talawas blog

Chuyên mục:

Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai

08/10/2010 | 12:58 sáng | 141 phản hồi

Tác giả: Trần Kiêm Đoàn

Chuyên mục: Tôn giáo
Thẻ:

Đã hơn một năm rưỡi, thường xuyên xem hình, đọc bài viết, nghe lời luận bàn, theo dõi tin đồn về Phật Ngọc[1] và hiện tượng Phật Ngọc, nhưng mãi đến hôm nay tôi mới được tiếp cận và chiêm bái trong thầm lặng riêng tư với Phật Ngọc ngay giữa rừng người. Quá trình nghĩ vềđến với trong mối liên hệ nhân quả có khi chỉ là một. Nhân quả đồng thời. Nhân quả nối đuôi nhau trong chớp mắt. Nhưng cũng có khi là con đường dài biền biệt, có khi hết cả đời không mong gì thấy được nhân thành quả. Mây trắng có thể chẳng bao giờ thành mưa nếu trên đường gió lộng gặp trời xanh và nắng ấm. Nghĩ vềthực chứng là đi từ hư đến thật; từ vọng đến chân.

Sáng Chủ nhật (3-10-2010), tại chùa Kim Quang, thành phố thủ phủ tiểu bang California, theo sau những nghi lễ đầy âm thanh và màu sắc, tượng Phật Ngọc đã chính thức được trưng bày trước đại chúng. Hơn một trăm tăng ni và sáu nghìn người (theo quan sát và ước tính của nhật báo Sacramento Bee[2]) gồm quan khách đồng hương cũng như người nước ngoài, thân hữu và Phật tử tham dự nghi thức khai mạc lễ hội cung nghinh Phật Ngọc. Khi toàn hình ngôi tượng được trưng bày trong âm thanh trầm vọng của tiếng cầu kinh niệm Phật hòa quyện với tiếng vỗ tay nồng nhiệt của đại chúng, tôi mới chợt hiểu nghệ thuật biểu hiện tâm linh có con đường bay riêng của nó mà phương tiện diễn đạt của ngôn ngữ và tranh luận của lý trí sẽ trở thành bất lực, vô phương.

Khai mạc Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại chùa Kim Quang, Sacramento

Bên cạnh tiền đình với nhiều đường nét mỹ thuật của ngôi chùa Kim Quang mới được tái tạo và khánh thành chưa lâu là lễ đài tôn trí tượng Phật Ngọc. Màu xanh ngọc bích bóng ngời của thân tượng phản chiếu nắng vàng mùa Thu nổi bật giữa rừng áo vàng của quý tăng ni, hòa với màu lam dịu hiền của nhiều đơn vị Gia đình Phật tử khắp nơi tụ về đã tạo thành một bức tranh mang tính pháp hội thật nhu hòa mà cũng sinh động đầy thu hút.

Gặp dịp, tôi dán mắt mình quan chiêm ngôi tượng Phật bằng Ngọc để cố tìm cho ra những đường nét hiển hiện đầy thiêng liêng mà nhiều người đã từng ca tụng. Nhưng tất cả hiện ra trước mắt tôi là một tác phẩm điêu khắc mỹ thuật tạc ra từ một chất liệu vật thể quý hiếm mang bóng dáng đức Phật. Thật ra, mọi hình tướng tượng đài tự bản chất là một sự phỏng định không quy ước. Đó chỉ là cách thể hiện cụ thể cái “sự” bắt nguồn từ cái “lý”; cái dụng thể hiện cho cái ứng. Vì vậy, càng tranh luận hơn thua, đúng sai, tốt xấu, cao thấp về niềm tin tôn giáo “linh tại ngã, bất linh tại ngã” càng có cơ dẫn tới sự xung đột cá nhân và phân hóa tình người chẳng có lợi cho ai mà chỉ làm dày đặc thêm bóng tối vô minh của cực đoan và chấp ngã.

Mãi đến khi mắt rời ngôi tượng, quan sát chung quanh, tôi mới thật sự bắt gặp những gì mình chưa thấy qua đôi mắt trần vật lý. Đó là hình ảnh phản chiếu long lanh hình tượng Phật Ngọc trong đôi mắt của hàng nghìn người đang chiêm bái. Tâm thế nào thì ảnh tượng Phật Ngọc sẽ hiện ra trong mắt như thế ấy. Sự mặc khải của dòng trực cảm tâm linh không  đo lường hay dò tìm được bằng những phương tiện phàm trần quy ước. Sẽ không ai có đủ khả năng phân tích và lý giải được những gì thuộc về phạm trù tâm linh, tôn giáo trước một khối người đông tới sáu nghìn quanh khuôn viên chùa Kim Quang hôm nay. Tất cả đều như đang trầm lắng lại bằng sự tĩnh tâm quan chiêm cùng một đối tượng: Phật Ngọc.

Xin nghỉ chân rong chơi một chút loanh quanh dòng  Tâm lý Trị liệu Thực hành (Practical Psychotherapy) hiện đại. Những tay nghiên cứu tâm lý sừng sỏ thường nói đến sự vi tế và giao hưởng đầy sinh động của năng lượng, sóngtần số xuất phát từ tâm thức và đời sống thực tế của mỗi con người. Năng lượng lành (thanh khí), năng lượng ác (trọc khí) vần vũ xuôi ngược thường xuyên trong trời đất bao la từ vô thủy đến vô chung. Năng lượng nhiều hay ít tùy theo sóng cao thấp của thể lý và tâm linh. Sóng lớn hay nhỏ, vi tế hay thô trần tùy theo mức độ lành hay dữ của năng lượng. Tần số là cửa ngõ phát tán và thu hút năng lượng. Cửa ngõ mở rộng, đóng hờ hay khép kín đều phát xuất từ tâm và thức. Xin nhớ lại chuyện “Đi Chùa Hương”: Cô bé bận quần lĩnh áo the mới đi lễ hội chùa Hương với Thầy Mẹ. Chàng thư sinh lòng phơi phới lên chùa chiêm bái. Năng lượng lành xuất hiện. Cả hai không quen nhau nhưng cùng được tưới tẩm trong dòng suối tâm linh “Nam mô A Di Đà” của đại chúng. Mỗi bên đều phát tán và thu nhiễm năng lượng của bên kia. Thuyền càng tới gần chùa, làn sóng tâm linh của cá nhân và đại chúng càng cuồn cuộn vực dậy trong biển năng lượng thanh thoát của vạn lời cầu nguyện phát ra từ những tâm thành. Tần số tâm thức của đôi lứa thanh xuân cùng cường điệu bắt gặp nhau nhẹ nhàng và tự nhiên như đến từ tiền kiếp: “Em ư? Em không cầu. Đường vẫn thấy đi mau. Chàng cũng cho như thế.  Ra ta hợp tâm đầu.

Sự nghiên cứu về năng lượng, sóng và tần số thuộc về lĩnh vực tâm linh của khoa Tâm lý Trị liệu Thực hành khởi từ thời đại cổ sơ của người thượng cổ khi chưa có hình thức tôn giáo ra đời. Phật và Chúa mấy chục nghìn năm sau mới xuất hiện. Đó là khi loài người thực hành nếp sinh hoạt tâm linh qua những hình thái bái vọng thiên nhiên hay ngẫu tượng. Tiến thêm bước nữa là thời kỳ Bái Vật giáo; rồi Phiếm Thần giáo, Đa Thần giáo. Nhiều bộ lạc chỉ chiêm bái và thờ cúng một tảng đá đầu truông, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông đầu làng mà họ hết lòng tín cẩn và cầu nguyện. Khi những năng lượng tâm linh vi tế ẩn chứa phần lớn là năng lượng lành của một khối người có chung một tảng đá, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông… làm đối tượng “chứng tri” thì năng lượng lành hay sóng, tần số tâm linh của cả một khối người đông đảo có sự tương tác giao thoa. Đó là một gia tài tâm linh tích lũy càng ngày càng lớn của một tập thể có chung niềm tin trong cùng một tín hiệu. Gặp khi nguy biến, thành tâm cầu nguyện là lúc cá nhân bị nạn “giải mã” (như mở password ngày nay) để nhận nguồn năng lượng lành đã tích lũy.  Nếu minh họa bằng hình tượng cho dễ hiểu thì cũng tương tự như hoạt động tích lũy và sử dụng tài sản – gởi và rút tiền – qua trương mục của một ngân hàng trung tâm. Kẻ tích thiện làm lành có vốn giàu to. Kẻ độc ác sẽ bị trắng tay hay phá sản[3].

Với tinh thần Phật giáo “vô lượng pháp môn tu” – thì những ý kiến cá nhân hay nhóm phái chủ quan, cảm tính, cực đoan là phi Phật giáo vì đi ngược lại con đường Trung Đạo cố hữu của nhà Phật. Nói và viết về đạo Phật – con đường thênh thang mây trắng – mà phải nhăn trán, nhíu mày loay hoay mãi với tâm lý uẩn ức tiêu cực quanh mấy chuyện được thua, giàu nghèo, có không… trong giới hạn cá nhân nhỏ hẹp để khích bác và đối kháng lẫn nhau thì thật là uổng phí thời gian tĩnh lặng giữa cuộc đời ngắn ngủi. Thú vị chi ngồi khuấy tách trà làm bão tố phù du!

