talawas blog

Chuyên mục:

Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai

08/10/2010 | 12:58 sáng | 141 Comments

Tác giả: Trần Kiêm Đoàn

Category: Tôn giáo
Thẻ:

Đã hơn một năm rưỡi, thường xuyên xem hình, đọc bài viết, nghe lời luận bàn, theo dõi tin đồn về Phật Ngọc[1] và hiện tượng Phật Ngọc, nhưng mãi đến hôm nay tôi mới được tiếp cận và chiêm bái trong thầm lặng riêng tư với Phật Ngọc ngay giữa rừng người. Quá trình nghĩ vềđến với trong mối liên hệ nhân quả có khi chỉ là một. Nhân quả đồng thời. Nhân quả nối đuôi nhau trong chớp mắt. Nhưng cũng có khi là con đường dài biền biệt, có khi hết cả đời không mong gì thấy được nhân thành quả. Mây trắng có thể chẳng bao giờ thành mưa nếu trên đường gió lộng gặp trời xanh và nắng ấm. Nghĩ vềthực chứng là đi từ hư đến thật; từ vọng đến chân.

Sáng Chủ nhật (3-10-2010), tại chùa Kim Quang, thành phố thủ phủ tiểu bang California, theo sau những nghi lễ đầy âm thanh và màu sắc, tượng Phật Ngọc đã chính thức được trưng bày trước đại chúng. Hơn một trăm tăng ni và sáu nghìn người (theo quan sát và ước tính của nhật báo Sacramento Bee[2]) gồm quan khách đồng hương cũng như người nước ngoài, thân hữu và Phật tử tham dự nghi thức khai mạc lễ hội cung nghinh Phật Ngọc. Khi toàn hình ngôi tượng được trưng bày trong âm thanh trầm vọng của tiếng cầu kinh niệm Phật hòa quyện với tiếng vỗ tay nồng nhiệt của đại chúng, tôi mới chợt hiểu nghệ thuật biểu hiện tâm linh có con đường bay riêng của nó mà phương tiện diễn đạt của ngôn ngữ và tranh luận của lý trí sẽ trở thành bất lực, vô phương.

Khai mạc Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại chùa Kim Quang, Sacramento

Bên cạnh tiền đình với nhiều đường nét mỹ thuật của ngôi chùa Kim Quang mới được tái tạo và khánh thành chưa lâu là lễ đài tôn trí tượng Phật Ngọc. Màu xanh ngọc bích bóng ngời của thân tượng phản chiếu nắng vàng mùa Thu nổi bật giữa rừng áo vàng của quý tăng ni, hòa với màu lam dịu hiền của nhiều đơn vị Gia đình Phật tử khắp nơi tụ về đã tạo thành một bức tranh mang tính pháp hội thật nhu hòa mà cũng sinh động đầy thu hút.

Gặp dịp, tôi dán mắt mình quan chiêm ngôi tượng Phật bằng Ngọc để cố tìm cho ra những đường nét hiển hiện đầy thiêng liêng mà nhiều người đã từng ca tụng. Nhưng tất cả hiện ra trước mắt tôi là một tác phẩm điêu khắc mỹ thuật tạc ra từ một chất liệu vật thể quý hiếm mang bóng dáng đức Phật. Thật ra, mọi hình tướng tượng đài tự bản chất là một sự phỏng định không quy ước. Đó chỉ là cách thể hiện cụ thể cái “sự” bắt nguồn từ cái “lý”; cái dụng thể hiện cho cái ứng. Vì vậy, càng tranh luận hơn thua, đúng sai, tốt xấu, cao thấp về niềm tin tôn giáo “linh tại ngã, bất linh tại ngã” càng có cơ dẫn tới sự xung đột cá nhân và phân hóa tình người chẳng có lợi cho ai mà chỉ làm dày đặc thêm bóng tối vô minh của cực đoan và chấp ngã.

Mãi đến khi mắt rời ngôi tượng, quan sát chung quanh, tôi mới thật sự bắt gặp những gì mình chưa thấy qua đôi mắt trần vật lý. Đó là hình ảnh phản chiếu long lanh hình tượng Phật Ngọc trong đôi mắt của hàng nghìn người đang chiêm bái. Tâm thế nào thì ảnh tượng Phật Ngọc sẽ hiện ra trong mắt như thế ấy. Sự mặc khải của dòng trực cảm tâm linh không  đo lường hay dò tìm được bằng những phương tiện phàm trần quy ước. Sẽ không ai có đủ khả năng phân tích và lý giải được những gì thuộc về phạm trù tâm linh, tôn giáo trước một khối người đông tới sáu nghìn quanh khuôn viên chùa Kim Quang hôm nay. Tất cả đều như đang trầm lắng lại bằng sự tĩnh tâm quan chiêm cùng một đối tượng: Phật Ngọc.

Xin nghỉ chân rong chơi một chút loanh quanh dòng  Tâm lý Trị liệu Thực hành (Practical Psychotherapy) hiện đại. Những tay nghiên cứu tâm lý sừng sỏ thường nói đến sự vi tế và giao hưởng đầy sinh động của năng lượng, sóngtần số xuất phát từ tâm thức và đời sống thực tế của mỗi con người. Năng lượng lành (thanh khí), năng lượng ác (trọc khí) vần vũ xuôi ngược thường xuyên trong trời đất bao la từ vô thủy đến vô chung. Năng lượng nhiều hay ít tùy theo sóng cao thấp của thể lý và tâm linh. Sóng lớn hay nhỏ, vi tế hay thô trần tùy theo mức độ lành hay dữ của năng lượng. Tần số là cửa ngõ phát tán và thu hút năng lượng. Cửa ngõ mở rộng, đóng hờ hay khép kín đều phát xuất từ tâm và thức. Xin nhớ lại chuyện “Đi Chùa Hương”: Cô bé bận quần lĩnh áo the mới đi lễ hội chùa Hương với Thầy Mẹ. Chàng thư sinh lòng phơi phới lên chùa chiêm bái. Năng lượng lành xuất hiện. Cả hai không quen nhau nhưng cùng được tưới tẩm trong dòng suối tâm linh “Nam mô A Di Đà” của đại chúng. Mỗi bên đều phát tán và thu nhiễm năng lượng của bên kia. Thuyền càng tới gần chùa, làn sóng tâm linh của cá nhân và đại chúng càng cuồn cuộn vực dậy trong biển năng lượng thanh thoát của vạn lời cầu nguyện phát ra từ những tâm thành. Tần số tâm thức của đôi lứa thanh xuân cùng cường điệu bắt gặp nhau nhẹ nhàng và tự nhiên như đến từ tiền kiếp: “Em ư? Em không cầu. Đường vẫn thấy đi mau. Chàng cũng cho như thế.  Ra ta hợp tâm đầu.

