talawas blog

Chuyên mục:

Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai

08/10/2010 | 12:58 sáng | 141 Comments

Tác giả: Trần Kiêm Đoàn

Category: Tôn giáo
Thẻ:

Đã hơn một năm rưỡi, thường xuyên xem hình, đọc bài viết, nghe lời luận bàn, theo dõi tin đồn về Phật Ngọc[1] và hiện tượng Phật Ngọc, nhưng mãi đến hôm nay tôi mới được tiếp cận và chiêm bái trong thầm lặng riêng tư với Phật Ngọc ngay giữa rừng người. Quá trình nghĩ vềđến với trong mối liên hệ nhân quả có khi chỉ là một. Nhân quả đồng thời. Nhân quả nối đuôi nhau trong chớp mắt. Nhưng cũng có khi là con đường dài biền biệt, có khi hết cả đời không mong gì thấy được nhân thành quả. Mây trắng có thể chẳng bao giờ thành mưa nếu trên đường gió lộng gặp trời xanh và nắng ấm. Nghĩ vềthực chứng là đi từ hư đến thật; từ vọng đến chân.

Sáng Chủ nhật (3-10-2010), tại chùa Kim Quang, thành phố thủ phủ tiểu bang California, theo sau những nghi lễ đầy âm thanh và màu sắc, tượng Phật Ngọc đã chính thức được trưng bày trước đại chúng. Hơn một trăm tăng ni và sáu nghìn người (theo quan sát và ước tính của nhật báo Sacramento Bee[2]) gồm quan khách đồng hương cũng như người nước ngoài, thân hữu và Phật tử tham dự nghi thức khai mạc lễ hội cung nghinh Phật Ngọc. Khi toàn hình ngôi tượng được trưng bày trong âm thanh trầm vọng của tiếng cầu kinh niệm Phật hòa quyện với tiếng vỗ tay nồng nhiệt của đại chúng, tôi mới chợt hiểu nghệ thuật biểu hiện tâm linh có con đường bay riêng của nó mà phương tiện diễn đạt của ngôn ngữ và tranh luận của lý trí sẽ trở thành bất lực, vô phương.

Khai mạc Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại chùa Kim Quang, Sacramento

Bên cạnh tiền đình với nhiều đường nét mỹ thuật của ngôi chùa Kim Quang mới được tái tạo và khánh thành chưa lâu là lễ đài tôn trí tượng Phật Ngọc. Màu xanh ngọc bích bóng ngời của thân tượng phản chiếu nắng vàng mùa Thu nổi bật giữa rừng áo vàng của quý tăng ni, hòa với màu lam dịu hiền của nhiều đơn vị Gia đình Phật tử khắp nơi tụ về đã tạo thành một bức tranh mang tính pháp hội thật nhu hòa mà cũng sinh động đầy thu hút.

Gặp dịp, tôi dán mắt mình quan chiêm ngôi tượng Phật bằng Ngọc để cố tìm cho ra những đường nét hiển hiện đầy thiêng liêng mà nhiều người đã từng ca tụng. Nhưng tất cả hiện ra trước mắt tôi là một tác phẩm điêu khắc mỹ thuật tạc ra từ một chất liệu vật thể quý hiếm mang bóng dáng đức Phật. Thật ra, mọi hình tướng tượng đài tự bản chất là một sự phỏng định không quy ước. Đó chỉ là cách thể hiện cụ thể cái “sự” bắt nguồn từ cái “lý”; cái dụng thể hiện cho cái ứng. Vì vậy, càng tranh luận hơn thua, đúng sai, tốt xấu, cao thấp về niềm tin tôn giáo “linh tại ngã, bất linh tại ngã” càng có cơ dẫn tới sự xung đột cá nhân và phân hóa tình người chẳng có lợi cho ai mà chỉ làm dày đặc thêm bóng tối vô minh của cực đoan và chấp ngã.

Mãi đến khi mắt rời ngôi tượng, quan sát chung quanh, tôi mới thật sự bắt gặp những gì mình chưa thấy qua đôi mắt trần vật lý. Đó là hình ảnh phản chiếu long lanh hình tượng Phật Ngọc trong đôi mắt của hàng nghìn người đang chiêm bái. Tâm thế nào thì ảnh tượng Phật Ngọc sẽ hiện ra trong mắt như thế ấy. Sự mặc khải của dòng trực cảm tâm linh không  đo lường hay dò tìm được bằng những phương tiện phàm trần quy ước. Sẽ không ai có đủ khả năng phân tích và lý giải được những gì thuộc về phạm trù tâm linh, tôn giáo trước một khối người đông tới sáu nghìn quanh khuôn viên chùa Kim Quang hôm nay. Tất cả đều như đang trầm lắng lại bằng sự tĩnh tâm quan chiêm cùng một đối tượng: Phật Ngọc.

Xin nghỉ chân rong chơi một chút loanh quanh dòng  Tâm lý Trị liệu Thực hành (Practical Psychotherapy) hiện đại. Những tay nghiên cứu tâm lý sừng sỏ thường nói đến sự vi tế và giao hưởng đầy sinh động của năng lượng, sóngtần số xuất phát từ tâm thức và đời sống thực tế của mỗi con người. Năng lượng lành (thanh khí), năng lượng ác (trọc khí) vần vũ xuôi ngược thường xuyên trong trời đất bao la từ vô thủy đến vô chung. Năng lượng nhiều hay ít tùy theo sóng cao thấp của thể lý và tâm linh. Sóng lớn hay nhỏ, vi tế hay thô trần tùy theo mức độ lành hay dữ của năng lượng. Tần số là cửa ngõ phát tán và thu hút năng lượng. Cửa ngõ mở rộng, đóng hờ hay khép kín đều phát xuất từ tâm và thức. Xin nhớ lại chuyện “Đi Chùa Hương”: Cô bé bận quần lĩnh áo the mới đi lễ hội chùa Hương với Thầy Mẹ. Chàng thư sinh lòng phơi phới lên chùa chiêm bái. Năng lượng lành xuất hiện. Cả hai không quen nhau nhưng cùng được tưới tẩm trong dòng suối tâm linh “Nam mô A Di Đà” của đại chúng. Mỗi bên đều phát tán và thu nhiễm năng lượng của bên kia. Thuyền càng tới gần chùa, làn sóng tâm linh của cá nhân và đại chúng càng cuồn cuộn vực dậy trong biển năng lượng thanh thoát của vạn lời cầu nguyện phát ra từ những tâm thành. Tần số tâm thức của đôi lứa thanh xuân cùng cường điệu bắt gặp nhau nhẹ nhàng và tự nhiên như đến từ tiền kiếp: “Em ư? Em không cầu. Đường vẫn thấy đi mau. Chàng cũng cho như thế.  Ra ta hợp tâm đầu.