Sáng hôm nay 4-10-2010, đọc bài tường thuật của phóng viên Stephen Magagnini của nhật báo Sacramento Bee về lễ khai mạc cung nghinh Phật Ngọc tại Sacramento với tiêu đề “Jade Buddha draws throng praying for peace, health and prosperity” (Phật Ngọc làm dấy lên lời cầu nguyện đa dạng cho hòa bình, sức khỏe và phồn vinh.) Nội dung bài báo tương đối xứng hợp với tiêu đề đưa ra. Trước đó vài tuần, khi tượng Phật Ngọc còn đang trưng bày ở San Jose, thành phố có đông người Việt thứ nhì tại tiểu bang California sau Quận Cam, phóng viên Bruce Newman của nhật báo địa phương Mercury News, số ngày 15-9-2010 đã viết bài tường thuật về lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại đây dưới tiêu đề “The Jade Buddha, symbol of peace and harmony, everywhere but in San Jose” (Phật Ngọc, biểu tượng của hòa bình và hòa hợp khắp mọi nơi, ngoại trừ San Jose.)[4]

Thật ra, đứng trên quan điểm tôn giáo nói chung, Newman đã dẫn chứng các sự kiện và nhân vật trong cộng đồng người Việt tại San Jose mà ảnh hưởng và tác dụng của vấn đề cần đặt trong bối cảnh chung của tình hình xã hội và chính trị tại địa phương, chẳng có sự liên quan trực tiếp nào đáng kể trên sinh hoạt của Phật giáo tại San Jose. Trên tiêu chuẩn “handbook” của ngành báo chí Hoa Kỳ, Bruce Newman săn tin rất “động” nhưng lại chưa đủ “tĩnh” để có thể hiểu hết thực chất “tướng” và “tánh” – bóng và hình – của một cộng đồng dân tộc và văn hóa “bốn nghìn năm văn hiến” quá nhiêu khê như người Việt Nam.

Trong một bài viết trước đây về Phật Ngọc nhan đề “Phật Ngọc, hình tướng và thật tánh của hoà bình, an lạc”, kẻ đang viết những dòng nầy đã cố gắng ứng dụng đồng thời hai tuyến dữ kiện “động” và “tĩnh” để trình bày một phần quan điểm của mình về Phật Ngọc. Nay trong bài viết tiếp theo nầy, người viết bằng vào diễn biến thực tế và ý kiến của nhiều Phật tử trực tiếp tham dự Lễ Hội để nhận định về tác dụng trực tiếp cuộc du thỉnh “world tour” vòng quanh thế giới của Phật Ngọc đối với cộng đồng Phật giáo Việt Nam.

Xin tạm gác qua lắm chuyện thị phi bên lề diễn biến của tiến trình trưng bày Phật Ngọc liên quan đến sự được thua, hơn kém, to nhỏ, mạnh yếu, khen chê… về thế lực, tài chánh, khả năng tranh chấp quyền lợi; cùng những hào quang dễ dãi và bóng đen vu vạ mà xưa nay trong bất cứ hoàn cảnh nào và thời điểm nào cũng có. Một khi có sự tương tác từ hai người trở lên thì sự va chạm cá nhân và phe phái không thể nào tránh khỏi. Nhà sư Tích Lan, Tikhome Lanka, đã viết trong Pháp Ngữ Diễn Đàn (Dharma, 2001) rằng: “Tôn giáo dính vào tiền bạc và quyền thế tranh chấp đời thường là đang bước lên cỗ xe năng động: Chạy lên trời Đâu Suất hay rớt xuống Địa Ngục dễ dàng như trở bàn tay! Nhà tu ngày nay đến với cảnh giới giải thoát hay cứu cánh đắc đạo thường mua vé xe bằng tiền bạc nên chỉ đi được xe ngựa xe đò; trong lúc đó, cuộc đời quá ngắn ngủi thì phải đi bằng tốc độ tâm linh nhiệm màu nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng mới mong về kịp chốn ước mơ trước khi nhắm mắt xuôi tay!

Trong khi tôi đang viết những dòng nầy tại Sacramento thì đang hàng trăm người từ San Jose, Fresno, Stockton và các vùng lân cận đã kiên tâm chờ đợi tới mấy ngày, nhưng không ít người đã ra về tay không. Hầu hết những người ở xa cho biết là họ đã phải thức dậy từ 2, 3 giờ sáng để lái xe về địa điểm Phật Ngọc, xếp hàng chờ đợi để cố mua cho được một miếng tượng mỏng, nhỏ hơn hai ngón tay. Đại chúng được cho biết và có giấy chứng nhận đây là thành phẩm chiết ra từ khối ngọc chính tạc tượng Phật Ngọc. Tôi quan sát những khuôn mặt chờ đợi phờ phạc nhưng phát nụ cười hớn hở khi vừa ra khỏi cửa với miếng tượng nhỏ xíu trên tay. Cũng đã có quá nhiều lời bình phẩm – trong cũng nhiều mà đục cũng lắm – về ý nghĩa, động cơ và tác dụng của việc mua và bán tượng đeo bằng ngọc nầy. Trong muôn một, tôi thử tiếp xúc với một người vừa mua được tượng ngọc và “phỏng vấn”. Anh cho biết anh là Trần Quốc Mỹ, ở Stockton, đã trải qua “công đoạn” đợi chờ hết sức vất vả suốt mấy ngày mới mua được tượng ngọc. Anh cho biết là đã nghe quá nhiều chuyện thật hư, nhưng “tội ai nấy hứng, ai tu nấy chứng”, nên chẳng quan tâm đến chuyện thị phi, tin hay không tin là do mình. Anh kết luận thoải mái rằng: “Bạc vàng thì có giả, có thiệt do người ta mang tới, nhưng lòng tin là do mình. Mua một niềm tin có khả năng biến thành nguồn vui, hay hơn nữa thành nguồn an lạc thì quả là vô giá. Nhưng ở đây tốn kém chỉ bằng mua một cái vé đại nhạc hội Paris by Night thì cũng là thú vị.” Câu nói của anh làm tôi nhớ tới những hòn đá “tô-tem” làm vật thờ cúng của người cổ sơ.

Ông Trần Quốc Mỹ với tượng ngọc trên tay

Hai mẫu tượng ngọc phát hành trong dịp Lễ Hội cung nghinh Phật Ngọc

Niềm tin tôn giáo, dù chỉ là năng lực vô hình của tinh thần và tâm linh, nhưng lại chiếm ngự phần đời rất lớn của những người tôn giáo. Có tôn giáo hành đạo mỗi ngày năm lần bảy lượt để cầu nguyện. Có tôn giáo khi đã theo là hiến trọn đời mình cho giáo chủ. Đạo Phật thường nói đến con đường từ bi và trí tuệ không phải vì có một pháp môn chuyên nhất đưa tới giác ngộ, nhưng đức Phật đã chỉ ra vô lượng pháp môn hành đạo mà đời thường đưa ra con số làm biểu tượng là tám vạn bốn ngàn. Trên con đường thênh thang tùy duyên ấy, có những hình ảnh quán niệm tĩnh lặng cao thâm; nhưng cũng có lúc phải cần tới “lục thời công phu” và môn phái Tịnh độ hành trì Pháp môn Niệm Phật, giữ cho được “nhất tâm bất loạn” thì niệm Phật thường hằng không lúc nào dứt niệm. Nói tóm lại, đi vào lĩnh vực đức tin tôn giáo là đi vào một thế giới khác mà những tiêu chí và luận lý đời thường không thể nào lý giải và hiểu cho rốt ráo được.

Trong những ngày qua, môi trường truyền thông đại chúng người Việt cũng như người nước ngoài đã đưa ra một lượng thông tin khá phong phú và đa dạng về Phật Ngọc. Khuynh hướng đồng nhất hóa giữa biểu tượng và chân pháp; giữa phương tiện và mục tiêu; giữa lòng tin và lợi dụng; giữa hoằng dương và quảng cáo, giữa lý và sự đã đưa tới nhiều sự duy diễn quá xa vời.

Hiện tại, tượng Phật Ngọc đang được trưng bày tại Sacramento sang ngày thứ tư. Nhiều khách hành hương đã bày tỏ sự tán đồng về danh xưng: “Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc…” vì nó tránh được sự cường điệu và thánh hóa không hợp với tinh thần đạo Phật. Người ta ước mong rằng, nếu lễ hội được mở ra bằng những tấm lòng và ý hướng chân chính tất sẽ thành Pháp hội. Phật giáo cận đại và hiện đại có nhiều khả năng lập ra nhiều Giáo hội nhưng thiếu Pháp hội. Giáo hội là để lãnh đạo và khống chế nhau bằng thế và lực; nhưng Pháp hội là để đến với nhau trong tinh thần hòa đồng, bình đẳng, tin yêu và chia sẻ.

Lời phát biểu của thầy Thích Minh Đạt trong lễ khai mạc đã một phần làm sáng tỏ cho một cách nhìn chánh niệm: “Phật vẽ trên giấy, Phật thêu trên lụa, Phật tạo bằng đất sét, bằng xi măng, bằng thạch cao, bằng tất cả các loại đá trong đó có loại đá quý mà chúng ta gọi là “Ngọc”… tất cả đều không có khả năng mang lại hòa bình cho thế giới. Chỉ có một vị Phật duy nhất có đủ khả năng mang lại hòa bình cho thế giới, đem lại an lạc hạnh phúc cho mọi loài, đó là Phật Tâm (…) Tâm bình thế giới bình.”

