mencken

  5. Hoà Nguyễn viết:

    1/ Nguyễn Đăng Thường nói: ” Tôi không chống đối Phật Giáo mà chỉ phản đối việc xây cất chùa chiền “.

    Không cho xây cất thêm chùa chiền như ở VN thật sự là chống Phật giáo, muốn tiêu diệt dần Phật giáo. Chùa lập lên để làm chỗ trú tu cho tăng ni, họ không thể vào rừng núi tu một mình dưới gốc cây hay trong chòi lá như ông Thường đề nghị ở phản hồi khác. Chùa cũng là nơi thờ Phật, chứa đựng kinh điển Phật giáo (ngày xưa là nơi chép kinh, trước khi có khả năng in kinh), giảng dạy, học tập giáo lý đạo Phật, cách thức tu hành, sau cùng cũng để tín đồ bên ngoài đến nghe giảng kinh, cúng Phật, cúng dường chư tăng (các tăng ni phải được cấp dưỡng thực phẩm và các nhu yếu).

    Chùa không có ở thời Phật Thích ca, lúc đó người xuất gia thường ngồi tu dưới gốc cây, và họ đi từ vùng này qua vùng khác. Sau ngài và các đệ tử được một người sùng kính dâng cho một khu vườn rộng gọi là Lộc Uyển để giáo đoàn tu học ở đó. Hàng ngày tăng ni đi khất thực (nghĩa đen là xin ăn) một lần trong thôn xóm, cũng là dịp để họ tiếp xúc với người thường và giảng đạo pháp. Điều kiện về thời tiết, văn hóa thời đó ở Ấn Độ (rất kính trọng người xuất gia dù theo đạo nào) giúp cho cách sống tu như thế được dễ dàng, nhưng bây giờ cách tu này không thể tiếp tục. Nhu cầu tín ngưỡng ở khắp nơi của các dân tộc, như mong cầu sự bình an, cả sự giàu có, lợi lộc và tránh được tai hoạ, bệnh tật, khiến tín đồ (tại gia) đông đảo thêm và xen vào các sinh hoạt, cách tu hành của tăng lữ; về sau có những ngôi chùa cao rộng hơn sự cần thiết xây bởi những người tin tưởng giúp dựng chùa sẽ được nhiều quả phúc. Nhiều người không con cháu hiến cả ruộng đất cho chùa để họ được thờ cúng (cầu siêu) trong chùa khi chết. Đây là một tín ngưỡng dân gian của nhiều dân tộc không thấy trong đạo Phật ban đầu. Những cúng dường như thế từ những người giàu có và đông đảo “bá tánh” khiến chùa mỗi ngày một xây cất rộng hơn , đẹp hơn. Nhưng ở VN so với nhà thờ, như nhà thờ Bùi Chu xây cất đã rất lâu, không có chùa nào sánh được bằng.

    Ở Mỹ, ông Thường nếu để ý sẽ thấy vài góc phố có một nhà thờ, cỡ từ trung bình đến lớn. Trên con đường ngắn chạy ngang qua nhà tôi có hai nhà thờ ở hai đầu đường, và một là của riêng người Trung Hoa. Khi muốn đi chùa, từ nhà tôi phải lái xe mất tối thiểu 40 phút.

    2/ Nguyễn Đăng Thường nói: “ sự mê tín dị đoan không thể tách rời khỏi Phật Giáo VN, ngày càng lan tràn vô phương cứu chữa “.

    Sự mê tín có từ ngàn xưa, gắn bó với đời sống con người, và với đạo Phật mê tín đã chỉ đến từ bên ngoài. Kinh điển Phật giáo nguyên thủy hơn hai ngàn năm trườc ít chứa đựng điều gì mà ngày nay có thể gọi là mê tín, dị đoan trong khi kinh điển tôn giáo khác đầy dẫy điều đó (như phép lạ, mặc khải, quyến phép siêu nhiên, lên trời, chết đi và sống lại). Tuy vậy, Phật giáo khi lý giải các hiện tượng thiên nhiên, tâm lý, tiềm năng của con người vẫn theo cách hiểu biết của “khoa học” và huyền thoại cùng thời. Dù sao, cho “sự mê tín dị đoan không thể tách rời khỏi Phật Giáo VN” và “ngày càng lan tràn vô phương cứu chữa.” là một cáo buộc thô thiển và sai lạc đối với đạo Phật. Tôn giáo và dị đoan cùng tồn tại từ xưa, cũng như khoa học, y học lúc khởi đầu đã tồn tại chung với ma thuật (và sau ở Hy Lạp, tiến lên chung với triết học). Môn hoá học ngày nay bắt đầu từ thuật “luyện kim” (alchemy) với ước muốn biến chì, thủy ngân thành vàng hoặc chế ra thuốc trường sinh (ở dông phương). Phật giáo nguyên thuỷ không có các hình thức thấy ở các tôn giáo khác, thí dụ trong đạo Thiên Chúa: dùng nước rửa tội, rước mình Thánh, uống huyết Chúa (ăn bánh thánh, uống rượu nho), sức dầu thánh thêm sức, ban phép lành. Chuyện cầu nguyện thì chung cho mọi tôn giáo, tuy ý nghĩa có thể khác nhau. Dần dà về sau khi Phật giáo ở Ấn suy thoái nhiều, tín ngưỡng dân gian, hay giào phái ngoại đạo như Mật giáo Ấn Dộ (Sakti) xâm nhập vào gây ra những hình thái mà đạo Phật gọi là đoạ lạc. Nhưng ngày nay các hình thức tín ngưỡng đó ngày càng bị loại bỏ, mất dần. Với Thiền tông, ít còn thấy bóng dáng của hình thức thuộc tín ngưỡng (có lẽ chỉ trừ hương hoa, tranh tượng), và một số chùa Nam tông cũng vậy, nơi mà các nghi thức hành lễ chỉ là những biểu tượng, với ý nghĩa tượng trưng, được lặp lại vì tôn trọng truyền thống.