Sự nghiên cứu về năng lượng, sóng và tần số thuộc về lĩnh vực tâm linh của khoa Tâm lý Trị liệu Thực hành khởi từ thời đại cổ sơ của người thượng cổ khi chưa có hình thức tôn giáo ra đời. Phật và Chúa mấy chục nghìn năm sau mới xuất hiện. Đó là khi loài người thực hành nếp sinh hoạt tâm linh qua những hình thái bái vọng thiên nhiên hay ngẫu tượng. Tiến thêm bước nữa là thời kỳ Bái Vật giáo; rồi Phiếm Thần giáo, Đa Thần giáo. Nhiều bộ lạc chỉ chiêm bái và thờ cúng một tảng đá đầu truông, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông đầu làng mà họ hết lòng tín cẩn và cầu nguyện. Khi những năng lượng tâm linh vi tế ẩn chứa phần lớn là năng lượng lành của một khối người có chung một tảng đá, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông… làm đối tượng “chứng tri” thì năng lượng lành hay sóng, tần số tâm linh của cả một khối người đông đảo có sự tương tác giao thoa. Đó là một gia tài tâm linh tích lũy càng ngày càng lớn của một tập thể có chung niềm tin trong cùng một tín hiệu. Gặp khi nguy biến, thành tâm cầu nguyện là lúc cá nhân bị nạn “giải mã” (như mở password ngày nay) để nhận nguồn năng lượng lành đã tích lũy.  Nếu minh họa bằng hình tượng cho dễ hiểu thì cũng tương tự như hoạt động tích lũy và sử dụng tài sản – gởi và rút tiền – qua trương mục của một ngân hàng trung tâm. Kẻ tích thiện làm lành có vốn giàu to. Kẻ độc ác sẽ bị trắng tay hay phá sản[3].

Với tinh thần Phật giáo “vô lượng pháp môn tu” – thì những ý kiến cá nhân hay nhóm phái chủ quan, cảm tính, cực đoan là phi Phật giáo vì đi ngược lại con đường Trung Đạo cố hữu của nhà Phật. Nói và viết về đạo Phật – con đường thênh thang mây trắng – mà phải nhăn trán, nhíu mày loay hoay mãi với tâm lý uẩn ức tiêu cực quanh mấy chuyện được thua, giàu nghèo, có không… trong giới hạn cá nhân nhỏ hẹp để khích bác và đối kháng lẫn nhau thì thật là uổng phí thời gian tĩnh lặng giữa cuộc đời ngắn ngủi. Thú vị chi ngồi khuấy tách trà làm bão tố phù du!

Sáng hôm nay 4-10-2010, đọc bài tường thuật của phóng viên Stephen Magagnini của nhật báo Sacramento Bee về lễ khai mạc cung nghinh Phật Ngọc tại Sacramento với tiêu đề “Jade Buddha draws throng praying for peace, health and prosperity” (Phật Ngọc làm dấy lên lời cầu nguyện đa dạng cho hòa bình, sức khỏe và phồn vinh.) Nội dung bài báo tương đối xứng hợp với tiêu đề đưa ra. Trước đó vài tuần, khi tượng Phật Ngọc còn đang trưng bày ở San Jose, thành phố có đông người Việt thứ nhì tại tiểu bang California sau Quận Cam, phóng viên Bruce Newman của nhật báo địa phương Mercury News, số ngày 15-9-2010 đã viết bài tường thuật về lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại đây dưới tiêu đề “The Jade Buddha, symbol of peace and harmony, everywhere but in San Jose” (Phật Ngọc, biểu tượng của hòa bình và hòa hợp khắp mọi nơi, ngoại trừ San Jose.)[4]

Thật ra, đứng trên quan điểm tôn giáo nói chung, Newman đã dẫn chứng các sự kiện và nhân vật trong cộng đồng người Việt tại San Jose mà ảnh hưởng và tác dụng của vấn đề cần đặt trong bối cảnh chung của tình hình xã hội và chính trị tại địa phương, chẳng có sự liên quan trực tiếp nào đáng kể trên sinh hoạt của Phật giáo tại San Jose. Trên tiêu chuẩn “handbook” của ngành báo chí Hoa Kỳ, Bruce Newman săn tin rất “động” nhưng lại chưa đủ “tĩnh” để có thể hiểu hết thực chất “tướng” và “tánh” – bóng và hình – của một cộng đồng dân tộc và văn hóa “bốn nghìn năm văn hiến” quá nhiêu khê như người Việt Nam.

Trong một bài viết trước đây về Phật Ngọc nhan đề “Phật Ngọc, hình tướng và thật tánh của hoà bình, an lạc”, kẻ đang viết những dòng nầy đã cố gắng ứng dụng đồng thời hai tuyến dữ kiện “động” và “tĩnh” để trình bày một phần quan điểm của mình về Phật Ngọc. Nay trong bài viết tiếp theo nầy, người viết bằng vào diễn biến thực tế và ý kiến của nhiều Phật tử trực tiếp tham dự Lễ Hội để nhận định về tác dụng trực tiếp cuộc du thỉnh “world tour” vòng quanh thế giới của Phật Ngọc đối với cộng đồng Phật giáo Việt Nam.

Xin tạm gác qua lắm chuyện thị phi bên lề diễn biến của tiến trình trưng bày Phật Ngọc liên quan đến sự được thua, hơn kém, to nhỏ, mạnh yếu, khen chê… về thế lực, tài chánh, khả năng tranh chấp quyền lợi; cùng những hào quang dễ dãi và bóng đen vu vạ mà xưa nay trong bất cứ hoàn cảnh nào và thời điểm nào cũng có. Một khi có sự tương tác từ hai người trở lên thì sự va chạm cá nhân và phe phái không thể nào tránh khỏi. Nhà sư Tích Lan, Tikhome Lanka, đã viết trong Pháp Ngữ Diễn Đàn (Dharma, 2001) rằng: “Tôn giáo dính vào tiền bạc và quyền thế tranh chấp đời thường là đang bước lên cỗ xe năng động: Chạy lên trời Đâu Suất hay rớt xuống Địa Ngục dễ dàng như trở bàn tay! Nhà tu ngày nay đến với cảnh giới giải thoát hay cứu cánh đắc đạo thường mua vé xe bằng tiền bạc nên chỉ đi được xe ngựa xe đò; trong lúc đó, cuộc đời quá ngắn ngủi thì phải đi bằng tốc độ tâm linh nhiệm màu nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng mới mong về kịp chốn ước mơ trước khi nhắm mắt xuôi tay!

Trong khi tôi đang viết những dòng nầy tại Sacramento thì đang hàng trăm người từ San Jose, Fresno, Stockton và các vùng lân cận đã kiên tâm chờ đợi tới mấy ngày, nhưng không ít người đã ra về tay không. Hầu hết những người ở xa cho biết là họ đã phải thức dậy từ 2, 3 giờ sáng để lái xe về địa điểm Phật Ngọc, xếp hàng chờ đợi để cố mua cho được một miếng tượng mỏng, nhỏ hơn hai ngón tay. Đại chúng được cho biết và có giấy chứng nhận đây là thành phẩm chiết ra từ khối ngọc chính tạc tượng Phật Ngọc. Tôi quan sát những khuôn mặt chờ đợi phờ phạc nhưng phát nụ cười hớn hở khi vừa ra khỏi cửa với miếng tượng nhỏ xíu trên tay. Cũng đã có quá nhiều lời bình phẩm – trong cũng nhiều mà đục cũng lắm – về ý nghĩa, động cơ và tác dụng của việc mua và bán tượng đeo bằng ngọc nầy. Trong muôn một, tôi thử tiếp xúc với một người vừa mua được tượng ngọc và “phỏng vấn”. Anh cho biết anh là Trần Quốc Mỹ, ở Stockton, đã trải qua “công đoạn” đợi chờ hết sức vất vả suốt mấy ngày mới mua được tượng ngọc. Anh cho biết là đã nghe quá nhiều chuyện thật hư, nhưng “tội ai nấy hứng, ai tu nấy chứng”, nên chẳng quan tâm đến chuyện thị phi, tin hay không tin là do mình. Anh kết luận thoải mái rằng: “Bạc vàng thì có giả, có thiệt do người ta mang tới, nhưng lòng tin là do mình. Mua một niềm tin có khả năng biến thành nguồn vui, hay hơn nữa thành nguồn an lạc thì quả là vô giá. Nhưng ở đây tốn kém chỉ bằng mua một cái vé đại nhạc hội Paris by Night thì cũng là thú vị.” Câu nói của anh làm tôi nhớ tới những hòn đá “tô-tem” làm vật thờ cúng của người cổ sơ.