Phật Ngọc không ở đâu, không giống định kiến nào, không thuộc về ai cả mà ở chính trong đôi mắt của người nhìn. Cái nhìn xuất phát từ Tâm. Phật Ngọc trong mắt ai… sẽ không giống Phật Ngọc trong tưởng tượng và suy diễn của tha nhân. Phải chăng vì nó không giống ngón tay chỉ mặt trăng mà bởi nó là đôi mắt thật của tâm sinh và tâm khởi trong nguồn năng lượng lành: Ai nhìn nấy thấy.

Sacramento, 4-10-2010

© 2010 Trần Kiêm Đoàn

© 2010 talawas


[1] Sở dĩ có cái phụ chú nầy vì đã có ý kiến phản bác danh xưng Phật Ngọc.Ý kiến này cho rằng “Phật là Phật; là đấng giác ngộ viên mãn chứ không có Phật ngọc, Phật vàng, Phật bạc gì cả).Vì người viết không tự đặt mình ở vị trí để tranh biện về chính danh – định phận hay dính líu vào một hình thức luận bàn hình thức không cần thiết tương tự, nên xin gọi theo thế danh đại chúng về ngôi tượng là Phật Ngọc. Thật ra, mọi danh xưng, danh vị, danh từ tạm dùng để gọi tên vạn pháp theo tinh thần đạo Phật đều là giả danh. Lời Phật: “Chân pháp không phân biệt. Nhìn đúng là nhìn thẳng vào bản lai diện mục của tất cả các pháp đều không có tự tánh nên chẳng chấp trước nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả. Nhìn cành hoa không phải là cành hoa mới thật là cành hoa.”

[2] Xem toàn văn tường thuật tại trang web: http://www.sacbee.com/2010/10/04/3076893/jade-buddha-draws-throng-praying.html

[3] Practical Psychotherapy: Adaptation of dialectical behavior. Gerald Amada. Batam, NY; NY, 2009.

[4] Toàn văn bài viết nầy đã đăng lên mạng lưới toàn cầu, ở địa chỉ: http://www.mercurynews.com/ci_16087076?nclick_check=1

Phản hồi

141 phản hồi (bài “Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai”)

  1. Trung Thứ nói:

    Thưa bác Hòa Nguyễn,

    Ngày thứ sáu hội thánh buộc kiêng thịt chứ không có khuyến khích ăn cá. Nếu khuyến khích ăn cá thì phải ăn vào ngày thứ năm sẽ phù hợp hơn, đó là ngày Chúa dùng bữa tiệc ly với các môn đệ trước khi chịu nạn.

    Lịch sử Giáo hội cho thấy, không phải chỉ ở Việt Nam mà ở đâu cũng thế, Công giáo trước hết đều được đón nhận bởi tầng lớp thứ dân thấp kém trong xã hội rồi sau đó mới ảnh hưởng dần tới giới trí thức, quý tộc, cung đình.

  2. Trung Thứ nói:

    Thưa bác Lê Anh Dũng,

    Tôi không có ý biện luận quanh co hay phủ nhận những sự thật đã từng diễn ra trong qua khứ mà bác đã trình bày,chỉ là có thiện chí trình bày những suy nghĩ của mình mà thôi.

    Theo tôi, hội thánh Công giáo dù có nhận thức rõ bản chất – thí dụ như – của việc thờ cúng ông bà và không ngăn cấm, bài xích nữa thì cũng không có nghĩa đã giải quyết rốt ráo được vấn đề . Những câu chuyện như một Chúa Ba Ngôi, chết sống lại; đồng trinh mà đẻ; khóc lóc, đau đớn, bị bách hại là những mối phúc thật; ăn thịt, uống máu để được sống đời đời thì khắp cõi Đông, Tây này ngoài những kẻ tin có một Đức Chúa toàn năng thì còn ai nghe cho? Chính vì thế, tôi chắc rằng Ki-tô giáo dù bất kỳ nơi đâu thì cũng bị chống đối, bài xích cho tới ngày tận thế.

    Theo tôi biết, cả chục năm qua, có một số linh mục ở Việt Nam cũng có chủ trương kêu gọi hội nhập văn hóa. Tôi thì cho rằng giữa các nền văn hóa, giữa các tôn giáo chỉ có đối thoại để nhìn thấy rõ hơn sự khác biệt của nhau để hiểu nhau hơn mà thôi chứ không có chuyện hội nhập. Văn hóa Đông thuộc về Đông, Tây thuộc về Tây thì hà cớ gì tôi phải hội nhập với anh và tôi cũng không yêu cầu anh hội nhập với tôi. Tôi chỉ mong sao anh cũng tôn trọng tôi như tôi tôn trọng anh là được rồi. Bởi, trong mỗi nền văn hóa đó đều có những giá trị được mỗi cộng đồng tôn vinh, theo đuổi và xem nó có chiều kích tuyệt đối được gọi nôm na là văn hiến của cộng đồng họ vậy. Nó có thể là lòng dũng cảm, trung thực, danh dự bản thân, lòng tinh thần yêu nước, thương người….

    Theo tôi, cũng không thể đồng nhất văn hóa phương Tây với Ki-tô giáo được mà chỉ có thể nhìn nhận rằng nền văn hóa ấy từ 2 ngàn năm trở lại nay đã chịu ảnh hưởng bởi Ki-tô giáo. Ki-tô giáo chẳng thuộc về và cũng chẳng phù hợp với một nền văn hóa nào trên địa cầu này hết cả. Khi bắt đầu rao truyền tin mừng, làm chứng về Chúa cho người phương Tây thì nhóm tông đồ của Chúa thà chấp những lời nhạo báng và cả cái chết chứ không làm cái việc “gọt chân cho vừa dày” là thêm bớt những điều tai nghe mắt thấy để hòng tìm kiếm tín đồ. Do vậy, chẳng hạn, tôi là người Công giáo thì không có nghĩa là tôi thuộc về văn hóa Tây phương.

  3. nguyen mai linh nói:

    Có lẽ đây là bài đầu tiên của bác Hòa Nguyễn tôi đọc từ đầu tới cuối, dù rằng bác nói chỉ viết lan man. Hay là bởi vì viết lan man nên dùng từ dễ hiểu, không có đao to búa lớn kinh kia, kệ này, vì thế làm cho tui hiểu được nên đọc được hết, hay là vì bài viết có cái nhìn khách quan về các tôn giáo làm cho bài viết đỡ ngột ngạt chăng?

    Một chuyện bên lề, cách đây khoảng hơn 10 năm, một anh bạn Canada cùng sở làm cho tôi một bình trà mua từ Do Thái khi anh ta đi du lịch bên đó. Trên bình trà có hình một cái thúng và hai con cá. Thoạt đầu tôi chưa hiểu được ý nghĩa, thì sau đó được anh ta giải thích hình ở bình trà là từ dụ ngôn trích trong kinh thánh Thiên Chúa giáo. Sau đó, tôi để ý, thì thấy hình con cá và miếng bánh rất phổ biến ở xứ Canada này (chắc có lẽ con cá và thùng bánh dễ vẽ chăng?)

  4. Hoà Nguyễn nói:

    Ông Trung Thứ nói: “Ra luật kiêng thịt ngày thứ sáu hội thánh nhắm tới hai mục đích sau: giúp ta tiết độ để tưởng nhớ tới cuộc khổ nạn Chúa chịu vào ngày thứ sáu, và trích phần giúp đỡ những người nghèo khó về mặt vật chất”.
    Xin góp ý lan man chỗ này (về những chuyện tôi chỉ suy đoán).

    Ngày thứ Sáu, người Công giáo ăn cá thay thịt. Tôi thấy cá có thời là một biểu tượng của đạo Thiên Chúa, và ngày nay còn thấy hình vẽ cá trên xe, trên sách của người Cơ Đốc ở Mỹ để chứng tỏ họ (và vật) thưộc về Cơ Đốc. Không biết cá trong tiếng Hy Lạp có nghĩa gì (kinh Thánh đầu tiên được viết bằng tiếng Hy Lạp), hay vì những đại môn đồ đầu tiên của Jesus là người xứ (biển cạn) Galilée, chuyên nghề đánh cá, ăn cá (Jesus ví việc truyền đạo như việc đánh bắt cá). Cũng không biết trong tiệc Ly cuối cùng Chúa Jesus và 12 môn đồ ăn cá hay ăn thịt. Trong các phép lạ Chúa làm chỉ thấy nóí ngài biến bánh và cá từ ít ra nhiều, chứ không nói tới thịt. Vậy có thể cá gần gũi với đời sống thường ngày của người Thiên Chúa giáo ban đầu, và thứ Sáu ăn cá có thể còn mang ý nghĩa cũng muốn trở “về nguồn cội” của người theo đạo sau này ?