Sự nghiên cứu về năng lượng, sóng và tần số thuộc về lĩnh vực tâm linh của khoa Tâm lý Trị liệu Thực hành khởi từ thời đại cổ sơ của người thượng cổ khi chưa có hình thức tôn giáo ra đời. Phật và Chúa mấy chục nghìn năm sau mới xuất hiện. Đó là khi loài người thực hành nếp sinh hoạt tâm linh qua những hình thái bái vọng thiên nhiên hay ngẫu tượng. Tiến thêm bước nữa là thời kỳ Bái Vật giáo; rồi Phiếm Thần giáo, Đa Thần giáo. Nhiều bộ lạc chỉ chiêm bái và thờ cúng một tảng đá đầu truông, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông đầu làng mà họ hết lòng tín cẩn và cầu nguyện. Khi những năng lượng tâm linh vi tế ẩn chứa phần lớn là năng lượng lành của một khối người có chung một tảng đá, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông… làm đối tượng “chứng tri” thì năng lượng lành hay sóng, tần số tâm linh của cả một khối người đông đảo có sự tương tác giao thoa. Đó là một gia tài tâm linh tích lũy càng ngày càng lớn của một tập thể có chung niềm tin trong cùng một tín hiệu. Gặp khi nguy biến, thành tâm cầu nguyện là lúc cá nhân bị nạn “giải mã” (như mở password ngày nay) để nhận nguồn năng lượng lành đã tích lũy.  Nếu minh họa bằng hình tượng cho dễ hiểu thì cũng tương tự như hoạt động tích lũy và sử dụng tài sản – gởi và rút tiền – qua trương mục của một ngân hàng trung tâm. Kẻ tích thiện làm lành có vốn giàu to. Kẻ độc ác sẽ bị trắng tay hay phá sản[3].

Với tinh thần Phật giáo “vô lượng pháp môn tu” – thì những ý kiến cá nhân hay nhóm phái chủ quan, cảm tính, cực đoan là phi Phật giáo vì đi ngược lại con đường Trung Đạo cố hữu của nhà Phật. Nói và viết về đạo Phật – con đường thênh thang mây trắng – mà phải nhăn trán, nhíu mày loay hoay mãi với tâm lý uẩn ức tiêu cực quanh mấy chuyện được thua, giàu nghèo, có không… trong giới hạn cá nhân nhỏ hẹp để khích bác và đối kháng lẫn nhau thì thật là uổng phí thời gian tĩnh lặng giữa cuộc đời ngắn ngủi. Thú vị chi ngồi khuấy tách trà làm bão tố phù du!

Sáng hôm nay 4-10-2010, đọc bài tường thuật của phóng viên Stephen Magagnini của nhật báo Sacramento Bee về lễ khai mạc cung nghinh Phật Ngọc tại Sacramento với tiêu đề “Jade Buddha draws throng praying for peace, health and prosperity” (Phật Ngọc làm dấy lên lời cầu nguyện đa dạng cho hòa bình, sức khỏe và phồn vinh.) Nội dung bài báo tương đối xứng hợp với tiêu đề đưa ra. Trước đó vài tuần, khi tượng Phật Ngọc còn đang trưng bày ở San Jose, thành phố có đông người Việt thứ nhì tại tiểu bang California sau Quận Cam, phóng viên Bruce Newman của nhật báo địa phương Mercury News, số ngày 15-9-2010 đã viết bài tường thuật về lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại đây dưới tiêu đề “The Jade Buddha, symbol of peace and harmony, everywhere but in San Jose” (Phật Ngọc, biểu tượng của hòa bình và hòa hợp khắp mọi nơi, ngoại trừ San Jose.)[4]

Thật ra, đứng trên quan điểm tôn giáo nói chung, Newman đã dẫn chứng các sự kiện và nhân vật trong cộng đồng người Việt tại San Jose mà ảnh hưởng và tác dụng của vấn đề cần đặt trong bối cảnh chung của tình hình xã hội và chính trị tại địa phương, chẳng có sự liên quan trực tiếp nào đáng kể trên sinh hoạt của Phật giáo tại San Jose. Trên tiêu chuẩn “handbook” của ngành báo chí Hoa Kỳ, Bruce Newman săn tin rất “động” nhưng lại chưa đủ “tĩnh” để có thể hiểu hết thực chất “tướng” và “tánh” – bóng và hình – của một cộng đồng dân tộc và văn hóa “bốn nghìn năm văn hiến” quá nhiêu khê như người Việt Nam.

Trong một bài viết trước đây về Phật Ngọc nhan đề “Phật Ngọc, hình tướng và thật tánh của hoà bình, an lạc”, kẻ đang viết những dòng nầy đã cố gắng ứng dụng đồng thời hai tuyến dữ kiện “động” và “tĩnh” để trình bày một phần quan điểm của mình về Phật Ngọc. Nay trong bài viết tiếp theo nầy, người viết bằng vào diễn biến thực tế và ý kiến của nhiều Phật tử trực tiếp tham dự Lễ Hội để nhận định về tác dụng trực tiếp cuộc du thỉnh “world tour” vòng quanh thế giới của Phật Ngọc đối với cộng đồng Phật giáo Việt Nam.

Xin tạm gác qua lắm chuyện thị phi bên lề diễn biến của tiến trình trưng bày Phật Ngọc liên quan đến sự được thua, hơn kém, to nhỏ, mạnh yếu, khen chê… về thế lực, tài chánh, khả năng tranh chấp quyền lợi; cùng những hào quang dễ dãi và bóng đen vu vạ mà xưa nay trong bất cứ hoàn cảnh nào và thời điểm nào cũng có. Một khi có sự tương tác từ hai người trở lên thì sự va chạm cá nhân và phe phái không thể nào tránh khỏi. Nhà sư Tích Lan, Tikhome Lanka, đã viết trong Pháp Ngữ Diễn Đàn (Dharma, 2001) rằng: “Tôn giáo dính vào tiền bạc và quyền thế tranh chấp đời thường là đang bước lên cỗ xe năng động: Chạy lên trời Đâu Suất hay rớt xuống Địa Ngục dễ dàng như trở bàn tay! Nhà tu ngày nay đến với cảnh giới giải thoát hay cứu cánh đắc đạo thường mua vé xe bằng tiền bạc nên chỉ đi được xe ngựa xe đò; trong lúc đó, cuộc đời quá ngắn ngủi thì phải đi bằng tốc độ tâm linh nhiệm màu nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng mới mong về kịp chốn ước mơ trước khi nhắm mắt xuôi tay!