    3/ Nguyễn Đăng Thường nói:” Phật Ngọc mang lại sự an bình, hạnh phúc cho ai, ngoài những kẻ thừa tiền dư thời giờ hay đã có ổn định kinh tế. “.

    Có thề đem lại an bình cho người Phật tử đến chiêm quan Phật Nhọc, mà phần đông là người nghèo. Cũng có nhiều người già đến vì họ rất cần nương tựa vào niềm tin, để an tâm trong cuộc sống thường cô đơn và đang gần với cái chết. Tôn giáo có tính nhân đạo, ít ra ỡ chỗ này. Thử đọc lại bài viết của ông Trần Kiêm Đoàn, và bài phỏng vấn của ký giả Mỹ. Không ai có thể tu (nghĩa đen là sửa đỗi) thay cho người khác, nhất là khi người khác không nghe theo lời mình, và tự họ không muốn tu, muốn thay đổi, chuyển hóa gì. Khổng Tử là nhà luân lý, giáo dục hơn là nhà tôn giáo, cũng đặt ra quá trình phải theo để làm thay đổi cuộc sống nói chung của nhân loại , mà bước đầu tiên là tu thân (tu, tề, trị, bình). Bảo rằng người nào đó tu mà chẳng thay đổi gì, chẳng giúp ích được gì cho ai, thì cũng có thể họ chưa tu được mầy, nhưng đây không phải là lý do để trách cứ họ (nếu không tu, họ có thể tệ hơn).

    4/ Nguyễn Đăng Thường nói “ Phú quý sinh lễ nghĩa, cúng tế, bái lạy nọ kia.

    Phú quý sinh lể nghĩa là chuyện của người dân bình thường (ngoài đạo)sống lên xuống trong cảnh giàu nghèo vô thường. Thử nhìn cung cách khác nhau rất rõ của cán bộ VN lúc mới ở rừng ra và ngày nay. Ở Á Đông do ảnh hưởng của đạo Khổng cho Lễ là điều rất quan trọng trong cuộc sống , là một trong nhiều bổn phận của mỗi người gọi là Ngũ Thường gồm Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, trong đó theo thứ tự Lễ đứng hàng thứ nhì. Khi đến Trung Quốc, các hình thức lễ nghi, phong tục đã làm thay đổi nhiều sinh hoạt trong Phật giáo, nhưng nói chung ở tôn giáo nào cũng vậy, có những nghi thức riêng trong thờ phụng, sinh hoạt, đôi khi rất phiền toái, nhất là đối với người ngoài.(Tôi từng đi nhà thờ, ít ra khi dự lễ đám cưới ai đó, đã lúng túng không biết có nên quỳ xuống như mọi người khác không).

    5/ Nguyễn Đăng Thường nói: Ca tụng/ca ngợi Phật Ngọc trong lúc dân chúng cần nhà thương, trường học, cơm áo là… thế nào?

    Đây là những câu hỏi như với ý gây sự, chống báng tôn giáo nói chung, nhưng ở đây khi nói Phật ngọc là chống riêng Phật giáo. Chuyện nhà thương, trường học, cơm áo là công việc (job) của các ông Obama ở Mỹ, và Nguyễn Tấn Dũng ở VN khi được dân bầu, hay được đề cử.

