talawas blog

Chuyên mục:

Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai

08/10/2010 | 12:58 sáng | 141 Comments

Tác giả: Trần Kiêm Đoàn

Category: Tôn giáo
Thẻ:

Đã hơn một năm rưỡi, thường xuyên xem hình, đọc bài viết, nghe lời luận bàn, theo dõi tin đồn về Phật Ngọc[1] và hiện tượng Phật Ngọc, nhưng mãi đến hôm nay tôi mới được tiếp cận và chiêm bái trong thầm lặng riêng tư với Phật Ngọc ngay giữa rừng người. Quá trình nghĩ vềđến với trong mối liên hệ nhân quả có khi chỉ là một. Nhân quả đồng thời. Nhân quả nối đuôi nhau trong chớp mắt. Nhưng cũng có khi là con đường dài biền biệt, có khi hết cả đời không mong gì thấy được nhân thành quả. Mây trắng có thể chẳng bao giờ thành mưa nếu trên đường gió lộng gặp trời xanh và nắng ấm. Nghĩ vềthực chứng là đi từ hư đến thật; từ vọng đến chân.

Sáng Chủ nhật (3-10-2010), tại chùa Kim Quang, thành phố thủ phủ tiểu bang California, theo sau những nghi lễ đầy âm thanh và màu sắc, tượng Phật Ngọc đã chính thức được trưng bày trước đại chúng. Hơn một trăm tăng ni và sáu nghìn người (theo quan sát và ước tính của nhật báo Sacramento Bee[2]) gồm quan khách đồng hương cũng như người nước ngoài, thân hữu và Phật tử tham dự nghi thức khai mạc lễ hội cung nghinh Phật Ngọc. Khi toàn hình ngôi tượng được trưng bày trong âm thanh trầm vọng của tiếng cầu kinh niệm Phật hòa quyện với tiếng vỗ tay nồng nhiệt của đại chúng, tôi mới chợt hiểu nghệ thuật biểu hiện tâm linh có con đường bay riêng của nó mà phương tiện diễn đạt của ngôn ngữ và tranh luận của lý trí sẽ trở thành bất lực, vô phương.

Khai mạc Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại chùa Kim Quang, Sacramento

Bên cạnh tiền đình với nhiều đường nét mỹ thuật của ngôi chùa Kim Quang mới được tái tạo và khánh thành chưa lâu là lễ đài tôn trí tượng Phật Ngọc. Màu xanh ngọc bích bóng ngời của thân tượng phản chiếu nắng vàng mùa Thu nổi bật giữa rừng áo vàng của quý tăng ni, hòa với màu lam dịu hiền của nhiều đơn vị Gia đình Phật tử khắp nơi tụ về đã tạo thành một bức tranh mang tính pháp hội thật nhu hòa mà cũng sinh động đầy thu hút.

Gặp dịp, tôi dán mắt mình quan chiêm ngôi tượng Phật bằng Ngọc để cố tìm cho ra những đường nét hiển hiện đầy thiêng liêng mà nhiều người đã từng ca tụng. Nhưng tất cả hiện ra trước mắt tôi là một tác phẩm điêu khắc mỹ thuật tạc ra từ một chất liệu vật thể quý hiếm mang bóng dáng đức Phật. Thật ra, mọi hình tướng tượng đài tự bản chất là một sự phỏng định không quy ước. Đó chỉ là cách thể hiện cụ thể cái “sự” bắt nguồn từ cái “lý”; cái dụng thể hiện cho cái ứng. Vì vậy, càng tranh luận hơn thua, đúng sai, tốt xấu, cao thấp về niềm tin tôn giáo “linh tại ngã, bất linh tại ngã” càng có cơ dẫn tới sự xung đột cá nhân và phân hóa tình người chẳng có lợi cho ai mà chỉ làm dày đặc thêm bóng tối vô minh của cực đoan và chấp ngã.

Mãi đến khi mắt rời ngôi tượng, quan sát chung quanh, tôi mới thật sự bắt gặp những gì mình chưa thấy qua đôi mắt trần vật lý. Đó là hình ảnh phản chiếu long lanh hình tượng Phật Ngọc trong đôi mắt của hàng nghìn người đang chiêm bái. Tâm thế nào thì ảnh tượng Phật Ngọc sẽ hiện ra trong mắt như thế ấy. Sự mặc khải của dòng trực cảm tâm linh không  đo lường hay dò tìm được bằng những phương tiện phàm trần quy ước. Sẽ không ai có đủ khả năng phân tích và lý giải được những gì thuộc về phạm trù tâm linh, tôn giáo trước một khối người đông tới sáu nghìn quanh khuôn viên chùa Kim Quang hôm nay. Tất cả đều như đang trầm lắng lại bằng sự tĩnh tâm quan chiêm cùng một đối tượng: Phật Ngọc.

Xin nghỉ chân rong chơi một chút loanh quanh dòng  Tâm lý Trị liệu Thực hành (Practical Psychotherapy) hiện đại. Những tay nghiên cứu tâm lý sừng sỏ thường nói đến sự vi tế và giao hưởng đầy sinh động của năng lượng, sóngtần số xuất phát từ tâm thức và đời sống thực tế của mỗi con người. Năng lượng lành (thanh khí), năng lượng ác (trọc khí) vần vũ xuôi ngược thường xuyên trong trời đất bao la từ vô thủy đến vô chung. Năng lượng nhiều hay ít tùy theo sóng cao thấp của thể lý và tâm linh. Sóng lớn hay nhỏ, vi tế hay thô trần tùy theo mức độ lành hay dữ của năng lượng. Tần số là cửa ngõ phát tán và thu hút năng lượng. Cửa ngõ mở rộng, đóng hờ hay khép kín đều phát xuất từ tâm và thức. Xin nhớ lại chuyện “Đi Chùa Hương”: Cô bé bận quần lĩnh áo the mới đi lễ hội chùa Hương với Thầy Mẹ. Chàng thư sinh lòng phơi phới lên chùa chiêm bái. Năng lượng lành xuất hiện. Cả hai không quen nhau nhưng cùng được tưới tẩm trong dòng suối tâm linh “Nam mô A Di Đà” của đại chúng. Mỗi bên đều phát tán và thu nhiễm năng lượng của bên kia. Thuyền càng tới gần chùa, làn sóng tâm linh của cá nhân và đại chúng càng cuồn cuộn vực dậy trong biển năng lượng thanh thoát của vạn lời cầu nguyện phát ra từ những tâm thành. Tần số tâm thức của đôi lứa thanh xuân cùng cường điệu bắt gặp nhau nhẹ nhàng và tự nhiên như đến từ tiền kiếp: “Em ư? Em không cầu. Đường vẫn thấy đi mau. Chàng cũng cho như thế.  Ra ta hợp tâm đầu.

Sự nghiên cứu về năng lượng, sóng và tần số thuộc về lĩnh vực tâm linh của khoa Tâm lý Trị liệu Thực hành khởi từ thời đại cổ sơ của người thượng cổ khi chưa có hình thức tôn giáo ra đời. Phật và Chúa mấy chục nghìn năm sau mới xuất hiện. Đó là khi loài người thực hành nếp sinh hoạt tâm linh qua những hình thái bái vọng thiên nhiên hay ngẫu tượng. Tiến thêm bước nữa là thời kỳ Bái Vật giáo; rồi Phiếm Thần giáo, Đa Thần giáo. Nhiều bộ lạc chỉ chiêm bái và thờ cúng một tảng đá đầu truông, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông đầu làng mà họ hết lòng tín cẩn và cầu nguyện. Khi những năng lượng tâm linh vi tế ẩn chứa phần lớn là năng lượng lành của một khối người có chung một tảng đá, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông… làm đối tượng “chứng tri” thì năng lượng lành hay sóng, tần số tâm linh của cả một khối người đông đảo có sự tương tác giao thoa. Đó là một gia tài tâm linh tích lũy càng ngày càng lớn của một tập thể có chung niềm tin trong cùng một tín hiệu. Gặp khi nguy biến, thành tâm cầu nguyện là lúc cá nhân bị nạn “giải mã” (như mở password ngày nay) để nhận nguồn năng lượng lành đã tích lũy.  Nếu minh họa bằng hình tượng cho dễ hiểu thì cũng tương tự như hoạt động tích lũy và sử dụng tài sản – gởi và rút tiền – qua trương mục của một ngân hàng trung tâm. Kẻ tích thiện làm lành có vốn giàu to. Kẻ độc ác sẽ bị trắng tay hay phá sản[3].