Trong khi tôi đang viết những dòng nầy tại Sacramento thì đang hàng trăm người từ San Jose, Fresno, Stockton và các vùng lân cận đã kiên tâm chờ đợi tới mấy ngày, nhưng không ít người đã ra về tay không. Hầu hết những người ở xa cho biết là họ đã phải thức dậy từ 2, 3 giờ sáng để lái xe về địa điểm Phật Ngọc, xếp hàng chờ đợi để cố mua cho được một miếng tượng mỏng, nhỏ hơn hai ngón tay. Đại chúng được cho biết và có giấy chứng nhận đây là thành phẩm chiết ra từ khối ngọc chính tạc tượng Phật Ngọc. Tôi quan sát những khuôn mặt chờ đợi phờ phạc nhưng phát nụ cười hớn hở khi vừa ra khỏi cửa với miếng tượng nhỏ xíu trên tay. Cũng đã có quá nhiều lời bình phẩm – trong cũng nhiều mà đục cũng lắm – về ý nghĩa, động cơ và tác dụng của việc mua và bán tượng đeo bằng ngọc nầy. Trong muôn một, tôi thử tiếp xúc với một người vừa mua được tượng ngọc và “phỏng vấn”. Anh cho biết anh là Trần Quốc Mỹ, ở Stockton, đã trải qua “công đoạn” đợi chờ hết sức vất vả suốt mấy ngày mới mua được tượng ngọc. Anh cho biết là đã nghe quá nhiều chuyện thật hư, nhưng “tội ai nấy hứng, ai tu nấy chứng”, nên chẳng quan tâm đến chuyện thị phi, tin hay không tin là do mình. Anh kết luận thoải mái rằng: “Bạc vàng thì có giả, có thiệt do người ta mang tới, nhưng lòng tin là do mình. Mua một niềm tin có khả năng biến thành nguồn vui, hay hơn nữa thành nguồn an lạc thì quả là vô giá. Nhưng ở đây tốn kém chỉ bằng mua một cái vé đại nhạc hội Paris by Night thì cũng là thú vị.” Câu nói của anh làm tôi nhớ tới những hòn đá “tô-tem” làm vật thờ cúng của người cổ sơ.

Ông Trần Quốc Mỹ với tượng ngọc trên tay

Hai mẫu tượng ngọc phát hành trong dịp Lễ Hội cung nghinh Phật Ngọc

Niềm tin tôn giáo, dù chỉ là năng lực vô hình của tinh thần và tâm linh, nhưng lại chiếm ngự phần đời rất lớn của những người tôn giáo. Có tôn giáo hành đạo mỗi ngày năm lần bảy lượt để cầu nguyện. Có tôn giáo khi đã theo là hiến trọn đời mình cho giáo chủ. Đạo Phật thường nói đến con đường từ bi và trí tuệ không phải vì có một pháp môn chuyên nhất đưa tới giác ngộ, nhưng đức Phật đã chỉ ra vô lượng pháp môn hành đạo mà đời thường đưa ra con số làm biểu tượng là tám vạn bốn ngàn. Trên con đường thênh thang tùy duyên ấy, có những hình ảnh quán niệm tĩnh lặng cao thâm; nhưng cũng có lúc phải cần tới “lục thời công phu” và môn phái Tịnh độ hành trì Pháp môn Niệm Phật, giữ cho được “nhất tâm bất loạn” thì niệm Phật thường hằng không lúc nào dứt niệm. Nói tóm lại, đi vào lĩnh vực đức tin tôn giáo là đi vào một thế giới khác mà những tiêu chí và luận lý đời thường không thể nào lý giải và hiểu cho rốt ráo được.

Trong những ngày qua, môi trường truyền thông đại chúng người Việt cũng như người nước ngoài đã đưa ra một lượng thông tin khá phong phú và đa dạng về Phật Ngọc. Khuynh hướng đồng nhất hóa giữa biểu tượng và chân pháp; giữa phương tiện và mục tiêu; giữa lòng tin và lợi dụng; giữa hoằng dương và quảng cáo, giữa lý và sự đã đưa tới nhiều sự duy diễn quá xa vời.

Hiện tại, tượng Phật Ngọc đang được trưng bày tại Sacramento sang ngày thứ tư. Nhiều khách hành hương đã bày tỏ sự tán đồng về danh xưng: “Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc…” vì nó tránh được sự cường điệu và thánh hóa không hợp với tinh thần đạo Phật. Người ta ước mong rằng, nếu lễ hội được mở ra bằng những tấm lòng và ý hướng chân chính tất sẽ thành Pháp hội. Phật giáo cận đại và hiện đại có nhiều khả năng lập ra nhiều Giáo hội nhưng thiếu Pháp hội. Giáo hội là để lãnh đạo và khống chế nhau bằng thế và lực; nhưng Pháp hội là để đến với nhau trong tinh thần hòa đồng, bình đẳng, tin yêu và chia sẻ.

Lời phát biểu của thầy Thích Minh Đạt trong lễ khai mạc đã một phần làm sáng tỏ cho một cách nhìn chánh niệm: “Phật vẽ trên giấy, Phật thêu trên lụa, Phật tạo bằng đất sét, bằng xi măng, bằng thạch cao, bằng tất cả các loại đá trong đó có loại đá quý mà chúng ta gọi là “Ngọc”… tất cả đều không có khả năng mang lại hòa bình cho thế giới. Chỉ có một vị Phật duy nhất có đủ khả năng mang lại hòa bình cho thế giới, đem lại an lạc hạnh phúc cho mọi loài, đó là Phật Tâm (…) Tâm bình thế giới bình.”

Phật Ngọc không ở đâu, không giống định kiến nào, không thuộc về ai cả mà ở chính trong đôi mắt của người nhìn. Cái nhìn xuất phát từ Tâm. Phật Ngọc trong mắt ai… sẽ không giống Phật Ngọc trong tưởng tượng và suy diễn của tha nhân. Phải chăng vì nó không giống ngón tay chỉ mặt trăng mà bởi nó là đôi mắt thật của tâm sinh và tâm khởi trong nguồn năng lượng lành: Ai nhìn nấy thấy.

Sacramento, 4-10-2010

© 2010 Trần Kiêm Đoàn

© 2010 talawas


[1] Sở dĩ có cái phụ chú nầy vì đã có ý kiến phản bác danh xưng Phật Ngọc.Ý kiến này cho rằng “Phật là Phật; là đấng giác ngộ viên mãn chứ không có Phật ngọc, Phật vàng, Phật bạc gì cả).Vì người viết không tự đặt mình ở vị trí để tranh biện về chính danh – định phận hay dính líu vào một hình thức luận bàn hình thức không cần thiết tương tự, nên xin gọi theo thế danh đại chúng về ngôi tượng là Phật Ngọc. Thật ra, mọi danh xưng, danh vị, danh từ tạm dùng để gọi tên vạn pháp theo tinh thần đạo Phật đều là giả danh. Lời Phật: “Chân pháp không phân biệt. Nhìn đúng là nhìn thẳng vào bản lai diện mục của tất cả các pháp đều không có tự tánh nên chẳng chấp trước nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả. Nhìn cành hoa không phải là cành hoa mới thật là cành hoa.”