    Tôi thấy ở Á Đông, đạo Phật cũng có thời bị cấm đoán, bách hại (trong đạo Phật gọi là pháp nạn), nhiều hơn đạo Thiên Chúa, mà có thể vì khác biệt văn hóa đi đến hiểu lầm, nghi kỵ, xung đột, và những lý do chính trị khác. Thời Hậu Chu bên TQ, hàng chục ngàn chùa bị phá, hàng triệu tăng ni bị bắt hoàn tục, xung vào quân đội, dân chúng cấm không được tiếp tế, cung cấp thực phẩm cho chùa. Sau thời đó, chỉ những chùa theo Thiền tông, lập lên ở nơi rừng núi hẻo lánh, tăng nhân tự nuôi thân được bằng chính tay canh tác, lao động mới tồn tại và phát triển. Ở Hàn quốc, từ thời Lý do quá thiên trọng đạo Nho, trong hơn hai trăm năm đã cấm đoán đạo Phật, bắt buộc chùa phải xây cất ở nơi xa cư dân, xa thành thị, nên đạo Phật (không còn tín đồ) ngày càng mai một (đến nay số Phật tử ở Nam Hàn chi gần bằng số người theo Thiên Chúa giáo, chiếm chừng 30% dân số). Các giáo sĩ tây phương, theo kinh nghiệm truyền giáo từ thời đế quốc La Mã, biết rõ nếu cải đạo được người hay giới cầm quyền thì mau biến một “dân ngoại” thành “con cái Chúa”, nên ở TQ và VN họ từng nhắm vào mục đích đó nhưng không thành công bao nhiêu, vì ảnh hường Nho giáo và Phật giáo ở đấy còn mạnh. Chuyện các bà hoàng phi của vua Lê, chúa Nguyễn theo đạo Thiên Chúa được ghi chép lại trang trọng. Trái lại, thực tế ở TQ và VN họ thành công trong việc cải đạo dân nghèo, ít chịu ảnh hưởng của đạo Khổng và đạo Phật. Theo ông Nguyễn Văn Trung (công giáo), việc truyền giáo tại VN thành công nhất ở dân nghèo sống vùng ven biển, như Hải Dương, Nam Định (Bắc) và Vĩnh Long, Bến Tre, (Nam). Nhưng thấy cũng có ngoại lệ. Ở Trung Quốc, Hồng Tú Toàn và những người thân cận là những nhà nho không thành đạt, theo đạo Cơ Đốc, đã lôi cuốn được đám đông nông dân nghèo, và suýt chút nữa thì chiếm được cả nước TQ trong tay nhà Thanh. Nhưng từ khi vào được Nam Kinh, thế lực họ suy yếu dần (phần do tranh chấp nội bộ), và đi đến tan rã, có lẽ một phần khác vì đa số dân TQ lúc đó tuy chống Thanh nhưng không ủng hộ nhóm lãnh đạo theo tôn giáo quá mới (quân Thái bình TQ phá huỷ nhiều ngôi chùa, tàn sát tăng nhân ở vùng họ chiếm). Trong lúc đó, vua Tự Đức cuối cùng buộc cấm đạo nghiêm ngặt hơn có phải vì lo sợ VN sẽ có đại loạn gây ra bởi những nhóm như Tháí bình bên TQ ? Nhìn lại lịch sử trước đó, Tây sơn đã phá chùa, lấy tượng đồng đúc súng, cướp bóc các giáo sĩ, giáo dân, cướp và tàn sát cộng đồng Hoa kiều (nhất là trong Nam), nên ít ra bị hai hoặc cả ba lực lượng đó chống lại. Chúng ta thấy giám mục Bá Đá lộc rất nhiệt tình giúp Nguyễn Ánh chống Tây Sơn (cũng có thể đồng thời nhắm đưa hoàng tử Cảnh đã cải đạo lên làm vua), và các người gốc Hoa kiều như Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức, Chu Văn tiếp, Ngô Tòng Châu, Trịnh Hoài Đúc hết lòng phò giúp Nguyễn Ánh phục quốc. Và nếu việc cầm đạo bắt đầu từ thời Minh Mạng có lẽ vì ông muốn loại bỏ ảnh hưởng, thế lực đạo Thiên chúa trong triều đình và ngoài dân chúng (ngày càng đông).

    Ông Trung Thứ và Lê Anh Dũng nhận định xa gần về một mặt có lẽ đúng. Đạo Thiên Chúa (và sau đó Hồi giáo) bắt nguồn từ đạo Do Thái, ít có tính khoan nhượng trong đức tin và giáo điều. Lại cũng còn là vì quan điểm tây phương ít nhiều cực đoan, và riêng trong tôn giáo luôn đòi hỏi lằn ranh giữa thiện với ác, đúng với sai phải rất rạch ròi, khác với cách nhìn dung hợp hơn của đạo học Đông phương, cả ở Ấn Độ và Trung Quốc

  5. Lê Anh Dũng nói:

    @bác Trầm Kha,
    Kỹ sư chỉ là một nghề nghiệp rất khiêm tốn và đông đảo người làm nghề này, nhưng nó cho tôi thói quen nhìn vấn đề một cách thực tiễn, nó cũng cung cấp một số phương pháp suy nghĩ, mô hình hóa vấn đề khá tốt, thực dụng có thể áp dụng trong nhiều lãnh vực.

    Bác Trầm Kha đã tinh ý nhắc nhở tôi “Nhất trí với bác khi đặt vấn đề về “nét nổi bật”, thậm chí “những khiếm khuyết trầm trọng có tính hệ thống”, nhưng ‘khái quát’/’nâng quan điểm’ đến mức “yếu tính” thì một lần nữa tôi lại thấy… chí nguy cho ‘người tìm’ “. Thú thật tôi thấy nếu chỉ dùng “nét nổi bật” thì bất cập, mà dùng chữ “yếu tính” có lẽ là thái qúa. Tôi “xuề xòa” viết cả hai và mong độc gỉa cảm nhận chúng như một trung bình cộng.

    Khi trao đổi trên vấn đề khó, nhạy cảm như tôn giáo với Phật tử hay Ki-tô hữu, tôi hay bị khiếm khuyết là hiểu biết không tới nơi, tới chốn (với Phật tử thì dễ hơn, vì chữ “phá chấp” cởi bỏ được rất nhiều thành kiến, là nguyên nhân vô số xung đột). Đã thế lại phải dùng hay đụng chạm những từ ngữ dính dáng tới thần học, triết học mà mình chưa bao giờ tìm hiểu, nghiên cứu tới nơi tới chốn (thí dụ chữ “thần hiệp” (mysticisme) được Nguyễn Khắc Dương dùng trong hồi ký). Nhưng tôi cũng có thói quen nghề nghiệp là chúng ta luôn có thể trao đổi, đối thoại khá thông suốt bằng những phương tiện sẵn có, với điều kiện 2 bên cảnh giác, ý thức về sự hạn chế của ngôn ngữ và không chấp nhất, muốn hiểu nhau vì mục tiêu chung.

    Cách đây không lâu, trong một hội nghị với mục đích đối thoại, cảm thông giữa các tôn giáo, Đức Giáo Hoàng bị phản đối khi ông tuyên bố là Ki-tô giáo là con đường duy nhất dẫn tới sự cứu rỗi (tôi đã cố google để dẫn chứng nhưng chưa tìm ra nguồn). Những ý kiến phản đối ông bao gồm ý là làm sao có thể cảm thông khi chủ trương là chỉ có đường mình đi là duy nhất, đúng nhất.

    Tôi nghĩ có lẽ tinh thần “chỉ có một” là nguồn cội, tiền đề cho bao nhiêu xung khắc, xung đột. Khi tín đồ thấm nhuần và luôn được nhắc nhở, un đúc, rèn luyện tinh thần này thì khó có thể nhìn nhận quan điểm khác, dù là mài mại giống mình (Công Giáo, Tin Lành). Do đó tín đồ Công Giáo, Tin Lành, Anh Giáo, một hệ phái Ki-tô giáo, hay Hồi Giáo … nào một khi đã được đặt lên đường rầy, được kéo bởi một đầu tàu (đạo của mình) thì cứ thế mà đi, chỉ thấy tàu mình mới là tàu, còn tàu khác là tàu dở hơi, trục trặc, hay chỉ là một cái gì đó nhúc nhích. Bác Tôn Văn và tôi có lẽ rất ngây thơ khi tưởng hay đã tưởng là “Mọi tôn giáo đều ‚chỉ trình bày những hệ thống minh triết‘ giúp con người giác ngộ và giải thoát”, tôi xác định Ki-tô giáo không nghĩ như vậy.

    @Bác Trung Thứ
    “Phản hồi trước, bác Lê Anh Dũng cho rằng bi kịch giáo dân người Việt chịu đổ máu là do hiểu nhầm”. Tôi không cho là hiểu nhầm, mà cho là từ sự bài xích sự thờ cúng tổ tiên, Ki-tô giáo đã trực tiếp tấn công vào căn cước văn hóa Việt Nam và bị phản ứng tương xứng “clash of civilizations”, những cái khác là phụ. Các thiên tử Việt Nam “ăn, ngủ, đụ, iả” thừa biết họ chả phải là con trời để mà đố kị với đám xưng mình là con Thuợng Đế.

    “hiện tượng đáng tiếc trên đây có nguồn gốc là do căn tính Ki-tô không phù hợp với bất kỳ một não trạng, bất kỳ một nền văn hóa nào của, loài người hết cả”. Nếu thế, và cứ tiếp tục nghĩ và làm như thế thì phải chăng tôi đã qúa lời khi nhận xét “Điều này đã kéo dài hơn 2000 năm, không có đời nào, thế kỷ nào, ở bất cứ nơi đâu, mà không có hục hặc, xung đột. Đây có phải là một nét nổi bật, một yếu tính của Thiên Chuá giáo?”.

    Thiên Chúa là Tình Yêu (viết hoa). Tình Yêu phải được thể hiện bằng sự bình an, không phải là chuỗi xung đột nhiều khi đẫm máu, hay cãi cọ không dứt từ 2000 năm với người (ngoại đạo) và với mình (Công Giáo, Tin Lành, Anh Giáo, Chính Thống Giáo…). Không thể biện luận quanh co trước thực tế này.