Với tinh thần Phật giáo “vô lượng pháp môn tu” – thì những ý kiến cá nhân hay nhóm phái chủ quan, cảm tính, cực đoan là phi Phật giáo vì đi ngược lại con đường Trung Đạo cố hữu của nhà Phật. Nói và viết về đạo Phật – con đường thênh thang mây trắng – mà phải nhăn trán, nhíu mày loay hoay mãi với tâm lý uẩn ức tiêu cực quanh mấy chuyện được thua, giàu nghèo, có không… trong giới hạn cá nhân nhỏ hẹp để khích bác và đối kháng lẫn nhau thì thật là uổng phí thời gian tĩnh lặng giữa cuộc đời ngắn ngủi. Thú vị chi ngồi khuấy tách trà làm bão tố phù du!

Sáng hôm nay 4-10-2010, đọc bài tường thuật của phóng viên Stephen Magagnini của nhật báo Sacramento Bee về lễ khai mạc cung nghinh Phật Ngọc tại Sacramento với tiêu đề “Jade Buddha draws throng praying for peace, health and prosperity” (Phật Ngọc làm dấy lên lời cầu nguyện đa dạng cho hòa bình, sức khỏe và phồn vinh.) Nội dung bài báo tương đối xứng hợp với tiêu đề đưa ra. Trước đó vài tuần, khi tượng Phật Ngọc còn đang trưng bày ở San Jose, thành phố có đông người Việt thứ nhì tại tiểu bang California sau Quận Cam, phóng viên Bruce Newman của nhật báo địa phương Mercury News, số ngày 15-9-2010 đã viết bài tường thuật về lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại đây dưới tiêu đề “The Jade Buddha, symbol of peace and harmony, everywhere but in San Jose” (Phật Ngọc, biểu tượng của hòa bình và hòa hợp khắp mọi nơi, ngoại trừ San Jose.)[4]

Thật ra, đứng trên quan điểm tôn giáo nói chung, Newman đã dẫn chứng các sự kiện và nhân vật trong cộng đồng người Việt tại San Jose mà ảnh hưởng và tác dụng của vấn đề cần đặt trong bối cảnh chung của tình hình xã hội và chính trị tại địa phương, chẳng có sự liên quan trực tiếp nào đáng kể trên sinh hoạt của Phật giáo tại San Jose. Trên tiêu chuẩn “handbook” của ngành báo chí Hoa Kỳ, Bruce Newman săn tin rất “động” nhưng lại chưa đủ “tĩnh” để có thể hiểu hết thực chất “tướng” và “tánh” – bóng và hình – của một cộng đồng dân tộc và văn hóa “bốn nghìn năm văn hiến” quá nhiêu khê như người Việt Nam.

Trong một bài viết trước đây về Phật Ngọc nhan đề “Phật Ngọc, hình tướng và thật tánh của hoà bình, an lạc”, kẻ đang viết những dòng nầy đã cố gắng ứng dụng đồng thời hai tuyến dữ kiện “động” và “tĩnh” để trình bày một phần quan điểm của mình về Phật Ngọc. Nay trong bài viết tiếp theo nầy, người viết bằng vào diễn biến thực tế và ý kiến của nhiều Phật tử trực tiếp tham dự Lễ Hội để nhận định về tác dụng trực tiếp cuộc du thỉnh “world tour” vòng quanh thế giới của Phật Ngọc đối với cộng đồng Phật giáo Việt Nam.

Xin tạm gác qua lắm chuyện thị phi bên lề diễn biến của tiến trình trưng bày Phật Ngọc liên quan đến sự được thua, hơn kém, to nhỏ, mạnh yếu, khen chê… về thế lực, tài chánh, khả năng tranh chấp quyền lợi; cùng những hào quang dễ dãi và bóng đen vu vạ mà xưa nay trong bất cứ hoàn cảnh nào và thời điểm nào cũng có. Một khi có sự tương tác từ hai người trở lên thì sự va chạm cá nhân và phe phái không thể nào tránh khỏi. Nhà sư Tích Lan, Tikhome Lanka, đã viết trong Pháp Ngữ Diễn Đàn (Dharma, 2001) rằng: “Tôn giáo dính vào tiền bạc và quyền thế tranh chấp đời thường là đang bước lên cỗ xe năng động: Chạy lên trời Đâu Suất hay rớt xuống Địa Ngục dễ dàng như trở bàn tay! Nhà tu ngày nay đến với cảnh giới giải thoát hay cứu cánh đắc đạo thường mua vé xe bằng tiền bạc nên chỉ đi được xe ngựa xe đò; trong lúc đó, cuộc đời quá ngắn ngủi thì phải đi bằng tốc độ tâm linh nhiệm màu nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng mới mong về kịp chốn ước mơ trước khi nhắm mắt xuôi tay!

Trong khi tôi đang viết những dòng nầy tại Sacramento thì đang hàng trăm người từ San Jose, Fresno, Stockton và các vùng lân cận đã kiên tâm chờ đợi tới mấy ngày, nhưng không ít người đã ra về tay không. Hầu hết những người ở xa cho biết là họ đã phải thức dậy từ 2, 3 giờ sáng để lái xe về địa điểm Phật Ngọc, xếp hàng chờ đợi để cố mua cho được một miếng tượng mỏng, nhỏ hơn hai ngón tay. Đại chúng được cho biết và có giấy chứng nhận đây là thành phẩm chiết ra từ khối ngọc chính tạc tượng Phật Ngọc. Tôi quan sát những khuôn mặt chờ đợi phờ phạc nhưng phát nụ cười hớn hở khi vừa ra khỏi cửa với miếng tượng nhỏ xíu trên tay. Cũng đã có quá nhiều lời bình phẩm – trong cũng nhiều mà đục cũng lắm – về ý nghĩa, động cơ và tác dụng của việc mua và bán tượng đeo bằng ngọc nầy. Trong muôn một, tôi thử tiếp xúc với một người vừa mua được tượng ngọc và “phỏng vấn”. Anh cho biết anh là Trần Quốc Mỹ, ở Stockton, đã trải qua “công đoạn” đợi chờ hết sức vất vả suốt mấy ngày mới mua được tượng ngọc. Anh cho biết là đã nghe quá nhiều chuyện thật hư, nhưng “tội ai nấy hứng, ai tu nấy chứng”, nên chẳng quan tâm đến chuyện thị phi, tin hay không tin là do mình. Anh kết luận thoải mái rằng: “Bạc vàng thì có giả, có thiệt do người ta mang tới, nhưng lòng tin là do mình. Mua một niềm tin có khả năng biến thành nguồn vui, hay hơn nữa thành nguồn an lạc thì quả là vô giá. Nhưng ở đây tốn kém chỉ bằng mua một cái vé đại nhạc hội Paris by Night thì cũng là thú vị.” Câu nói của anh làm tôi nhớ tới những hòn đá “tô-tem” làm vật thờ cúng của người cổ sơ.