    Đạo Phật ra đời không nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, như ăn mày. Đó thuộc trách nhiệm giải quyết của chính quyền, và nếu ông thấy cảnh ăn xin ở San Jose thì đó là thuộc trách nhiệm của chính quyền Mỹ, cần một ngân quỹ lớn vượt ngoài khả năng của các tổ chức tôn giáo. Bảo rằng chính quyền Mỹ hay VN không giải quyết vấn nạn ăn xin trong xã hội thì không đúng, nhưng nên hiểu họ không thể giải quyết dứt khoát đưọc. Còn người tôn giáo thì sao? Mỗi gia đình Phật giáo hay Thiên chúa giáo có thể cưu mang (nuôi dưỡng) một người vô gia cư không? Riêng gia đình ông Thường, một người vô thần nhưng có lòng nhân đạo thì làm được gì hơn? Rõ là không làm được gì, nhưng mỗi người làm hết trách nhiệm của mình đối với đồng bào, đồng loại khi nộp thuế cho chính phủ, quan tâm đền vấn đề xã hội, và nếu cần lên tiếng yêu cầu chính quyền giải quyết các vấn đề xã hội trước mắt, và còn có thể phụ giúp thêm. Tôi biết ở nhiều nhà thờ, chùa tại Nam Cali vào dịp lễ lớn đều thường tổ chức những bữa ăn dành cho người vô gia cư, đôi khi cho họ thêm quần áo cũ, vật dụng cần thiết. Thế thôi, ngoài ra khó làm được gì hơn. Nhưng những người ăn xin, vô gia cư biết những người đi chùa, nha thờ rất rộng lương trong viêc “bố thí” nên thường tu tập trước cổng. Theo tôi biết, nhà thờ và chùa ở Mỹ không khuyên tín đồ cho tiền những người vô gia cư đứng trước cỗng, vì làm thế sẽ khuyến khích họ tới đông hơn, gây trở ngại cho việc thờ phương. Một lần về VN, lên thăm một chùa ở Đà Lạt xây trên một đồi thấp, tôi thấy ít nhất 50 hành khất, rách rưới, dơ bẫn, ghẻ lở, bao quanh khách vãng cảnh chùa, giơ tay xin tiền. Không thể cho họ tiền vì không thể nào cho hết, hay có`thể sẽ làm họ giành giật, xô đẩy nhau. Nếu có người ngoại quốc cùng đi thì thật là xấu hổ (cho nước VN). Ở Mỹ may không thấy cảnh đó, vì người nghèo, bệnh tật được trợ cấp xã hội, nhưng nạn vô gia cư (homeless) coi như nan giải.

    Ai cũng biết nhà thờ, chùa ở VN đã xây nhiều nhà thương, trường học, cô nhi viện, từ trước 1975 và ngay bây giờ. Khoảng trước năm 1995, tôi vể VN và khi trở lại Mỹ tình ờ mang theo một cuốn sách của Hoàng Phủ Ngọc Tường gồm nhiều bài viết ngắn, trong đó ông kể chuyện một chùa ở xa thành phồ Huế, trụ trì là nữ sư, nuôi nhiều trẻ mồ côi đang cần xây cái giếng mới với máy bơm nước (vì giếng ở đó phải đào rất sâu). Đọc xong bài đó ở Mỹ tôi giới thiệu lại trên một trang mạng ngoài này. Có người xúc động về câu chuyện, đứng ra kêu gọi đóng góp, và gửi về số tiên quyên được có lẽ đủ cho mọi chi phí. Nhắc lại chuyện này, tôi muốn nói ngay từ lúc VN mới mở cửa, đời sống còn rất khó khăn, nhất mà ở tại các chùa nhỏ, ở xa, thế mà họ vẫn tổ chức được nhà nuôi trẻ mồ côi, chắc họ phải sống trong cảnh chia cơm xẻ áo theo đúng nghĩa này. Còn tượng Phật Ngọc này, nếu đem bán (cho ai mua ?) thí chắc chỉ chừng 2, 3 triệu USD, là số tiền rất nhò với đất nước VN bây giờ (xin đọc chuyên một nhà giàu xây hồ tắm ở VN trong một phản hồi trên talawas). Số tiền như thế chắng làm được gì nhiếu cho VN. Nhưng nhờ tượng ngọc đó có thể ban tổ chức thu được số tiền lớn hơn do đóng góp của đông đảo người đền chiêm bái, và sau đó có thể dùng giúp cho công việc từ thiện ở đâu đó, không nhất thiết phải ở VN. Những gì họ chưa làm được hôm nay, vẫn có thể sẽ làm trong tương lai. Cuộc sống còn dài.

  6. nguyendang viết:

    Tại La Vang, Quảng Trị (quê tôi), cư đôi ba năm tôi thấy những người Công giáo địa phương cũng như khắp mọi miền đất nước (có cả Việt kiều) tập trung về tổ chức lễ Rước Kiệu rất đông. Nếu so sánh, trừ lễ hội Chùa Hương, còn khó có lễ hội nào trên đất nước Việt Nam có thể sánh được với lễ Kiệu về số người tham dự, thời gian tổ chức lễ và chương trình của Lễ.

    Với những người Công giáo, rõ ràng chẳng ai đi phê bình lễ Rước Kiệu là mất thời gian, phung phí, nhảm nhí, mê tín, hay “nâng quan điểm” nó lên thành một cái gì gì đó.

    Với những người không theo Công giáo, dù không tin về việc “hiển linh” của đức Mẹ tại mảnh đất này mà nó liên quan đến lễ hội, chẳng ai đi phê bình điều đó là thế nọ thế kia. Dù quanh năm chân lấm tay bùn với đồng áng, với con trâu con bò, nhưng người ta cũng biết rằng khó mà phân định rạch ròi mê và không mê giữa các việc thờ chúa, thờ phật, thờ ông bà, thờ ông táo hay thậm chí thờ cây đa. Thôi thì cứ tôn trọng nhau mà sống. Ai thích cái gì thì rước cái đó. Và ít ra cũng nhân dịp này mà lên rừng hái ít lá vàng (vằng), một loại lá mà người về dự lễ coi là lá thiêng, uống vô hết bệnh, đem về bán kiếm ít tiền trang trải thêm cho cuộc sống (vốn đã khó khăn).