[2] Xem toàn văn tường thuật tại trang web: http://www.sacbee.com/2010/10/04/3076893/jade-buddha-draws-throng-praying.html

[3] Practical Psychotherapy: Adaptation of dialectical behavior. Gerald Amada. Batam, NY; NY, 2009.

[4] Toàn văn bài viết nầy đã đăng lên mạng lưới toàn cầu, ở địa chỉ: http://www.mercurynews.com/ci_16087076?nclick_check=1

Bình luận

141 Comments (bài “Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai”)

  1. tracy viết:

    Ông Nguyễn Đăng Thường cho rằng ông hơi thiên về Công Giáo cho dù ông vô thần, một trong những lý do ông NĐT đưa ra là Công Giáo mang lại chữ quốc ngữ cho VN qua Giám Mục Alexande de Rhodes. Theo thiển ý của tôi, việc vị giám mục này phiên âm tiếng Việt theo alphabet chỉ vì các ông ấy không đọc được chữ Hán, chữ Nôm. Họ dùng như vậy cho dễ dàng trong việc truyền bá đạo CG chứ không hề có ý muốn khai sáng cho nền văn hóa tối tăm của VN. Ta hãy nhìn sang nước Nhật, nước Đại Hàn và ngay cả nước Trung Hoa (cho dù tôi rất kỵ Tàu Cộng), việc dùng chữ riêng của họ đâu có làm việc khai sáng dân trí của họ dễ dàng hay khó khăn hơn. Vả lại, ngay cả cho đến khi thực dân Pháp chiếm hữu đất nước ta, có bao nhiêu phần trăm người Việt biết chữ quốc ngữ, hay đại đa số dân chúng mù chữ? Alexande de Rhodes chỉ là người phiên âm tiếng Việt của chúng ta, ngôn ngữ tiếng Việt đã có sẵn từ ngàn năm, ông ta không phải là người phát minh ra tiếng Việt và việc dùng tiếng Nôm hay chữ alphabet theo tôi không khác nhau trong việc giáo dục. Có điều bây giờ chúng ta dùng chữ alphabet nên ít ai có thể đọc được những văn bản thời trước, nhất là nó được viết bằng chữ Nôm.

  2. Hoà Nguyễn viết:

    Xin trả lời vài người nói về tôi, về mấy phản hồi của tôi hôm qua.

    1/ Những điều tôi hiểu về đạo Phật tất không giống người khác, và việc tôi lên tiếng nói lên sự khác biệt giữa người khác và tôi về một vấn đề nào là điều tự nhiên, theo ý nghĩ riêng, tất chủ quan của tôi. Ngay từ đầu và sau này, tôi không hề có ý hay làm viêc “tuyên dương” đạo Phật ở đây, mà chỉ lên tiếng trình bày những hiểu sai, ngộ nhận, đôi khi xuyên tạc đạo Phật theo như tôi hiểu. Đó là điều cần thiết và tôi nghĩ là tốt cho mọi người (có cả tôi).

    2/ Tôi không cần và không màng ai nghĩ gì về tôi (có lẽ giống ông Lê Quốc Trinh hay một vài người khác đôi khi ở chỗ này), và biết đâu có khi là do cái ngã của mình cũng nhẹ đi phần nào. Ai gán ghép chuyện sân hận ở đây là hoả mù hay đánh gió, ít ra vô vị, không đúng chỗ. Tôi không giận hờn gì ông TQV hay NML mà nghĩ họ không đúng về bài thơ, và tôi chỉ giới hạn ở trường hợp này.

    2/ Những điều về đạo Phật ông 1mitee nêu lên, như Bát chánh đạo hay gì khác, tôi đều nghĩ khác ông dù ông viết rất ít (chỉ mới nói qua cái tên). Còn về cái “bản lai diện mục” thì tôi chưa thấy, và ai đã thấy được về cái của mình?
    Bàn về bài thơ của TQV và NML, và bàn về đạo Phật với ông Thường là hai chuyện khác nhau quá xa. Nhập nhằng đưa hai chuyện đó vào một, như 1mitee làm, là hoàn toàn vô nghĩa. Thêm cái đả kích cá nhân(personal attack) của 1mitee càng làm tôi không bận tâm về điều 1mitee viết về phản hồi của tôi, và về tôi.

  3. Hoà Nguyễn viết:

    Nguyễn Đăng Thường nói: Xin chύc Phật giáo VN ngày càng cό thȇm nhiều chὺa, nhiều Phật Ngọc, sự mȇ tίn dị đoan, lȇn đồng lȇn bόng, đốt vàng mã, vȃn vȃn và vȃn vȃn… ngày càng gia tăng cho bá tánh luȏn được An Bὶnh, Hạnh Phύc.

    Tin hay không tin theo một tôn giáo nào là chuyện riêng của ông Thường hay mỗi người chúng ta, tôi không can dự vào, và không có ý thuyết phục ông Thường hoặc ai. Nhưng vì ở đây, ông Thường cáo buộc (và đôi khi như vu cáo ) nhiều thứ không đúng về đạo Phât, nên tôi trả lời từng điểm những điều ông nêu. Đây là việc làm tự nhiên của ai tôn trọng sự thật, muốn được thành thật với mình, với người.

    Vài điều ông Thường viết ở trên nằm trong những ngộ nhận lớn về các nghi thức hành trì riêng của đạo Phật thưòng do Phật tử tại gia trộn lẫn với các tín ngưỡng dân gian khác . Tôi không thể giải thích hết những cáo buộc về vài điều thấy trong chùa hay ở nhà riêng của Phật tử là thuộc Phật giáo hay đền từ tôn giáo, tín ngưỡng địa phương nào. Chỉ trả lời ngắn gọn giới hạn, trong những câu mỉa trên, và trong sự hiểu biết của tôi.

    1/ Sự mê tín dị đoan : ông Thường cho là như những gì ?