Ông Trần Quốc Mỹ với tượng ngọc trên tay

Hai mẫu tượng ngọc phát hành trong dịp Lễ Hội cung nghinh Phật Ngọc

Niềm tin tôn giáo, dù chỉ là năng lực vô hình của tinh thần và tâm linh, nhưng lại chiếm ngự phần đời rất lớn của những người tôn giáo. Có tôn giáo hành đạo mỗi ngày năm lần bảy lượt để cầu nguyện. Có tôn giáo khi đã theo là hiến trọn đời mình cho giáo chủ. Đạo Phật thường nói đến con đường từ bi và trí tuệ không phải vì có một pháp môn chuyên nhất đưa tới giác ngộ, nhưng đức Phật đã chỉ ra vô lượng pháp môn hành đạo mà đời thường đưa ra con số làm biểu tượng là tám vạn bốn ngàn. Trên con đường thênh thang tùy duyên ấy, có những hình ảnh quán niệm tĩnh lặng cao thâm; nhưng cũng có lúc phải cần tới “lục thời công phu” và môn phái Tịnh độ hành trì Pháp môn Niệm Phật, giữ cho được “nhất tâm bất loạn” thì niệm Phật thường hằng không lúc nào dứt niệm. Nói tóm lại, đi vào lĩnh vực đức tin tôn giáo là đi vào một thế giới khác mà những tiêu chí và luận lý đời thường không thể nào lý giải và hiểu cho rốt ráo được.

Trong những ngày qua, môi trường truyền thông đại chúng người Việt cũng như người nước ngoài đã đưa ra một lượng thông tin khá phong phú và đa dạng về Phật Ngọc. Khuynh hướng đồng nhất hóa giữa biểu tượng và chân pháp; giữa phương tiện và mục tiêu; giữa lòng tin và lợi dụng; giữa hoằng dương và quảng cáo, giữa lý và sự đã đưa tới nhiều sự duy diễn quá xa vời.

Hiện tại, tượng Phật Ngọc đang được trưng bày tại Sacramento sang ngày thứ tư. Nhiều khách hành hương đã bày tỏ sự tán đồng về danh xưng: “Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc…” vì nó tránh được sự cường điệu và thánh hóa không hợp với tinh thần đạo Phật. Người ta ước mong rằng, nếu lễ hội được mở ra bằng những tấm lòng và ý hướng chân chính tất sẽ thành Pháp hội. Phật giáo cận đại và hiện đại có nhiều khả năng lập ra nhiều Giáo hội nhưng thiếu Pháp hội. Giáo hội là để lãnh đạo và khống chế nhau bằng thế và lực; nhưng Pháp hội là để đến với nhau trong tinh thần hòa đồng, bình đẳng, tin yêu và chia sẻ.

Lời phát biểu của thầy Thích Minh Đạt trong lễ khai mạc đã một phần làm sáng tỏ cho một cách nhìn chánh niệm: “Phật vẽ trên giấy, Phật thêu trên lụa, Phật tạo bằng đất sét, bằng xi măng, bằng thạch cao, bằng tất cả các loại đá trong đó có loại đá quý mà chúng ta gọi là “Ngọc”… tất cả đều không có khả năng mang lại hòa bình cho thế giới. Chỉ có một vị Phật duy nhất có đủ khả năng mang lại hòa bình cho thế giới, đem lại an lạc hạnh phúc cho mọi loài, đó là Phật Tâm (…) Tâm bình thế giới bình.”

Phật Ngọc không ở đâu, không giống định kiến nào, không thuộc về ai cả mà ở chính trong đôi mắt của người nhìn. Cái nhìn xuất phát từ Tâm. Phật Ngọc trong mắt ai… sẽ không giống Phật Ngọc trong tưởng tượng và suy diễn của tha nhân. Phải chăng vì nó không giống ngón tay chỉ mặt trăng mà bởi nó là đôi mắt thật của tâm sinh và tâm khởi trong nguồn năng lượng lành: Ai nhìn nấy thấy.

Sacramento, 4-10-2010

© 2010 Trần Kiêm Đoàn

© 2010 talawas


[1] Sở dĩ có cái phụ chú nầy vì đã có ý kiến phản bác danh xưng Phật Ngọc.Ý kiến này cho rằng “Phật là Phật; là đấng giác ngộ viên mãn chứ không có Phật ngọc, Phật vàng, Phật bạc gì cả).Vì người viết không tự đặt mình ở vị trí để tranh biện về chính danh – định phận hay dính líu vào một hình thức luận bàn hình thức không cần thiết tương tự, nên xin gọi theo thế danh đại chúng về ngôi tượng là Phật Ngọc. Thật ra, mọi danh xưng, danh vị, danh từ tạm dùng để gọi tên vạn pháp theo tinh thần đạo Phật đều là giả danh. Lời Phật: “Chân pháp không phân biệt. Nhìn đúng là nhìn thẳng vào bản lai diện mục của tất cả các pháp đều không có tự tánh nên chẳng chấp trước nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả. Nhìn cành hoa không phải là cành hoa mới thật là cành hoa.”

[2] Xem toàn văn tường thuật tại trang web: http://www.sacbee.com/2010/10/04/3076893/jade-buddha-draws-throng-praying.html

[3] Practical Psychotherapy: Adaptation of dialectical behavior. Gerald Amada. Batam, NY; NY, 2009.

[4] Toàn văn bài viết nầy đã đăng lên mạng lưới toàn cầu, ở địa chỉ: http://www.mercurynews.com/ci_16087076?nclick_check=1

Bình luận

141 Comments (bài “Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai”)

  1. Phùng Tường Vân viết:

    “Trong một phản hồi ở để mục này, tôi dẫn câu thơ:
    Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng
    và ghi là của Tôn Thọ Tường…”
    (HN)

    Vào khoảng cuối những năm 50, tôi là một “Giáo Sư Việt Văn” của lớp “Đệ Tứ, Trung Học Đệ Nhất Cấp” ,lớpp 9 bi giờ, (“thoát ly” Đại Học Xá Minh Mạng đi dậy giờ kiếm ăn) và cuộc bút chiến giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị nằm trong chương trình “Việt Văn” của lớp ấy.

    Nói vậy để thấy rằng cái sơ xuất (rất nhỏ nhưng lại rất rõ ràng đối với mọi người) của tác giả bài viết mà không thấy ai nhắc đến, thì hình như rằng quần chúng độc giả talawas đã hơi (bị) mệt mỏi về (đa số) 104 PH của xới này chăng ? Đây chỉ là một võ đoán của tôi, không có cơ sở gì hết và cũng xin thưa thêm “no allusion, whatsoever !

  2. Hoà Nguyễn viết:

    Trong một phản hồi ở để mục này, tôi dẫn câu thơ:
    Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng
    và ghi là của Tôn Thọ Tường.
    Thật ra, câu thơ đó của Phan Văn Trị làm trong bài hoạ lại bài thơ “Tôn phu nhân quy Thục” của Tôn Thọ Tường có câu kết:
    Dầu mất lòng anh đặng bụng chồng
    Xin đính chính.