    Nhưng sự việc có vẻ khác với Phật giáo. Các việc xây chùa, rước Phật… đều trở thành chuyện đàm tiếu thị phi và bị chỉ trích nặng, trong cũng như ngoài nước. Và cũng hơi lạ là điều này được “phát pháo” trước hết bởi những “phật tử” tự coi mình là “chánh tín”, những người luôn luôn “nổ” tôn giáo của mình là khoa học, là ưu việt, là thực tiễn, là thế nọ thế kia. Vâng, thì là ưu việt và thực tiễn, nhưng xem ra người đang phát ngôn ấy không ưu việt và thực tiễn chút nào, ít ra là nơi cách hành xử của họ đối với những người đồng đạo. Anh không thờ tượng Phật thì anh đừng đi rước tượng (biết đâu trong nhà lại thờ tùm lum loại tượng), còn những người khác tin thì để họ rước chứ. Không tin, rồi nổi sân si lên với những người tin, xem ra cũng là một loại “mê”, không hơn không kém. Với những người chân đất như chúng tôi, nếu bớt đi những người phật tử “trí thức” và “có tinh thần khoa học (và thời cuộc)” kiểu nửa vời thế kia, hẳn cuộc sống sẽ dễ chịu và bình lặng hơn nhiều!

    Tái bút: vì việc vượt tường lửa và đăng nhập rất khó khăn nên tôi có thể trả lời chậm hoặc không thể trả lời được những ý kiến liên quan đến ý kiến của tôi!

  7. Lê Thượng viết:

    “Nước nghìn năm u mê.”

    Tại sao lại nghìn năm nước tôi u mê? Trong nghìn năm ấy, nước tôi không những có Quang Trung, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo … lại còn mở mang bờ cỏi đến tận mủi Cà mâu. Có phải u mê là vì độc lập, thoát khỏi ách nô lệ phương Bắc?

    Đọc câu thơ mà thấy đại ngộ? Đại ngộ con khỉ mốc xì!

  8. Lê Quốc Trinh viết:

    Cám ơn ông bạn Nguyễn Mai Linh có lời quá khen. Nói theo giọng miền Nam thì: “Hổng dám đâu!”.

    Quê hương mê lễ hội
    Hải ngoại mê Phật ngọc ….
    Nước nghìn năm u mê.

    Tui nghĩ ba câu thơ này nên được gọi là “kệ” thì chính xác hơn. Trong Đạo Phật những lời nhắn nhủ vắn tắt cho đệ tử thường mang hình thức “câu kệ”, khác với “kinh sách” dày hàng chục trang.

    Mỗi câu ngắn ngủi đều diễn tả đúng thực trạng hiện nay ở nước nhà và ngoài hải ngoại, câu thứ ba nói rõ tình trạng dân trí suốt mấy nghìn năm. Chỉ vì u mê cho nên mới bị thực dân Pháp đè đầu cưỡi cố, vì u mê nên nhắm mắt nghe lời dụ dỗ Cộng Sản Quốc Tế mà đi vào con đường XHCN sai lầm, vì u mê nên mới bị tập đoàn lãnh đạo CS VN “ngu dân và mỵ dân” suố 50 năm qua. Tất cả chỉ vì “mê tín”, có nghĩa là nhắm mắt tin mà không hiểu không biết sự thật ra sao.

    Đừng tưởng chỉ người dân nghèo không điều kiện đến trường mới u mê, mà rất nhiều vị “trí thức khoa bảng”, bằng cấp TS GS đầy mà vẫn u mê, chỉ vì đồng tiền danh vọng, quyền lực làm tối mắt.

  9. Hoà Nguyễn viết:

    Nhân đọc PH của Nguyen Mai Linh về bài thơ được ca tụng hơi bị nhiều, thử nhìn từ góc cạnh khác.

    Quê hương mê lễ hội
    Hải ngoại mê Phật ngọc ….
    Nước nghìn năm u mê.

    Hai câu thơ song hành mở đầu vừa so sánh vừa liên kết hai sự việc không liên hệ gì để trí trá nêu lên cái trách nhiệm cho là bằng nhau của hai hành động cách xa nhau ngàn dặm từ hai nhóm người không mắc mớ gì nhau. Mục đích là để tráo bài đánh lừa: lễ hội ở Hà Nội và Phật Ngọc ở San Jose đều góp phần như nhau vào việc làm cho nước VN u mê từ nghìn năm nay, hay tới nghìn năm nữa, chứ không phải thủ phạm, tội đồ nào khác. Khi trách cứ cả hai bên như thế là tỏ ra không thiên vị bên nào (quốc hay cộng), là quá công bằng, nên có kẻ ngoài này thấy vải đỏ thì hút vào với hai lý cớ: tôn giáo là mê tín, và cái đạo Phật “của ta” (theo “ta” hiểu vốn đơn giản lắm) không thể gồm những thứ mê tín như thế; nhưng họ không tự biết là bị xúi bẫy để làm cái việc đánh thuê mà không được trả công (chỉ được một lời khen nhỏ). Người Hà Nội (qua ông thị trưởng)lấy 5 tỷ USD của nhân dân cả nước về xây cầu đường, dinh thự, làm đủ mọi thứ, mọi cách cho HN đẹp hơn, hoành tráng hơn, để cùng vui chơi thỏa thích trong đại lễ kéo dài 10 ngày (người dân trong nước ở nơi khác thì sao?). Số tiền còn lại họ chia nhau, cùng nhau ăn nhậu hay bỏ vào túi riêng. Bây giờ để phòng trước sẽ bị trách cứ gì, (cán bộ) họ chỉ tay ra hải ngoại: nếu phải chịu trách nhiệm làm hại nước nghìn năm, đám “xì xụp” lạy Phật Ngọc mê tín bên kia đại dương cũng có phần rất lớn, và đã có “ba miệng một lời” như thế. Nhưng 100 ngàn người Việt ở San Jose nếu đi dự lễ Phật Ngọc thì chỉ bằng tiền riêng của họ, và chỉ người gia đình họ gánh chịu hậu quả về các khoản chi tiêu, làm sao có thể đổ lỗi họ gây thiệt hại gì cho nước VN, nhất là gây hại rất lâu dài. Chẳng qua tượng ngọc và những Phật tử đó được dùng làm kẻ chết thay, và đây chỉ là một thủ đoạn quen thuộc, nhưng lắm kẻ vẫn bị mắc lừa.