    Trong kỹ thuật Tin học có công cụ tư duy gọi là Design Patterns, trong đó có Adapter Pattern nhằm làm giao diện (interface) giữa 2 models khác nhau. Thay vì sửa đổi 2 models khác nhau, khi mang một model vào áp dụng ở một địa bàn hoạt động mới, nếu muốn hoạt động êm đẹp, không trục trặc với model cũ, có tương thông qua lại, thì bắt buộc phải làm Interface.

    Thí dụ cụ thể: Kinh Thánh của Ki-tô giáo không cho thờ lạy bất cứ ai ngoài Đức Chúa trời, các nền văn minh khác thờ lạy, hay thờ kính các đấng khác nhau, nhưng không cùng ý nghĩa như thờ Thượng Đế, Thiên Địa Chơn chủ (chữ giới thiệu bởi Trần Văn Toàn). Trung Hoa, Ấn Độ không có một ông thần tương đương Thiên Chúa. Không thể bắt Ki-tô hữu từ bỏ quan niệm Thuợng Đế duy nhất là cốt lõi của tôn giáo của mình, cũng không thể truyền vào một khối hàng trăm triệu người Đông Á đã thấm nhuần một nếp suy nghĩ từ hàng ngàn năm, un đúc bởi một phong thổ khác với vùng Tây Á mà mong đợi bình an. Hiện nay một sản phẩm tiêu dùng còn được cẩn thận nghiên cứu để thích hợp với thị trường địa phương, huống chi một hệ thống tư tưởng chi phối con người từ lúc sinh tới lúc chết, mà từ đầu không quan tâm về việc hội nhập, lại đặt thành nguyên tắc bất khả nhượng những chuyện thật ra không cốt tuỷ; hiểu người chỉ qua hệ thống quy chiếu của mình thì chắc chắn cơ thể du nhập sẽ bị co giật, kinh phong, có thể chết.

    Adapter cần lập tức nhận diện những dị biệt, diễn dịch chúng cho thoát ý (như bác Nguyễn Hoà đã nêu sự khác biệt giữa “thờ lạy” của Á Đông khác “thờ lạy” như quan niệm Thánh Kinh, ông Phật không bao giờ xưng là Thượng Đế, mà có muốn cũng không được) mới có thể plug-in vào hệ thống bên kia mà không gây chạm điện, cháy nhà.

    Thiên Chúa nghĩ gì khi thấy đám con cháu nhân danh mình, nhân danh Tình Yêu mà xung đột, đánh giết nhau từ 2000 năm nay, và sẽ tiếp tục như vậy cho tới ngày tận thế nếu chúng không thấy đây là một hệ qủa tất yếu, không thể tránh khỏi của sự diễn đạt một Tình Yêu hạn hẹp – one size fits all, một “Tình Yêu như trái phá con tim mù lòa” vắng bóng lý trí?

  6. Trung Thứ nói:

    Thưa bác Lê Anh Dũng,
    Tôi rất cảm kích vì đuợc bác chia sẻ cùng những mối ưu tư, khắc khoải. Đáp lại, tôi cùng xin gửi tới bác những suy nghĩ của mình.

    1. Những biến cố đáng tiếc đã xãy ra trong hội thánh Công giáo tôi chỉ xin liên hệ với một kinh nghiệm cá nhân như thế này thôi. Ở giáo phận tôi, theo luật hội thánh vẫn kiêng thịt vào ngày thứ sáu. Thế nên, tôi bị người thân trong gia đình phàn nàn là một kẻ bướng bỉnh, khiêu khích vì tôi cố tình ăn thịt nhằm vào ngày hội thánh dạy phải kiêng khen, trong khi những ngày khác trong tuần tôi chỉ dùng những món như tôm, cua, cá, hến, hàu… mà không hề đụng đến chút thịt nào. Nhiều người cho là tôi cố tình phạm luật nhưng tôi thì khăng khăng rằng như vậy tôi mới an tâm rằng mình đã thực hiện đúng tinh thần, mục đích của điều luật này. Ra luật kiêng thịt ngày thứ sáu hội thánh nhắm tới hai mục đích sau: giúp ta tiết độ để tưởng nhớ tới cuộc khổ nạn Chúa chịu vào ngày thứ sáu, và trích phần giúp đỡ những người nghèo khó về mặt vật chất. Vì hai mục đích đó nên mới dùng tới biện pháp là kiêng thịt, vì thịt trước đây là một món ăn có giá trị, đắt đỏ. Tuy nhiên, biện pháp ấy chỉ phù hợp trong khoảng không gian, thời đại nhất định. Còn bây giờ, đối với tôi thịt là một món khó nuốt và nó cũng khá rẻ so với những món tôi thưởng thức hàng ngày. Việc tôi ăn thịt ngày thứ sáu là một biện pháp mới, trái ngược với biện pháp cũ, cũng cốt đạt được mục đích mong đợi của hội thánh mà thôi – với tôi, ăn thịt ngày nay mới là phù hợp với tinh thần của luật kiêng thịt trước đây. Cùng chia sẻ nhận định của bác Lê Anh Dũng, tôi cũng cho rằng: Công đồng Vatican II là một bước tiến giúp hội thánh Công giáo theo kịp với bước tiến chung của nhân loại. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa nó làm cho biến đổi căn tính Ki-tô giáo.

    2. Phản hồi trước, bác Lê Anh Dũng cho rằng bi kịch giáo dân người Việt chịu đổ máu là do hiểu nhầm. Theo tôi, điều đó chưa hẳn vậy. Đọc lịch sử giáo hội Công giáo sẽ thấy, những vị kế tục hoạt động Tông đồ đi tới đâu cũng bị bách hại không phải vì sự hiểu nhầm mà chính vì những người ở những địa phương đó biết rõ về cái Đạo này. Đồng thời, bản thân những người đi rao giảng Tin Mừng cũng ý thức được việc làm của mình và hậu quả có thể phải nhận.
    Tại nước Do Thái, Giê-su bị vị thượng tế đạo Do Thái kết án tử hình vì dám phạm thượng xưng mình là Chúa – Đúng. Các Tông đồ Chúa bị hoàng đế La Mã giết vì dám vâng lời vị thần của họ hơn là hoàng đế – Đúng. Vua Minh Mạng, Tự Đức – những vị thiên tử ở Phương đông – triệt hạ một đám theo tà đạo, vì dám xưng mình là con cái Thượng Đế – Đúng.
    Như vây, theo tôi, hiện tượng đáng tiếc trên đây có nguồn gốc là do căn tính Ki-tô không phù hợp với bất kỳ một não trạng, bất kỳ một nền văn hóa nào của loài người hết cả.

    Có một điều lạ là dù giáo hội Công giáo quá đỗi tầm thường, thậm chí có lúc người đứng đầu hội thánh rất bê bối, kém cỏi về nhiều mặt; các TÍN SỰ (Đạo công giáo không phải dựa trên một hệ thống tư tưởng – mấy ông ngư phủ với con lão thợ mộc ít học thì có tư tưởng gì? – mà chỉ là dựa vào các TÍN SỰ, các việc Chúa làm, những lời Chúa phán, để qua đó buộc người ta phải suy xét mà tìm ra lời giải đáp cho mình. Bởi thế người ta phải hình thành nên ra các môn như Thần học và Kinh thánh học.) được loan truyền thì trái với tự nhiên thế mà hội thánh đó vẫn có thể trường tồn và làm thay đổi thế giới này. Không đâu xa, giáo hội miền Bắc Việt Nam sau năm 1954 gần như bị xóa sổ. Trong các giáo xứ thì chỉ còn một đám giáo dân nhỏ lẻ. Năm ba giáo xứ mới có chung một vị linh mục già không có thể đi vô miền Nam. Trong khi đó, sức mạnh bạo lực, uy tín của đảng cộng sản Việt Nam lên tới tột đỉnh và họ luôn tìm cách xóa bỏ Công giáo ở miền Bắc nhưng đã không thể làm gì được.

    3. Nếu chỉ qua cuốn hồi ký của ông Dương để đánh giá thì tôi thấy ông ta không hẳn là „lững thững và cảm tính“ như bác Lê Anh Dũng nhận định mà có một đời sống nội tâm sâu sắc, dữ dội. Cuốn hồi ký này tôi đã đọc, dù chưa thấy xuất bản trong nước nhưng tôi được một người bạn là tu sinh tặng một bản photo. Nếu ai đã đọc qua tiểu thuyết „Biết đâu địa ngục thiên đường là đâu“ của nhà văn Nguyễn khắc Phê thì sẽ thấy trong đó nhân vật ông giáo Tâm có nhiều nét khá tương đồng với ông Dương này.

    Trích: “Tận tụy nhưng tài tử, cần mẫn nhưng lung tung lang tang; lại còn cái việc hay lết vỉa hè, các quán cà phê, gặp ai cũng chuyện trò, cũng ăn uống, lân la với đủ hạng người, kể cả cao bồi, hành khất và gái giang hồ”.

    Trước năm 1975, ông Dương có hành nghề dạy học. Hòa bình lập lại, sau khi đi cải tao về, không có việc để làm, thời gian rỗi nhiều nên ông ta có nhiều thuận lợi để la cà, bê tha hơn nữa. Tuy nhiên, khi đã trở thành kẻ thất nghiệp trong một xã hội mới với đời sống kinh tế khó khăn, không gian chính trị ngột ngạt mà ông ta có thể tạo được „một bubble xà phòng xung quanh mình, và nhìn cuộc đời qua 7 sắc màu của cái bong bóng này“ thì cũng là may mắn cho ông ta vậy. Nhưng có một điều, nếu tôi không nhầm lẫn thì hình như ông Dương vẫn nối tiếc vì không còn được hành nghề dạy học nữa.