  3. Trung Thứ viết:

    @ Bác Hòa Nguyễn:

    Trích: „Chúa, Allah là đấng sẽ xét xử, để thưởng phạt con người khi linh hốn qua bên kia thế giới.“

    Cho rằng Chúa phán xét chỉ là một cách diễn đạt mang tính giáo dục. Nếu một Đức Chúa chí ái mà chịu làm quan tòa xét xử con cái của Người thì tốt quá chừng, chắc hẳn không một ai phải chịu trầm luân. Nhưng đây thì không, một khi con người đã có tự do thì quyền phán xét về vận mạng của họ cũng thuộc về họ. Thiên Chúa đã van lơn, mời gọi tất cả mọi người cùng kết hiệp với Ba Ngôi Thiên Chúa trong tình yêu viên mãn thì làm gì có chuyện phán xét, phân loại mà chỉ phụ thuộc vào quyền tự do lựa chọn của mỗi người mà thôi.
    Đề cập về phạm trù tự do trong Ki-tô giáo tôi rất tâm đắc bài viết của học giả Nguyễn Khắc Dương: http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=310&ict=3412 , nên một lần nữa giới thiệu cùng quý vị.

    Theo nhận định chủ quan của tôi thì những giá trị tự do, nhân phẩm, nhân quyền phổ quát ngày nay cũng xuất phát từ Ki-tô giáo mà ra.

  4. Trầm Kha viết:

    NGỤ NGÔN KINH

    kinh Thánh
    kinh Qur’an
    kinh Phật
    lời diệu đế
    truyền khẩu
    tự tiên tri
    kinh rạch
    da trần thế

    kinh sách
    kể ngụ ngôn
    nhân thế
    lắm trò bày
    hết trò diễn (thuyết)
    đến trò giải (quyết)
    sự thế ra
    bầy hầy

    ngụ ngôn
    phi tôn giáo
    khuyên nhủ
    lời nhẹ nhàng
    ngụ ngôn
    thành tôn giáo
    ném đá
    trúng màng tang

    tôn giáo
    vô ý thức
    chân lý
    ắt xâm xoàng
    tôn giáo
    vào chính trị
    mình bom
    chúng kinh hoàng

    chính trị
    hoá tôn giáo
    đất nước
    đầy tai ương
    đau thương
    chưa lãnh hội
    ngụ ngôn
    còn lưu trường

    trầm kha
    17 tháng 08, 2010

  5. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Lê Quốc Trinh: Đạo Phật chính thống truyền dạy từ Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni định nghĩa mê tín là: “tin mà không hiểu”, rất đơn giản. 16 người dân làng trông rất hiền lành chất phát, nhưng họ đã tin chắc như đinh đóng cột rằng nạn nhân có bùa chú thư yếm, họ đâu có hiểu gì về hậu quả của hành động sát nhân.

    Chuyện này không dính dáng đến đạo Phật. Vì đạo Phật không dựa vào bùa chú, và cũng không chủ trương giết ai vì tin họ có bùa chú. Chỉ là mê tín dân gian (cho là của một số người VN không xét họ theo hay không tôn giáo nào. Phù thuỷ và săn bắt phù thủy (rồi giết hay hoả thiêu) thấy ở vài tín ngưỡng và cả tôn giáo khác, ở nhiều nơi trên thế giới trước đây, nhưng dứt khoát không thấy có trong đạo Phật.

    Ông Lê Quốc Trinh lẫn lộn một cách tai hại mê tín, tín ngưỡng của người thế tục với giáo lý, hành trì trong đạo Phật. Thật đáng tiếc về một nhận thức sai lạc như thế (có thể gọi là ngụy tín).

  6. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Trung Thứ nói: chỉ Thiên Chúa là đấng tự hữu còn những loài khác đều là thụ tạo, được Thiên Chúa dựng nên. Do vậy, người Ki-tô hữu chỉ tin thờ một Chúa mà thôi, còn tin thờ những loài thụ tạo thì đều là mê lầm. Theo tôi hiểu, Đức Phật không đòi hỏi con người phải tôn thờ Ngài. Ngài cũng là một người phàm khéo tu nên thành chính quả. Khổng tử hay Lão tử thì cũng… không đòi hỏi học trò của mình phải thờ phụng mình như thờ Trời vậy.

    Ngày nay văn hoá Tây phương và Đông phương đã giao lưu, xen lẫn, và chan hòa có thể thấy ngay ở trong một người. Nhưng vẫn có thể còn ngộ nhận về một số chỗ tinh tế, sâu kín ở bên trong hai tôn giáo lớn, và do đó vẫn còn có thể hiều lầm nhau. Tôi thấy như trong hai vấn đề ông Trung Thứ nêu lên là mê tín, và thờ lạy, thờ phụng. Lần này, tôi chỉ thử trình bày vể chuyện thờ lạy, còn mê tín thì chưa đặt tới, vì thường người trong tôn giáo này dễ cho một vài tín điều , nghi thức ở tôn giáo kia là ít ý nghĩa , thậm chí vô lý, hay mê tín. Chuyện như thế là sẽ không dẫn tới đâu, và vô bổ.

    Thế nào là thờ lạy, theo quan niệm đạo giáo Đông phương, trong đó có Phật giáo ? Tôi nghĩ các giáo sĩ Tây phương khi mới tới các nước Á Đông thấy người dân thường đốt hương đèn, vái lạy trước một ngôi mộ hay trước bàn thờ ông Táo, ông Địa, nột cái miếu nhỏ … thì cho là họ thờ phụng (worship) hồn ma, quỷ thần, thần tượng hay gì gì đó, và tất cả đều gọi chung là mê tín. Nhất là cái hình thức “lạy” , hai tay chắp lại đưa từ đầu xuống tớí đất và đầu cúi sát gần chạm đất, bị coi là quỵ lụy thái quá để chứng tỏ cái hèn mọn của người làm lễ, và có thể coi như thế là mất nhân phẩm. Nhưng theo văn hóa chung ở Á Đông (chỉ nói TQ và VN để dễ thấy) người ta cũng “thờ lạy” người sống nữa, và điều này đã được quy định chặt chẽ theo nhiều nghi thức do đạo Khổng đặt ra (ít nhất trong sách Lễ ký của Khổng giáo đã nói một lần về tục cưới hỏi, tang ma). Quan phải thờ lạy vua, dân phải lạy quan (noí:”lạy quan lớn”), con cháu phài lạy ông bà, và thời tôi còn nhỏ vẫn thấy có gia đình bắt con lạy cha mẹ trong một vài trường hợp hãn hữu (tôi thấy một ông cha sau khi đánh đòn con thì bắt con lạy mình). Hay ít ra nhiều gia đình bắt cô dâu, chú rể lạy cha mẹ hai bên trong lễ cưới (thời tôi vẫn còn “tục” này, nhưng tôi không làm theo). Chúng ta có thể nói đó là “lạy”, chứ không phải “thờ “. Nhưng vào thời Pháp mới qua, Tôn Thọ Tường viết: ” Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng”. Ca dao cũng nói :” Thờ cha kính mẹ mới là đạo con”. Vì thế, ý nghĩa thờ ở đây xem chừng nhẹ hơn các giáo sĩ tưởng khi họ so sánh với “worship”. Chừng hơn 100 năm trước, ở TQ và VN chuyện “gái thờ chồng” có lẽ là bình thường, và thờ ở đây mang ý nghĩa hết sức tôn kính, trung thành, chung thuỷ, và cả vâng lời. Nhưng cũng vào thời đó, ở TQ trong lễ cưới có câu xướng lên “phu thê giao bái” (vợ chồng lạy nhau), nghĩa là khi người chồng nhận cái lạy (đầu tiên) của vợ tỏ sự tôn kính, thì theo lễ gíáo chồng cũng phải lạy lại vợ mình. Dài dòng như thế để muốn nói là lạy ở Á Đông dù là hình thức nào cũng không phải là thờ phụng mà là biểu lộ kính trọng nhau rất mực theo lễ giáo( ở mức thấp hơn thì vái nhau).