  10. Nguyễn Đăng Thường viết:

    @ Louis
    Thanks.

    Xin đáp: Lịch sữ nhân loại luôn luôn đẫm máu. Chiến tranh và cách mạng rồi lại cách mạng và chiến tranh, không bao giờ ngừng nghỉ. Tại sao? Tại vì con người có lý tưởng, luôn luôn muốn cải thiện đời sống, cho cá nhân mình và cho đồng loại, dù chiến tranh và cách mạng có thể bị lệch hướng, và nhiều lý do khác nữa.

    Tôn giáo cũng đẫm máu, cũng có chiến tranh (thách chiến), cũng có cách mạng (Luther). Tất nhiên xin để qua một bên Đạo Khổng và Đạo Phật vì “chủ đề” của phản hồi này là Thiên Chúa Giáo.

    Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo đã và đang đánh nhau tời bời… kinh kệ. Văn minh cổ Ai-cập, Hy-lạp, La Mã… bành trướng và đẫm máu, sử dụng nô lệ. Văn minh, tôn giáo Inca, Aztec (Mỹ Latinh) giết người moi tim (hiến dâng trinh nữ?) để tế thần rất dã man nên đã bị những kẻ chinh phục (conquistador) Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Thiên Chúa Giáo viện cớ để tiêu diệt cho… ánh sáng Thiên Chúa lọt vào. Tất nhiên mục đích chính của kẻ chinh phục là tìm miền “đất vàng” El Dorado,v.v.

    Như đã nói trong phản hồi trước, tôi “vô thần” nhưng nghiêng về Đạo Chúa vì nếu không có Thiên Chúa Giáo thì sẽ không có nền văn minh hiện đại trên thế giới. Văn minh Ý thời Phục Hưng đã sinh ra các nhà khoa học, các nhà thám hiểm giúp con người hiểu thêm về vũ trụ, trái đất, khiến năm châu bốn bể “một nhà”. Xâm lấn nhưng đồng thời cũng có mớ mang, khai sáng. Văn minh Hồi Giáo cũng có nhiều đóng góp cho khoa học, nghệ thuật. Nhưng sau thời kỳ rực rỡ ban đầu (thời kỳ “Ngàn Lẻ Một Đêm”) đã dậm chân tại chỗ vì không dám cách tân, v.v.

    Luther (1483-1546) phản đối Giáo Hội La Mã và làm cuộc cách mạng Tin Lành (Protestantism). Bản dịch Kinh Thánh của Luther đã giúp thống nhất ngôn ngữ Đức (xin hỏi nhà văn Phạm Thị Hoài về điểm này). Con chiên Mark Twain dám chỉ trích Thiên Chúa Giáo cho thấy sự cới mở của tôn giáo này, v.v.

    @ Hòa Nguyễn
    Cám ơn.

    Xin thưa: Tôi không chống đối Phật Giáo mà chỉ phản đối việc xây cất chùa chiền, sự mê tín dị đoan không thể tách rời khỏi Phật Giáo VN, ngày càng lan tràn vô phương cứu chữa.

    Phật Ngọc mang lại sự an bình, hạnh phúc cho ai, ngoài những kẻ thừa tiền dư thời giờ hay đã có ổn định kinh tế. Xin đừng quên trước cổng chùa có những người ăn xin. Phật Ngọc sẽ mang lại cho họ được những gì?

    Phú quý sinh lễ nghĩa, cúng tế, bái lạy nọ kia. Ca tụng/ca ngợi Phật Ngọc trong lúc dân chúng cần nhà thương, trường học, cơm áo là… thế nào?

  11. Louis viết:

    Xin trân trọng cảm ơn nhà văn, nhà thơ Nguyễn Đang Thường và bác Phùng Tường Vân đã chia sẻ ý kiến của mình với bài viết của tác giả Trần Kiêm Đoàn mà qua đó đã gợi hứng cho tôi đi tìm đọc lại những trang sử cũ vào ngày cuối tuần…. để gọi là “ôn cố tri tân”.
    Người Mỹ thường nói: Có 2 đề tài nên tránh, đó là Chính trị và Tôn giáo. Đụng đến 2 đề tài “tình cảm” này thì thường người ta sẽ chết sống để bảo lưu quan điểm của mình, bạn bè sẽ xa nhau, cha con có thể phân chia giới tuyến. Tôi rất mừng là trên sân Talawas chưa xảy ra cuộc “thánh chiến” nào, mọi người đều giữ được cái “cool” của mình.