Ông Trần Quốc Mỹ với tượng ngọc trên tay

Hai mẫu tượng ngọc phát hành trong dịp Lễ Hội cung nghinh Phật Ngọc

Niềm tin tôn giáo, dù chỉ là năng lực vô hình của tinh thần và tâm linh, nhưng lại chiếm ngự phần đời rất lớn của những người tôn giáo. Có tôn giáo hành đạo mỗi ngày năm lần bảy lượt để cầu nguyện. Có tôn giáo khi đã theo là hiến trọn đời mình cho giáo chủ. Đạo Phật thường nói đến con đường từ bi và trí tuệ không phải vì có một pháp môn chuyên nhất đưa tới giác ngộ, nhưng đức Phật đã chỉ ra vô lượng pháp môn hành đạo mà đời thường đưa ra con số làm biểu tượng là tám vạn bốn ngàn. Trên con đường thênh thang tùy duyên ấy, có những hình ảnh quán niệm tĩnh lặng cao thâm; nhưng cũng có lúc phải cần tới “lục thời công phu” và môn phái Tịnh độ hành trì Pháp môn Niệm Phật, giữ cho được “nhất tâm bất loạn” thì niệm Phật thường hằng không lúc nào dứt niệm. Nói tóm lại, đi vào lĩnh vực đức tin tôn giáo là đi vào một thế giới khác mà những tiêu chí và luận lý đời thường không thể nào lý giải và hiểu cho rốt ráo được.

Trong những ngày qua, môi trường truyền thông đại chúng người Việt cũng như người nước ngoài đã đưa ra một lượng thông tin khá phong phú và đa dạng về Phật Ngọc. Khuynh hướng đồng nhất hóa giữa biểu tượng và chân pháp; giữa phương tiện và mục tiêu; giữa lòng tin và lợi dụng; giữa hoằng dương và quảng cáo, giữa lý và sự đã đưa tới nhiều sự duy diễn quá xa vời.

Hiện tại, tượng Phật Ngọc đang được trưng bày tại Sacramento sang ngày thứ tư. Nhiều khách hành hương đã bày tỏ sự tán đồng về danh xưng: “Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc…” vì nó tránh được sự cường điệu và thánh hóa không hợp với tinh thần đạo Phật. Người ta ước mong rằng, nếu lễ hội được mở ra bằng những tấm lòng và ý hướng chân chính tất sẽ thành Pháp hội. Phật giáo cận đại và hiện đại có nhiều khả năng lập ra nhiều Giáo hội nhưng thiếu Pháp hội. Giáo hội là để lãnh đạo và khống chế nhau bằng thế và lực; nhưng Pháp hội là để đến với nhau trong tinh thần hòa đồng, bình đẳng, tin yêu và chia sẻ.

Lời phát biểu của thầy Thích Minh Đạt trong lễ khai mạc đã một phần làm sáng tỏ cho một cách nhìn chánh niệm: “Phật vẽ trên giấy, Phật thêu trên lụa, Phật tạo bằng đất sét, bằng xi măng, bằng thạch cao, bằng tất cả các loại đá trong đó có loại đá quý mà chúng ta gọi là “Ngọc”… tất cả đều không có khả năng mang lại hòa bình cho thế giới. Chỉ có một vị Phật duy nhất có đủ khả năng mang lại hòa bình cho thế giới, đem lại an lạc hạnh phúc cho mọi loài, đó là Phật Tâm (…) Tâm bình thế giới bình.”

Phật Ngọc không ở đâu, không giống định kiến nào, không thuộc về ai cả mà ở chính trong đôi mắt của người nhìn. Cái nhìn xuất phát từ Tâm. Phật Ngọc trong mắt ai… sẽ không giống Phật Ngọc trong tưởng tượng và suy diễn của tha nhân. Phải chăng vì nó không giống ngón tay chỉ mặt trăng mà bởi nó là đôi mắt thật của tâm sinh và tâm khởi trong nguồn năng lượng lành: Ai nhìn nấy thấy.

Sacramento, 4-10-2010

© 2010 Trần Kiêm Đoàn

© 2010 talawas


[1] Sở dĩ có cái phụ chú nầy vì đã có ý kiến phản bác danh xưng Phật Ngọc.Ý kiến này cho rằng “Phật là Phật; là đấng giác ngộ viên mãn chứ không có Phật ngọc, Phật vàng, Phật bạc gì cả).Vì người viết không tự đặt mình ở vị trí để tranh biện về chính danh – định phận hay dính líu vào một hình thức luận bàn hình thức không cần thiết tương tự, nên xin gọi theo thế danh đại chúng về ngôi tượng là Phật Ngọc. Thật ra, mọi danh xưng, danh vị, danh từ tạm dùng để gọi tên vạn pháp theo tinh thần đạo Phật đều là giả danh. Lời Phật: “Chân pháp không phân biệt. Nhìn đúng là nhìn thẳng vào bản lai diện mục của tất cả các pháp đều không có tự tánh nên chẳng chấp trước nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả. Nhìn cành hoa không phải là cành hoa mới thật là cành hoa.”

[2] Xem toàn văn tường thuật tại trang web: http://www.sacbee.com/2010/10/04/3076893/jade-buddha-draws-throng-praying.html

[3] Practical Psychotherapy: Adaptation of dialectical behavior. Gerald Amada. Batam, NY; NY, 2009.

[4] Toàn văn bài viết nầy đã đăng lên mạng lưới toàn cầu, ở địa chỉ: http://www.mercurynews.com/ci_16087076?nclick_check=1

Bình luận

141 Comments (bài “Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai”)

  1. Nguyễn Đăng Thường viết:

    HỒ CHÍ MINH, PHẬT NGỌC & TỰ DO

    Tượng Hồ Chí Minh, Phật Ngọc đều là tượng do con người sáng tạo và cùng để vinh danh/tôn thờ một tín ngưỡng, Chủ Nghĩa Cộng Sản/Xã Hội VN và Phật Giáo.

    Vậy thời, đối với một con người tự do, các lựa chọn sau đây đều “hợp pháp” hay không? Xin quý bạn vui lòng chọn một và phản hồi cho biết lý do.