    Một bác nông dân, một bà già quê khi vái (xá xá ) hay lạy trước một cái miếu nhỏ, một gốc cây đa đầy bình vôi, mảnh sành vụn nát không có nghĩa là họ thờ phụng, mà chỉ có nghĩa kính trọng rất mực một vong linh hay sức mạnh siêu nhiêu quanh quất đâu đó mà họ tin là có. Sự kính trọng như vậy cũng thấy đối với bàn thờ tổ tiên trong nhà (gia tiên) mà các giaó sĩ lúc đầu cho là thờ phụng ma quỷ hay thần linh, thần tượng (gớm ghiếc). Ngày nay hình như Công giáo ở VN đã có cái nhìn khác, và cho phép tín đồ công giáo dự lễ giỗ của gia đình ngoài đạo (và tôi nghĩ không còn cấmhọ ăn đồ cúng như trước kia với cớ đó là thức ăn dành cho ma quỷ). Dù khi “thờ” là nguyện trung thành, vâng lời đấng mình tôn thờ , nhưng trong đạo giáo ở Đông phương tôi cảm thấy không đến mức tuyệt đối như ở đạo Thiên chúa, Do Thái hay Hồi giáo. Một nho sĩ có thể đồng thời là tín đồ của Lão và Phât giáo. Xin nói thêm Khổng tử và Lão tử đều được người đòi làm tranh tượng để thờ.

    Từ đó thấy hai bên Tây và Đông phương có chỗ khác nhau trong cách hiểu, thực hành về thờ lạy và thờ phụng. Tin Lành chỉ thờ phụng chúa Jesus vì là con Đức Chúa Trời tạo sinh loài người, không thờ phụng Đức Mẹ vì cho bà cũng là thọ sinh. Công giáo tôn kính Đức Mẹ qua hình tượng, các nghi thức rước lễ, cầu nguyện, lòng tin kính, mọi thứ đều gần giống như Phật giáo Đại Thừa đối với bồ tát Quan Thế Âm, nhưng Công giáo cũng không nhận là thờ phụng Đức Mẹ mà cho chỉ thờ kính bà. Người Phật giáo (Đại Thừa) tiếp nhận nhiều nghi lễ từ Trung Hoa và nhiều dân tộc khác, nên thờ lạy Thích Ca, cũng thờ lạy A-Di Đà, Quan Thế Âm, và nhiều Phật, bồ tát khác. Nhưng theo tôi nghĩ, người Phật giáo chỉ làm việc thờ lạy, mang ý nghĩa thờ kính, chớ không phải thờ phụng theo ý nghĩa hướng hết lòng trí về đấng tôn thờ vì cho là toàn năng, toàn trì, đã tạo dựng ra vũ trụ và con người, nhất là có toàn quyền quyết định số phận con nguời khi sống và khi chết. Chúa, Allah là đấng sẽ xét xử, để thưởng phạt con người khi linh hốn qua bên kia thế giới. Đạo Phật không cho Thích Ca có cái quyền năng đó, không thờ phụng Thích Ca trong ý nghĩa giống như thế, và nhiều lắm là dừng ở mức thờ kính.

    Thích Ca được môn đồ tôn kính như bậc thầy, chỉ như bậc thấy, và họ gọi ngài là “Bổn sư Thích Ca”; ở mức cao hơn các tín đồ gọi ngài là đấng “Thế tôn”, nhưng chi có nghĩa được tôn kính trong thế gian này, và ai cũng nhận biết ngài là nhân vật lịch sử (có thân thế thật). Nhưng khi lòng kính mộ ngài lên đến tột độ ở nhiều tín đồ vào thời mà tôn giáo còn pha lẫn với thần thoại, họ dựng lên những câu chuyện như khi vừa sinh ra, ngài bước lên bảy bước, tay chỉ trời tay chỉ đất và nóí lên vài lời. Điều này không có trong kinh điển ban đầu, chỉ được truyền tụng về sau (và cũng được ghi chép). Người theo Phật tỉnh táo biết có những giáo lý cốt tủy trong đạo Phật, phải noi theo hay tuân giữ nếu không sẽ không còn là đạo Phật, và đồng thời có một phần khác đến từ lòng mong cầu của người thế tục, từ tín ngưỡng, huyền thoại dân gian ở nhiều thời đại, cả tín điều tôn giáo khác xâm nhập vào, trong khoảng trên hai ngàn năm phát triển đạo Phật, qua nhiều nước có những nền văn hóa, tôn giáo khác biệt. Họ có thể (tự mình) loại bỏ những thứ mà trí tuệ họ cho là không thuộc đạo Phật truyền thống, hay còn tồn nghi, nhưng niềm tin của họ về đạo Phât không vì thề mà suy suyển. Tôi nghĩ đạo Phật dành cho người theo nhiều tự do và linh hoạt trong niềm tin, cả trong hành đạo: “mỗi người tự thắp đưốc lên mà đi” (Lời Thế Tôn).

  7. Tôn Văn viết:

    Tôn giáo và Niềm tin
    [Lời vui góp muộn]

    Kính thưa quý bác,
    Khi tôi bắt đầu … thỏ thẻ những dòng này thì số phản hồi đã là 98 và số trang lên đến 7. Nhưng cái lý thú là tôi thấy hình ảnh quý vị lần lượt chống tay xuống chiếu đứng lên, rũ vạt sau cho thẳng và vuốt lại tà áo trước; Chắc chắn (có thể) là đưa tay chỉnh mũ rồ chắp lại, nhìn khắp lượt và chậm dãi: Lỗi quý bác, tôi về trước; Hẹn một lần sau…
    Lời „thỏ thẻ“ có hơi bị … kéo ra, bởi tôi thực tình trân trọng. Trân trọng thực tình vì nhìn qua nơi chiếu khác, đối thoại có chừng hơn 3 chục cuộc mà mà đã thấy „hai, ba bên đối trận; ‚quát khí‘ đằng đằng“. Tại đây, bắt đầu từ 12:59 sáng ngày Tám tháng Mười đến 11:39 ngày Mười-lăm thì cuộc bàn đã đi hết trọn phần sau „thượng tuần“, – Đạo vị SAY quá, nhưng không MÊ, đó là điều đáng quý; Và tôi tâm đắc với ý kiến bác Lê Anh Dũng để suy nghĩ tới „những vấn nạn thiết thân.“

    *
    Qua ý kiến bác Lê Anh Dũng, tôi có được nhận định sáng tỏ của ông Trung Thứ: Mọi tôn giáo đều „chỉ trình bày những hệ thống minh triết“ giúp con người giác ngộ và giải thoát. Điều này quan trọng vì:
    – Là „hệ thống minh triết“, muốn hiểu được rõ thì phải đi sâu tu tập. Người Phật tử nhắc nhau: „Có tu có chứng“ là theo ý đó. Để học hỏi, tôi có thể đọc các giáo lý khác để thấy cái hay, cái dở, nhưng phán quyết cuối cùng thì rất phải dè dặt ngoại trừ những điều rõ ràng là lạc hậu, không còn phù hợp với văn hoá, văn minh hiện thời.
    – Khi thừa nhận có „những hệ thống minh triết“ là ta công nhận sự khác biệt; Và như thế, việc so sánh các hệ thống với nhau rất dễ dẫn đến sai lạc. Lời nhắc nhủ người tu theo Phật giáo phải cảnh tỉnh trước „tà ma, ngoại đạo“ bao hàm ý nghĩa công nhận có những „đạo ngoài đạo“, còn việc chống chẳng qua là nguyên tắc chống phân tâm, tập trung trí lực để thành tựu một công việc.