    Ở một số chùa thấy có bày việc xin xăm để biết hoạ phúc, may rủi trong cuộc sống. Nhưng việc này, cũng như bóí toán nói chung ở VN là đến từ TQ, thấy ở Khổng giáo và Đao giáo, hoặc từ các niềm tin dân gian khác. Khổng giáo có kinh Dịch, Lão giáo (qua các hình thức tín ngưỡng dân gian) có khoa tướng số, phong thủy, coi ngày lành tháng tốt để cưới hỏi, xuất hành, xây cất, mở tiệm, cà các cách trừ ma quỷ. Môn Tử vi có lẽ là từ Khổng giáo, vì phổ biến ở giới thương lưu xã hội và nho sĩ. Việc lấy và đoán Tư vi rất phức tạp, phải là “trí thức” mới làm được, và không hề thấy trong Phật giáo, tại chùa , tuy có thể thấy ở nhà riêng của người Phật tử tại gia.
    Xin xăm đã có từ lâu đời, trước khi đạo Phật tới Trung quốc, VN, cũng như việc bói bằng cỏ Thi theo Kinh Dịch có từ thời Khổng tử, dựa theo dự ngẫu nhiên khi lấy lá xâm hay gieo đồng tiền (cái ngẫu nhiên khi một cây xâm văng ra ngoài ống xâm được coi như quyết định hay chỉ thị của thần thánh). Ban đầu (thời tôi còn nhỏ) việc xin xăm chỉ thấy ở các “chùa” ngoài Phật giáo, như chùa Ông, chùa Bà. chùa Thiên hậu. Sau lan qua chùa Phật giáo vì nhu cầu tín ngưỡng của người bình thường, hay cũng có thể vài nơi muốn có thêm tín đồ đến chùa. Với văn minh và khoa học ngày càng cao, chuyện xin xâm chắc đã giảm (tôi không nghiên cứu để biết chắc), nhưng vẫn chưa dứt. Trong chùa nơi xin bàn xăm đặt rất riêng biệt (thường trước tượng bồ tát Quan Âm ). Chuyện xin xăm ở các chùa ngoài này thấy ít dần (nhiều vào ngày Tết có vẻ để thêm vui như chuyện hái lộc) , nhưng trong nước có vẻ tăng thêm, và người cầu xăm có thể không là Phật tử.

    1/ lȇn đồng lȇn bόng : hoàn toàn không có trong Phật giáo, không có trong chùa chiền nào hết .
    Nếu ông Thường cho là thấy đồng bóng ở trong chùa là viết chuyện hư cấu quá mức. Đồng bóng, phù thủy (dùng bùa phép, nước huơng trị bệnh) là tín ngưỡng có từ rất lâu đời, ở nhiều nước Á Đông, như Hàn, Nhật, Mãn Châu, Mông Cổ…., ngày nay vẫn còn. Nhưng không dính dáng gì tới đạo Phật.
    Chuyện cầu siêu người , và cúng kiếng huơng linh người chết đạo Phât có dự phần, do yêu cầu của “thí chủ” (người cúng dường Phật, tăng), nhưng ban đầu không phải của đạo Phật .

    2/ đốt vàng mã : Phât giáo không có vàng mã, chỉ nhang đèn (hương đăng, hoa quả là những thứ dùng cúng Phật.). Vàng mã là của người Trung Hoa bày ra, và người VN noi theo.

    Trong một đám tang đủ nghi lễ, tất cả đều mô phỏng theo sách Lễ ký của Trung Quốc từ đạo Khổng, như đã nói, như người trong tang gia phải mặc áo trắng, đội mũ rơm, chống gậy…, là phong tục TQ, người VN bắt chước làm theo và châm chước ít nhiều . Ở một đám tang rầm rộ, kèn đồng inh ỏi, vàng mã được ném tứ tung (cho ma quỷ lượm ) hay đốt tại mộ), Phật giáo chỉ hiện diện qua vài ông sư đi theo lẫn trong đám đông, từ nhà đến mộ, gõ mõ tụng kinh, để người chết được “vãn sinh” theo mong cầu của gia đình họ. Lễ cưới hỏi cũng đều theo phong tục VN và Trung Quốc. Chỉ gần đây, ở các nước Nhật, Hàn, Đài Loan vài trường hợp tổ chức nghi thức cưới tại chùa (phỏng theo Tây phương làm ở nhà thờ) , và một số Phật tử VN bây giờ cũng làm theo, nhưng vẫn còn rất ít.

    3/ vân vân và vân vân : đây là cái khôn của ông Thường, chắc là không cần trả lời gì.

    Sau cùng, một nhánh trong Phật giáo gọi là Mật tông có nhiều nghi thức cho là rất bí mật nhưng bây giờ cũng được nhiều sách ghi chép lại. Nghi thức nào trái với Phật giáo thường không được các tông phái khác làm theo và chắc dần dần bị loại trừ. Trong kinh tụng Phật thường ngày ở Bắc tông có các bài chú đôi khi có nghĩa (như bài chú dưới Tâm kinh), và nhiều khi không ai hiểu nghĩa (có thề từ ngôn ngữ nào đó nay đã mất), có lẽ là dấu vết còn lại của Mật tông, tôi không biết nhiều để nói thêm. Ai không tin, không chấp hhận những hình thức nghi lễ hay cách niệm chú nào đó có thể chọn tông phái Phật giáo khác không có để hành trì cho hợp với ý mình.

    .

  4. Tân Phong viết:

    NGHĨA ĐỜI
    Thân mến tặng hai bác Hòa Nguyễn và Trương Đức mà tôi kính trọng;
    Xin đọc với tinh thần „Phá Chấp“.

    Trân trọng.

    „Cơm sôi bớt lửa“ – Lời quê đấy,
    Thương yêu, quý trọng cũng là đây;
    U MÊ nên vẫn thường SÂN HẬN,
    Đạt giác là khi hiểu nghĩa Đời!

  5. nguyen mai linh viết:

    Mới đọc bài dưới đây về dân tộc Việt, thấy có nét, nên giới thiệu để quý đồng hương đọc và nghiệm ra điều gì chăng

    http://www.danchimviet.info/archives/19275

  6. Lê Quốc Trinh viết:

    Bác Hoà Nguyễn thân,

    Bàn về thuyết Vô Ngã của Đạo Phật thì đương nhiên cần nên hiểu Ngã là gì trước tiên; Bản Ngã là thế nào; Ngã Mạn là chi; rồi sau đó mới thấm hiểu thế nào là Duy Ngã (bản chất thật của các tôn giáo).

    Muốn nói về Ngã thì cũng cần nên biết thế giới nhị nguyên của vật chất ra sao để thấy cái Ngã nó to lớn quan trọng khủng khiếp cỡ nào, cho nên tôi đâu dám khuyên bảo gì bác Hoà Nguyễn.