    1. Sùng bái tượng Hồ Chí Minh và sùng bái Phật Ngọc

    2. Sùng bái tượng Hồ Chí Minh, không sùng bái Phật Ngọc

    3. Sùng bái Phật Ngọc, không sùng bái tượng Hồ Chí Minh

    4. Không sùng bái tượng Hồ Chí Minh, không sùng bái Phật Ngọc

  2. Nguyễn Đăng Thường viết:

    1. Xin hỏi: Tại sao vinh danh Phật Ngọc và Ðạo Phật thì được, mà nghiêng về Ðạo Chúa thì không? Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo đều là tôn giáo du nhập, không có cái nào là chính thống.

    2. Xin thưa: Tôi không “xuyên tạc tượng” hay xuyên tạc bất cứ ai, hay bất cứ chuyện gì. Xuyên tạc không có trong ba lô của tôi. Tôi luôn luôn nói thẳng. Nếu sai thì xin lỗi hay tự sửa đổi như các thầy mũi lõ và mũi tẹt đã dạy tôi ở trường trong thời kỳ đô hộ bốc lột, đen tối, độc ác nhất của lịch sử nước ta. Thi thoảng tôi cũng có châm biếm, nhẹ hay cay, nhưng không hề với ác ý mà chỉ là gia vị cho phản hồi bớt tẻ.

    3. Mù xem voi chỉ là chuyện giả dụ nên tôi không dám tin chuyện chột xem văn minh Tây phương là chuyện thật dù đã xảy ra trên phản hồi talawas.

    4. Bởi lẽ văn minh Tây phương không chỉ là chủ nghĩa thuộc địa, thực dân xâm lấn, cướp giết. Mà văn minh Tây phương còn là khoa học, kỹ thuật, triết lý, chủ nghĩa nọ kia, âm nhạc, văn nghệ, vệ sinh, chế độ một vợ một chồng, hiến pháp, ly hôn, báo chí, công đoàn, hiệp hội, đình công, biểu tình, bầu cử, cách mạng, v.v… và v.v… Như đại đa số con người trên thế giới tôi đã thụ hưởng các phát minh của văn minh Tây phương cho đến hôm nay nên tôi không thể phủ nhận, phủi tay.

    5. Tất nhiên, như tạo vật “do bàn tay Thượng Ðế”, các thứ do bàn tay con người đều “có hai hay nhiều lưỡi”, vừa hữu ích vừa nguy hiểm. Búa có thể đập đá hay đập đầu. Xe có thể chở người hay cán người. Thiên Chúa Giáo, văn minh Tây phương cũng thế, cũng có bề mặt bề trái, công và tội.

    5. Văn minh Tây phương sinh ra Stalin và Hitler. Nhưng nó cũng sinh ra Churchill và Roosevelt. Văn minh nào đã sinh ra Mao, Kim, Hồ, Castro, Pol Pot?

    6. Kẻ gây hấn đưa đến thế giới chiến thứ hai không chỉ có Ðức (Tây) mà còn có thêm Nhật (Ðông).

  3. Trương Đức viết:

    “Chẳng ai vào Talawas này để gây náo loạn, chắc chắn BBT cũng không dung thứ hành động côn đồ đó. Chúng ta vào đây cốt là đóng góp ý kiến thảo luận trên một đề tài rõ rệt, học hỏi lẫn nhau. Không chấp nhận nổi ý kiến khác biệt thì làm sao kiến tạo được một xã hội dân chủ, trí thức. Không chấp nhận nổi những lý luận vững chắc thì chỉ có nước chấp nhận một chính quyền ngu xuẩn với cơ chế độc tài mà thôi!”(Lê Quốc Trinh)

    @bác Lê Quốc Trinh kính,

    Tôi thường hay đọc những PH của bác, nhất là ở dưới bài viết này. Phải nói là bác viết PH rất mộc mạc, chân tình, “đọc phát hiểu ngay”! Có những từ bác đã viết sai chính tả, nhưng tôi vẫn hiểu. Thời gian trước đây, tôi cũng hay “táy máy… móc” những lỗi chính tả của tác giả, độc giả. Nhưng rồi cũng thấy công việc đó, hình như là “vô duyên” đối với mọi người. Tuy vậy, đối với bác Trinh, tôi vẫn thích thú “làm” công việc bắt lỗi chính tả đó, bởi vì tôi biết, đối với bác, như bác cũng đã nói: “Chúng ta vào đây cốt là đóng góp ý kiến thảo luận trên một đề tài rõ rệt, học hỏi lẫn nhau. Tức là, bác sẽ “vui lòng” chấp nhận những “lỗi chính tả” của mình. Nhưng trước khi chỉ ra vài lỗi chính tả của bác, tôi xin được “trao đổi” đôi điều về cái PH mới nhất của bác như thế này:

    1. Bác Trinh viết: “Không chấp nhận nổi những lý luận vững chắc thì chỉ có nước chấp nhận một chính quyền ngu xuẩn với cơ chế độc tài”, thì tôi thấy, phải thán phục cái sự “lý luận vững chắc” của bác. Bởi vì, từ một đề tài “Phật Ngọc trong mắt ai”, bác “lý luận vững chắc” một hồi, một cách “tài tình” như thế nào đấy, mà cuối cùng, thành “chỉ có nước chấp nhận một chính quyền ngu xuẩn với cơ chế độc tài”! Đọc cái dòng chữ của bác (mà tôi in đậm), tôi mới “ngớ người” ra: ơ, nói như bác Trinh, thế hóa ra, việc thay đổi một “chính quyền ngu xuẩn với cơ chế độc tài”, thật quá dễ! Chúng ta cứ việc “chấp nhận nổi những lý luận vững chắc” là xong! Dân Việt Nam ta cứ “chấp nhận nổi những lý luận vững chắc” đi, “dễ ợt” ấy mà! Tôi nói cho vui vậy thôi, bác Trinh đừng giận! Cái ý của tôi là, theo tinh thần mà bác đã nói: “cốt là đóng góp ý kiến thảo luận trên một đề tài rõ rệt”, cái việc “Phật Ngọc trong mắt ai” với cả việc “Không chấp nhận nổi những lý luận vững chắc thì chỉ có nước chấp nhận một chính quyền ngu xuẩn với cơ chế độc tài”, chẳng “liên quan” gì đến nhau!

    2. Tiện đây, có một cái ý như thế này về Phật Ngọc Hòa Bình, tôi xin được chia sẻ với bác Trinh. Tức là, có thể chăng, hiện giờ Phật Ngọc Hòa Bình bằng cách nào đấy, “chỉ” đem lại “hòa bình” cho từng cá nhân những ai “chiêm bái” bức tượng “Phật Ngọc Hòa Bình” thôi, chứ còn cho cả thế giới, hay những nơi “không có hòa bình”, thì chưa?!

    3. Bây giờ, tôi xin được nêu ra các lỗi chính tả của bác Trinh:

    – Trong PH này, từ “giòng giõi” đã bị viết sai chính tả. Viết đúng là: dòng dõi.

    – Cũng thế, trong PH này, từ “giòng giống” là chưa chính xác, phải viết là “dòng giống”.

    – Có một từ, không biết có phải do bác viết không, tôi không nhớ rõ ở PH nào. Đó là từ “giõng giạc”. “Giõng giạc” không có, mà chỉ có “dõng dạc”.

    – Trong PH mới nhất, từ “cất dấu” đã bị viết sai. “Cất giấu” mới đúng!