    Tôi đọc hết những phản hồi từ đầu đến cuối và đặc biệt chú ý đến PH của 2 vị Nguyễn Đăng Thường và Phùng Tường Vân. Theo tôi, Thiên Chúa giáo công cũng nhiều mà tội cũng lắm đối với nhân loại. Những “Inquistion” ở Ý, Tây Ban Nha, châu Âu, Mexico và Nam Mỹ châu đã giết bao nhiêu người? bao nhiêu nền văn hoá đã bị tiêu diệt?
    Nhà văn Mỹ Mark Twain trong quyển tự truyện (autobiography) sắp được xuất bản đã nói về đạo Thiên Chúa như sau, xin trích 1 đoạn :” bad, bloody, merciless, money-grabbing, and predatory. The invention of hell measured by our Christianity of today, bad as it is, hypocritical as it is, empty and hollow as it is, neither the deity nor his son is a Christian, nor qualified for that moderately high place. Ours is a terrible religion. The fleets of the world could swim in spacious comfort in the innocent blood it has spilled.”

  12. nguyen mai linh viết:

    Tác giả bài thơ Để trả lời một câu hỏi – Linh Phương – mà Phạm Duy đã lấy lời phổ nhạc thành bài Kỷ Vật cho Em như nhiều người biết. Ông luôn tự nhận rằng ông không phải là một nhà thơ, nhưng thơ ông đúng là đáng nể vì thơ có cái hồn và được nhiều người đón nhận khen hay. Tôi xin mạn phép Trần Quốc Việt đăng lại bài thơ lần nữa

    Quê hương mê lễ hội .
    Hải ngoại mê Phật ngọc.
    Dòng đời cứ thế trôi.
    Nước nghìn năm u mê.

    Bài thơ dẫn con người đi xuyên suốt thời gian lịch sử của đất nước Việt, cả mấy ngàn năm văn hiến, từ nghìn xưa cho đến tận bây giờ qua hai câu

    Quê hương mê lễ hội . (Quá khứ và Hiện tại)
    Hải ngoại mê Phật ngọc. (Hiện tại)

    Và đó là chuyện muôn đời, muôn thuở qua câu

    Dòng đời cứ thế trôi.

    Và câu kết thì như tôi đã phân tích nhiều ở bài trước nên không nhắc lại ở đây nữa. Theo tôi, thì đó là một bài thơ hay dù chỉ là ngẫu hứng của tác giả Trần quốc Việt.

    Người đọc thơ mà đem chánh niệm ra mà soi xét, hay tà niệm mà xoi mói thì đó là bậc đại trí, người đọc thơ mà thấy được cái hồn khí trong sáng của thơ bằng cái tâm thì đó là bậc đại ngộ. Còn người đọc thơ mà vô tâm thì đó là bậc đại ngu – Nghĩa là vừa đại trí vừa đại ngộ.

    Tôi chẳng phải là bậc đại trí hay đại ngộ, chỉ nói ra những điều mình nghỉ để học hỏi các bác mà thôi. Riêng bác Trình thì nhà cháu học hỏi được rất nhiều từ bác đấy, với cái tâm trong veo nhưng rất người của bác (Không đục không trong)

  13. Lê Quốc Trinh viết:

    Kính bác TriNgộ,

    Bác kể chuyện vui ra phết, phục tài bác đấy. Tôi cũng đâu muốn tranh luận làm gì, chỉ muốn nêu lên vài chi tiết vụn vặt để “mọi người” đừng quên, thế thôi.

    Giai thoại về Thiền Tông Trung Hoa thì chứa đầy nhiều kinh sách, đọc phát ngán, câu chuyện bác TriNgộ kể vẫn chưa sống động bằng chuyện tổ Bồ Đề Đạt Ma, như sau:

    Số là, đệ tử Huệ Khả tu mãi vẫn chưa chứng ngộ được, nản chí lắm, có hôm mò vào tịnh cốc của Tổ để năn nỉ xin chứng ngộ.

    Tổ bèn nói: “Nhà người đem Tâm ra đây ta chứng ngộ cho”.

    Sư Huệ Khả tìm mãi, lục lọi sách vở, túi áo, túi quần vẫn không tìm đưọc Tâm, mới quỳ xuống nói: “Bạch sư phụ, con không thấy Tâm đâu cả!”

    Tổ Bồ Đễ bèn trả lời: ” Vậy là ta đã chứng ngộ Tâm cho người rồi đấy”.

    Tâm có phải là vật chất đâu mà đòi lau chùi, đánh bóng, phải không bác? Không màu, không sắc, không mùi, không vị, không dư không thiếu, nhưng lại vĩnh hằng, không sinh không diệt (Bát Nhã Tâm Kinh Ba La Mật).

    Bác Tri Ngộ ơi, bác nghe lời Đệ Nhất Tổ tuyên bố chưa:

    Giáo ngoại biệt truyền
    Dĩ Tâm truyền Tâm
    Trực chỉ chân Tâm
    Kiến tánh thành Phật

    Tu từ Tâm tu ra mới khó, giống như lời dân gian:” Thứ nhất tại gia, thứ nhì tại chợ, thứ ba tại chùa”. Trong chùa chỉ có tượng thôi, làm gì có Phật! Đúng không bác?