    Nếu bác cảm thấy những điều tôi nói trong những PH vừa qua trong topic này có gì khác lạ với những gì bác đã đọc và hiểu trên con đường tu tập của bác, thì hiển nhiên thôi. Chỉ vì kể từ khi Đức Thế Tôn ra đi 2600 năm trước thì Đạo Phật chính thống đã bị phân hoá xâu xé nội bộ mãnh liệt, phân chia thành nhiều tông phái Đại Thừa, Tiểu Thừa, Tịnh Độ Tông, Mật Tông và vv…). Đại đa số đã quên hẳn lời dạy của Đức Thế Tôn quay ngoặt 180 độ trở lại con đường mê tín, trọng sự thờ cúng, tôn vinh, tôn thờ và tôn sùng hình tượng, bỏ quên cái Tâm Phật cốt lõi bên trong.

    Cũng may mắn nhờ phát triển khoa học suốt 2000 nằm qua mà nhân loại dần dần hiểu rõ tinh hoa cốt tuỷ của Đạo Phật chính thống, mày mò tìm tòi học hỏi những luận đề siêu việt do Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni khởi xướng.

    Tại sao tôi đã nhắn nhủ ông Trần Kiêm Đoàn “không cần” hồi âm, vì lẽ tôi biết ông Đoàn đã và đang đi ngược chiều hướng với tôi, ông đang đi theo con đường “cám dỗ ngoại cảnh”, thì ông có hồi âm cũng chẳng có ích chi.

    Vài lời xin được chia sẻ với bác Hoà Nguyễn,

  7. Trầm Kha viết:

    @nguyen mai linh:
    Em thấy ban đầu NML ca ngợi bài thơ của NQV dẫu có quá lời song chưa đến nỗi nào; cho đến khi NML bênh vực cho việc ca ngợi của mình bằng các bước bình thơ và giảng triết cho độc giả talawas ở đây thì, thú thực, em… sợ cả ‘thơ’ lẫn ‘triết’.

    Xin các bác am tường thơ và/hoặc triết chiếu cố đôi lời trấn tĩnh cho em.

  8. Trầm Kha viết:

    Lê Anh Dũng nói: 12/10/2010 lúc 6:19 sáng
    …giúp tôi bổ túc được nhiều điều suy nghĩ nhưng chưa tìm được cách lý giải, trình bày tốt.

    …Dầu vậy tôi cũng không dám chắc vì nhiều người khẩu xà, tâm Phật. Khác với Thiên Chuá giáo mà tôi biết, nơi mà ma quỷ, Sa-tan là sự thù nghịch không thể nào cởi bỏ (tôi chưa từng nghe tín đồ Thiên Chúa, linh mục, mục sư, sách vở nào tỏ lòng lân mẫn xót thương, tội nghiệp tới những gì dính dáng tới ma quỷ), thì ác tăng, nghịch duyên dưới nhãn quan Phật Giáo cũng là một thành tố bất khả phân của cửa Không.

    Chả biết bác Lê Anh Dũng “bổ túc được nhiều điều suy nghĩ nhưng chưa tìm được cách lý giải, trình bày tốt” (về Phật giáo) thế nào, chứ bác… ‘đối chiếu’ với Thiên Chuá giáo kiểu này thì… nguy quá!

    Sao có thể đối chiếu “ác tăng, nghịch duyên” với “ma quỷ, Sa-tan” bác nhỉ?
    Với lại việc bác “chưa từng nghe” không có nghĩa là họ không như thế, phải không ạ?

  9. nguyen mai linh viết:

    Thoạt đầu khi đọc Người Trung Quốc xấu xí của Bá Dương hay đọc Tổ Quốc ăn năn của Nguyễn Gia Kiểng, người đọc thường vướng phải một định kiến khó thay đổi như sau:

    “Người nói câu “Nước nghìn năm u mê”, dù với ngụ ý đã hay sẽ u mê, phải không có hay ít có chất Việt trong người. Vì không ai tự chửi dòng giống mình, cả dân tộc mình nặng nề như thế với hai lý cớ chẳng liên quan mấy.”(Hòa Nguyễn)

    Ai có thể chứng minh Bá Dương không yêu mến đất nước Trung Quốc hay Nguyễn gia Kiểng không yêu tổ quốc Việt Nam vì đã viết những điều nặng nề về dân tộc mình như thế? Nguyễn quốc Việt chỉ một câu ngắn gọn đã nói lên được nội dung chính của hai cuốn sách trên.

    Quê hương mê lễ hội .
    Hải ngoại mê Phật ngọc.
    Dòng đời cứ thế trôi.
    Nước nghìn năm u mê

    Thử nhìn bài thơ dưới nhãn quan phả thơ thẩn xem sao. Câu đầu Quê Hương mê lễ hội là nói đến một thực tế từ ngàn xưa cho đến tận bây giờ. Tôi xin trích lời giải thích của Hoà Nguyễn như sau

    “Lễ hội là một hình thức văn hóa, nhiều khi phong phú đến mức phức tạp, pha trộn nghệ thuật với huyền thoại, lịch sử, tín ngưỡng cả tôn giáo, đã có từ thời rất cổ sơ ở mọi dân tộc, chẳng là nguyên nhân để làm u mê ai (mà có thể là căn nguyên phát triển nhiều hình thái nghệ thuật), chẳng làm hại dân tộc nào (kể cả lễ Halloween sắp tới ở châu Âu và Mỹ).”

    Câu 1 nói lên cái chung dưới cái nhìn triết học, hay là một định lý đã được chứng minh theo cách nói Toán học. Trong khi đó câu 2 lại đề cập đến cái cụ thể (chẳng lẻ trả lời bài Phật Ngọc trong mắt ai, lại đi nhắc đến vấn đề khác thì chắc lạc đề quá. Thế cho nên cái cụ thể ở đây là nói về chuyện Phật Ngọc ở chùa Kim Quang, Sacramento). Đó chính là cái riêng trong triết học, và đó chính là một ví dụ cụ thể của cái định lý Toán học trên (Trong toán học thì không có gì quý hơn ví dụ đấy). Hai câu đầu chính là một cặp phạm trù cơ bản của triết học, và tôi nhận thấy như thế theo kiểu phân tích thơ của chính bản thân tôi.

    Câu 3 như một dòng nước chuyển tải những gì ở hai câu đầu đi từ quá khứ đến hiện tại và có thể … đi về tương lai của cả một nòi giống Việt. Thế nhưng cả bài, tôi thích nhất câu cuối được giữ nguyên xi không thay đổi

    Nước nghìn năm u mê

    Không u mê sao giờ này nước ta vẫn chưa ngóc đầu lên nổi, vẫn khổ đau, oán hờn chồng chất. Lê Thương viết như sau: “Tại sao lại nghìn năm nước tôi u mê? Trong nghìn năm ấy, nước tôi không những có Quang Trung, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo … lại còn mở mang bờ cỏi đến tận mủi Cà mâu. Có phải u mê là vì độc lập, thoát khỏi ách nô lệ phương Bắc?”