    Tôi có vài lời “lý luận hơi hơi… vững chắc” muốn trao đổi với bác Lê Quốc Trinh như vậy. Hy vọng là bác vui lòng… “chấp nhận”! Trong trường hợp bác “không chấp nhận… nổi”, thì tôi chỉ có nước… “chìm” vậy! Trân trọng.

  4. nguyen mai linh viết:

    Nhân bài PH của Hoà Nguyễn với 1mitee, tôi tự nhiên nhìn lại mình coi lại vốn liếng tiếng Việt của mình tới đâu, xem chừng lại rất tệ. Khi 1mitee nói về bản lai diện mục thì tôi dịch tạm ra tiếng Việt là chân tướng, hay là hiện nguyên hình. Không ngờ đọc bài PH thì Hòa Nguyễn bảo là 1mitee xuyên tạc chữ này như nguyên văn sau:

    “Cái “Bàn lai diện mục” anh dùng hoàn toàn sai với ý nghĩa của Thiền tông, chỉ theo cách hiểu của riêng anh, với nghĩa đen của đời thường (nên ý nghĩa BLDM bị anh xuyên tạc).”

    Đó là một ví dụ nhỏ, còn rất nhiều những chữ dao to búa lớn khác. Thôi thì để dành chuyện Phật học luận bàn cho các cao nhân vậy

  5. Nguyễn Đăng Thường viết:

    @ Hòa Nguyễn

    Ông Hòa Nguyễn thông thái quá, tôi xin chào thua. Tôi sẽ dựa cột mà nghe nếu căn hộ bốn vách bốn mét vuông của tôi có cột.

    Tuy nhiên, nhân tiện, để bớt ngu, xin ông Hòa Nguyễn vui lòng cho tôi biết Việt Nam “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu” chắc cũng do văn minh Tây phương? Và Tây Tạng hiện nay? Và VN trong một tương lai không xa?

    Và, thưa ông Hòa Nguyễn, Chiêm Thành mất nước bị diệt chủng, Cam Bốt mất đất vào tay VN chắc cũng do bởi văn minh Tây phương?

    Văn minh Hy Lạp, Ai Cập tuy có trước nhưng chỉ hạn hẹp. Hy Lạp có thể chế dân chủ đồng thời với chế độ nô lệ. Nếu không có văn minh Tây phương và các nhà thám hiểm thì nhân loại sẽ không biết mặt nhau. Văn Minh Ðại Hán đã cho VN cung Quảng và chị Hằng.

    Văn minh Tây phương đã sáng chế internet, email cho ông ông Hòa Nguyễn sử dụng để phản hồi.

    Mao Trạch Ðông đã làm cuộc cách mạng ớ Trung Quốc chắc là nhờ thông lào đạo Khổng và đạo Phật?

    Trân trọng.

  6. VanLang viết:

    ”Vấn đề không phải là tôn giáo; vấn đề là tín đồ.”
    Thưa bác Trần Quốc Việt. Câu này có đúng cho mọi tôn giáo không, kể cả các tôn giáo không còn ai theo nữa và rất nhiều tôn giáo mới đang/sẽ ra đời?
    Người cộng sản cũng có thể nói na ná như vậy về tín điều của họ.

  7. Lê Quốc Trinh viết:

    Bạn Thanh Nguyễn à,

    Như tôi đã viết từ bài PH đầu tiên, nếu như pho tượng Phật Ngọc đem lại Hoà Bình, An Lạc thật sự, tại sao người ta không chở nó vào những vùng tranh chấp đổ máu mấy chục năm nay?

    Tại sao không dựng ngay pho tượng đó ngay giữa vùng ranh giới Do Thái và Palestine? hay chở nó ra Biển Đông VN? hay trưng bày nó ngay tại thủ đô A Phú Hãn? Bảo đảm hoà bình vãn hồi trên thế giới, TQ chấm dứt hung hăng gây chuyện TS-HS với VN, mọi vấn đề tranh cãi về biên giới sẽ giải quyết êm thấm và tốt đẹp ngay.

    Thật ra hoà bình an lạc hay không phát xuất từ cái Tâm trong sáng, chứ nào do từ một tảng đá ngọc tạc hình người ngồi. Nếu vậy, khi cất dấu pho tượng đi thì cả trăm cả ngàn người tôn sùng nó sẽ nổi điên, gây loạn chắc?

    Bạn Thanh Nguyễn à!

    Chẳng ai vào Talawas này để gây náo loạn, chắc chắn BBT cũng không dung thứ hành động côn đồ đó. Chúng ta vào đây cốt là đóng góp ý kiến thảo luận trên một đề tài rõ rệt, học hỏi lẫn nhau. Không chấp nhận nổi ý kiến khác biệt thì làm sao kiến tạo được một xã hội dân chủ, trí thức. Không chấp nhận nổi những lý luận vững chắc thì chỉ có nước chấp nhận một chính quyền ngu xuẩn với cơ chế độc tài mà thôi!

    Chào thân ái,

  8. Trần Quốc Việt viết:

    Gởi bạn Thanh Nguyễn,

    Tôi đã nói chuyện với chủ nhân của bức tượng Phật ngọc đôi lần trực tiếp, và ông đã đồng ý cho phép tôi được phỏng vấn qua email về những cảm nhận và ấn tượng về người Việt mà ông có dịp tiếp xúc ở trong nước và tại hải ngoại. Nơi tôi gặp ông là ở tại chùa Báo Ân, thành phố Orlando, bang Florida.
    Nhưng cuối cùng, vì nhiều lý do, tôi quyết định không thực hiện cuộc phỏng vấn như dự định.

    Đời sống luôn luôn phức tạp. Vì thế Chúa Phật không thể bỏ đi. Bỏ đi là những tín đồ không đủ mạnh về lòng tin. Hay như tôi thường hay nghe :”Vấn đề không phải là tôn giáo; vấn đề là tín đồ.”

    Như nước mưa luôn luôn rơi xuống đất, họ luôn luôn âm thầm sát cạnh với con người trong mọi hoàn cảnh. Cách mạng Đông Âu, đặc biệt tại Ba Lan thành công một phần nhờ đức Giáo Hoàng. Tây tạng hôm nay chỉ là cái tên mờ nhạt nếu không có đức Đạt Lai Lạt Ma.

  9. Hoà Nguyễn viết:

    1/ Nguyễn Đăng Thường nói: “ Văn minh Tây phương đã thực sự khai sáng con người và thế giới. Nhưng tôn thờ Nữ thần Tự Do vất vả hơn sùng bái Phật, Chúa, vὶ phải luôn luôn tranh đấu, phὸng vệ, lựa chọn.

    Văn minh Tây phương đã công hiến cho nhân loại nhiều điều tốt, nhưng cũng gây biết bao thảm hoạ cho con người. Tiến bộ khoa học đã được sử dụng (hay lợi dụng) để “chinh phục cả thế giới”, tiêu diệt nhiều nền văn minh, và nếu không cho đó là “văn minh”, thì tiêu diệt nhiều dân tộc, chủng tộc, bắt hàng triệu triệu người làm nô lệ, đưa họ xuống hàng với xúc vật (trong số đó có người “Annamite” của Pháp). Tây phương nêu cao cái gọi là tự do, nhưng ở ngay nước Pháp có người từng tranh đấu cho tự do, trước khi lên máy chém cất tiếng than ” Ôi, Tự do , nhân danh mi con người làm bao nhiêu tội ác !” . Văn minh tây phương đẻ ra chế độ thực dân, chủ nghĩa dân tộc quá khích, chủ nghĩa “quốc tế” cực đoan, với những người như Hitler, Stalin, và còn cà Tojo.