  7. Lê Quốc Trinh nói:

    Bác Tôn Văn kính,

    Cám ơn bác đã chia sẻ với tôi.

    Tôi hiểu nhiều vị độc giả trong Diễn Đàn này khó chịu khi nghe tôi tìm cách lý giải triết lý Nhà Phật. Đức Thế Tôn đã để lại một kho tàng vô giá cho chúng sinh mai sau. Nhưng khổ nỗi đạo lý của Ngài quá sức khô khan, khó hiểu, cao xa, ở vào thời điểm 2500 năm trước. Ngài chỉ bắt đầu nhận định một số luận đề căn bản bao trùm triết học, vũ trụ quan và nhân sinh quan, chưa đủ lý giải khoa học chi tiết tường tận (định lượng và dẫn chứng vật lý) cho nên chúng đệ tử đời sau không hiểu nổi, không chịu suy nghĩ giáo lý thâm sâu, cứ đắm chìm trong mê tín, thờ cúng, hình tượng, và từ từ đi xa rời nguyên lý cơ bản Giác Ngộ của Ngài, rồi cứ thế in ấn kinh Phật bừa phứa, chất cao như núi, chứa nhiều điểm mơ hồ, bí hiểm, khiến cho tầng lớp bình dân ít học càng hoang mang và càng bị mê hoặc.

    Bác Tôn Văn à! Lỗi của tôi nằm ở chỗ không lý giải toàn bộ giáo lý Nhà Phật qua cách nhìn khoa học kỹ để mọi người nắm vững quan điểm của tôi, ngược lại tìm cách tranh luận với quý vị trong Diễn Đàn. Muốn làm công việc này, cần ít nhất nửa năm để đi sâu vào từng chi tiết, đi đôi với nhiều dẫn chứng lý giải khoa học tường tận. Khó khăn nhất là làm sao nói cho mọi nguời hiểu rằng Đạo Phật của Ngài Thích Ca Mâ Ni không phải là một tôn giáo hữu thần duy Ngã như mọi tôn giáo khác, khi đem giáo lý Nhà Phật ra đối chiếu với khoa học và lý luận thì ắt sẽ khiến nhiều người nhăn mặt, cau mày. Đức Phật ngày xưa cũng đã từng do dự không muốn di chuyển bánh xe Pháp Luân đi thuyết pháp khắp nước Ấn Độ, vì Ngài biết chưa ai hiểu nổi Phật Pháp, nếu không chịu rũ bỏ tinh thần cầu cạnh mê tín trong đầu, không có can đảm tự đặt câu hỏi và tự đi tìm hiểu.

    Tìm hiểu giáo lý và thực hành kiểm nghiệm ngay trong đời sống trước mắt thì sẽ thấy sự thật hiển hiện rõ ràng.

    Mến chào bác,

  8. Tôn Văn nói:

    „Ý, Lời“ và „Hệ thống“

    Kính thưa quý bác,
    Tôi chỉ thấy lòng … rung rinh khi số thống kê ngay dưới bài chủ tiến gần đến (kỷ lục) „một-trăm“; Nhưng nay thì rất hứng thú theo dõi vì được đọc nhiều nội dung mới và sâu sắc, nhất là không khí rất trang nhã đầy đạo vị. Xin tiếp thêm ít lời như để thể hiện sự đồng tình của mình.

    *
    Trước hết, thưa bác Lê Quốc Trinh,
    Xin chia sẻ với bác tình cảnh của người cũng thuộc „thành phần kỹ thuật“ (mà chắc cũng sẽ được nhiều vị chia sẻ!). Tôi rất chịu đọc bác vì những lời thẳng thắn và những ý chân thành. Rất có thể không đồng ý với một đôi chỗ lý giải, chẳng hạn, về Phật giáo; Nhưng đọc, và có „chứng nghiệm“, câu ông nguyen mai linh: „… lần này là lần thứ hai và lần nào bác Lê quốc Trinh cung xin lỗi rồi cảm ơn“ thì tôi càng tin rằng bác thật thấu đáo (có thực hành tu tập) giáo lý nhà Phật (Buddha, Bụt, Giác giả).

    Nhưng, đọc mà chuyên chú để góp ý lại những sai sót thì cũng thật là đáng quý chăng?
    Năng … „bắt lỗi“, sở (không có ‘khổ’) “bắt lỗi” – tánh không tịnh!…

    *
    Thưa bác Trầm Kha, thưa bác Lê Anh Dũng,

    Xin cảm ơn bác Trầm Kha về sự lưu tâm đến phản hồi ngắn của tôi;
    Xin chia sẻ với bác Lê Anh Dũng về ý tưởng „Hệ thống và tính hệ thống“. Sự thực thì thời gian gần đây, tôi có quan tâm và bị ám ảnh về ý tưởng „hệ thống“. Ngay trong chuyên mục „Triết học“ của dịch giả Cao Dao và anh Trịnh Hữu Tuệ tôi cũng đang cố xem xét tác phẩm của Wittgenstein như một hệ thống với các ký hiệu tạo thành như các tiên đề của một hệ tiên đề. Đây là chuyện khó nên, dù hứng thú, tôi đã không dám có thêm lời bên đó…
    Khi nêu lại ý kiến: „Mọi tôn giáo đều ‚chỉ trình bày những hệ thống minh triết‘ giúp con người giác ngộ và giải thoát.“, tôi nghĩ các giáo lý đều do con người nghĩ ra và tập hợp lại thành „hệ thống“. Tính „hệ thống“ tồn tại trong logic tư duy ngay từ đầu. Tất nhiên những hệ thống tư tưởng đó được con người lấy năng lượng từ cuộc đời và mơ ước dùng được trong cuộc sống. Vậy là từ một „hệ thống tư tưởng“ dẫn đến một „hệ thống xã hội“ chỉ là bước đi của thời gian và là tất yếu. Nhưng lại cũng từ thực tế là các hệ thống tư tưởng và xã hội đều do con người nghĩ và tạo ra, KHIẾM KHUYẾT HỆ THỐNG là tất yếu và cũng chỉ được con người chung tay (trước hết là „chung đầu, suy nghĩ“) chỉnh sửa mà thôi. Vấn đề là „nghĩ“ thế nào và „chung“ thế nào.
    Tôi nghĩ nếu ý kiến của tôi được các bác chỉnh sửa và … „thông qua“ thì có thể khẳng định cùng bác Trầm Kha rằng: „Khiếm khuyết trầm trọng có tính hệ thống“ của các hệ thống „chính là cái tính hệ thống“ của chúng vì sớm muộn chúng cũng bị thời gian vượt qua để trở thành … „phản động“. Goethe có nghĩ thế chăng, khi viết: Mọi lý thuyết đều xám (xịt) màu… ?

    *
    Nhưng đặc điểm của các hệ thống là „tính hệ thống“ của nó, nghĩa là nó có logic nội tại và tách biệt với các hệ thống khác trong tư cách là hệ thành tố trong hệ tổng thể. Tôn giáo thuộc hệ thống văn hóa; học thuật thuộc hệ thống tri thức; chiến tranh, bạo lực (có thể update thêm „tham nhũng“) thuộc riêng về chính trị, etc.
    Khi nhà chính trị (vua, chẳng hạn) biết rằng „hiền tài là nguyên khí quốc gia“ để đi hỏi thì có thể nhận được lời này (từ tôn giáo và trí thức): „Vận nước như dây quấn“. Khi người có trọng trách biết lo lắng cho tương lai cộng đồng mà viếng thăm và cầu hỏi thì nhận được lời tâm huyết: „Khi bình thì khoan sức dân làm kế rễ sâu, gốc bền“.
    Người trí thức vắt óc tim để suy tư cho cuộc đời, nhưng không cầu xin hay bi lụy!

    Thân mến và Trân trọng.

  9. Lê Quốc Trinh nói:

    YÊU TIẾNG VIỆT

    Trước hết, thành thật cám ơn hai bác Trương Đức và Nguyễn Mai Linh đã vì bảo vệ tiếng Việt trong sáng để lên Diễn Đàn giúp đỡ tôi.

    Tôi chuyên nghề trong lĩnh vực kỹ thuật quá lâu năm tại quê người, cho nên giọng lưỡi tiếng mẹ đẻ có phần thay đổi, vì sống trong môi trường xa lạ, mong các bác trong Diễn Đàn này thông cảm mà tha thứ cho những lỗi lầm chính tả vô tình phạm phải. Tôi cũng rất vui khi có người chịu khó đọc và điều chỉnh lỗi của tôi như bác Trương Đức chẳng hạn.

    Khi đọc PH của bác Nguyễn Mai Linh, tôi ngạc nhiên và thú vị, vì bác nêu lên những chi tiết rất chính xác về cách viết của hai miền Nam/Bắc thời xưa, hiện nay tôi còn thấy khá nhiều bản nhạc cũ thời VNCH vẫn theo lối viết như bác NM Linh nói. Tôi là con một gia đình gốc Bắc di cư vào Nam trước 54. Khi còn nhỏ tôi viết chính tả ít có sai vì phát âm chuẩn dấu “hỏi / ngã”, chữ (tr / ch), chữ hay “gi / d”, chữ “x / s”. Thế nhưng sau 40 năm xa quê, phần vì phải vật lộn vì miếng cơm manh áo trong xã hội Tây Phương, phần vì ít sinh họat văn nghệ, văn hoá trong môi trường VN, cho nên tiếng Việt đã phai mờ dần, nhất là cách phát âm rất ư quan trọng.