    Câu kết của bài thơ theo tôi là nói đến cái chung, còn như Lê Thương lại đưa cái rất riêng để đi đến kết luận cái rất chung thì hơi phi logic tí. Tức là chúng ta có những anh hùng như thế, làm được những việc như thế mà dám nói chúng ta u mê là sai? Tôi thì hoàn toàn không dám nghĩ như thế.

    Câu kết đọc lên nghe như than trách, có chút nhẹ nhàng nhưng không kém phần cảnh tỉnh những con người còn mang nòi giống Việt. Chữ u mê đọc lên nghe vang vọng tới tương lai. Có cải thiện được hay không thì hoàn toàn chúng ta phải nhận thức được cái mê muội từ ngàn năm để lại đã và đang tồn tại trong mỗi con người chúng ta.

  10. Hoà Nguyễn viết:

    Phản ứng của ông Nguyễn Đăng Thường không lạ gì, và lời ông viết không khéo cũng không vụn với một người quen viết văn như ông. Nhưng cũng ghi thêm là tôi chỉ cố trả lời những câu hỏi của ông Thường, dựa vào vài sách Phật giáo tôi được đọc (tôi không chắc nhớ và viết đúng các ý tưởng của đạo Phật mình đã đọc hay nghe). Sau khi viết lan man (vào cuối tuần), đọc lại thấy góp ý đó quá dài, nhưng tôi không có thời gian cắt cho ngắn đi. Hy vọng trên một diễn đàn mở, phần góp ý của tôi để trả lời từng điểm nhiều điều ông Thường nghĩ vể đạo Phật, hay gán cho đạo Phật, sẽ được các bậc thạc học chỉnh sửa chỗ sai sót và bổ khuyết cho.

  11. tracy viết:

    Nếu chỉ nhìn hiện tượng, nhiều người sẽ nghĩ rằng Phật giáo VN có liên hệ với mê tín. Đây là điều sai lầm đối với những người khác đạo và ngay cả người Phật tử vì không hiểu giáo lý của Phật Giáo.
    Đạo Phật là đạo “vô thần” vì không tin vào linh hồn tồn tại sau khi chết , thành ra những cúng kiếng , cầu hồn là trái với tinh thần Phật Giáo. Những người lên đồng tuy họ cũng cúng Phật nhưng họ đã làm trái tinh thần Phật Giáo.
    Việc xây chùa chiền : xây chùa chiền theo tôi đâu có gì là phản khoa học, chùa chiền ở VN có nhiều vì đa số người Việt theo đạo Phật, lập chùa để tiện việc đến nghe Phật Pháp. Nếu so sánh số lượng chùa và nhà thờ và số lượng Phật tử và tín đồ Thiên Chúa Giáo thì sẽ thấy số lượng chùa quả có ít và không có những ngôi chùa nguy nga tại VN khi so sánh với các nước theo đạo Phật khác. Theo tôi, đó là ưu diểm của Phật Giáo VN, Phật cốt ở tâm chứ không cần lâu đài, tượng đài to tát , như có lần tôi đã nói, nhìn ngôi chùa Một Cột nhỏ nhắn khiêm nhường, tôi lại cảm nhận được công đức của các vua chúa VN ngày xưa.

  12. 1mitee viết:

    Về việc Hòa Nguyền nặng lời với Trần Quốc Việt vì một câu “…nước ngàn năm u mê” cho thấy những điều Hòa Nguyễn rao giảng về chánh niệm, chánh ngữ lâu nay chỉ là những ngôn từ rỗng tuếch!

    Chỉ những trường hợp như thế này mới thoáng thấy được cái “bản lai diện mục” của con người được rất nhiều người nói tới trong diễn đàn talawas này.

    Bác Trương Đức (xin có lời chào đồng hương QN với bác) có lòng tốt muốn hòa giải nhưng tôi nghĩ câu thơ đã đổi chữ như thế không còn là bài thơ của TQV nữa rồi.

    Và tôi có nhận xét “chủ quan” sau đây: Hòa Nguyễn là một người cuồng tín tôn giáo, theo cái nghĩa là ai đề cập đến Phật giáo mà Hòa Nguyền diễn dịch là kỳ thị, bôi bác PG thì Hòa Nguyễn sẽ không tiếc lời phản bác dù ngôn từ, suy nghĩ có đi ngược các nguyên tắc trong Bát Chánh Dạo, kim chỉ nam cho việc hành xử trong đời sống Phật tử.

    Lời thật mất lòng, nếu Hòa Nguyễn không bình tâm suy xét lại thì chỉ hại cho tâm thần của ông ấy mà thôi.

  13. Hoà Nguyễn viết:

    @ Trương Đức
    Cám ơn ông/anh cho biết thêm chi tiết. (Nếu gọi là anh là vì nghĩ anh trẻ hơn tôi, không hề thiếu sự tôn trọng).

    Trên diễn đàn này tôi đọc và bàn “tùm lum” đủ mọi chuyện, không chuyên về gì, và nếu ai hỏi talawas chuyên về gì thì nghĩ rất khó trả lời cho đúng. Những góp ý của tôi nói chung là dựa vào nội dung, văn bản, không dựa vào tác giả là ai, không dựa vào điều tác giả nói về mình, hay điều ai nói thêm về tác giả. Tất nhiên, tôi không đánh giá thấp những thông tin như vậy, thường giúp mình hiểu thêm nội dung bài viết, và những lời ông viết có thể giúp tôi nhìn lại để thấy dụng ý khác của tác giả bài thơ. Nhưng trước hết, tôi không thể tin là chắc đúng điều ai đó nói về họ, hay nói về người họ quen biết. Chính tôi đã phản đối những vụ “làm chứng” như thế, khi ai tự mình xưng tụng mình hay những người quen biết với mình. Và vì dựa vào nội dung, văn bản nhiều nhất, cho nên cùng một tác giả có khi tôi đồng ý, tán thưởng ý tưởng họ nêu ở bài này, lại có khi phản đối ý tưởng họ ở bài kia. Chuyện như thế không phải xảy ra chỉ một lần.