    Tự do, bình đẳng ở tây phương chỉ là những tư tưởng, lý tưởng rất tốt, nhưng muốn thực hiện được tốt, đạo Phật (hay đạo nào khác) cho là cần phải sử dụng đến cái Thiện tâm, mà muốn có Tâm lành con người cần phải chuyển hóa từ bên trong, bằng không kết quả sẽ là những tội ác khủng khiếp (nghĩ đến những trại tập trung, lò thiêu xác, bom nguyên tử…). Nhiều nhà khoa học thấy chỉ có thiện tâm mới giúp văn minh hiện đại không bị huỷ diệt bằng vũ khí nguyên tử do chính nền văn minh (vật chất) này tạo ra, qua chính bàn tay, khối óc của họ.

    Trong một phản hồi trước, ông Thường nói đến thời Phục hưng (cho là của đạo Thiên chúa), thật ra đó là thời Phục hưng của châu Âu muốn thoát ra khỏi vòng kiềm hãm tư tưởng của nhà Thờ, từ đó mới tiếp nối (từ Hy-La) và phát triển được thứ văn minh “thế tục” ngày nay. (phải nhận trước đó nhà thờ đã có công giữ gìn văn minh Hy- La khỏi bị tàn phà của các “Rợ”). Khi ông Thường xưng tụng Thiên chúa giáo là cha đẻ của văn minh hiện nay (từ Tây phương), thì nên biết tư tưởng Thiên chúa giáo đến từ đạo Do Thái, chữ viết của châu Âu (và của VN bây giờ) có nguồn gốc từ Trung Đông (nhưng không phải của người Á rạp). Dù thế nào, công bằng hơn thì phải trả cái văn phương này lại cho người Hy Lạp, La mã vì chính họ đã bắt đầu sau khi tiếp nhận văn minh từ nhiều nguồn. Tuy nhiên, chừng 50 năm nữa, khi Trung Quốc, Nhật, và Hàn (thống nhất) dẫn đầu kinh tế thế giới, và là chủ nợ của nhiều nước , thì ngườita có thể thấy ánh sáng văn minh của nhân loại phát xuất từ Đông phương. (tôi hoàn toàn không có ý ghép các tôn giáo ở Đông phương với một nền văn minh như vậy).

    2/ Thanh Nguyễn nói:
    Tôi bảo đảm 100% với mọi người rằng; những ý kiến trên đây của nhiều người liên quan đến Phật Ngọc (đã được triển lãm nhiều nơi), nhưng hoàn toàn chưa thấy được Phật Ngọc….Từ một bức tượng Phật bằng ngọc thạch, người đi xem cũng hoan hỷ suy luận đủ điều. Từ một bài viết cảm nhận riêng tư của người đi xem, người đọc cũng có quá nhiều ý kiến khác nhau thậm chí trái ngược.
    Đời sống phức tạp quá. Chúa, Phật xuất hiện cũng phải và bỏ đi cũng phải.

    Con người suy tư không phải chỉ dựa vào giác quan, mà đi từ tâm não đến với những thứ rất trừu tượng, có thể cách rất xa con người, không thể nhận biết qua giác quan, hay ngay cả là những thứ không thật có trong vũ trụ này. Giả dụ bây giờ nghe ai nói đến từ “black hole”, tâm trí tôi sẽ bay đi xa hơn ngàn dặm, lang thang cùng khắp vũ trụ để mong tìm thấy bằng (con mắt) tưởng tượng cái black hole là như thế nào. Con người thật ra suy tư trừu tượng nhiều hơn gấp nhiều lần suy tư cụ thể (chỉ dựa vào con mắt, bàn tay, cái lưỡi của mình). Tôi phải mượn dùng lại một từ của ông Nguyễn Hiếu Liêm (khi thấy nói đúng) “Phật Ngọc là biều tượng”. Nhiều người dùng giác quan cụ thể, đánh giá Phật Ngọc thực tế quá, thì không thể thấy được tính biều tượng của Phật Ngọc, mà đây mớí là điều quan trọng nhất đối với những người làm tượng và đến xem tượng.

    3/ 1mitee:
    Bát chánh đạo của Phật giáo anh nói khi tôi bàn về câu thơ nặng chính trị “Nước nghìn năm u mê”, tôi cho là không thích hợp, một phần vì tôi không là tăng nhân Phật giáo cần nghiêm chỉnh giữ giới trong mọi trường hợp, phần nữa vì tôi không để bị trói buộc bời những ý tường xen vào không đúng chỗ. Ngay lúc đó, tôi thấy anh và tôi hiểu khác nhau về BCĐ.
    Cái “Bàn lai diện mục” anh dùng hoàn toàn sai với ý nghĩa của Thiền tông, chỉ theo cách hiểu của riêng anh, với nghĩa đen của đời thường (nên ý nghĩa BLDM bị anh xuyên tạc). Còn “ôn” hay “mệ” không phải là những cái mẫu mực gì cho tôi noi theo, nhất định là vậy, vì tôi suy tư rất độc lập.

  10. Trần Quốc Việt viết:

    Lãnh tụ thích chém gió.
    Dân chúng thích làm lơ.
    Nhà văn thích đập phá.
    Trí thức thích quyến rũ.
    Tín đồ thích kiểm duyệt.
    Riêng ta thích nhận mũ.

  11. Trầm Kha viết:

    Vâng, thưa bác Lê Anh Dũng

    Tôi đồng ý với bác rằng “nếu (tuyệt đại?) đa số mẫu/hiện tượng quan sát được đều chia xẻ một pattern chung thì có thể dùng làm căn cứ để khái quát”, ngay cả đối với tôn giáo (tôi nghĩ).

    Cũng thú nhận là “lý giải nôm na” của bác thật chẳng khác cảm nghĩ của tôi khi tự mình đối chiếu Công giáo với Phật giáo, dựa trên kiến thức rất hạn hẹp của bản thân về cả hai tôn giáo trên. Và cảm tưởng của tôi về đạo Tin Lành cũng y như bác, với ít kinh nghiệm hơn bác nhiều.

    Tôi đã bắt đầu ‘tiếp cận’ với Phật giáo có lẽ từ…
    Đầu mùa Xuân, cùng em đi lễ.
    Lễ chùa này, vườn nắng tung bay…”

    (Phạm Duy)

    Rồi bắt gặp đoạn thơ sau:
    Chiều cuối năm
    có tiếng chân chim đậu dưới tàng hoa
    giữa làn truông tịnh độ.

    Lần chuỗi bồ đề
    ta chỉ thấy một xâu giáng vàng
    thấp thoáng như sương.

    Chẳng biết hơi thu về từ bao giờ
    cọng râu lại tươi biêng biếc
    ta nhớ lọn tóc thế phát năm xưa
    vương gốc cây thu quỳnh đẫm ánh trăng
    con vàng khuyên hôm sau
    nhặt về làm tổ.