    Vài lời chia sẻ với bác cho vui nhà, vui Diễn Đàn, nghe xong bỏ qua, đừng vấn vương.

  14. Hoà Nguyễn viết:

    Nguyễn Đăng Thường nói: Nhưng đừng quên, cái “tâm” không nhất thiết phải ở trong ta mà “nó” thường được “cấy” vào tim óc. Triệu triệu vệ binh đỏ hôm xưa chưa xa lắm đã vung cuốn sách đỏ như “kinh Phật” .

    Ông Nguyễn Đăng Thường thấy viết văn, làm thơ đều hay, lại hiểu được hội hoạ, là những điều đáng trọng. ( Riêng về tranh của ông NĐĐ đã bàn tới, là người thưởng ngoạn bình thướng tôi cảm nhận được cái đẹp của tranh, nhưng không hiểu rõ lời phê bình, và tôi không màng kỹ thuật tranh vẽ có thể chịu ảnh hưởng hay mô phỏng tử đâu, miễn sao gây được mỹ cảm. Tôi chia sẻ với nhận thức của ông là xưa nay con người “tôn thờ” nhiều thứ thần tượng lắm, và số người tôn thờ Marx, Lenin, Stalin, Mao, Hồ, Castro, dòng ho Kim cộng chung có thể đông hơn tín đồ của bất cứ tôn giáo nào.

    Nhưng lẽ ra, ông Thường nên so sánh và viết “Triệu triệu vệ binh đỏ hôm xưa chưa xa lắm đã vung cuốn sách đỏ như “kinh Thánh”. Vì mỗi người theo đạo Thiên Chúa đều có một quyển kinh Thánh (điền này gần như bắt buộc với người Tin Lành), và số kinh Thánh được in để tặng không trên khắp thế giới là hàng triệu triệu cuốn. Về số lượng, so sánh hai thừ đó mới sít sao. Kinh Phât tuy rất dày, nếu kể cả Tam Tạng kinh điển, nhưng số người cầm trên tay vẫy vẫy kinh và mời đọc thì ít hơn nhiều.

    Nếu ông đọc ít sách Phật giáo (tác giả Tây phương càng tốt, vì thường sáng tỏ, dễ hiểu hơn) thì đều thấy đạo Phật chủ trương “buông bỏ” chứ không “cấy” vào đầu mình hay của bất cứ ai. Càng dứt hết ý tưởng càng tốt (có người đã giải thích về “vô niệm” ỡ đây), ngay cả dứt bỏ ý tưởng về Phật giáo, của đạo Phât , về Phật, của chuyện thành Phật. Càng xả bỏ trong tâm nhiều thứ (khi chưa thể mọi thứ) càng hiểu và càng dễ đi vào đạo Phật hơn. Đó cảm nhận của tôi, nhưng không đi thêm vào chuyện này. Đạo Phật được cho là một thử nghiệm để chính thân tâm được trải nghiệm khi đi dần vào cái chỗ (trạng thái) gọi là Không.

    Nhưng tại sao lại tạc tượng Phật? Chuyện này tôi có bàn một lần, nay không trở lại, chỉ nhắc vài điều là người theo Phật coi tượng là phương tiện để nhớ tới Phật, cũng là phương tiện Thiền quán trong cả Nam tông, Bắc tông và Mật tông. Người theo Tịnh Độ cũng có pháp quán tưởng Phật A Di Đà. Nếu đó là phương tiện tu hành của người theo đạo Phật, thi khi mình không theo Phât giáo tại sao lại bài xích? Cho là tốn kém khi làm tượng ngọc, thì là chuyện của vợ chống ông Úc nào đó, nhưng nếu là phương tiện giúp tạo lòng thành kính để dễ tu tập, thì phương tiện càng đẹp, càng cao quý càng dễ gây nên tình cảm mong muốn. Nếu cho người tham dự lễ mất thì giờ và chút tiền mà không đem lại lợi ích gì cho mính (và cho người), thì nếu ở nhà họ đi Las Vegas đánh bạc cuối tuần càng mất nhiều hơn(và làm lợi cho ai).

    Chúng ta đang nghĩ về bàì viết của ông Trần Kim Đoàn. Ông Đoàn đã kể lại trải nghiệm của chính mình khi chiêm quan tượng Phật Ngọc ở Sacramento. Từ “chiêm quan” ông Đoàn dùng rất hay, tôi cho hơn từ chiêm ngưỡng hay chiêm bái. Ai cũng có thể đến đó để nhìn tượng Phật (quan), nhưng với tâm tình của người Phật tử (chiêm), mà không nhất thiết phải ngưỡng hay bái. Khi ông Đoàn ngắm nhìn tượng Phật với tấm lòng của một “con Phật” thuần thành, và nói lên xúc cảm của mình (tôi nghĩ là chân thành), thì một số người không đến gần tượng, không thấy quang cảnh quanh buổi lễ Phật hôm đó, đã vội vã lên tiếng là ông Đ0àn nói không đúng (bịa đặt) về mình, lại còn cười chê chuyện ” xì xụp” lễ bái, và cho có thể nhìn ánh mắt người lễ Phật ở Sacramento tháy không khác những người dự vía Bà (đen) ở Bình Dương. Trí tưởng tưởng và khả năng “sáng tác” của nhiều người quả vô tận.