    *
    Tôi chia sẻ nỗi „đau nhức“ với bác Lê Anh Dũng. Đúng là ta không thể không có niềm tin và không thể bỏ qua tôn giáo vì nó là sản phẩm và di sản văn hóa của con người. Nhưng vấn nạn là sự „mê tín“ và „ngu tín“, như các bác chỉ ra, đã đem lại bao hệ lụy cho Dân tộc trong nhiều thế hệ. Làm sao tránh thoát, làm sao vượt qua?
    Có lẽ trước khi „tâm bình“ để „thế giới bình“ thì cái „tâm“ đó cần phải sáng; Và vì thế tôi quý trọng sự gặp gỡ và đối thoại trong tinh thần vị tha như nhiều bác nhắc nhở…

    Thân mến.

  8. Lê Quốc Trinh viết:

    Thân chào các bác trong Talawas,

    Cũng như ông bạn Trần Quốc Việt rũ áo ra đi, tôi cũng xin chấm dứt phần tranh luận sôi nổi trong Diễn Đàn này, với một mẩu tin ngắn đăng trên Tuổi Trẻ online sáng nay :

    “MÊ TÍN

    TT – 16 dân làng đã đồng lòng giết chết một người vô tội chỉ vì tin rằng người này có bùa chú thư yểm. Chuyện không thể tin được này xảy ra đầu năm nay ở xã Tân Khánh Hòa, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang”

    (tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Phap-luat/405723/Me-tin.html)
    _______________________

    Khủng khiếp thật ! Chuyện xảy ra tại VN trong thời đại Internet. Đạo Phật chính thống truyền dạy từ Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni định nghĩa mê tín là: “tin mà không hiểu”, rất đơn giản. 16 người dân làng trông rất hiền lành chất phát, nhưng họ đã tin chắc như đinh đóng cột rằng nạn nhân có bùa chú thư yếm, họ đâu có hiểu gì về hậu quả của hành động sát nhân.

    Chắc tôi không cần nhắc lại ba câu kệ của ông bạn Trần Quốc Việt

  9. Lê Anh Dũng viết:

    Một vấn đề đã làm hàng trăm ngàn mạng người Việt Nam đã bỏ mạng trong gần 5 thế kỷ qua vẫn tiếp tục tồn tại tại Việt Nam vào thế kỷ 21, đã được bác Trung Thứ gián tiếp nêu ra.

    Trong thế kỷ 18 và 19, có khoảng từ 130 ngàn đến 300 ngàn người Công giáo bị giết vì đạo.
    (http://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_Th%C3%A1nh_C%C3%B4ng_gi%C3%A1o_Vi%E1%BB%87t_Nam , http://diendan.giaolybinhan.com/showthread.php?t=10 … ).

    Sự giết hại tín đồ Công Giáo không chỉ tới từ triều đình mà còn xuất phát từ dân chúng, từ giới sĩ phu như phong trào Cần Vương, Văn thân với chủ trương “Bình Tây, Sát Tả”. Nói cách khác đây là một phản ứng đại chúng.

    Nguyên do chính, theo tôi, được Trung Thứ minh họa rất hàm súc qua phát biểu 14/10/2010 lúc 6:21 sáng trong thread này “Một người cha là Ki-tô hữu chắc chắn không thể hài lòng, nếu biết sau khi mình qua đời con cháu sẽ thờ phượng mình như là thờ phượng Thiên Chúa chứ không chỉ tôn kính, tưởng nhớ”.

    Xung đột đã xảy tới từ cái nhìn như trên của Trung Thứ. Từ cái nhìn này, việc thờ cúng tổ tiên bị người Ki-tô hữu từ bỏ, và sau đó thành bài xích, thậm chí một số người cực đoan còn xem bàn thờ kể cả bàn thờ tổ tiên là nơi trú ngụ của ma quỷ (đây là chuyện đang xảy ra với một số tín hữu Tin Lành mà tôi biết, và trong gia đình tôi !!!), và nguyên nhân này quan trọng hơn tất cả các nguyên nhân khác. Hơn thế, đây không phải là một cái nhìn, một nhận xét vô thuởng, vô phạt, nhưng đã được rao giảng trên toà giảng, củng cố, xác quyết từ đời này sang đời nọ bởi các nhà truyền đạo Ki-tô giáo: Công Giáo từ 1533, sang năm Tin Lành sẽ kỷ niệm 100 năm tới Việt Nam tại Đà Nẵng vào tháng 6-2011.

    Minh họa của Trung Thứ cho thấy một cách đặt vấn đề sai, HOÀN TOÀN SAI nhưng được áp dụng ở Việt Nam bởi các nhà truyền giáo Ki-tô (Công giáo, Tin Lành) từ buổi đầu Ki-tô giáo du nhập vào Việt Nam.

    Bò có 2 sừng, nhưng không phải tất cả những con vật có 2 sừng là bò. Bản chất, tính cách của sự thờ phượng Thiên Chúa hoàn toàn khác sự thờ phượng, kính ngưỡng tổ tiên hay các vị tiên hiền, danh nhân có công với đất nước, cộng đồng; dù tùy theo văn hóa địa phương, điều kiện sinh sống vật chất của tín đồ mà sự kính ngưỡng, thờ phượng có thể có chung một hình thức nào đó. Sự kính ngưỡng có thể quan sát thấy ở 4 bình diện: 1. gia đình – giòng tộc – cộng đồng, 2. quốc gia, 3. thiên hạ, 4. vũ trụ; nhưng bản chất, tính cách của chúng hoàn toàn khác nhau. Làm sao có thể đánh đồng nội dung của sự kính ngưỡng ở 4 bình diện khác nhau lại làm 1, dù rằng chúng có thể chia xẻ cùng một ngôn ngữ, hình thái nào đó?! Đánh đồng tất cả như nhau là một lỗi lầm vô cùng trầm trọng về nhận thức, lý luận. Chấp nhận sự đánh đồng như vậy từ đời này sang đời khác là một sự u mê. Ở thế kỷ 21 là một điều phải chỉ rõ, nghiêm khắc lên án vì nó là cái nôi của hận thù, giận dữ không đáng phải có.

    Sau gần 500 năm vào VN, người Công Giáo VN đã thấy vấn đề. Nhưng nguời Tin Lành VN còn vô ý thức hay đang xem thuờng vấn đề này, dù đã có nhiều tiếng chuông báo động nếu biết tinh nhạy, lắng nghe. Chúng ta đang ở thế kỷ 21, một thế kỷ bùng nổ thông tin, sự đối thoại liên tục được nhắc nhở , nhưng nếu tôi vào một nhà thờ hay một cộng đồng Ki-tô hữu nào mà bài xích cách thờ phượng hay phát biểu đây là chốn thờ ma qủy, thì nhẹ nhất tôi phải chịu là sự ác cảm, nặng hơn là có thể ăn một cái tát, ngay cả bỏ mạng tại chỗ nếu là một xứ đạo thuần thành.

    Trở về những thế kỷ 16, 17, 18, 19, 20 ở Việt Nam, nơi mà ý thức hệ Khổng giáo ăn sâu hàng ngàn năm, thờ cha, kính mẹ (cho tròn chữ hiếu, mới là đạo con) không là một tôn giáo nhưng là một căn cuớc, thì việc Ki-tô giáo đánh đồng 4 bình diện kính ngưỡng gia đình – giòng tộc, quốc gia, thiên hạ, vũ trụ lại làm 1, và do đó bài xích hay ngăn cấm tín đồ thờ cúng tổ tiên ắt phải gây ra một xung đột văn hóa, sự xung đột không nhất thời mà kéo dài từ năm 1533 qua mấy thế kỷ, minh chứng bởi những con số ghê khiếp là có thể có tới 300.000 tổ tiên Việt Nam bị bách hại. Trách nhiệm nhúng tay vào máu trước tiên nằm ở người tấn công, nhưng trách nhiệm lớn nhất là ở sự diễn dịch Kinh Thánh của những người truyền đạo một cách bất dung, nghèo nàn, vơ đũa cả nắm, đụng tới bản thể của căn cuớc, khích động sự bất dung bằng một đánh giá bất dung, hành xử bất dung.

    “Tinh thần Ki-tô giáo cuối cùng lại là xoáy vào mối tương quan giữa mỗi cá nhân với và Thiên Chúa và giữa mình với tha nhân, bất kể tha nhân là ai, sao cho trọng vẹn một chữ Tình Yêu”. Đúng là Tình Yêu, sự khoan dung (ai tát má trái, chìa má phải), sự hiếu kính cha mẹ (1 trong 10 điều răn) đều hiện diện trong Kinh Thánh, nhưng không thể chối cãi được là vô số những điều bất dung, tàn ác cũng hiện diện trong Kinh Thánh, và những điều bất dung này hoàn toàn có thể được các nhà truyền giáo dẫn ra như dẫn văn bản gốc, để biện chứng hay ít nhiều làm cơ sở cho lời rao giảng. Để có nhận định đúng đắn khi xem xét về sự cao thượng, khoan dung của một tôn giáo, một hệ thống chính trị thì nên nhìn vào những điều khắc nghiệt, những góc tối tăm của tôn giáo hay nền chính trị đó hơn là chỉ chú mục lên những điều cao đẹp mà ai cũng có thể tuyên xưng.

    Tôi không có ý định nêu ra vấn đề này như một tiết mục nhàn đàm, nhưng nó thực sự là một vấn đề vô cùng đau nhức cho tôi, làm tôi ăn không ngon, ngủ không yên, buồn rầu cho con tôi khi nó được huớng tới từ bé thơ một lối suy nghĩ và ứng xử bất dung, khi tuyệt đại đa số tín hữu Tin Lành Việt Nam, một số thân bằng quyến thuộc của tôi vẫn suy nghĩ và hành xử như những tín hữu Công Giáo Việt Nam tiền Vatican II, khi sinh mạng của hàng trăm ngàn tổ tiên Việt Nam đã mất đi mà không đủ để cho hậu thế một bài học cụ thể, xứng đáng, khơi gọi suy nghĩ, hành động của con cháu. Trên các diễn đàn, những lời trao đổi vẫn hời hợt, qua quít, vẫn là đi cho mòn bóng những lối mòn suy nghĩ, phát biểu của thế hệ trước.

    Công Giáo VN với quá trình truyền đạo vào VN từ năm 1533, với quan sát thu lượm trên khắp thế giới đã rút bài học, đã không còn máy móc suy nghĩ và áp dụng lối cũ, mà phân biệt rõ hơn hình thức, nội dung, hoà nhập với văn hóa bản địa để rao giảng Tin Mừng.

    Tin Lành VN, vào Việt Nam được 99 năm. 99 năm là một thời gian qúa ngắn trong qúa trình du nhập một cái mới vào một đất nuớc không hề vắng bóng tôn giáo, tư tưởng. Như một đứa bé chập chững, vấp ngã, va chạm là điều không tránh khỏi. Dù niềm tin tôn giáo có quán tính lớn hơn tất cả những thứ khác vì được gieo trồng từ ấu thơ, ăn sâu vào tiềm thức, nhưng thế kỷ 21 vẫn cung cấp vô số những công cụ khách quan để giúp chúng ta nói yêu thương, khoan dung và thể hiện chúng thay vì sống bất dung, đố kỵ với những hình thức khác biệt, là tiền đề cho những thù hận, chém giết.

    Tin Lành VN tới với những người thiếu kém trước tiên, vì đây là 1 trong 2 con đường thường dùng khi truyền đạo: từ dưới lên hoặc từ trên xuống. Những người Tin Lành VN đầu tiên là những người thiếu kém, học vấn, hiểu biết hạn chế. Khuynh huớng tự nhiên của những người thiếu kém là tôn trọng như khuôn vàng, thước ngọc những bài học đầu tiên từ những ông thầy là những nhà truyền giáo Tin Lành Tây Phương chưa quen thuộc với miền đất mới, và những người Tin Lành VN đầu tiên đã không học hỏi với một tinh thần phán đoán những điều rao giảng bởi những ông thầy còn sượng, vì chính ông cũng mới tiếp xúc với một văn hoá khác hẳn mà chưa ai trước ông trong đạo của ông đã phải ứng phó. Thầy đồng hoá các loại thờ phượng thì trò cứ thế mà lập lại. Chỉ cần 2, 3 thế hệ sàng lọc bởi cách suy nghĩ khép kín thì thế hệ sau mất hẳn khả năng phán đoán, suy nghĩ, dù là họ có thể tốt nghiệp đại học; tương tự như một computer, khi signals bị filter lọc từ đầu những tín hiệu ngoài luồng, thì processor có mạnh, tốt tới đâu cũng chỉ biết xử lý những thông tin đã bị hạn chế. Sự thiếu phán đoán này lại cộng huởng với tinh thần Đức Tin của Ki-tô giáo làm người Tin Lành VN chưa nhận ra, hoặc không muốn thấy những vấn nạn bức thiết mà Công Giáo VN đã vấp, đã thể hiện gay gắt và làm vài ba trăm ngàn tổ tiên VN mất mạng. Làm lơ, hoặc giải thích lấy được kiểu đẽo chân cho vừa giày, thì người Tin Lành VN đang lập lại những vấp ngã cũ của người Công Giáo VN.

    Cám ơn bác Trung Thứ đã “được lời như cởi tấm lòng” cho tôi. Nêu vấn đề này ở thread này có vẻ không đúng chỗ, nhưng theo thiển ý là đề cập tới những vấn nạn thiết thân, cũng quan trọng như việc bồng bềnh, bay bổng trên những cao đàm, khoát luận về tôn giáo.

  10. tracy viết:

    Ngôi chùa Chân Nguyên ở một vùng hẻo lánh Nam Cali. Nghe kể rằng tại ngôi chùa này, Phật Bà Quan Âm đã hiện ra nhưng những dân Latino sống gần đó thì cho rằng đám mây trắng ở chùa là do Đức Mẹ Maria xuất hiện. Đối với nhiều người khác , đám mây đó cũng chỉ là đám mây bình thường, chẳng phải Phật Bà hay Đức Mẹ xuất hiện. Cùng là đám mây nhưng mỗi người diễn đạt theo cách nhìn của mình, và họ nghĩ chỉ có ý kiến mình là đúng.
    Riêng về vấn đề Phật Ngọc, khoác lên cho bức tượng làm bằng là mang ánh sáng Hòa Bình đến muôn nơi, tôi cảm thấy có vẻ áp đặt cho bức tượng này . Không lẽ Phật Gỗ không thể mang lâi bình an cho người Phật Tử. Nói như vậy không có nghĩa tôi khiêu chiến, khích bác lại đạo Phật. Cách đây gần 20 năm lúc tôi đang thực tập tại nhà thương trên Los Angeles, nhà thương này là nhà thương công, chữa bệnh cho tất cả mọi người không có một bảo hiểm y tế nào. Hôm toán tôi trực chúng tôi có nhận bệnh nhân là vị sư người Tích Lan , vài hôm sau lành bệnh, ông ra về và cho tôi một chuỗi đeo tay bằng ngọc giả(vâng, ngọc Giả) để tôi lần tràng hạt, giá trị chưa đến 5 đồng . Hai chục năm trôi qua, bao nhiêu lần thay đổi chỗ ở nhưng lúc nào tôi cũng nhớ mang theo chiếc vòng ngọc giả này và trên trọng để trên bàn thờ cha mẹ tôi, chính nó mang lại sự bình an cho tôi cho dù nó chỉ là chuỗi ngọc giả.