    (Phạm Thiên Thư – nam phương từ)

    Rồi cả một CD “Đạo Ca” – thơ PTT, nhạc PD – mà tôi nghe đi nghe lại mãi, mỗi lần đều thấy ra điều mới.

    Đến một lần ghé chùa Vĩnh Nghiêm trước giờ giao thừa. Tôi và người yêu nắm tay nhau bàng hoàng chìm ngập giữa khói hương nghi ngút tràn ra từ chiếc lư khổng lồ đỏ rực những chùm nhang, như án ngữ ngay đầu cầu thang lên tiền sảnh. Giữa ngây ngất và ngột ngạt, chúng tôi len lỏi giữa la liệt chân tay đen đúa của những người ăn mày với lên không phải từ mặt đất. Không thấy được chân mình, chúng tôi không thấy mặt sân chùa…

    Đến khi đọc ‘Thử hoà điệu sống’ của Võ Đình Cường, tôi đã phải lòng cái tinh thần Phật giáo bàng bạc suốt tác phẩm. Đến cuốn ‘Lưới trời ai dệt’ của Nguyễn Tường Bách thì tôi gần như đã bị chinh phục.

    Song tôi nghĩ, để theo một tôn giáo nào đó thì chẳng tổn thất gì cho ai, kể cả tôi; nhưng để phán xét nó, chắc tôi phải dành cả một kiếp để tu học tôn giáo đó đã. Từ đó tôi lại đâm… mê cái thuyết “looping luân hồi” bác đã nhắc. Dù chẳng hy vọng gì đó sẽ là sự thật, tôi vẫn nhận định rằng thuyết này thật… từ bi nhân ái với con người.

    Dông dài thế cũng chỉ để bày tỏ một điều: tôi thật vui mừng được trao đổi với bác, nhất là với PH mới đây của bác, bác Lê Anh Dũng ạ.

    Cũng xin thưa cùng tất cả các bác ở đây
    rằng nếu ai cũng dè dặt như tôi
    chắc talawas sẽ như phiên chợ chiều
    kẻ bán người mua lời lãi đặng bao nhiêu
    mà mất công trao đi đổi lại

    Thật biết ơn mọi lời khôn dại
    các bác và tôi tặng hoặc ném cho nhau
    nhiều lúc đau thiệt là đau
    vẫn thấy đã
    nhất là với hai bác
    Nguyễn Đăng Thường
    và Hoà Nguyễn
    Kính.

  12. Thanh Nguyễn viết:

    Tôi bảo đảm 100% với mọi người rằng; những ý kiến trên đây của nhiều người liên quan đến Phật Ngọc (đã được triển lãm nhiều nơi), nhưng hoàn toàn chưa thấy được Phật Ngọc. Ngoại trừ ông Liêm và ông Đoàn, 2 tác giả có 2 bài viết liên quan đến sự kiện này.

    Phật Ngọc Hòa bình thế giới, nhưng cũng có chút xíu cãi nhau liên miên liên mạng. Xem ra Hòa bình không dễ kiếm được chút nào. Cũng trần thân, trầy vi tróc vảy lắm chứ chả chơi.

    Từ một bức tượng Phật bằng ngọc thạch, người đi xem cũng hoan hỷ suy luận đủ điều. Từ một bài viết cảm nhận riêng tư của người đi xem, người đọc cũng có quá nhiều ý kiến khác nhau thậm chí trái ngược.
    Đời sống phức tạp quá. Chúa, Phật xuất hiện cũng phải và bỏ đi cũng phải.

  13. Lê Quốc Trinh viết:

    Cám ơn bác NguyenDang đã hồi âm và giải thích cặn kẽ, bác nói:

    …”Tượng Phật không được thờ vào thời đức Phật, nhưng tại sao lại được những đệ tử về sau khắc tạc và tôn thờ? Điều này cần phải đặt nó vào bối cảnh đời sống tôn giáo-xã hội Ấn sau thời Phật tịch diệt. Phật nói rằng “ai thấy pháp (giáo lý) là thấy Phật, ai thấy Phật là thấy pháp,” nhưng có phải tất cả đệ tử Phật đều có thể thấy và hiểu rõ pháp để mà thấy Phật, hay là chỉ một nhóm nhỏ người có điều kiện nghiên cứu kinh điển để thấy, còn hầu hết dân chúng thì không? Hồi đó chưa có internet để thấy Phật thấy pháp dễ dàng như thấy… hầm cầu thủ thiêm bây giờ đâu”…
    _____________________________

    Xin phép góp ý với bác thêm:

    Tôi và bác đang sống ở thế kỷ 21 này, cuối năm 2010. Trong thời buổi văn minh khoa học hiện đại này, Internet xuất hiện khắp nơi, tận hang cùng ngỏ hẻm, thì dân chúng vào lướt Mạng đâu có khó chi, đúng không bác NguyenDang. Chỉ cần vào Google, click lên vài chữ về kinh điển Phật Giáo là người bình dân thấy xuất hiện hàng tá dữ liệu trung thực, tha hồ mà đọc. Đúng thế thật!

    Ấy thế mà vẫn còn hàng triệu người chưa biết sử dụng phương tiện đó để học hỏi Phật Pháp, bởi vì tâm hồn của họ hãy còn bị ám ảnh bởi hình tượng, nhất là tượng Phật Ngọc, đưa rước khắp nơi. Phật pháp nào ở nơi pho tượng Phật Ngọc đó hở bác NguyenDang?

    Đề nghị bác vào Google, click search tra cứu cụm từ “Phật A Di Đà” để hiểu rõ thêm huyền thoại về hình tượng tôn thờ này, nếu bác có can đảm.

    Chào thân ái,

  14. Nguyễn Đăng Thường viết:

    @ tracy

    Ðêm qua vội vã, xin nói lại cho rõ ràng: chữ Hán và các chữ tương tợ (Nôm, Hàn, Nhật) không thể khai sáng vὶ không có các từ khoa học, vὶ thiếu những từ “dân chủ, tự do, bác ái, công bằng…”.

    Văn minh Tây phương đã thực sự khai sáng con người và thế giới. Nhưng tôn thờ Nữ thần Tự Do vất vả hơn sùng bái Phật, Chúa, vὶ phải luôn luôn tranh đấu, phὸng vệ, lựa chọn.

    Ánh sáng tự do có thể chói chang từ mọi phía, cho nên con người đôi khi không biết phải xoay theo hướng nào.

    Ánh sáng duy nhất trên bàn thờ Phật, thờ Chúa thὶ lung linh, huyền ảo, xa vời, nhiều hứa hẹn.

  15. Trương Đức viết:

    “Chỉ với chiếc PC ngón tay ta mới bật ra sức tưởng tượng, tinh thần ta chạm vào bàn phím, ý tưởng ta tung bay tráng lệ, ngẫu nhiên và tất yếu cộng sinh nơi monitor, và lí trí phê phán khắc nghiệt được thiền trước niềm hoan lạc của cú gõ đầu tiên vào máy… Đồng ý. Nhưng còn một niềm hoan lạc khác.” (Phạm Thị Hoài)

    Kính thưa bác Lê Thượng,

    Nếu bác cho rằng câu viết của tôi, “…Trần Quốc Việt, người mà từ cái họ tên trở đi, “đầy chất Việt””, là một “ấm ớ hội tề”, thì hai câu hỏi của bác, “Viết như thế chắc bác nghĩ ông Nguyễn Ái Quốc hẳn là một người yêu dân nước Việt lắm? Còn ông Dương Trung Quốc yêu nước Tàu hơn Việt?”, cũng “ấm ớ hội tề” không kém! Vì sao? Tôi xin dùng “lí trí phê phán khắc nghiệt” của mình để “lí giải” như sau, (có lẽ hơi dông dài, nhưng hy vọng talawas cho đăng!):

    1. Tôi tham gia diễn đàn talawas này, tuy không được “thâm (thúy) niên” như các bác tác giả và độc giả khác, nhưng cũng cảm thấy talawas như là “nhà của mình”, là “không thể thiếu được”, “còn talawas còn mình”. Và toàn bộ cái “sự gắn bó” ấy, có thể “cắt nghĩa” như câu trích trên đây của nhà văn, “nữ trang chủ” Phạm Thị Hoài! Tôi xin trích lại đây: lí trí phê phán khắc nghiệt được thiền trước niềm hoan lạc của cú gõ đầu tiên vào máy…. Đối với tôi, talawas là nơi “tốt nhất” để cho tôi có thể sử dụng cái “lý trí phê phán khắc nghiệt” của mình để viết PH dưới những bài viết mà mình tâm đắc. “Tốt nhất” ở đây, nên hiểu trên bình diện dân chủ, tự do, bình đẳng và văn hóa. Tôi nghĩ, bác Lê Thượng, cùng với đa số các bác ở đây, cũng đều nghĩ như vậy. Có thể phát biểu một cách không “ngoa” chút nào, rằng, chúng ta hàng ngày “lên” talawas là để… “thiền”!

    2. Và, mục đích cuối cùng của cái công việc “thiền” này, đối với tôi, là để đạt tới “niềm hoan lạc” cho chính mình! Về các tác giả của talawas, thì tôi không rõ lắm, nhưng về các bác độc giả viết PH “dài dòng” như bác Hòa Nguyễn chẳng hạn, chắc chắn đã đạt được “niềm hoan lạc” cho chính mình. Tất nhiên, những độc giả viết PH “ngắn gọn”, không phải là không đạt được đến “niềm hoan lạc”. Có những bác viết rất ngắn, hoặc chỉ đưa ra một link dẫn, nhưng tôi đoan chắc là họ cũng đã “thiền tới niềm hoan lạc”! Có nghĩa là, mỗi người có cách “thiền tới niềm hoan lạc” bằng sự sử dụng, cái gọi là “lý trí phê phán khắc nghiệt” của mình, trên talawas này. Chúng ta nên trân trọng cái “thiền tới niềm hoan lạc” của lẫn nhau, không nên “hất một bát nước lạnh” để “đánh thức” nhau khỏi cái “niềm hoan lạc” hiếm hoi ấy, cái mà đã rất “khó khăn có thể đạt được” trong cái thời đại “nhiễu xạ”(viết tắt của từ “nhiễu nhương loạn xạ”) này!

    3. Tôi nghĩ, bác Trần Quốc Việt, bác ý phải “đạt đến niềm hoan lạc” thì mới viết ra bài thơ gây nhiều “tranh cãi mắng mỏ” dưới bài viết của tác giả Trần Kiêm Đoàn này. Và, khi tôi viết “…Trần Quốc Việt, người mà từ cái họ tên trở đi, “đầy chất Việt””, tức là lúc tôi đang “thiền đến niềm hoan lạc”, bởi vì mình phát hiện ra là, cái họ tên của bác TQV cũng “mang” một nội dung “vừa ý”: “chất Việt”, vậy thì tại sao ta không dùng cái “vừa ý” ấy luôn nhỉ? Các nhà văn là những người “chơi chữ” giỏi, bởi vì họ viết ra được “những dòng chữ vừa ý”. Tôi lại xin trích ra đây một đoạn văn của nhà văn Phạm Thị Hoài: “Khi chuyển nhà sang Berlin năm 1993, tôi ngồi ba tháng trước chiếc computer không bật nút chạy, không viết tay một dòng, ba tháng hoàn toàn tê liệt để vĩnh biệt ba mươi năm. Một ngày cuối năm ấy, tôi thở dài chấp nhận số phận như người ta thường nói, ấn nút start, gõ phứa trên bàn phím với những chữ cái và dấu hiệu chẳng thân sơ gì. Lẽ ra tôi phải ghi lại ngày trọng đại ấy nếu biết rằng nó sẽ thay đổi đời mình, thay đổi tới mức thiếu cái bàn phím đó tôi không đủ khả năng, hay ít nhất không tin vào khả năng viết ra một dòng nào vừa ý nữa. Những dòng vừa ý vốn dĩ ngày càng hiếm; dòng nào thòi ra là ta xét nét: Mày ra làm gì? Mày non quá. Mày nặng nề vô cớ. Mày bẹt. Mày chậm. Mày vô trùng. Mày hỏng nhạc điệu. Mày khiên cưỡng. Mày có thừa không? Đủ sáng tỏ không? Sáng tỏ nhưng thiếu chính xác? Ừ chính xác, nhưng có đúng không? Đúng thì đúng, nhưng có thật không? Đúng rồi, thật rồi, song có đích đáng không? Cứ cho là đích đáng, nhưng có hay không? Hay để mà hay hả? Hay mà chẳng đẹp thì sao? Vẫn đúng, vẫn hay, vẫn thật, vẫn đẹp, mà vẫn vô nghĩa? Không có mày, tao vẫn sống khoẻ, phải không?… Đã khó khăn như thế, mất lòng tin vào khả năng viết ra những dòng vừa ý là mất hết.”. Tôi xin nói thêm ở đây, tôi hiểu “những dòng vừa ý” theo hai nghĩa đồng thời là: “những dòng vừa chữ vừa ý” và “những dòng chữ vừa ý mình”.

    4. Hai câu hỏi của bác Lê Thượng, thật ra, chúng cũng “có lý” thôi! Nhưng bác không thể “xuyên tạc” câu viết của tôi ra là “chắc bác(TĐ) nghĩ ông Nguyễn Ái Quốc hẳn là một người yêu dân nước Việt lắm” được. Bởi vì, Trần Quốc Việt là Trần Quốc Việt, Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Ái Quốc. Những suy nghĩ của tôi làm sao bác LT “thấy” được, mà bác dám bảo là tôi “chắc nghĩ…”. Khi nào tôi viết rành rành ra là “ông Nguyễn Ái Quốc, người từ cái họ tên trở đi, hẳn là một người yêu dân nước Việt lắm”, thì bác hẵng bảo rằng tôi “ấm ớ hội tề” chứ! Và trường hợp của họ tên ông Dương Trung Quốc cũng vậy. Chúng ta nên “tách bạch” chuyện nào ra chuyện nấy! Không nên “xuyên tạc” những câu nói của người khác! Bởi vì, việc đó, nó… “ấm ớ hội tề” lắm!

    5. Tiện đây, tôi xin có một nhận xét “tổng kết” về bài này và về những PH dưới bài này là: Hiện nay, vẫn còn rất nhiều người Việt Nam làm nghề… “xuyên tạc tượng” lắm! Trân trọng.

1 3 4 5 6 7 10
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...