    Tuy nhiên khi nhìn về quê hương đất nước, nhận thấy quá nhiều sai trái của tập đoàn lãnh đạo ĐCS đã và đang nhận chìm đất nước dưới bùn đen, xã hội băng hoại, môi trường càng ngày càng ô nhiễm, giáo dục xuống cấp nghiêm trọng, tôi không thể ngồi yên bàng quang mà đành phải cắn răng viết bài phản biện. Tôi càng yêu tiếng nước tôi, tiếng Việt phong phú gợi hình gợi cảm, tôi lại càng không muốn quê hương dân tộc bị ảnh hưởng “Hán Hoá” xâm thực, gậm nhấm đến mức độ nguy hiểm như ngày hôm nay.

    Do đó tôi sẽ còn viết tiếp để đánh tiếng chuông cảnh báo mọi người. Tôi sẽ còn cần các bác tiếp tay giúp đỡ tiếng Việt tôi thêm phần phong phú, cám ơn các bác nhiều.

    Lê Quốc Trinh

  10. nguyen mai linh nói:

    Nhân chuyện lỗi chính tả, tôi sực nhớ cuốn sách thơ Hoạn Nạn Ca của bác Phạm Quang Minh vừa được tác giả ra mắt ở Montréal Canada, mà tôi được tham dự. Theo tiểu sử thì ông là giáo sư Đại Học trước 75 tại Saigon, qua Mỹ làm tiến sĩ Toán và tiếp tục dạy Toán ở một vài trường Đại học ở Mỹ, bây giờ đã nghỉ hưu. Nếu ai chịu khó lên google tìm thì sẽ thấy báo Công An Nhân Dân trong nước chửi ông và tập thơ thậm tệ. Khi đọc trường thi Hoạn Nạn ca thì thấy ông là một người rất có lòng đối với tổ quốc, dân tộc. Tuy nhiên, ông vẫn dùng lối viết chính tả mà tôi đã từng học hồi tiểu học, chẳng hạn như chữ Hoạn Nạn thì ông vẫ viết là Hoạn-Nạn, những từ ghép, ông đều dùng dấu – để nối lại với nhau thành một chữ.

    Tôi không có ý kỳ thị Nam-Bắc, nhưng rõ ràng là về lối viết chính tả Nam, Bắc có cái khác nhau đấy, lấy cái chuẩn chính tả của ngoài Bắc, mà sửa lỗi chính tả cho người miền Nam thì theo tôi không được đúng cho lắm. Tôi thấy lần này là lần thứ hai và lần nào bác Lê quốc Trinh cung xin lỗi rồi cảm ơn, nên tôi chỉ cố gắng nói lên lẻ công bằng thôi.

    Một chuyện bên lề, khi một người hỏi tác giả con rồng ở hình bìa sao đầu rồng lại nằm ở phía Nam, thì tác giả chỉ nói người họa sĩ vẻ như vậy, và ông ấy thích như vậy. Trong khi một số cử toạ cỏ vẻ chưa đồng ý với câu trả lời, thì ông bác sĩ chủ toạ liền nói chắc nịch như sau: Đầu rồng từ trước đến nay quay về hướng Bắc, nên các cuộc cách mạng chỉ đem lại khổ đau cho dân cho nước, bây giờ là thời điểm đầu rồng phải quay về hướng Nam đi tìm đường cách mạng cho dân cho nước thì may ra mới mong cầu được hạnh phúc, yên bình cho nước cho dân.

  11. Trầm Kha nói:

    @Bác Lê Anh Dũng,

    Quan tâm của tôi là tìm xem bộ máy, cơ chế vận hành có những khiếm khuyết trầm trọng có tính hệ thống nào…

    …Đây có phải là một nét nổi bật, một yếu tính của Thiên Chuá giáo?

    Nhất trí với bác khi đặt vấn đề về “nét nổi bật”, thậm chí “những khiếm khuyết trầm trọng có tính hệ thống”, nhưng ‘khái quát’/'nâng quan điểm’ đến mức “yếu tính” thì một lần nữa tôi lại thấy… chí nguy cho ‘người tìm’, dù là kỹ sư hay người quan tâm nghiêm túc.

    Do kiến thức hạn hẹp và tản mạn của tôi về (lịch sử) các tôn giáo, nên xin miễn trình bày lại những gì ắt hẳn bác đã biết, tôi mạo muội nêu luôn một vài ‘nghi vấn’ của mình:

    1. Phải chăng “khiếm khuyết trầm trọng có tính hệ thống” của Thiên Chúa Giáo lại chính là cái TÍNH HỆ THỐNG của nó?

    2. Phải chăng “luồng gió mát” mà bác cho rằng Thích Nhất Hạnh đã mang lại cho Phật giáo VN cũng là cái TÍNH HỆ THỐNG đó?

    Chân thành kính mong bác cùng quý cao nhân vui lòng chỉ giáo. Kính.

  12. Trương Đức nói:

    Mặc dù đã “Cũng như ông bạn Trần Quốc Việt rũ áo ra đi” (xin mượn lời của bác Lê Quốc Trinh), nhưng sáng nay đọc được cái tin “bắt bẻ” này, tôi xin có mấy lời, gọi là “chót chét” một lần nữa ở “xới” này với ông nguyen mai linh, như thế này:

    1. Tôi “học viết chính tả” ở miền Bắc, và như thế “bị ảnh hưởng của mái trường xã hội chủ nghĩa nhiều” lắm, nhiều đến nỗi, trước đây, hễ thấy ai viết sai chính tả trên talawas này, là “(táy máy) móc” ra bằng hết! Tôi nói “trước đây” là bởi vì, tôi đã nghĩ, mình chỉ làm một việc mang mục đích “cầu thị” thôi, gọi là “đóng góp” một chút vào “công việc dọn dẹp sạch đẹp trang talawas này”. Nhưng sau một vài vụ “nhắc khéo”, tôi nhận thấy, mình thật “vô duyên” trước mọi người. Mình “làm ơn hóa hại” cho chính bản thân mình, thôi, từ giờ trở đi, chỉ “nhắc khéo” bác Lê Quốc Trinh thôi, bởi vì bác ý “mộc mạc, chân tình”, không “lắt léo”, “kỳ (thị) cục” như những kẻ khác!

    2. Nhưng khốn khổ cho cái thân tôi, sau cái PH “nhắc khéo” bác Trinh vừa rồi, mặc dù tôi không “cầu mong” gì mà vẫn được bác Trinh “thành thật cám ơn” đấy, nhưng vẫn bị ông nguyen mai linh chụp cho một cái mũ “nặng như chì (chiết)” là “bắt bẻ mà mình cũng chưa nắm thật kỹ, thì theo tôi nó hơi kỳ cục đấy” vào đầu, làm tôi “hết ngóc đầu lên nổi”. Thưa ông nguyen mai linh, cái sự “tôi (TĐ) “nhắc khéo” lỗi chính tả của Lê Quốc Trinh” không phải là cái sự “bắt bẻ” tòn mòn lỗi chính tả như ông đã quy chụp cho tôi. Thứ nữa, cái sự “bị ảnh hưởng của mái trường xã hội chủ nghĩa” mà ông ám chỉ, nó chẳng “ăn nhập” gì vào cái “sự nhắc khéo” của tôi cả? Chính cái việc, ông chụp mũ tôi và “cấm” bác Trinh “đừng nên cảm ơn”, thì theo tôi, mới là “nó hơi kỳ cục đấy”.

    3. Viết đến đây, tôi cũng cảm thấy, thôi chết rồi, mình đúng là một thằng “miền Bắc kỳ một cục” rồi! Một bài viết về “Phật Ngọc trong mắt ai” mà mình lại “lôi” chuyện “kỳ” với “cục” ra đây để nói! Thôi, “kỳ cục” ơi, chào mi!

  13. VanLang nói:

    “Nói vậy để thấy rằng cái sơ xuất (rất nhỏ nhưng lại rất rõ ràng đối với mọi người) của tác giả bài viết mà không thấy ai nhắc đến,” (PTV)

    Tôi cũng (võ) đoán ý bác Phùng Tường Vân muốn nói chữ “ngoan” bị thiếu trong “gái ngoan thờ chồng” chăng?. Cũng chỉ vì sợ nói ra lại bị cho là phê bình vụn vặt (cũng như sửa chính tả) nên thôi vậy.

  14. Trầm Kha nói:

    @bác Phùng Tường Vân:
    Thiển ý “hơi (bị) mệt mỏi” của tôi về “võ đoán” “không có cơ sở gì hết” của bác là: ‘Luận’ (những) vấn đề ‘to tát’ thế này mà đi nhắc đến (những) “cái sơ xuất (rất nhỏ…)” ấy (của người khác) thì có mà… suy nhược thần kinh chứ chẳng chơi!

    @bác Trung Thứ:
    “Theo nhận định chủ quan của tôi thì những giá trị tự do, nhân phẩm, nhân quyền phổ quát ngày nay cũng xuất phát từ Ki-tô giáo mà ra.”

    Tôi thấy, một cách “hơi (bị) mệt mỏi”, rằng: nhận định trên của bác không khác của bác Nguyễn Đăng Thường. Các phản hồi/biện của bác Hoà Nguyễn tưởng cũng đã đủ, song tôi rất vui lòng nghe thêm những kiến giải mới của bác.