    Về bài thơ đó (xin ghi là “thơ”) trước đây tôi góp vài ý kiến là vì NML ca tụng theo cách tôi cho là vô lý, chưa từng thấy từ lúc biết đọc thơ, cho nên tôi viết chỉ phản đối nội dung ý tưởng, hay dụng ý của NHL là chính (ý tưởng bài thơ là phụ). Hôm nay, nhân đọc câu trích dẫn “Chúng ta phải tôn trọng tôn giáo của kẻ khác, nhưng chỉ trong ý nghĩa và trong mức độ là chúng ta tôn trọng niềm tin (theory) của họ rằng vợ họ đẹp con họ thông minh. ”, tôi thấy cần nói về điều gần hơn. Câu trích trên chắc chắn không phải vô tình, mà có dụng ý về gì đó, ít ra về tôn giáo, về một tôn giáo nào đó, và ở đây là tượng Phật Ngọc của Phật giáo. Nếu câu trích đó có dụng ý để phê phán (với nghĩa chỉ trích) tôn giáo, thì phải là chỉ trích Phật giáo trong đề mục này. Tôi hiểu câu viết trên là văn xuôi, ý sáng rõ hơn thơ, có giá trị riêng của nó trong văn bản chính nào đó, nhưng khi trích ra, chỉ cho đứng một mình, và sử dụng với mục đích khác, thì ý nghĩa câu viết đó có thể bị biến thể, sai lạc nghĩa, trở nên không thích hợp. Nhưng đây có khi là thâm ý người trích.

    Ngôn ngữ mang tính “hàm hồ”, thiếu minh bạch, dễ gây ngộ nhận, khác với con số, khác toán học. Ngôn ngữ của thơ càng hàm hồ hơn nữa (chỗ này phải nhờ ông Nguyễn Hưng Quốc nói thêm cho), vì vậy không thể dùng ngôn ngữ của thơ với tính chất hàm hồ, thiếu sáng tỏ như thế để bàn luận góp ý những chuyện khác của đời thường, như chính trị, tôn giáo, triết, y…. Vì cái tính chất hàm hồ của ngôn ngữ thơ, còn thêm của ý tưởng bên trong đôi khi muốn che giấu hay nói cho bóng bẩy của tác giả, khiến bài thơ có thể mang nhiều ý nghĩa, và có khi là vì chủ ý của tác giả, có khi là do nhiều người đọc hiểu nghĩa theo ý riêng khác nhau. Cho nên nếu dùng thơ để nói lên một ý tưởng về chính trị, hay về tôn giáo có thể gây nhiều ngộ nhận, nếu không cố ý xuyên tạc, và có khi cón chứa cả dụng ý không lương thiện của tác giả (một ác ý nào đó).

    Tôi biết tôi hiểu bài thơ này có thể khác tác giả và nhiều người đọc khác. Nhưng nếu có chuyện hiểu thơ không đúng, nhiều khi không thể đổ lỗi cho ai hết, hay cho riêng ai.

    @ Lê Quốc Trinh

    Khi ông Trinh viết một bài hơi dài phê phán ông Trần Kiêm Đoàn và rối sau đó đề nghị ông Đoàn đừng trả lời lại, tôi cho là “khôn” quá, và đâm ngại phải tiếp xúc hay tiếp chuyện với người quá khôn như vậy (chỉ nói để người khác nghe). Ông Trinh đã nói về mình khá nhiều, và tôi như trình bày trên, không bao giờ tin hết trong cái thế giới ảo này, lại rất ngại về người thích làm chứng cho mình. Về chuyện tôn giáo, chính Jesus cũng còn cần người khác làm chứng cho ngài. Ông Trinh tự làm chứng về đạo Phật của mình bắt đầu từ thời biểu tình chống ông Diệm, và làm như cho vì thế mà “chân chính” hơn nhiều người tìm hiểu đạo Phật sau ông, nhưng tôi không thể đánh giá gì về cái tiểu sử của ông và về đạo Phật của ông , mà chỉ xét cái giá trị của nó qua văn bản bài ông viết. Trong khi nói nhiều về mình và về đạo Phật của mình, ông Trinh còn gán bảo người khác “ngã này ngã nọ” . Đương nhiên tôi biết mình có cái ngã, và chưa từng nói hay cảm thấy mình đã xoà bỏ được cái ngã của mình, nhưng đồng thời tôi cũng biết ông Trinh vẫn giữa nguyên vẹn cái ngã của ông.

    Chuyện ông Trinh nói về đạo Phật như tôi đọc thấy đôi chút, thì gần như rất khác với điều tôi hiểu về đạo Phật (tôi tránh phê bình gì). Câu ông khuyên “còn tha thiết với ngoại cảnh, bỏ quên bản tính Giác Ngộ bên trong là ngày đó bác xa rời Đạo Phật chính thống”, tôi thấy thật ít ý nghĩa trong trường hợp, và xin trả lại ông với lời cảm ơn. Dù sao, tôi không thấy tổn thương gì vì lời “khuyên” như vậy để nghĩ về ông khác trước, vì biết trong cuộc sống và riêng ở đây tôi cũng đã gây tổn thương cho nhiều người. Chuyện như thế quả khó tránh, trừ khi mình không còn làm được gì.

  14. Lê Anh Dũng viết:

    Cám ơn ông Nguyễn Hoà chỉ trong một phản hồi trả lời ông Nguyễn Đăng Thường đã đề cập những vấn đề khá rộng lớn, thể hiện một kiến thức và sự hấp thụ rất tốt, giúp tôi bổ túc được nhiều điều suy nghĩ nhưng chưa tìm được cách lý giải, trình bày tốt.

    Tôi có phần hơi hoang mang trước lời “Thành thật” xin lỗi các vị tăng ni, Phật tử của ông Nguyễn Đăng Thường, không rõ đây là “thành thật” hay là một loại “thành thật”, vì cách trình bày lẫn văn phong có vẻ xỏ lá, đểu đểu. Dầu vậy tôi cũng không dám chắc vì nhiều người khẩu xà, tâm Phật. Khác với Thiên Chuá giáo mà tôi biết, nơi mà ma quỷ, Sa-tan là sự thù nghịch không thể nào cởi bỏ (tôi chưa từng nghe tín đồ Thiên Chúa, linh mục, mục sư, sách vở nào tỏ lòng lân mẫn xót thương, tội nghiệp tới những gì dính dáng tới ma quỷ), thì ác tăng, nghịch duyên dưới nhãn quan Phật Giáo cũng là một thành tố bất khả phân của cửa Không.

    Mong được cụng một ly bia với “ác tăng” Nguyễn Đăng Thường.

  15. Nguyễn Đăng Thường viết:

    Thành thật xin lỗi các vị tăng ni, Phật tử.

    Phản hồi của ȏng Hὸa Nguyễn rất thuyết phục. Tȏi sẽ xuống tόc đi tu, mong chόng được giải thoát hay thành Phật.

    Thành thật cám ơn ȏng Hὸa Nguyễn. Xin chύc Phật giáo VN ngày càng cό thȇm nhiều chὺa, nhiều Phật Ngọc, sự mȇ tίn dị đoan, lȇn đồng lȇn bόng, đốt vàng mã, vȃn vȃn và vȃn vȃn… ngày càng gia tăng cho bá tánh luȏn được An Bὶnh, Hạnh Phύc.

    Trȃn trọng.

1 2 3 4 5 10
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...