    Phần tôi, tin được chuyện ông Đoàn kể, tin được những trải nghiệm ông có và thuật lại ở đây, tuy nếu tôi đến chiêm quan tượng Phật Ngọc có thể không có những xúc cảm tâm linh giống như ông. Mỗi người là một cái gì rất riêng, với kinh nghiệm, tình cảm, thành tựu về bất cứ gì không thể giống như nhau, ít ra khác mức độ cao thấp. Tôi tin chuyện ông Đoàn kể, một phần cũng nhờ đọc bài báo của ký già Mỹ ở Sacramento viết (có link trong bài ông Đoàn). Họ khác tôn giáo, nhưng chắc không có lý do gì để chống Phật giáo, nên có thể khách quan khi viết tường thuật với phỏng vấn nhiều người VN dự lễ. Tất nhiên ký giả này chỉ là người đứng ngoài nhìn vào, không thể thấy được nội tâm thật sự của người khác. Tôi cũng tin lời ông Đoàn kể vì tôi đã đọc nhiều hồi ký của những người hành hương Tây Tạng (thường là người Tây phương), Ấn Độ, những linh tự nổi tiếng trên thế giới, cà hồi ký, tự thuật của những người Công giáo, Tin lành hành hương ở những nơi họ coi như thánh địa. Cũng có hồi ký của một người Hồi giáo VN tên Dohamide hành hương ở Mecca, đã viết trên tạp chí Bách Khoa trước 1975. Những xúc cảm tương tự như thế (không phải hoàn toàn giống nhau) đã xảy ra từ một tâm tình tôn giáo, mà người không theo đạo nào không thể hiểu được.

    Xúc cảm (tâm linh) ông Trần Kiêm Đoàn kể lại trong bài tôi cho là thật có, nhưng tại sao xảy ra cho ông, và nó thât sự như thế nào thì chỉ có người trong cuộc mới biết rõ. Một thiền sư Trung Hoa ngày xưa nói chỉ người uống nước mới tự biết nước lạnh hay nóng ra sao, mọi cách mô tả đều bất khả. Một thiền sư Nhật Bản nói anh hãy đổ hết nước trong chung của anh ra, tôi mới có thể rót trà vào cho anh. Một tâm thức đầy ắp những thành kiến, ngộ nhận, không kể những tình cảm tiêu cực khác (đạo Phật gọi chung là vô minh), không thể uống được chén trà của ông thiền sư đó. Tất nhiên, họ có thể uống thứ nước khác, tùy theo ý họ, ví đạo Phật không muốn “cấy” vào đầu ai một cái gí.

  15. Tri Ngộ viết:

    @ Lê Quốc Trinh
    Bạn Trinh thân mến,
    Tôi không muốn tranh luận đâu nhé, chỉ bàn qua tán lại cho vui, nhưng tuyệt đối không muốn làm mất thì giờ của các độc giả khác và tôi luôn trân trọng diễn đàn của talawas.

    Đối với tôi (cái này là không châm biếm đâu nhé, tức là những người chưa giác ngộ và còn căn cơ thấp), lạy Phật (hay lạy Thầy, hay lạy các bậc thiện tri thức, hay ngay cả chào búp sen (lạy) người bạn đồng tu) là một phương tiện thực tập rất quý báu. Cũng giống như khi mình tụng kinh (trong nhà Thiền, các Thầy các Cô tụng Bát Nhã Tâm Kinh mỗi ngày), hoặc khi mình thỉnh chuông, hoặc khi làm những điều đơn giản thường nhật trong chánh niệm (chánh niệm đây phải được hiểu là mình quản lý được việc mình làm và sống trọn vẹn trong giây phút hiện tại với việc đó). Có như thế mới (may ra) biết được đường đi lối về của tâm (rồi may ra mới biết nó ở đâu mà chùi và đánh bóng được nó để mượn lời của bạn LQT).

    Kể chuyện này không để khoe sự hiểu biết mà để chọc bác Lê Quốc Trinh một tí : Thần Tú đưa kệ kiến giải cho Thầy mình (cũng giống như lời bác LQT) viết lại nôm na là “tâm như đài gương trên đó bụi phủ đầy, Thần Tú ta mỗi ngày mỗi chùi nên nó đã sáng quắc (= giác ngộ)”), Huệ Năng sau khi nghe xong kệ này (không biết đọc và không biết viết) bèn nhờ bạn đồng tu chép lên giùm kệ kiến giải của mình như sau (nôm na) : “chính cái tâm này còn không có thì lấy gì mà chùi, you are losing your time”). Huệ Khả nghe xong kệ của Huệ Năng thì ông vô cùng đắc ý, đi tìm và hẹn HN tối khuya canh ba lên gặp mình. Huệ Khả đã trao tâm ấn cho Huệ Năng và khuyên HN lên đường xui Nam. Và tôi chỉ xin ngừng ở đây vì câu chuyện còn dài. Chỉ muốn chọc bạn LQT là “tâm còn không có mà chùi với đánh làm gì phí công”.

    Chúc bạn LQT luôn vui mạnh.

1 2 3 4 10
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...