  11. Anh Dũng viết:

    “Cô gái xuân xanh” bỏ cuộc chơi là do tác nhân bên ngoài, do đi lấy chồng; còn vị nào bỏ “cuộc chơi tôn giáo” này là do tác nhân bên trong, do nhận hệ lụy của “tự do ngôn luận”.

    Ông Quốc Việt dẫn thơ khập khiễng, ông Mai Linh hùa theo, ông Trương Đức khen rằng đó là tâm hồn Việt, chất Việt rất…hiếm.

    Tôi tâm đắc với chứ “HIẾM” này của ông Đức, chữ “HIẾM” dành cho cả ba ông. Tất nhiên không phải với nghĩa là “quý giá” như nghĩa của ông Đức.

  12. Trương Đức viết:

    “Đưa người, ta không đưa qua sông
    Sao có tiếng sóng ở trong lòng
    Bóng chiều không thẳm, không vàng vọt
    Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

    (trích “Thâm Tâm – “Tống biệt hành”)

    @bác Trần Quốc Việt kính mến,

    Tôi có vài cảm nghĩ sau khi đọc cái PH mới nhất của bác Việt. Xin được chia sẻ với các bác như sau:

    1. Bác Việt có một tâm hồn, một “chất”, rất Việt, mà hiếm người trong số chúng ta có được. Trích dẫn bài thơ của Hàn Mặc Tử, dường như bác Việt đang “thất vọng” về một điều gì đấy trên diễn đàn talawas này của chúng ta. Tôi suy nghĩ “mông lung” lắm về cái sự “bỏ cuộc chơi” của bác Việt. Phải chăng những PH của chúng ta đang đi “lệch hướng”? Phải chăng có một số PH đã “đụng chạm” không đúng chỗ? Phải chăng…, phải chăng…? Tôi không biết. Nhưng dường như trong tôi cũng có cảm giác giống của bác TQV, tức là, tôi cũng cảm thấy là “đã đủ”.

    2. Khi đọc dòng chữ này của bác Việt: “mong sao địa ngục lúc nào cũng trống rỗng và thiên đường ngự xuống trần gian”, tôi bỗng liên tưởng đến cái “thiên đường trần gian” này. Phải chăng ý nghĩa của câu thơ “Nước ngàn năm u mê” là ở đây? Phải chăng đã luôn tồn tại một “địa ngục trần gian” lúc nào cũng đông đúc mà “dân nước Việt” do u mê mà “ngàn năm không biết”? Phải chăng, cũng do “nước ngàn năm u mê” mà nhiều người trong chúng ta khi nhìn “Phật Ngọc trong mắt ai”, chúng ta chỉ thấy “sao đầy hoàng hôn trong mắt trong”

    Mong gặp lại bác Việt sớm ở những bài viết khác!

  13. Trần Quốc Việt viết:

    Bạn Nguyễn Mai Linh,

    Tôi đã sắp lên tàu rồi nhưng ngoái nhìn lại thấy phản hồi của bạn “đưa tiễn” thấy không thanh thản đi được nên nán lại nói đôi lời hy vọng là lần cuối.

    Hiếm có cuộc tranh luận nào mà có ảnh hưởng quyết định đến việc thay đổi quan niệm tâm linh của con người. Tôn giáo là bãi mìn mà kẻ đi vào lại thường mang kính đen của định kiến. Tệ nhất là mìn nổ liên hoàn gây thương vong không cần thiết trên một diễn đàn mà xưa nay vốn tương đối bình an. Tốt nhất là rồi đây trong số những kẻ tham gia game này (chữ của bác Nguyễn Đăng Thường) chắc có đôi người nghĩ lại. Giữa hai tình huống tận cùng đó là biết đâu cái ngộ thêm điều gì đấy cho cá nhân nào đấy trong số những độc giả bên lề.

    Cuộc chơi nên tàn đúng lúc nếu không thắng thua không thấy, chân lý không thấy, mà ai cũng lấm bùn. Tôi hiếm khi viết phản hồi mà thích đọc các phản hồi của các bác trên talawas, và đôi lúc tôi nhặt được những viên ngọc tri thức không ngờ. Chẳng đặng đừng tôi mới tham gia vào thế chiến tôn giáo thứ n lần này trên talawas vì tên tôi được nhắc đến quá nhiều lần.

    Có dân tộc coi thờ phụng cha me đã qua đời là có hiếu, ngược lại ở Châu Phi có dân tộc coi việc ăn thịt cha me là có hiếu vì họ tin máu huyết cha mẹ nên luôn luôn hiện diện bên trong thân thể của mình. Hay câu nói “mọi con đường đều dẫn về La Mã” theo tôi là chưa hẳn đúng. Có nhiều con đường không bao giờ đến được La Mã, có con đường đi quá xa La Mã. Như vậy làm sao tìm ra được “chân lý”. Và càng bất khả hơn nữa khi tôn giáo không dựng lên bởi chân lý, mà dựng lên bởi niềm tin, mà niềm tin lại mang tính cá nhân.

    Tàu chạy rồi. Tôi chúc bác và các bác khác can trường ở lại. Hy vọng “mặt trận miền tây vẫn yên tĩnh”.

  14. nguyen mai linh viết:

    Nước ngàn năm u mê

    … Là thế đó

    Người Việt, những người không thông minh u mê đã đành, nhưng người thông minh nhưng vẫn u mê thì đó là cái u mê được nhân lên nhiều lần tương ứng với cái chỉ số IQ.

    Mục đích là tranh cãi lấy được chứ không phải là đi tìm chân lý. Không tìm ra được chân lý thì ta còn u mê lắm.

    Chừng nào mà chúng ta còn lý luận theo kiểu

    Không đục không trong
    Không sai không đúng
    Không trước không sau
    Không có không không

    Thì chúng ta, người Việt Nam trong nước lẫn hải ngoại, còn u mê dài dài.

    Viết một vài câu đưa tiễn người

    “Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
    Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi…”
    Trích (Hàn Mặc Tử, Mùa Xuân Chín)

  15. Trần Quốc Việt viết:

    “Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
    Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi…”
    Trích (Hàn Mặc Tử, Mùa Xuân Chín)

    Tôi xin “bỏ cuộc chơi” phản hồi này vì cảm thấy đã đủ. Thắng thua đúng sai không quan trọng. Cuộc chơi này như cơn sóng biển xô dạt nhiều ngôn từ và tư tưởng hội tụ lại từ nhiều nơi. Chúng tụ lại rồi tan ra theo kiểu “hồn ai nấy giữ ” hay “phụ huynh nào lo cho con em đó.”

    Mùa Haloween lại về. Những thiên thần nhỏ trong lốt ma quỷ sẽ xuống đường xin kẹo. Không biết ma quỷ ở địa ngục có đòi các công ty sản xuất đồ hoá trang Haloween tiền tác quyền hình ảnh của họ, hay họ có nhớ đến những mùa đi xin kẹo khi họ chưa là ma quỷ, chỉ là những thiên thần bé nhỏ thơ ngây.

    Mong sao địa ngục lúc nào cũng trống rỗng và thiên đường ngự xuống trần gian. Và ít ” Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi …” trên quê hương khi đem thân lưu gởi nơi xứ người từ kẻ di tản, người vượt biên, phận gái trên xứ Hàn, hay những người rơm lang thang khắp trời Âu.

1 5 6 7 8 9 10
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...