    @bác Tôn Văn:
    Tôi rất đồng ý với bác và thực quý trọng tinh thần hoà giải của bác, nhất là khi bác hiểu rõ quan điểm của bác TT mà vẫn viết (và không quên đánh dấu ,,”):

    Qua ý kiến bác Lê Anh Dũng, tôi có được nhận định sáng tỏ của ông Trung Thứ: Mọi tôn giáo đều „chỉ trình bày những hệ thống minh triết“ giúp con người giác ngộ và giải thoát.

    @nguyen mai linh:
    Với lòng khâm phục sự sâu sắc của bác Trần Quốc Việt thể hiện rất rõ ràng qua PH và rất “u mê” (đối với tôi) qua thơ của bác ấy ở đây (ngay cả sau khi được NML diễn giải), tôi cũng có đôi lời ‘ngậm ngùi’ cho ‘người ở lại (Charlie)’:

    “Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
    Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi…”

    Chồng em nhất định ‘Chân Lý’ nhỉ?
    Chạ chung chồng chị chắc chả chơi!

  15. Lê Anh Dũng nói:

    Kính gửi bác Trung Thứ,

    Trong bài Hạt giống trong bụi gai của Bửu Sao là bạn đồng tu với Nguyễn Khắc Dương vào năm 1949-1950 (bài thuộc cuốn “Ba mươi năm Công Giáo Việt Nam dưới chế độ Cộng sản 1975-2005”, xuất bản bởi Nguyệt san diễn đàn giáo dân, 8-2005) nhằm điểm cuốn hồi ký “Quia respexit humilitatem meam, Vì Chúa đã đoái nhìn tới thân phận nghèo hèn của tôi” của tác gỉa Nguyễn Khắc Dương, Bửu Sao đã “trích những đoạn tiêu biểu, chỉ xin can dự vào chút ít để gọi là nối kết và trình bày theo trình tự diễn biến mà thôi”. Nhờ vậy tôi đã dễ dàng trực nhận tác gỉa NKD hơn.

    Theo bài trên thì Nguyễn Khắc Dương là bào đệ của Nguyễn Khắc Viện, một đảng viên nòng cốt đảng CSVN, Tổng thư ký hội Liên hiệp Việt Kiều tại Pháp. NKD sinh ngày 24-9-1925, thân phụ là cụ Nguyễn Khắc Niệm, nguyên Án sát tỉnh Nghệ An, về hưu năm 1943 với phẩm hàm Hiệp biện thượng thư, vào năm 1953, cụ Niệm bị đưa vào trại học tập cải tạo cho giới địa chủ, và chết trong tù vào 1954.

    Từ nhỏ NKD được giáo dục bởi Khổng giáo, Phật Giáo, là thân thuộc của Phan Bội Châu, Võ Bá Hạp, Huỳnh Thúc Kháng. Dù là nhà quan, cụ thân sinh của NKD giành một thái độ trân trọng với Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Thị Minh Khai (có lẽ đây là niềm hứng khởi cho ông Nguyễn Khắc Viện và góp phần hình thành đường đi của ông Viện về sau).

    Vào năm 1945-1946 NKD được thượng tọa Thích Trí Thủ cho tá túc tại chùa Linh Quang để học thi “nơi đạo Phật tôi chỉ tiếp thu được phần tiêu cực đánh giá cuộc đời thế tục dưới cái nhìn bi quan yếm thế … chứ không thâu nhận mặt tích cực của giáo lý nhà Phật, mà đối với tôi chỉ là cái aó tri thức khoác vào một cuộc đời tị thế mà thôi”. Dầu vậy ông vẫn có ý định xuất gia vào cửa Phật. Nhưng sau khi trở lại sinh hoạt trong môi trường Công Giáo (ông đã học trường Công Giáo Thiên Hựu từ năm 13 tuổi), ông thấy đạo Thiên Chúa thích hợp với ông hơn cả, ông vào Tập viện dòng Phan-xi-cô năm 1949-1950, rồi được nhà dòng cho qua Pháp học vào năm 1956.

    Tưởng cũng cần nhắc lại là một người sinh cùng thời với ông, Thích Nhất Hạnh, sinh năm 1926, cũng đã không hài lòng với bầu không khí trì độn của Phật Giáo VN lúc ấy, và đã khởi xuớng một phong trào hiện đại hóa đạo Phật, cũng cùng khoảng thời gian. Động chạm với khối Phật giáo cũ, bị phản ứng Nhất Hạnh lui về ở ẩn ở Phương Bối Am ở Lâm Đồng (xem Nẻo về của Ý, NH). Chắc hẳn Nhất Hạnh đã học hỏi được rất nhiều ở tinh thần dấn thân tích cực của Ki-tô giáo, điều này còn ảnh hưởng tới hôm nay, khi mà nhiều người cho rằng Làng Mai “hát như Tin Lành”.

    Từ Pháp về VN năm 1965 với văn bằng cử nhân, dạy học tại Viện đại học Đà Lạt, Huế, Sài Gòn và trường Võ Bị Đà Lạt, NKD sống một cuộc đời tiếu ngạo giang hồ, xìu xìu ểnh ểnh “… không chủ trương giúp ai lâu dài, vì không muốn ràng buộc ơn nghĩa với ai. Tôi tự xem mình như một quán nuớc bên đường, thấy ai đi qua thì mời uống bát nuớc chè xanh, ăn củ khoai lang qua loa thôi”, NKD “Tận tụy nhưng tài tử, cần mẫn nhưng lung tung lang tang; lại còn cái việc hay lết vỉa hè, các quán cà phê, gặp ai cũng chuyện trò, cũng ăn uống, lân la với đủ hạng người, kể cả cao bồi, hành khất và gái giang hồ” (lời của chính ông trong hồi ký).

    Quan sát hai anh em Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Khắc Dương, tôi thấy đây là 2 mẫu người rất đặc biệt. Thân phụ ông Viện chết trong tù CS năm 1954, thì 10 năm sau, năm 1964 ông Viện từ Pháp trở về Bắc Việt Nam để cộng tác với cái chế độ đã giết cha ông, dù lúc đó chế độ đó không thay đổi chút nào về mùi vị, màu sắc lẫn thực chất, và đã bắt đầu tiến hành cuộc chiến bạo lực nhằm “giải phóng miền Nam”. Ông em thì lững thững và cảm tính, theo tôi nghĩ ông Dương là một mẫu người bay bổng, có khuynh hướng tạo ra một bubble xà phòng xung quanh mình, và nhìn cuộc đời qua 7 sắc màu của cái bong bóng này. Cuộc đời thi vị, kịch tính của 2 ông Viện và Dương làm phong phú cho cuộc đời này, nhưng cách suy nghĩ lẫn hành xử của 2 ông impractical.

    Là một kỹ sư, tôi không nhìn một sản phẩm dành cho đại chúng với đôi mắt của một dân chơi sành điệu, hay ngây ngất với những lời tán dương quảng cáo của nhà sản xuất, hay của những người mang cả cuộc đời mình để hoàn thiện, nâng cao một chi tiết máy hay, bộ máy. Quan tâm của tôi là tìm xem bộ máy, cơ chế vận hành có những khiếm khuyết trầm trọng có tính hệ thống nào đã gây ra những tai nạn chết ngưòi, đã gây thương tật cho người xử dụng hay quần chúng xung quanh; nhận dạng vấn đề bức thiết và tìm cách giải quyết chúng.

    Từ quan điểm trên, song song với những điều hay đẹp như Tình Yêu, tự do tuyệt đối … của Thiên Chúa Giáo mà ông Nguyễn Khắc Dương xiển dương, tôi thấy Thiên Chúa Giáo có một vấn đề: Cùng tin nơi Thiên Chúa ba ngôi, nhưng Công Giáo,Tin Lành, Anh Giáo đã có xung đột, thậm chí đổ máu; đó là giữa những người cùng gốc rễ, chia xẻ tới ít nhất là 70, 80% quan điểm chung. Phải có một cái gì rất cốt tủy, rất trầm trọng để chính những người đã chia xẻ, và vẫn chia xẻ một nguồn cội, nói một ngôn ngữ tương tự lại không chấp nhận lẫn nhau như vậy; huống chi là quan hệ của Thiên Chúa Giáo với Hồi Giáo, Phật Giáo, đạo thờ ông bà v.v… Điều này đã kéo dài hơn 2000 năm, không có đời nào, thế kỷ nào, ở bất cứ nơi đâu, mà không có hục hặc, xung đột. Đây có phải là một nét nổi bật, một yếu tính của Thiên Chuá giáo?

    Martin Luther đã có sự thức tỉnh cách mạng đưa tới sự khai sinh của Thệ Phản (Protestant), Tin Lành; Cộng đồng Vatican II là một thức tỉnh mới, giúp đưa Công Giáo VN đi một buớc dài so với Tin Lành VN hiện nay vẫn mang màu sắc fundamentalist, integrist với những lời giảng, cách nhìn của 20 thế kỷ trước, và đang cần một cú thức tỉnh nữa. Phật Giáo VN có một giấc ngủ dài và sự đánh thức của Thích Nhất Hạnh đã mang lại một luồng gío mát.

    Nhận dạng vấn đề như trên (dù sai) là chuyện của những người quan tâm như tôi, tìm cách giải quyết vấn đề, tạo cầu cảm thông, hay quan tâm tới lời cảnh báo hay không là việc của những người truyền giảng.

    Kính.

1 ... 6 7 8 9 10
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả