talawas blog

Chuyên mục:

Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai

08/10/2010 | 12:58 sáng | 141 phản hồi

Tác giả: Trần Kiêm Đoàn

Chuyên mục: Tôn giáo
Thẻ:

Đã hơn một năm rưỡi, thường xuyên xem hình, đọc bài viết, nghe lời luận bàn, theo dõi tin đồn về Phật Ngọc[1] và hiện tượng Phật Ngọc, nhưng mãi đến hôm nay tôi mới được tiếp cận và chiêm bái trong thầm lặng riêng tư với Phật Ngọc ngay giữa rừng người. Quá trình nghĩ vềđến với trong mối liên hệ nhân quả có khi chỉ là một. Nhân quả đồng thời. Nhân quả nối đuôi nhau trong chớp mắt. Nhưng cũng có khi là con đường dài biền biệt, có khi hết cả đời không mong gì thấy được nhân thành quả. Mây trắng có thể chẳng bao giờ thành mưa nếu trên đường gió lộng gặp trời xanh và nắng ấm. Nghĩ vềthực chứng là đi từ hư đến thật; từ vọng đến chân.

Sáng Chủ nhật (3-10-2010), tại chùa Kim Quang, thành phố thủ phủ tiểu bang California, theo sau những nghi lễ đầy âm thanh và màu sắc, tượng Phật Ngọc đã chính thức được trưng bày trước đại chúng. Hơn một trăm tăng ni và sáu nghìn người (theo quan sát và ước tính của nhật báo Sacramento Bee[2]) gồm quan khách đồng hương cũng như người nước ngoài, thân hữu và Phật tử tham dự nghi thức khai mạc lễ hội cung nghinh Phật Ngọc. Khi toàn hình ngôi tượng được trưng bày trong âm thanh trầm vọng của tiếng cầu kinh niệm Phật hòa quyện với tiếng vỗ tay nồng nhiệt của đại chúng, tôi mới chợt hiểu nghệ thuật biểu hiện tâm linh có con đường bay riêng của nó mà phương tiện diễn đạt của ngôn ngữ và tranh luận của lý trí sẽ trở thành bất lực, vô phương.

Khai mạc Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại chùa Kim Quang, Sacramento

Bên cạnh tiền đình với nhiều đường nét mỹ thuật của ngôi chùa Kim Quang mới được tái tạo và khánh thành chưa lâu là lễ đài tôn trí tượng Phật Ngọc. Màu xanh ngọc bích bóng ngời của thân tượng phản chiếu nắng vàng mùa Thu nổi bật giữa rừng áo vàng của quý tăng ni, hòa với màu lam dịu hiền của nhiều đơn vị Gia đình Phật tử khắp nơi tụ về đã tạo thành một bức tranh mang tính pháp hội thật nhu hòa mà cũng sinh động đầy thu hút.

Gặp dịp, tôi dán mắt mình quan chiêm ngôi tượng Phật bằng Ngọc để cố tìm cho ra những đường nét hiển hiện đầy thiêng liêng mà nhiều người đã từng ca tụng. Nhưng tất cả hiện ra trước mắt tôi là một tác phẩm điêu khắc mỹ thuật tạc ra từ một chất liệu vật thể quý hiếm mang bóng dáng đức Phật. Thật ra, mọi hình tướng tượng đài tự bản chất là một sự phỏng định không quy ước. Đó chỉ là cách thể hiện cụ thể cái “sự” bắt nguồn từ cái “lý”; cái dụng thể hiện cho cái ứng. Vì vậy, càng tranh luận hơn thua, đúng sai, tốt xấu, cao thấp về niềm tin tôn giáo “linh tại ngã, bất linh tại ngã” càng có cơ dẫn tới sự xung đột cá nhân và phân hóa tình người chẳng có lợi cho ai mà chỉ làm dày đặc thêm bóng tối vô minh của cực đoan và chấp ngã.

Mãi đến khi mắt rời ngôi tượng, quan sát chung quanh, tôi mới thật sự bắt gặp những gì mình chưa thấy qua đôi mắt trần vật lý. Đó là hình ảnh phản chiếu long lanh hình tượng Phật Ngọc trong đôi mắt của hàng nghìn người đang chiêm bái. Tâm thế nào thì ảnh tượng Phật Ngọc sẽ hiện ra trong mắt như thế ấy. Sự mặc khải của dòng trực cảm tâm linh không  đo lường hay dò tìm được bằng những phương tiện phàm trần quy ước. Sẽ không ai có đủ khả năng phân tích và lý giải được những gì thuộc về phạm trù tâm linh, tôn giáo trước một khối người đông tới sáu nghìn quanh khuôn viên chùa Kim Quang hôm nay. Tất cả đều như đang trầm lắng lại bằng sự tĩnh tâm quan chiêm cùng một đối tượng: Phật Ngọc.

Xin nghỉ chân rong chơi một chút loanh quanh dòng  Tâm lý Trị liệu Thực hành (Practical Psychotherapy) hiện đại. Những tay nghiên cứu tâm lý sừng sỏ thường nói đến sự vi tế và giao hưởng đầy sinh động của năng lượng, sóngtần số xuất phát từ tâm thức và đời sống thực tế của mỗi con người. Năng lượng lành (thanh khí), năng lượng ác (trọc khí) vần vũ xuôi ngược thường xuyên trong trời đất bao la từ vô thủy đến vô chung. Năng lượng nhiều hay ít tùy theo sóng cao thấp của thể lý và tâm linh. Sóng lớn hay nhỏ, vi tế hay thô trần tùy theo mức độ lành hay dữ của năng lượng. Tần số là cửa ngõ phát tán và thu hút năng lượng. Cửa ngõ mở rộng, đóng hờ hay khép kín đều phát xuất từ tâm và thức. Xin nhớ lại chuyện “Đi Chùa Hương”: Cô bé bận quần lĩnh áo the mới đi lễ hội chùa Hương với Thầy Mẹ. Chàng thư sinh lòng phơi phới lên chùa chiêm bái. Năng lượng lành xuất hiện. Cả hai không quen nhau nhưng cùng được tưới tẩm trong dòng suối tâm linh “Nam mô A Di Đà” của đại chúng. Mỗi bên đều phát tán và thu nhiễm năng lượng của bên kia. Thuyền càng tới gần chùa, làn sóng tâm linh của cá nhân và đại chúng càng cuồn cuộn vực dậy trong biển năng lượng thanh thoát của vạn lời cầu nguyện phát ra từ những tâm thành. Tần số tâm thức của đôi lứa thanh xuân cùng cường điệu bắt gặp nhau nhẹ nhàng và tự nhiên như đến từ tiền kiếp: “Em ư? Em không cầu. Đường vẫn thấy đi mau. Chàng cũng cho như thế.  Ra ta hợp tâm đầu.

Sự nghiên cứu về năng lượng, sóng và tần số thuộc về lĩnh vực tâm linh của khoa Tâm lý Trị liệu Thực hành khởi từ thời đại cổ sơ của người thượng cổ khi chưa có hình thức tôn giáo ra đời. Phật và Chúa mấy chục nghìn năm sau mới xuất hiện. Đó là khi loài người thực hành nếp sinh hoạt tâm linh qua những hình thái bái vọng thiên nhiên hay ngẫu tượng. Tiến thêm bước nữa là thời kỳ Bái Vật giáo; rồi Phiếm Thần giáo, Đa Thần giáo. Nhiều bộ lạc chỉ chiêm bái và thờ cúng một tảng đá đầu truông, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông đầu làng mà họ hết lòng tín cẩn và cầu nguyện. Khi những năng lượng tâm linh vi tế ẩn chứa phần lớn là năng lượng lành của một khối người có chung một tảng đá, một con suối, một ngọn núi, một dòng sông… làm đối tượng “chứng tri” thì năng lượng lành hay sóng, tần số tâm linh của cả một khối người đông đảo có sự tương tác giao thoa. Đó là một gia tài tâm linh tích lũy càng ngày càng lớn của một tập thể có chung niềm tin trong cùng một tín hiệu. Gặp khi nguy biến, thành tâm cầu nguyện là lúc cá nhân bị nạn “giải mã” (như mở password ngày nay) để nhận nguồn năng lượng lành đã tích lũy.  Nếu minh họa bằng hình tượng cho dễ hiểu thì cũng tương tự như hoạt động tích lũy và sử dụng tài sản – gởi và rút tiền – qua trương mục của một ngân hàng trung tâm. Kẻ tích thiện làm lành có vốn giàu to. Kẻ độc ác sẽ bị trắng tay hay phá sản[3].

Với tinh thần Phật giáo “vô lượng pháp môn tu” – thì những ý kiến cá nhân hay nhóm phái chủ quan, cảm tính, cực đoan là phi Phật giáo vì đi ngược lại con đường Trung Đạo cố hữu của nhà Phật. Nói và viết về đạo Phật – con đường thênh thang mây trắng – mà phải nhăn trán, nhíu mày loay hoay mãi với tâm lý uẩn ức tiêu cực quanh mấy chuyện được thua, giàu nghèo, có không… trong giới hạn cá nhân nhỏ hẹp để khích bác và đối kháng lẫn nhau thì thật là uổng phí thời gian tĩnh lặng giữa cuộc đời ngắn ngủi. Thú vị chi ngồi khuấy tách trà làm bão tố phù du!

Sáng hôm nay 4-10-2010, đọc bài tường thuật của phóng viên Stephen Magagnini của nhật báo Sacramento Bee về lễ khai mạc cung nghinh Phật Ngọc tại Sacramento với tiêu đề “Jade Buddha draws throng praying for peace, health and prosperity” (Phật Ngọc làm dấy lên lời cầu nguyện đa dạng cho hòa bình, sức khỏe và phồn vinh.) Nội dung bài báo tương đối xứng hợp với tiêu đề đưa ra. Trước đó vài tuần, khi tượng Phật Ngọc còn đang trưng bày ở San Jose, thành phố có đông người Việt thứ nhì tại tiểu bang California sau Quận Cam, phóng viên Bruce Newman của nhật báo địa phương Mercury News, số ngày 15-9-2010 đã viết bài tường thuật về lễ hội cung nghinh Phật Ngọc tại đây dưới tiêu đề “The Jade Buddha, symbol of peace and harmony, everywhere but in San Jose” (Phật Ngọc, biểu tượng của hòa bình và hòa hợp khắp mọi nơi, ngoại trừ San Jose.)[4]

Thật ra, đứng trên quan điểm tôn giáo nói chung, Newman đã dẫn chứng các sự kiện và nhân vật trong cộng đồng người Việt tại San Jose mà ảnh hưởng và tác dụng của vấn đề cần đặt trong bối cảnh chung của tình hình xã hội và chính trị tại địa phương, chẳng có sự liên quan trực tiếp nào đáng kể trên sinh hoạt của Phật giáo tại San Jose. Trên tiêu chuẩn “handbook” của ngành báo chí Hoa Kỳ, Bruce Newman săn tin rất “động” nhưng lại chưa đủ “tĩnh” để có thể hiểu hết thực chất “tướng” và “tánh” – bóng và hình – của một cộng đồng dân tộc và văn hóa “bốn nghìn năm văn hiến” quá nhiêu khê như người Việt Nam.

Trong một bài viết trước đây về Phật Ngọc nhan đề “Phật Ngọc, hình tướng và thật tánh của hoà bình, an lạc”, kẻ đang viết những dòng nầy đã cố gắng ứng dụng đồng thời hai tuyến dữ kiện “động” và “tĩnh” để trình bày một phần quan điểm của mình về Phật Ngọc. Nay trong bài viết tiếp theo nầy, người viết bằng vào diễn biến thực tế và ý kiến của nhiều Phật tử trực tiếp tham dự Lễ Hội để nhận định về tác dụng trực tiếp cuộc du thỉnh “world tour” vòng quanh thế giới của Phật Ngọc đối với cộng đồng Phật giáo Việt Nam.

Xin tạm gác qua lắm chuyện thị phi bên lề diễn biến của tiến trình trưng bày Phật Ngọc liên quan đến sự được thua, hơn kém, to nhỏ, mạnh yếu, khen chê… về thế lực, tài chánh, khả năng tranh chấp quyền lợi; cùng những hào quang dễ dãi và bóng đen vu vạ mà xưa nay trong bất cứ hoàn cảnh nào và thời điểm nào cũng có. Một khi có sự tương tác từ hai người trở lên thì sự va chạm cá nhân và phe phái không thể nào tránh khỏi. Nhà sư Tích Lan, Tikhome Lanka, đã viết trong Pháp Ngữ Diễn Đàn (Dharma, 2001) rằng: “Tôn giáo dính vào tiền bạc và quyền thế tranh chấp đời thường là đang bước lên cỗ xe năng động: Chạy lên trời Đâu Suất hay rớt xuống Địa Ngục dễ dàng như trở bàn tay! Nhà tu ngày nay đến với cảnh giới giải thoát hay cứu cánh đắc đạo thường mua vé xe bằng tiền bạc nên chỉ đi được xe ngựa xe đò; trong lúc đó, cuộc đời quá ngắn ngủi thì phải đi bằng tốc độ tâm linh nhiệm màu nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng mới mong về kịp chốn ước mơ trước khi nhắm mắt xuôi tay!

Trong khi tôi đang viết những dòng nầy tại Sacramento thì đang hàng trăm người từ San Jose, Fresno, Stockton và các vùng lân cận đã kiên tâm chờ đợi tới mấy ngày, nhưng không ít người đã ra về tay không. Hầu hết những người ở xa cho biết là họ đã phải thức dậy từ 2, 3 giờ sáng để lái xe về địa điểm Phật Ngọc, xếp hàng chờ đợi để cố mua cho được một miếng tượng mỏng, nhỏ hơn hai ngón tay. Đại chúng được cho biết và có giấy chứng nhận đây là thành phẩm chiết ra từ khối ngọc chính tạc tượng Phật Ngọc. Tôi quan sát những khuôn mặt chờ đợi phờ phạc nhưng phát nụ cười hớn hở khi vừa ra khỏi cửa với miếng tượng nhỏ xíu trên tay. Cũng đã có quá nhiều lời bình phẩm – trong cũng nhiều mà đục cũng lắm – về ý nghĩa, động cơ và tác dụng của việc mua và bán tượng đeo bằng ngọc nầy. Trong muôn một, tôi thử tiếp xúc với một người vừa mua được tượng ngọc và “phỏng vấn”. Anh cho biết anh là Trần Quốc Mỹ, ở Stockton, đã trải qua “công đoạn” đợi chờ hết sức vất vả suốt mấy ngày mới mua được tượng ngọc. Anh cho biết là đã nghe quá nhiều chuyện thật hư, nhưng “tội ai nấy hứng, ai tu nấy chứng”, nên chẳng quan tâm đến chuyện thị phi, tin hay không tin là do mình. Anh kết luận thoải mái rằng: “Bạc vàng thì có giả, có thiệt do người ta mang tới, nhưng lòng tin là do mình. Mua một niềm tin có khả năng biến thành nguồn vui, hay hơn nữa thành nguồn an lạc thì quả là vô giá. Nhưng ở đây tốn kém chỉ bằng mua một cái vé đại nhạc hội Paris by Night thì cũng là thú vị.” Câu nói của anh làm tôi nhớ tới những hòn đá “tô-tem” làm vật thờ cúng của người cổ sơ.

Ông Trần Quốc Mỹ với tượng ngọc trên tay

Hai mẫu tượng ngọc phát hành trong dịp Lễ Hội cung nghinh Phật Ngọc

Niềm tin tôn giáo, dù chỉ là năng lực vô hình của tinh thần và tâm linh, nhưng lại chiếm ngự phần đời rất lớn của những người tôn giáo. Có tôn giáo hành đạo mỗi ngày năm lần bảy lượt để cầu nguyện. Có tôn giáo khi đã theo là hiến trọn đời mình cho giáo chủ. Đạo Phật thường nói đến con đường từ bi và trí tuệ không phải vì có một pháp môn chuyên nhất đưa tới giác ngộ, nhưng đức Phật đã chỉ ra vô lượng pháp môn hành đạo mà đời thường đưa ra con số làm biểu tượng là tám vạn bốn ngàn. Trên con đường thênh thang tùy duyên ấy, có những hình ảnh quán niệm tĩnh lặng cao thâm; nhưng cũng có lúc phải cần tới “lục thời công phu” và môn phái Tịnh độ hành trì Pháp môn Niệm Phật, giữ cho được “nhất tâm bất loạn” thì niệm Phật thường hằng không lúc nào dứt niệm. Nói tóm lại, đi vào lĩnh vực đức tin tôn giáo là đi vào một thế giới khác mà những tiêu chí và luận lý đời thường không thể nào lý giải và hiểu cho rốt ráo được.

Trong những ngày qua, môi trường truyền thông đại chúng người Việt cũng như người nước ngoài đã đưa ra một lượng thông tin khá phong phú và đa dạng về Phật Ngọc. Khuynh hướng đồng nhất hóa giữa biểu tượng và chân pháp; giữa phương tiện và mục tiêu; giữa lòng tin và lợi dụng; giữa hoằng dương và quảng cáo, giữa lý và sự đã đưa tới nhiều sự duy diễn quá xa vời.

Hiện tại, tượng Phật Ngọc đang được trưng bày tại Sacramento sang ngày thứ tư. Nhiều khách hành hương đã bày tỏ sự tán đồng về danh xưng: “Lễ hội cung nghinh Phật Ngọc…” vì nó tránh được sự cường điệu và thánh hóa không hợp với tinh thần đạo Phật. Người ta ước mong rằng, nếu lễ hội được mở ra bằng những tấm lòng và ý hướng chân chính tất sẽ thành Pháp hội. Phật giáo cận đại và hiện đại có nhiều khả năng lập ra nhiều Giáo hội nhưng thiếu Pháp hội. Giáo hội là để lãnh đạo và khống chế nhau bằng thế và lực; nhưng Pháp hội là để đến với nhau trong tinh thần hòa đồng, bình đẳng, tin yêu và chia sẻ.

Lời phát biểu của thầy Thích Minh Đạt trong lễ khai mạc đã một phần làm sáng tỏ cho một cách nhìn chánh niệm: “Phật vẽ trên giấy, Phật thêu trên lụa, Phật tạo bằng đất sét, bằng xi măng, bằng thạch cao, bằng tất cả các loại đá trong đó có loại đá quý mà chúng ta gọi là “Ngọc”… tất cả đều không có khả năng mang lại hòa bình cho thế giới. Chỉ có một vị Phật duy nhất có đủ khả năng mang lại hòa bình cho thế giới, đem lại an lạc hạnh phúc cho mọi loài, đó là Phật Tâm (…) Tâm bình thế giới bình.”

Phật Ngọc không ở đâu, không giống định kiến nào, không thuộc về ai cả mà ở chính trong đôi mắt của người nhìn. Cái nhìn xuất phát từ Tâm. Phật Ngọc trong mắt ai… sẽ không giống Phật Ngọc trong tưởng tượng và suy diễn của tha nhân. Phải chăng vì nó không giống ngón tay chỉ mặt trăng mà bởi nó là đôi mắt thật của tâm sinh và tâm khởi trong nguồn năng lượng lành: Ai nhìn nấy thấy.

Sacramento, 4-10-2010

© 2010 Trần Kiêm Đoàn

© 2010 talawas


[1] Sở dĩ có cái phụ chú nầy vì đã có ý kiến phản bác danh xưng Phật Ngọc.Ý kiến này cho rằng “Phật là Phật; là đấng giác ngộ viên mãn chứ không có Phật ngọc, Phật vàng, Phật bạc gì cả).Vì người viết không tự đặt mình ở vị trí để tranh biện về chính danh – định phận hay dính líu vào một hình thức luận bàn hình thức không cần thiết tương tự, nên xin gọi theo thế danh đại chúng về ngôi tượng là Phật Ngọc. Thật ra, mọi danh xưng, danh vị, danh từ tạm dùng để gọi tên vạn pháp theo tinh thần đạo Phật đều là giả danh. Lời Phật: “Chân pháp không phân biệt. Nhìn đúng là nhìn thẳng vào bản lai diện mục của tất cả các pháp đều không có tự tánh nên chẳng chấp trước nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả. Nhìn cành hoa không phải là cành hoa mới thật là cành hoa.”

[2] Xem toàn văn tường thuật tại trang web: http://www.sacbee.com/2010/10/04/3076893/jade-buddha-draws-throng-praying.html

[3] Practical Psychotherapy: Adaptation of dialectical behavior. Gerald Amada. Batam, NY; NY, 2009.

[4] Toàn văn bài viết nầy đã đăng lên mạng lưới toàn cầu, ở địa chỉ: http://www.mercurynews.com/ci_16087076?nclick_check=1

Phản hồi

141 phản hồi (bài “Trần Kiêm Đoàn – Phật Ngọc trong mắt ai”)

  1. Lê Anh Dũng nói:

    Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên,

    Xin chia sẻ với 2 bác 3 bài trong serie “Sáng Thế Ký đọc bởi một người Việt Nam” của bác sĩ Nguyễn Hoài Vân:
    http://nguyenhoaivan.com/?do=news_detail&id=114&kind=1
    http://nguyenhoaivan.com/?do=news_detail&id=115&kind=1
    http://nguyenhoaivan.com/?do=news_detail&id=116&kind=1

    Nguyễn Hoài Vân sinh ở Thụy Sĩ, được chăm sóc lúc bé thơ bởi các bà sơ Thụy Sĩ. Anh học tư thục Công Giáo La san Taberd tại Sài Gòn trước 1975, là vai đàn anh của tôi. Bài được viết theo một văn phong theo thiển ý là Âu Châu – nơi mà đa số con người không còn giữ một thái độ đối với Kinh Thánh lẫn Thiên Chúa giáo như những Ki-tô hữu ở Mỹ trong đời sống thường ngày. Những người sùng tín cần hít một hơi sâu, bình thản khi đọc 3 bài được giới thiệu ở trên.

    Website http://nguyenhoaivan.com/ cũng có mục Tôn giáo tâm linh khá phong phú, đặc sắc, soi rõ hơn cái nhìn của Nguyễn Hoài Vân về Tôn giáo tâm linh.

    Giống như bác Đào Nguyên, tôi cũng bị bối rối, chóng mặt bởi vô vàn chi tiết của Cựu ước, do đó tôi cũng chỉ đọc chéo bài “Sáng Thế Ký đọc bởi một người Việt Nam” của anh Vân vì bài của anh dẫn ra muôn vàn điều tới từ Sáng Thế Ký của Cựu ước. Dầu đọc chéo nhưng tôi thấy cách đặt vấn đề của anh là lý thú, đáng đọc bởi người ngoại lẫn Ki-tô hữu.

    Thân kính.

  2. Trầm Kha nói:

    “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với niềm tin rằng đó không phải là những câu chữ tĩnh lặng mà đó là những Từ ngữ-sống và tôi luôn phải mở rộng tâm trí với thiên khải mới…”

    Thưa bác Lê Anh Dũng,

    Tôi hết sức tâm đắc với câu trên, đoạn cuối trong trích dẫn Obama của bác song lại là nền tảng cho bài viết của bác và cũng là giải pháp cho vấn đề chính bác đã vạch ra rất rõ ràng:
    Vấn đề hội nhập của Ki-tô giáo trước tiên là hội nhập với thời đại.

    Bỏ qua vài điểm thứ yếu mà tôi chưa đồng ý với bác, như:
    - Mức độ trầm trọng trong việc sát/hiến tế con người làm lễ vật dâng thần linh, thời xưa.
    - Thái độ bất dung mà Kinh Thánh phản ảnh, đặt vào giai đoạn lịch sử chuyển từ đa thần sang độc thần,
    tôi có cùng quan điểm với bác về Martin Luther và về việc “cần áp dụng lối suy nghĩ cách mạng của Martin Luther để lời Thiên Chúa là lời Hằng sống.”

    Thật thú vị với tuyên bố của Obama:
    “Nếu một người sống dựa vào lời cam kết không thoả hiệp đó thì là siêu phàm, còn nếu chính sách được dựa trên cam kết không thoả hiệp đó thì sẽ là nguy hiểm.”
    Đồng ý hay không, đó vẫn là một… thoả hiệp tuyệt vời về “cam kết không thoả hiệp”.
    Và vì đó là một thoả hiệp, tôi chắc Obama không tính trở thành một Martin Luther mới. ;)

    Còn TÌNH YÊU? Tôi thích dùng chữ TÌNH THƯƠNG hơn, bác ạ! Xin phép bác để tôi gói ghém cái… tình ấy trong phần thưa chuyện với bác Trung Thứ.

    Thưa bác Trung Thứ,

    Lần này tôi mạn phép thưa chuyện trực tiếp với bác.
    Trước tiên, tôi xin tạ lỗi cùng bác (và bác nguyen mai linh) về cách bày tỏ những bất đồng của tôi với quan điểm của bác, theo cái lối gián tiếp rất… “đậm đà bản sắc”… “đâm bị thóc, chọc bị gạo” của tôi.

    Từ lâu, tôi đã chấp nhận ‘đánh mất mình’ (dưới mắt người khác) như thế để gợi mở/lèo lái/kích động những người xung quanh chú tâm vào những điểm tôi cho là trọng tâm, với xác quyết rằng: TÌNH THƯƠNG, cũng như mọi thứ khác, có cái giá của nó, và luôn luôn… đúng giá.

    Mặc dù, (dường như) bác sẵn sàng đánh đổi mọi thứ ở đời này để được ơn cứu độ (cho mình?), trong khi -đúng ra là chính vì- bác vẫn vật vã với việc “đánh mất mình” để YÊU THƯƠNG, tôi luôn kính trọng và mong gửi đến bác tình THƯƠNG MẾN (thương) của tôi.

    Kính chúc hai bác an lành,
    (xin mượn chữ của bác Đào Nguyên)
    Thân kính.

  3. Tôi cũng có đọc những câu chuyện với nhiều ẩn dụ và những dụ ngôn đầy tính thần học đượm nét duy linh trong Kinh Thánh Tân và Cựu Ước (bản cũ xuất bản năm 1930 do nhà văn Phan Khôi nhuận sắc) và gặp trở ngại chính là không hiểu hết được những gì mình đọc với một đầu óc từ lâu vừa duy lý vừa mang nặng ảnh hưởng sâu đậm của nếp suy nghĩ hay các kinh nghiệm sống thường ngày theo văn hóa Việt Nam cộng với sự dốt về cổ sử của dân I-sơ-ra-ên và các dân tộc khác ở Trung Đông và sự dốt về các ngôn ngữ Hê-bơ-rơ và Hy Lạp nên không bao giờ có can đảm phán đoán sự hiểu biết của chính mình hay sự bàn luận của người khác về Kinh Thánh. Đó là các yếu tố chính gây nhiều khó khăn khi hội nhập và sống theo nếp sống của một người tin Chúa tại xã hội đặt nền trên nền văn minh Cơ-Đốc nơi đang định cư. Tôi cũng nhận thấy khi dân bản xứ đang mãi mê thâu lượm các hoa quả trong ánh sáng đức tin của họ tôi lại mần mò trong bóng tối để tìm chút ánh sáng trong Kinh Thánh để soi đường tìm đến đức tin.
    Đôi dòng chia xẻ kinh nghiệm khó khăn về hội nhập ở nước ngoài, và hoàn toàn thông cảm với những người tin Chúa trong nan đề hội nhập trong xã hội đầy dẫy khó khăn và lắm nhiêu khê ở VN . Kính chúc an lành.
    ĐN

  4. Lê Anh Dũng nói:

    (tiếp)

    Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như một mẫu hóa thạch của một nếp suy nghĩ từ các thế kỷ trước mà tôi trải nghiệm được những xung đột trong nội tâm, trong gia đình hay cộng đồng xung quanh mà cha ông, tổ tiên của tôi đã trải qua trong gần 500 năm nay.

    Do đó, tôi nghĩ vấn đề hội nhập của Ki-tô giáo trước tiên là hội nhập với thời đại, vì hội nhập với thời đại bao gồm nhiếu vấn đề con người tự động đặt ra khi nhận thấy rõ ràng là qủa đất nhỏ xíu, nhưng có rất nhiều nếp sống khác nhau, không thể áp đặt bất kỳ một khuôn mẫu dù hay đẹp tới đâu trong bất kỳ lãnh vực nào (tôn giáo, chính trị, văn hoá …) cho mọi người mà không vấp phải phản ứng dữ dội nếu không nhìn lại, xét lại khuôn mẫu đó, phân biệt chính, phụ.

    2. Phải làm gì?

    Dưới đây chỉ là những suy nghĩ đóng góp, không phải câu trả lời, đề nghị.

    Có sự mâu thuẫn rất lớn giữa sự khoan dung “yêu thương và cầu nguyện cho kẻ thù” của Kinh Thánh và những điều răn nhỏ mọn, đố kỵ, vơ đũa cả nắm khi không muốn con chiên thờ kính bất kỳ giá trị, ông thầy nào khác, BẤT KỂ TỐT, XẤU.

    Nhìn vào kính viễn vọng quan sát vô số thiên hà mờ nhạt cách chúng ta hàng tỷ năm ánh sáng để thấy rằng nếu Thiên Chúa là đấng sáng tạo ra Vũ Trụ Vạn Vật từ tỷ tỷ thiên hà tầm vóc vô biên tới những DNA vi tế huyền nhiệm, cấu trúc cơ bản của mọi sinh vật, thì ngài không hơi đâu mà có những răn dạy nhỏ mọn, đố kỵ như một số điều được gán cho ngài như trong Kinh Thánh để mà áp dụng chúng một cách cực đoan, bất khả nhượng.

    Kinh Thánh, ngoài những giảng dạy cao đẹp, nâng cao con người, cũng có vô số những giảng dạy đố kỵ, những cư xử ác độc mà ngay cả những đạo gọi là tà giáo cũng không thấy có như chuyện Abraham sẵn sàng giết con Isaac (nếu Chúa biết hết, sắp sẵn thì Chuá không cần phải thử Abraham, chỉ vì không biết nên mới phải thử xem Abraham có nghe lời mình không), và một đấng THƯƠNG YÊU không thể nào đặt ra một phép thử như vậy để thử lòng trung, một ông bố yêu con và trung với Chúa sẽ dâng chính bản thân cho Chúa (tự tử) thay vì vung dao lên giết con như vậy. Nhưng cũng thật bất công nếu chỉ trích dẫn một số điều trong Kinh Thánh để nói Kinh Thánh là tốt và lơ đi những điều xấu, hay ngược lại trích một số điều xấu, gớm ghiếc và lơ đi những điều cao đẹp. Không thể phán đoán theo những lát cắt phiến diện rồi khái quát hóa vì nó sẽ làm mất đi nửa sự thực, nhưng phải nhìn lại 2000 năm lịch sử loài người và nhận thấy rằng có một chuỗi dài xung đột của những người tin vào Kinh Thánh, giữa mình (Công Giáo, Tin Lành, Anh Giáo …) và với người, có những xung đột kinh khủng đẫm máu hàng vài trăm năm.

    Chính vì thế, người Ki-tô hữu phải đọc, chiêm nghiệm, và sống Kinh Thánh với ý thức “rằng đó không phải là những câu chữ tĩnh lặng mà đó là những Từ ngữ-sống và tôi luôn phải mở rộng tâm trí với thiên khải mới”, với ý thức rõ ràng rằng những diễn đạt, sống Kinh Thánh một cách hẹp hòi đã và còn sẽ đưa tới vô số đổ vỡ, tội ác lập đi lập lại như một pattern ở nhiều địa phương, nhiều thời đại. Phải đọc, phải sống thế nào để những đỗ vỡ này không xảy ra, nếu không tất cả chữ nghĩa, biện bác chỉ là vô nghĩa.

    TÌNH YÊU đòi hỏi một số điều kiện: Hiểu biết lẫn nhau, dung hòa, tương nhượng “yêu nhau chín bỏ làm mười”. Hiểu biết lẫn nhau đòi hỏi người Ki-tô hữu nhìn nhận những nguyên tắc có giá trị phổ quát của nhân loại như “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”, những biểu hiện “Tham, Sân, Si” có thể giải quyết tốt bằng những kỹ thuật như “Từ, Bi, Hỷ, Xả” … đóng góp rất nhiều cho việc xây dựng Tình Yêu. Rằng những nguyên tắc này cần được mở lòng khiêm tốn để học hỏi, phải biết xiển dương tác giả của những nguyên tắc này, thay vì nhìn chúng với con mắt tôn giáo cực đoan, phân biệt “trong Chúa”, “người ngoại” v.v… Biết nhìn thấy nhau, đó là TÌNH YÊU.

    Về lâu dài thì phải đặt ra vấn đề đọc lại Kinh Thánh với con mắt mới, đây là một bước quan trọng tương tự như lúc Martin Luther làm một bước rẽ với Công Giáo La Mã. Cần trên 15 thế kỷ để Martin Luther làm điều này và ông đã mang lại một sức sống mới cho Ki-tô giáo. Thế nhưng trong 5 thế kỷ vừa qua, thế giới biến chuyển mau lẹ với gia tốc exponential, con người tiếp xúc, cọ xát với nhau nhiều hơn, cơ hội xung đột cũng xảy ra nhiều hơn, và một lần nữa khuôn mẫu của Martin Luther đã mau chóng trở nên lạc hậu. Cần áp dụng lối suy nghĩ cách mạng của Martin Luther để lời Thiên Chúa là lời Hằng sống thay vì một số qui tắc sơ cứng, chết mòn. Không cần một ông Tây nào dẫn đường, người Ki-tô hữu VN phải thấy vấn đề của VN rõ hơn người ngoại quốc và có đóng góp tương xứng. Hãy khôn ngoan và tự tin.

    Với Ki-tô giáo VN, trước mắt thì vấn nạn cụ thể lớn nhất là của Tin Lành VN (Công giáo VN đã từ từ thoát ra vấn nạn này) với đại khối dân tộc do cách diễn dịch nghèo nàn, bất dung Kinh Thánh trên vấn đề thờ cúng tổ tiên. Nghèo nàn vì diễn dịch sai lạc, tôn giáo hóa niềm thương nhớ, kính ngưỡng những gì đã xa khuất vốn là xương máu ruột thịt của chính mỗi người mà từng tế bào được truyền lại từ tổ tiên, cha mẹ. Sự cấm đoán, ngăn trở thờ cúng tổ tiên (dựa trên sự diễn dịch nghèo nàn Kinh Thánh) đưa tới những nỗi phẫn hận chính đáng, âm ỉ nhưng càng ngày càng lớn, và sẽ tồi tệ hơn nếu không được công khai bàn thảo, đối diện với vấn đề này để tìm cách giải quyết. Để rồi như lịch sử đã nhiều lần chứng minh rõ ràng bằng máu, là nỗi phẫn hận âm ỉ sẽ bùng phát dữ dội khi tia lửa được bắn ở đúng thời điểm.

  5. Lê Anh Dũng nói:

    Thưa bác Trung Thứ,

    Trong cảnh talawas chưa ra thông cáo sau cùng, có vẻ không còn mấy ai hứng thú trao đổi phản hồi như trước, dầu vậy tôi cũng xin đi tiếp một đoạn đường với bác Trung Thứ và một số Ky tô hữu về vấn đề tôi hằng quan tâm: hội nhập Ky tô giáo vào Việt Nam. Tôi sẽ lại đề cập 2 vấn đề:

    - Tại sao hội nhập là một vấn đề bắt buộc?
    - Phải làm gì?

    Thực ra, đây là một đề tài quan trọng, khó khăn, phức tạp; trong bối cảnh của thời gian eo hẹp hiện nay, chỉ xin đóng góp vài nét kiểu brain-storming, mong có dịp gặp lại những người quan tâm trong một hoàn cảnh thuận tiện hơn.

    1. Tại sao hội nhập là một vấn đề bắt buộc: Theo linh mục Quynh thì người Thiên Chúa giáo VN chiếm khoảng 6.5% (5.8 triệu/ 90 triệu dân), tỷ lệ này không tăng từ một thế kỷ nay, ông lý giải “Từ một thế kỉ nay, tỉ số giáo dân ở Việt Nam không tăng : năm 1886 là 6,5 % (650 000 người Công giáo trên dân số 10 triệu người), năm 2000 vẫn là 6,5 % (5 triệu / 77 triệu). Bởi vì người ta vẫn tiếp tục rao giảng một thứ Ki tô giáo Tây phương. Ở đây, Giáo hội đã miệt thị đạo Phật, đạo Khổng, đạo thờ ông bà… Phải kết hợp hơn nữa niềm tin mấy trăm năm của Giáo hội với tư tưởng Việt Nam và truyền thống tổ tiên” (http://www.diendan.org/viet-nam/linh-muc-p-h-quynh-ab-phai-xay-dung-lai-tam-hon-kito-cua-giao-dan-viet-nam-bb/).

    Như tôi đã trình bày, có khoảng từ 130 ngàn tới 300 ngàn người VN bị giết vì đạo trong mấy thế kỷ qua. Chuyện này xảy ra, tôi nghĩ là do cách hành đạo, truyền giảng của Thiên Chúa giáo đã tấn công vào cốt tuỷ của văn hóa bản địa khi bài xích, miệt thị chúng và bị phản ứng; nhất là trong bối cảnh lịch sử của các thế kỷ trước, khi con người từ các phương trời khác nhau chưa hiểu biết về nhau như bây giờ, hơn thế dù Thiên Chúa giáo vào VN trước khi Pháp xâm lược VN, nhưng lại có thời gian đồng hành với nhau, nên có giao thoa giữa “sát tả” và “bình Tây” trong số nạn nhân của những phong trào yêu nước, chống Pháp như Văn thân, Cần vuơng.

    Dưới đây, tôi muợn rất nhiều trích dẫn từ mắt của một người Tin Lành Mỹ – Barack Obama, nay là tổng thống Mỹ qua cuốn Hy vọng táo bạo (The audacity of hope), nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2008, dịch gỉa Nguyễn Hằng (tôi có nguyên tác nhưng không có thời giờ đọc để kiểm soát lại xem dịch có chỉnh không). Dẫn nhiều vì Obama là một người có cái nhìn bao quát, khá thấu đáo về sự liên quan của các mặt. Ý thức về những thách thức, vấn nạn mới của thời đại, ông đề cập tới chúng như một nhà tư tưởng hơn là chính trị gia, và ông diễn đạt ý tưởng một cách đơn giản nhưng diễm lệ.

    Obama đề cập tới những điều được viết trong Kinh Thánh như sau:

    “Chúng ta nên theo Leviticus trong đó nói rằng chế độ nô lệ là tốt và ăn các loại thủy sản không có xương sống là hành động đáng ghê sợ? Thế còn Deuterotomy, trong đó nói rằng hãy ném đá đứa con của mình nếu nó lạc mất niềm tin? Hay chúng ta chỉ nên bám lấy đoạn Thuyết pháp trên núi – một đoạn kinh cực đoan đến nỗi tôi nghi là Bộ Quốc phòng của chúng ta chưa chắc đã tồn tại được trước thực tế áp dụng đoạn kinh này”.

    “Với những người tin vào tính đúng đắn tuyệt đối của Kinh Thánh – phần lớn người Tin Lành tin vào điều này”.

    “Khi giáo viên dạy khoa học khẳng định thuyết Sáng thế hay thuyết Sáng tạo thông minh không có chỗ trong lớp học thì không phải họ đang nói rằng kiến thức khoa học ưu việt hơn tinh thần tôn giáo. Họ chỉ muốn nêu rõ rằng mỗi con đường dẫn tới hiểu biết liên quan đến những quy tắc khác nhau, và không thể hoán đổi các quy tắc đấy cho nhau”.

    “Cơ bản ở mức độ nào đó, tôn giáo không cho phép thoả hiệp. Nó khẳng định cái không thể. Nếu Chúa đã từng thuyết giảng thì tín đồ hẳn phải sống theo những lời dạy đó, bất kể hậu qủa ra sao. Nếu một người sống dựa vào lời cam kết không thoả hiệp đó thì là siêu phàm, còn nếu chính sách được dựa trên cam kết không thoả hiệp đó thì sẽ là nguy hiểm.

    Câu chuyện về Abraham và Isaac chính là một ví dụ đơn giản nhưng thuyết phục. Theo Kinh Thánh. Abraham, theo lệnh của Chúa, phải hy sinh “con trai duy nhất, người mà ngươi yêu” để cúng tế cho Chúa. Không suy nghĩ gì, Abraham đem Isaac lên đỉnh núi, trói con vào bàn thờ và vung dao lên, chuẩn bị thực hiện điều mà Chúa ra lệnh.

    Dĩ nhiên, chúng ta đều biết câu chuyện kết thúc có hậu – vào phút cuối cùng Chúa đã gửi thiên sứ xuống để ngăn hành động đó. Abraham đã vuợt qua được sự thử thách của Chúa về sự tận tụy. Ông trở thành hình mẫu về lòng trung thành với Chúa, và niềm tin lớn lao của Abarham được tưởng thưởng cho các thế hệ sau. Còn hiện tại hoàn toàn bình thường khi nói rằng bất cứ ai trong chúng ta thấy một Abraham ở thế kỷ 21 đang vung dao trên nóc một toà nhà thì chúng ta sẽ gọi cảnh sát, sẽ vật ngã anh chàng đó kể cả khi anh ta nói rằng vào phút cuối cùng anh ta đã hạ con dao xuống; chúng ta chờ đợi ủy ban Trẻ em và gia đình sẽ đưa Isaac đi và buộc Abraham vào tội ngược đãi trẻ em”.

    “Cuối cùng, để có sự hoà hợp giưã tín ngưỡng và nền dân chủ đa nguyên cần phải có thái độ công tâm, công bằng. Điều này hoàn toàn không xa lạ với các lý luận tôn giáo; ngay cả những người tin vào tính đúng đắn của Kinh Thánh cũng phân biệt những lời Kinh thánh giáo huấn, dựa trên quan điểm rằng một số phần, ví dụ Muời lời răn của Chúa hay niềm tin vào tính thần thánh của Jesus, là cốt lõi của niềm tin Thiên Chuá, còn những phần khác chỉ mang tính đặc thù văn hoá và có thể thay đổi cho phù hợp với cuộc sống hiện đại. Bằng trực giác, người Mỹ cũng hiểu điều này, đó là lý do tại sao đa số người Công Giáo vẫn áp dụng các biện pháp tránh thai”.

    “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với niềm tin rằng đó không phải là những câu chữ tĩnh lặng mà đó là những Từ ngữ-sống và tôi luôn phải mở rộng tâm trí với thiên khải mới – bất kể lời đó do một người bạn đồng tính nữ hay một vị bác sĩ phản đối nạo phá thai nói ra”.

    Là Hiệp chủng quốc, đa nguyên, đa văn hoá nhưng câu “in God we trust” lại được in trên đồng đô-la, nước Mỹ không có những xung đột hay bách hại tôn giáo như Việt Nam, nhưng vấn đề “hội nhập” đã được Obama nhận diện và đặt ra, ở đây “hội nhập” là hội nhập với thời đại để đối diện với những vấn đề của thời đại.

    Khác với các nước phương Tây, Ki-tô giáo (Công giáo, Tin Lành) Việt Nam không chỉ phải đối diện với thời đại mới mà còn đối diện với một văn hóa, những tôn giáo bản địa có hàng ngàn năm lịch sử, và vẫn có ảnh hưởng trên đa số quần chúng. Công Giáo VN đã trải qua gần 5 trăm năm xung đột tại VN với khoảng 300 ngàn người bỏ mạng, Tin Lành VN du nhập được 99 năm nhưng đang đi những bước y như những bước Công Giáo VN đi 500 năm trước, chả lẽ không thấy được việc nhận diện vấn đề là quan trọng, lẫn sự cấp thiết phải giải quyết vấn đề hội nhập?

    Albert Einstein nói “The world is not dangerous because of those who do harm but because of those who look at it without doing anything.”

    Gần đây Công giáo VN đã có những bước tiến rất đáng ngợi khen, trong khi đó nhà thờ Tin Lành VN là nơi chốn tôi thăm viếng hàng tuần từ vài năm nay vẫn mang tới cho tôi những lời giảng dạy như tới từ một bản Thánh Kinh được hoá thạch (fossil) từ 2000 năm. Họ rao giảng một tín ngưỡng, một văn hoá, một nếp sống, những quy cách được đông cứng từ 2000 năm, không quan tâm tới cách con người nhìn sự việc vào thế kỷ 21, không quan tâm tới thế giới không chỉ có xứ Israel với các lân bang trong một hình vuông có mỗi chiều trên 1500 km mà Kinh Thánh đề cập, mà là nhiều tỷ người sống trên nhiều lục điạ, có những lịch sử, dân tộc, tập quán khác nhau. Số lượng chữ “ma qủy” mà cuộc đời 2 thứ tóc của tôi được nghe trước khi biết tới nhà thờ Tin Lành chỉ bằng 1/10 lượng chữ “ma quỷ” mà tôi nghe ở nhà thờ Tin Lành trong vài năm gần đây! Ở nhà thờ Tin Lành VN, tôi được biết tới một hình thức tôn giáo hẹp hòi, sự tu nhân, tích đức, hoàn thiện hoàn toàn không là một ưu tiên, chỉ được nhắc tới cho có như trang điểm. Tuyệt đại đa số lời giảng hướng về việc thờ phượng Thiên Chúa để được cứu rỗi, được phước từ Chúa. Nhiều xung khắc giữa tín đồ với nhau, giữa tín đồ và mục sư không thể giải quyết bằng lời cầu nguyện vì thiếu đóng góp của công cụ lý trí, vắng bóng của sự khôn ngoan, thiếu công cụ điều tâm, dưỡng tính… nên hết chuyện này tới chuyện khác xảy ra liên tục, không chỉ trong một nhà thờ mà trong tất cả các nhà thờ mà tôi biết tới.

    “Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai Cập, khỏi cảnh nô lệ.

    Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta.
    Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ.

    Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần ghen tương. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông.
    còn với những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời …”
    ( http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C6%B0%E1%BB%9Di_%C4%91i%E1%BB%81u_r%C4%83n ).

    Như dẫn từ trên, Thiên Chúa trong những điều răn đầu tiên của 10 điều răn là một ông thần đố kỵ, ghen tương, không chấp nhận con chiên được hướng tới bất cứ một giá trị, một đấng nào khác, BẤT KỂ XẤU HAY TỐT. Mười điều răn viết cho dân Do Thái được các nhà truyền giáo mặc nhiên áp dụng cho các dân tộc khác, văn hoá khác. Ở VN được thể hiện bằng cách áp dụng máy móc, cực đoan như liệt ông bà, tổ tiên vào “thần khác đối nghịch với ta” để không được phụng thờ. Đây là một tội ác văn hóa phạm phải bởi các nhà truyền giáo thiếu suy nghĩ hoặc chưa có thời giờ nghĩ tới, của những thế hệ trước, và vẫn tiếp tục được duy trì ở nhà thờ Tin Lành VN. Tội ác văn hóa này đã dẫn tới những cuộc đổ máu, xung đột dữ dội thực sự từ đời này sang đời nọ. Người Công Giáo VN đã rút được bài học này.

  6. Trầm Kha nói:

    bác Tôn Văn có đấy hay không?
    tôi vẫn còn lẩn
    quẩn lòng
    vòng
    đợi nghe bác luận
    bàn giao
    diện
    niết bàn âm
    phủ đắp thinh không…

  7. Trầm Kha nói:

    Thưa bác Lê Anh Dũng,

    Với PH vừa qua của bác Trung Thứ, và thêm PH gần đây của bác nguyen mai linh trong một bài khác, tôi đành phải thừa nhận rằng:

    Hệt như bác, tôi cũng thấy “(tuyệt đại?) đa số” Ki-Tô hữu “đều chia xẻ một pattern chung” như thế. Tự xét, mọi lý luận của tôi nhằm biện hộ cho Ki-Tô giáo đều trở nên vô nghĩa trước thực tế này.

    Thật vô cùng cảm kích tinh thần phá chấp/bao dung của Phật giáo thể hiện qua cung cách hàm ngôn đàm đạo của bác. Với tôi, đây mới thật là điều Đức Ki-Tô muốn dạy con người.

    Kính.

  8. Trung Thứ nói:

    Thưa Lê Anh Dũng cùng bác Tôn Văn,

    Tôi lại hân hạn được trao đổi cùng các bác.

    1. Trích: “Thực ra chống đối bài xích không phải là chống đối bài xích những chuyện khó tin, hoang đường. Khó tin, hoang đường ở đâu cũng có, nhiều hay ít mà thôi: Mẹ Âu Cơ đẻ trăm trứng. “Tổ tiên người Tây Tạng, theo lời của chính họ, là một con khỉ ! Con khỉ đó không phải tầm thường, nó là một hiện thân của Quán Thế Âm, tìm đến một hang động lạnh lẽo trên núi cao để thiền định. ”

    Chẳng ai bắt buộc và có lẽ chẳng ai tin truyền thuyết về nguồn gốc người Việt hay người Tây Tạng là thật. Còn, những điều lạ lùng, trái với tự nhiên trong Ki-tô giáo thì không phải là chuyện hoang đường, mà được các Tông đồ Chúa chấp nhận hy sinh cả mạng sống để xác nhận rằng đó là sự thật chính mắt họ được thấy, tai họ được nghe. Đấy là sự phân biệt rất quan trọng của người Ki-tô hữu.

    2. Trích: „Chắc bác chỉ hơi giận dỗi mà nói rằng “không làm cái việc ‘gọt chân cho vừa giầy’ … để hòng tìm kiếm tín đồ” thôi, chứ thực không có giáo lý nào mang tính nhân bản, vị tha, (có thể coi như) làm nền tảng cho các giá trị “tự do, bình đẳng, bác ái” của nhân loại lại không tìm cách thu hút tín đồ, tìm đến con người. Tôi không tin “Ki-tô giáo dù bất kỳ nơi đâu thì cũng bị chống đối, bài xích cho đến ngày tận thế”. Giống như mọi tôn giáo, Ki-tô giáo có một nơi xuất xứ là một địa phương; Thế mà ngày nay, cũng giống như nhiều tôn giáo khác, Ki-tô giáo đã có thể (được coi như) ở “bất kỳ nơi đâu” thì rõ rang nó đã phải trải qua quá trình hội nhập và không phải chỉ bị “chống đối, bài xích”.“

    Tôi không có ý cho rằng các tông đồ rao giảng tin mừng lại không mong đợi có người tin theo Chúa mà chỉ cho rằng các tông đồ không phải thu hút tín đồ bằng sự đánh đổi: làm chứng sai về một Con Người mà họ đã cùng sống chung là Đức Ki-tô. Nếu làm chứng sai để muôn dân trên thế giới này theo đạo ấy thì cũng có nghĩa cả thế giới này đang bị lừa dối.
    Tôi cho rằng Ki-tô giáo sẽ còn bị chống đối, bài xích ở khắp nơi cho tới ngày tận thế chứ không cho rằng chỉ có sự bài xích mà không có sự tiếp nhận. Bởi, nếu không có sự đón nhận thì cái Đạo ấy đâu còn tồ tại và tiếp tục phát triển nữa.

    3. Tôi chưa biết kết quả ra sao nhưng thiện chí, nỗ lực của những người chủ trương hội nhập văn hóa tôi cho là đáng trân trọng. Tuy nhiên, tôi vẫn bảo lưu nhận địnhlà khó có sự hội nhập văn hóa, tôn giáo theo cách lập luận như sau.

    Tương qua giữa Văn hóa La-Hy và Ki-tô giáo.

    Các tông đồ đâu tiên của Chúa khi tin mừng tới cho phương Tây thì họ làm gì? Họ cho rằng hoàng đế là người phàm trần, không phải là thần thánh và các tượng thần của La Mã đều chỉ là các ngẫu tượng, không phải là Chúa thật. Nếu một công dân La Mã chấp nhận niềm tin mới này thì dường như không chỉ là sự lột xác mà họ phải tái sinh lại làm một con người với một não trạng hoàn toàn khác. Bản chất là sự từ bỏ cái cũ đón nhận cáo mới – đấy có phải là sự hội nhập không?

    Tương quan giữa các nền văn hóa Đông-Tây.

    Văn hóa của mỗi con người, mỗi cộng đồng hay khu vực không nằm trong một trạng thái tĩnh mà là có sự vận động, thăng, trầm thậm chí có thể bị tiêu vong theo thời gian do tác động bởi nhiều yếu tố: tự nhiên, chính trị, kinh tế, giáo dục…. và các nền văn hóa khác. Trong thời đại ngày nay, con người ta có nhiều điều kiện thuận lợi để giao lưu, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa của các vùng miền thì sự ảnh hưởng tương tác qua lại với nhau là tất yếu. Tuy nhiên, qua sự giao lưu học hỏi có chăng là để hoàn thiện cho nền văn hóa của cộng đồng mình chứ không hội và cũng không nhập với ai cả. Một cách hình tượng, theo tôi, văn ở đây biểu hiện như là dấu vân, là dấu ấn sáng tạo của một cá nhân, một cộng đồng, một dân tộc (dựa trên cơ sở một số chất liệu nào đó) mà không lẫn vào của ai được. Hội gì thì hội, nhập gì thì nhập còn anh vẫn là anh, tôi vẫn là tôi, nếu không thế thì không còn là văn hóa nữa.

    Có thể tôi „dị ứng“ với từ „hội nhập“ vì biết đâu người ta đánh đồng nó với từ “tàn phá”: nhân danh hội nhập mà người ta Hán hóa nền văn hóa của người Tây Tạng; nhân danh hội nhập để biện minh cho việc phá rừng Tây Nguyên ở Việt Nam nhằm khai thác Bauxite, hay phá rừng Amazon ở Nam Mỹ một cách vô tội vạ khiến cho các tộc người thiểu số sinh sống trong đó không còn môi trường sinh sống nên bị lôi ra, nhập vào nền văn minh ngày nay.

    4.Trích: „Từ đánh giá của bác Trung Thứ “Ki-tô giáo chẳng thuộc về và cũng chẳng phù hợp với một nền văn hóa nào trên địa cầu này hết cả”, trong tinh thần học hỏi, chia xẻ, đối thoại, mong bác Trung Thứ cho biết cái được, mất của bác khi bác là người Công Giáo.“

    Xin phép trả lời bác Lê Anh Dũng

    Tôi tin, cái tôi được lớn nhất khi là người Công giáo có thể xem hơn cả người bị bênh Si-đa giai đoạn cuối gặp được thuốc chữa lành – đó là ơn cứu độ. Còn những điều lẻ tẻ khác thì không bàn tới, chẳng hạn, phàm đã làm người thì chẳng ai cần phải nhờ con Thiên Chúa vất vã lặn lội xuống chỉ cho biết giết người, trộm cắp, gian trá là có tội hết cả.

    Cái mất khi là người Công giáo theo kinh nghiệm bản thân: muốn theo được lời dạy của Chúa cả cả về hành động và thái độ thì có khi phải đánh mất mình.

    Trích lời Chúa trong Kinh Thánh: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái nữa.“- Mt 5, 38.

    “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao? Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” – Mt 5, 43-48.

    Lời dạy thứ nhất tôi có thể thực hiện được bằng nỗ lực bản thân. Tôi có thể để cho người ta vả cả hai má nhưng là với thái độ kẻ cả, xem người vã mình như đứa trẻ nít đang phủi bụi cho mình mà không thèm chấp nhất. Nhưng thái độ đấy lại không theo đúng tinh thần Phúc Âm.

    Ở lời dạy thứ 2 Chúa không chỉ đòi hỏi hành động mà yêu cầu cả thái độ: yêu thương và cầu nguyện cho kẻ thù.

    Thực hành thái độ này với tôi là quá khó. Một người có lời nói trái ý mình đôi khi làm mình đã chịu không nỗi huống hồ yêu kẻ có mối thâm thù với mình! Ai đã có kinh nghiệm biến đổi lòng thù hận thành yêu thương? Đấy là sự đau đớn, một sự đánh mất mình. Yêu kẻ thù đã quá khó khăn, đớn đau rồi nhưng có mấy ai thông cảm cho mà có khi còn bị người thân, cộng đồng lên án là kẻ mất lập trường, phản bội nữa. Nhưng đó lại là một đặc điểm để được xem là nên giống Cha trên trời. Bản tánh tự nhiên làm sao tôi có thể can đảm thực hành được điều đó nếu không có ơn Chúa?
    Từ thưở tấm bé tôi đã sung sướng vì cái tên Lý Thông bị sét đánh biến thành bọ hung; con mụ Cám trong truyện Tấm Cám bị chính cô Tấm hiền lành làm thành mắm cho mẹ nó ăn; ngưỡng mộ những đấng trượng phu lẫm liệt như Quan Công trong Tam Quốc; tinh anh, sắc sảo như Án Anh trong Đông Chu Liệt Quốc. Còn, Đạo công giáo thì đòi hỏi mình thực hành những điều bị coi là hèn hạ, khiêm nhu mà chẳng khuyến khích theo đuổi những mẫu người lý tưởng như trượng phu, quân tử mà mình ngưỡng mộ hết cả.

  9. Trầm Kha nói:

    Thưa bác Hoà Nguyễn,

    Chân thành cảm ơn bác đã chiếu cố hồi đáp cho ý tưởng hàm hồ của tôi. Và xin nhận lỗi đã trích dẫn lời bác mà không chú thích đầy đủ, mặc dù tôi đã chú ý tạo link dẫn và thực không hề có ý tách lời bác khỏi văn cảnh.

    Có lẽ đã thừa, song để tiện bề truy cứu khi cần, tôi xin bổ túc:
    “…dựa vào huyễn để tìm an lạc chân thật, như vượt qua nhiều lớp sóng (ảo hoá) để đến bến bờ (giải thoát) bên kia.”
    Tríchphản hồi của bác Hoà Nguyễn, trong bài “Nguyễn Hữu Liêm – Phật Ngọc hòa bình: Trong niềm tin và biểu tượng”
    http://www.talawas.org/?p=24926&cpage=2#comment-17754

    Thưa bác, từ lúc theo dõi và tham gia thảo luận xoay quanh chủ đề Phật Ngọc (bài chủ đã dẫn và ngay tại đây), mặc dù lúc đó chưa đồng tình, tôi vẫn thấy lý lẽ của bác (tóm gọn trong đoạn trích) là rất vững vàng. Xin bộc bạch cùng bác cảm nghĩ hiện tại, sau khi đã đọc phản hồi mới nhất của bác ở đây:

    Quả tình “phương tiện” trong tôn giáo, và ngay chính tôn giáo, là nhu cầu có thật của hầu hết mọi người, cũng như tất cả những nhu cầu khác. Một khi nhu cầu đó chưa được nếm trải và/hoặc thoả mãn, làm sao nói đến chuyện từ bỏ, vượt lên…
    Ví như việc đi học của tôi từ bé đến lớn (một so sánh hẳn rất khập khiễng). Tôi đã phải vin vào đủ mọi phương tiện từ kẹo bánh và những lời dỗ dành ngon ngọt của bố mẹ, thầy cô, … rồi điểm số, phần thưởng và thi đua với bạn bè, … rồi bằng cấp, lương bổng và địa vị xã hội, … Hết đi học lâu rồi mà chưa chắc tôi đã hiểu ra ý nghĩa thật của việc học.

    Đến đây, thưa bác Hoà Nguyễn, tôi lại trộm nghĩ (chắc vẫn hàm hồ) rằng:
    Cái “bất an” mà tôi đã nói do cái huyễn (Phật Ngọc) kia gây ra âu cũng là phương tiện vậy.

    Xin đa tạ bác,
    Kính.

  10. Hoà Nguyễn nói:

    Trầm Kha viết:” “dựa vào huyễn để tìm an lạc chân thật, như vượt qua nhiều lớp sóng (ảo hoá) để đến bến bờ (giải thoát) bên kia.”

    Thiển nghĩ, cái huyễn (Phật Ngọc) kia có đem lại bao nhiêu an lạc thì cũng gây ra bấy nhiêu bất an vậy.”

    Tôi rất ngại tìm lại phản hồi mình đã viết (nghe nói đã trên 100 PH về đề mục này). Cái ý như trên đúng là của tôi, nhưng nằm trong một góp ý riêng , và khi diễn giải thêm có thể không còn hợp với nội dung ban đầu. Tôi chỉ dựa vào những gì đã đọc và muốn viết được thật ngắn, do đó tất phải thiếu sót nhiều, thậm chí có thể sai lạc.

    Về giáo lý, kinh Kim Cang (thuộc Không tông Phật giáo), cho ” những pháp hữu vi đều như mộng, huyễn, bọt nước, sương mù, chớp” (nhất thiết hữu vi pháp như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ diệc như điện). Ở đoạn khác trong kinh Kim Cang viết: “Phàm chỗ nào có tướng đều là hư vọng, bằng cho các tướng chẳng phải tướng tức biết được Như Lai” (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng; nhược kiền chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai “. Dựa vào đó, nhiều người cho mọi thứ đều hư ảo, kể cả tượng Phật, nhất là tìm Phật qua tượng Phật thì chỉ là huyễn mộng, chuyện mò trăng đáy biển.

    Thế nhưng vẫn có giáo lý với chủ trương khác: “Phật pháp không rời khỏi các hiện tượng thế gian” (Phật pháp bất ly thế gian pháp), hay các câu nói như “phiền não tức bổ đề”, cõi “sinh tử tức niết bàn”. Có nhiều cách hiểu, giải thích các câu nói trên cho nhiều trường hợp khác nhau, chỉ dẫn một thí dụ của thiền sư Nhất Hạnh là rác rưởi có thể làm thành phân bón để từ đó có được hoa thơm, đẹp, thanh khiết. Nói chung, tôi hiểu là để đạt tới sự an lạc chân thật cuối cùng (theo Phật giáo quan niệm), hành giả có thể hay bắt buộc phải nương tựa vào những phương tiện trung gian trên bước đường tu tập rất dàì, khó khăn, như là giữ giới, đọc tụng kinh, thờ lạy, chiêm bái, quán tưởng tượng Phật, v.v…Tất cả có thể giúp làm trỗi dậy trong lòng cái gọi là đạo tâm, hay bồ đề tâm, mà bình thường không nhận thấy, và từ đó mới có thể đi xa. Mấy cành hoa cắm đẹp, một khu vườn sau chùa khéo thiết lập, chăm sóc, ngay có khi chỉ là một bức thư pháp, một bài haiku có thể giúp thiền sinh Nhật cảm thấy dễ đi vào cái không khí, tâm cảnh của đạo tràng, đạo pháp, của Zen. Những phương tiện dùng có khi rất nhỏ, hay nhìn theo nhãn quan Phật giáo, thực chất là hư ảo, vô thường như tất cả các pháp, nhưng có thể giúp khởi dấy lên được niềm tin, lòng tinh tấn. Điều quan trọng là đạo tâm để khởi đi xa chứ không phải phương tiện. Sau đó, không thể ôm giữ mãi phương tiện như muốn ôm vác hoài chiếc bè đã giúp qua sông trong một hành trình còn dài.

    Về phương diện thực hành, tôi thấy ở Nam tông và Bắc tông đều dùng phương pháp quán tượng Phật với đủ các tướng tốt của Phật theo lời kinh ghi, để từ đó vào định (thay cho kasina là đĩa đất sét dùng làm đề mục quán tưởng lúc ban đầu, còn thấy trong luận Nam tông). Theo pháp sư Ấn Thuận, Đài Loan (trong một quyển sách tôi đọc), tượng Phật tôn nghiêm làm tăng lòng thành kính, nên dễ giúp định tâm đồng thời dễ hướng tâm về với đạo Phật hơn bất cứ vật thể nào khác. Tuy nhiên, theo ngài khi vào sơ thiền rồi, hành giả sẽ buông bỏ hoàn toàn ảnh tượng Phật, để tâm chỉ tràn ngập trong trạng thái Hỷ (mừng); nhưng cả trạng thái mừng này cũng là vô thường, hư ảo cần buông bỏ để tâm trải nghiệm qua các trạng thái cao hơn như Lạc (vui, ở nhị thiền), an xả, tâm thanh tịnh (ở tam, tứ thiền). Nhưng theo kinh, Phật Thích Ca không dừng lại ở đó, mà còn vượt qua bốn tầng định khác (tới Diệt tận định).

    Những cái gọi là tu chứng được giải thích chỉ là do “duy tâm sở hiện” dọc theo đường tu. Tức chỉ là do tâm biến hiện ra, chỉ là cái huyễn hiện của tâm thức (tuy đã thanh tịnh hơn), nhưng cần nương vào và đồng thời phải vượt qua, và tôi ví như trên là nhiều lớp sóng, hay nhiều lớp vỏ được lột bỏ dần trước khi vào tới chỗ cốt lõi.

    Kể thêm một chuyện thấy trong sách viết về Mật tông Tây Tạng: hành giả nhin tượng Phật (Quan Âm), dần dần thấy mính lá tượng Phật, là chính Phật, rồi cao lớn như Phật đến mức có thể nghĩ tưởng (giai đoạn này là hư ảo), sau đó tất cả người và ảnh tượng đều tan biến trong hư không, thành hư không, chỉ còn đại lạc (bliss) và cực hay tịnh quang (clear light) trong tâm thức. Như vậy, những bước hư huyễn được dùng như phương tiện, và sau cùng được buông bỏ, để đến được sự an lac chân thật. Mật tông còn có pháp quán Mandala (trên tranh vẽ hay lập trên cát), tôi nghĩ cũng với dụng ý tương tự (cho là để đạt tới chỗ hiện tượng hợp nhất với bản thể).

    Từ chuyện ông Trần Kiêm Đoàn chiêm quan tượng Phật Ngọc đến chuyện quán tượng Phật có lẽ đã đi khá xa. Những thứ khác chỉ thuận miệng mà nói
    điều đã đọc.

  11. Trầm Kha nói:

    Về ‘vấn nạn’ chính, PHẬT NGỌC

    Thưa bác Hoà Nguyễn,

    Thực lòng không muốn khơi lại chuyện cũ, tôi chỉ xin giãi bày cùng bác lần cuối ‘tâm sự’ của riêng tôi. Trong khi học hỏi và bị/được thuyết phục bởi rất nhiều kiến giải của bác về Phật giáo, tôi vẫn mắc míu với ‘vấn nạn’ chính: HUYỄN & THẬT.

    Trong một PH, bác viết: “dựa vào huyễn để tìm an lạc chân thật, như vượt qua nhiều lớp sóng (ảo hoá) để đến bến bờ (giải thoát) bên kia.”

    Thiển nghĩ, cái huyễn (Phật Ngọc) kia có đem lại bao nhiêu an lạc thì cũng gây ra bấy nhiêu bất an vậy.

    Cảm nghĩ hồ đồ có bề mạo phạm, kính mong bác lượng thứ và vui lòng chỉ giáo thêm.

    Kính.

  12. Tôn Văn nói:

    Giao diện Hợp hòa

    Thưa bác Lê Anh Dũng, bác Hòa Nguyễn,
    Thưa bác Trung Thứ,
    Xin được trao đổi thêm với các bác một số suy nghĩ sau khi đã đọc cẩn thận những ý kiến của các bác.
    Trước hết xin trình bày rằng tôi vui vẻ nhận và cảm ơn lời nhắc nhở của bác Trầm Kha và bác Lê Anh Dũng. Tôi nghĩ nếu sửa nội dung „trong ngoặc kép“ thành: „Mỗi tôn giáo, học thuyết là một hệ thống triết lý của một cộng đồng … „ thì có thể phù hợp với thực tế hơn và điều quan trọng là sẽ xem xét những điểm tối của các giáo lý (tôn giáo) và học thuyết thay vì chỉ nêu những điểm sáng nổi trội. Tôi muốn bàn về nội dung này trước để dành phần rất lý thú về các „giao diện / interface“ sẽ đi sâu vào sau.

    *
    Trong ý kiến mới nhất, bác Trung Thứ đã nói thẳng thắn và rõ ràng quan niệm của bác về Ki-tô giáo và tôn giáo nói chung.
    - giữa các nền văn hóa, giữa các tôn giáo chỉ có đối thoại để nhìn thấy rõ hơn sự khác biệt của nhau để hiểu nhau hơn mà thôi chứ không có chuyện hội nhập. Văn hóa Đông thuộc về Đông, Tây thuộc về Tây thì hà cớ gì tôi phải hội nhập với anh và tôi cũng không yêu cầu anh hội nhập với tôi.
    - không thể đồng nhất văn hóa phương Tây với Ki-tô giáo được mà chỉ có thể nhìn nhận rằng nền văn hóa ấy từ 2 ngàn năm trở lại nay đã chịu ảnh hưởng bởi Ki-tô giáo. Ki-tô giáo chẳng thuộc về và cũng chẳng phù hợp với một nền văn hóa nào trên địa cầu này hết cả.
    - Khi bắt đầu rao truyền tin mừng, làm chứng về Chúa cho người phương Tây thì nhóm tông đồ của Chúa thà chấp những lời nhạo báng và cả cái chết chứ không làm cái việc “gọt chân cho vừa dày” là thêm bớt những điều tai nghe mắt thấy để hòng tìm kiếm tín đồ.
    - tôi chắc rằng Ki-tô giáo dù bất kỳ nơi đâu thì cũng bị chống đối, bài xích cho tới ngày tận thế.
    *
    Thưa bác Trung Thứ, tôi nghĩ rằng khi đặt chung lại các ý ta sẽ thấy những mâu thuẫn cần khắc phục.
    - Trước hết, vấn đề “hội nhập” là việc tất yếu và luôn diễn ra trong lịch sử. Từ các bộ lạc, bộ tộc đến các tiểu vương quốc rồi quốc gia, quá trình sát nhập và hội hợp là đòi hỏi tất yếu, sống còn. Trong quá trình đó, những nét đặc thù văn hóa địa phương được chọn lọc và nâng cao để thành tài sản văn hóa chung. Ngày nay chữ “hội nhập” trở thành thời sự không phải vì nó mới mà là vì nó cần được mở rộng và tăng tốc hơn cho phù hợp trình độ phát triển của văn hóa, kỹ thuật, kinh tế; đồng thời cũng là đòi hỏi để giải quyết những vấn đề sống còn toàn nhân loại như môi trường, năng lượng…
    - Khi nói rằng nền văn hoá Tây phương “từ 2 ngàn năm trở lại nay đã chịu ảnh hưởng bởi Ki-tô giáo” thì ta buộc phải hiểu rằng Ki-tô giáo đã hội nhập vào phương Tây hoặc phương Tây đã hòa nhập Ki-tô giáo. Chắc bác chỉ hơi giận dỗi mà nói rằng “không làm cái việc ‘gọt chân cho vừa giầy’ … để hòng tìm kiếm tín đồ” thôi, chứ thực không có giáo lý nào mang tính nhân bản, vị tha, (có thể coi như) làm nền tảng cho các giá trị “tự do, bình đẳng, bác ái” của nhân loại lại không tìm cách thu hút tín đồ, tìm đến con người. Tôi không tin “Ki-tô giáo dù bất kỳ nơi đâu thì cũng bị chống đối, bài xích cho đến ngày tận thế”. Giống như mọi tôn giáo, Ki-tô giáo có một nơi xuất xứ là một địa phương; Thế mà ngày nay, cũng giống như nhiều tôn giáo khác, Ki-tô giáo đã có thể (được coi như) ở “bất kỳ nơi đâu” thì rõ rang nó đã phải trải qua quá trình hội nhập và không phải chỉ bị “chống đối, bài xích”. Vấn đề là tại sao và làm thế nào nữa thôi. Ngay sự hiện diện của Ki-tô giáo ở Việt Nam trong khoảng vài ba thế kỷ nay cũng cho thấy sự hội nhập và hòa nhập là khả hữu, còn nếu có sự “gọt dũa” chút ít cho phù hợp (dù chỉ ở Việt Nam?) thì tôi nghĩ cũng là tất yếu, hợp lý và đáng mừng. Tôi ở vùng quê mà “lương”, “giáo” sống xen nhau khá nhiều; Dù vẫn hòa hợp, nhưng tôi mong và tin là phải tốt đẹp hơn…
    - Thực ra thì tôi thấy chúng ta đã có thể biết phần nào về công việc “hội nhập”. Tôi rất tâm đắc vì học hỏi được rất nhiều qua việc lý giải sự khác biệt giữa “lễ bái” và “lễ kính” của bác Hòa Nguyễn. Không hiểu 2 phía thì không làm rõ như thế được, thì không thể “lễ bái” cha mẹ trong khi vẫn có thể “lễ kính” Thiên Chúa được. Tất nhiên học hỏi được nhau thế này là quá quý, nhưng cũng tin rằng những vị cao thức hơn chúng ta cũng đã nhìn xa mà có những chủ trương đúng đắn. Tư duy càng thông thoáng và cao rộng thì đau khổ chắc cũng càng giảm thiểu là điều lợi lạc cho mình mà cũng cho cả tha nhân.

    *
    Cảm ơn bác Trầm Kha đã động viên tôi trên con đường suy tư về “Hòa Giải”. Đời mình và người đồng thời mình gian nan và đau khổ thật; Ấy là do cơ đồ cha ông để lại quá đẹp với đủ núi sông, trời biển trấn giữ hải đạo yết hầu đã trở thành nơi “quần ngư tranh thực”. Nhưng cha ông cũng dạy: “Có cứng mới đứng đầu sóng”; Không hoà hợp thì khí tiết đâu mà “cứng” để “đứng”? Thì chỉ biết “bá vai” và “bò” thôi sao? Thì đâu phải DÂN NAM?!
    Tôi tâm đắc rất nhiều về khái niệm “giao diện” của bác Lê Anh Dũng và hy vọng đây cũng là một giao diện không đến nỗi vô nghĩa; Xin được bàn thêm sau.

    Thân mến và trân trọng.

  13. Lê Anh Dũng nói:

    Thưa bác Trung Thứ,

    Tôi hoàn toàn không có ý nói bác biện luận quanh co. Được bác trao đổi, đối thoại theo kiểu của bác là một mối phúc thật; tôi chắc là trong bất cứ vấn đề nào mà có được một phong cách trao đổi như vậy thì vườn địa đàng là đây, bây giờ. Nhưng chúng ta không chỉ nói với nhau mà cũng nhân dịp nói với những người khác.

    Thực ra chống đối bài xích không phải là chống đối bài xích những chuyện khó tin, hoang đường. Khó tin, hoang đường ở đâu cũng có, nhiều hay ít mà thôi: Mẹ Âu Cơ đẻ trăm trứng. “Tổ tiên người Tây Tạng, theo lời của chính họ, là một con khỉ ! Con khỉ đó không phải tầm thường, nó là một hiện thân của Quán Thế Âm, tìm đến một hang động lạnh lẽo trên núi cao để thiền định. Thế nhưng gần đó có một nàng ma nữ; gặp khỉ nàng khóc lóc than thở về nỗi cô đơn hiu quạnh của mình. Động lòng từ bi, khỉ chịu chung sống với ma nữ và sinh ra sáu người con và đó là tổ tiên của dân tộc Tây Tạng. Ngày nay người Tây Tạng vẫn tự thấy mình là sự tổng hợp của lòng từ bi dịu hiền của khỉ và sự lì lợm tham lam của ma” (Mùi hương trầm – Nguyễn Tường Bách chú thích theo The door of liberation của Geshe Wangyal. Chuyện này được Đạt Lai Lạt Ma 14 nhắc lại trong The Dalai Lama at Harvard của Hopkins).

    Một số nhận xét:

    - Sự chống đối không tới từ những chuyện cổ tích nhưng từ những chuyện trước mắt như bà nội thương gửi cho cháu nhỏ hộp bánh, nhưng cô con dâu Tin Lành cấm thằng bé ăn vì có thể bà nội để hộp bánh lên bàn thờ ông nội; tức là những va chạm cụ thể trong đời sống hiện tại dựa trên sự tuân thủ một số điều dạy từ sách xưa, mà không xét tới thời gian hiện tại lẫn những nhạy cảm khác nhau.

    - Từ chuyện tổ tiên người Tây Tạng, có thể thấy quan niệm về ma qủi của Ki-tô giáo khác với nhiều tôn giáo, văn hóa khác, không dung thứ chúng, coi chúng là kẻ thù, đáng ghê sợ; trong khi những văn hóa khác có thể thể hiện ma qủy rất nhân bản, buồn, cô đơn, sầu khổ, cũng đói, cũng khát, đáng thương, đôi khi rất đáng yêu, có những con qủi xấu xa và cũng có những con qủi tội nghiệp. Vừa không chấp nhận ma quỷ, không đội trời chung với chúng, vừa liệt tất cả các hình thức kính ngưỡng, thờ cúng Bụt Thần, tổ tiên, cha mẹ vào cùng một loại tương đương như thờ lạy ma quỷ (theo tôi biết, Công Giáo mới ra khỏi cách nhìn này gần đây) đã làm thương tổn nhau rồi dẫn đến bất hòa, chống đối.

    - Không muốn hoặc không đặt ra vấn đề hội nhập thì qủa đất bây giờ đã trở nên nhỏ xíu cũng đưa những vấn đề tốt lẫn xấu của Đông,Tây, Nam, Bắc xoắn vào nhau, mang chúng tới tận cửa. Chưa kể việc con cháu chúng ta có thể lập gia đình với người có tôn giáo, văn hoá khác. Xuề xòa, tưởng ai cũng như mình tới khi đụng chạm mới bật ngửa (như tôi). Đặt vấn đề chỉ vì thời đại đã bắt buộc chúng ta phải di chuyển, giao tiếp, làm việc, chung sống với những người khác chúng ta nhiều hơn thời tổ tiên, ông bà ta sống trước đây.

    - Tôi đã đọc cuốn Đường xưa mây trắng của Nhất Hạnh về cuộc đời đức Phật, dù chỉ đọc sơ sơ Kinh Thánh, tôi nhận thấy dù một người là Đức Thế Tôn, một người là Chúa có thể chữa bịnh, làm kẻ chết sống lại … nhưng 2 cuốn sách này đã không trình bày 2 ngài như 2 người có thể làm được tất cả mọi chuyện. Chúa Jesus không thể vào trần gian này dưới hình dạng con người để thực hành chương trình cứu chuộc của mình trên thập giá mà không bước qua bước đầu tiên là sống qua trong tử cung của bà Maria. Phật Thích Ca cũng bị ỉa chảy, bị hành hạ thê thảm bởi những vi khuẩn kiết lỵ y như chúng ta. Cuộc đời của 2 ngài chỉ sống và di chuyển trong một không gian vài trăm cây số mỗi chiều. Dù đề cập tới những điều vĩnh cữu, cao cả nhưng các ngài không có một cẩm nang chi tiết với mọi vấn đề cụ thể chúng ta sẽ gặp, và dặn chúng ta chỉ hạn chế việc làm chúng ta trong đó. Nên những vấn đề như hội nhập là những vấn đề của chúng ta, mà chúng ta phải tự đặt ra khi đã thấy rõ ràng bao nhiêu xung đột, chiến tranh đã xảy ra, bao nhiêu mạng người đã mất từ đời này sang đời nọ.

    Tôi rất thích cách hiểu và sống theo tinh thần Phúc Ấm như chuyện ăn thịt vào thứ sáu của bác Trung Thứ. Thật tuyệt.

    Từ đánh giá của bác Trung Thứ “Ki-tô giáo chẳng thuộc về và cũng chẳng phù hợp với một nền văn hóa nào trên địa cầu này hết cả”, trong tinh thần học hỏi, chia xẻ, đối thoại, mong bác Trung Thứ cho biết cái được, mất của bác khi bác là người Công Giáo.

    Thân mến.

  14. Trầm Kha nói:

    Thưa bác Lê Anh Dũng & bác Tôn Văn,

    1. Về CĂN TÍNH/YẾU TÍNH:

    Đồng ý với phát biểu của bác Lê Anh Dũng rằng:“tinh thần “chỉ có một” là nguồn cội, tiền đề cho bao nhiêu xung khắc, xung đột.”

    Nếu thay chữ “nguồn cội, tiền đề” bằng “căn nguyên”, tôi thấy có thể gọi tinh thần đó là “căn tính” được rồi. Nhưng đó là “căn tính” của chung những tín ngưỡng độc thần, không chỉ của Thiên Chúa giáo nói chung hay Ki-Tô giáo nói riêng, dù đó có là những điển hình tương ứng. Tôi ngờ rằng xung khắc, xung đột chỉ trầm trọng một khi tín ngưỡng đã trở thành tôn giáo, tức đã hình thành “hệ thống quản lý”/”cơ cấu tổ chức”, bất kể tín ngưỡng đó độc thần hay không.

    Nói như vậy, tôi cũng muốn bày tỏ sự không đồng tình với phát biểu của bác Trung Thứ rằng: “căn tính Ki-tô không phù hợp với bất kỳ một não trạng, bất kỳ một nền văn hóa nào của loài người hết cả.” (Chỉ trong ý nghĩa “căn tính” nêu trên, không chắc đúng ý bác TT.)

    “Kinh Thánh của Ki-tô giáo không cho thờ lạy bất cứ ai ngoài Đức Chúa trời” (LAD). Tôi thấy quả đúng vậy với Kinh Thánh Cựu Ước, còn KT Tân Ước của KTG thì… không đến nỗi như vậy ạ.

    2. Về HỆ THỐNG & TÍNH HỆ THỐNG:

    Cảm ơn bác Tôn Văn đã… hệ thống hoá giúp tôi đủ mọi thứ liên quan đến hệ thống, và nhất là lời khẳng định… ‘hệ trọng và thống thiết’, rằng: „Khiếm khuyết trầm trọng có tính hệ thống“ của các hệ thống „chính là cái tính hệ thống“ của chúng vì sớm muộn chúng cũng bị thời gian vượt qua để trở thành … „phản động“.

    Đồng ý với khẳng định trên của bác Tôn Văn. Song chấp nhận như thế cũng nhằm tìm cho ra cái chỗ có thể chỉnh sửa phải không ạ? Do đó, tôi mạn phép tập trung vào cái “hệ thống quản lý”/”cơ cấu tổ chức” của Ki-Tô giáo (trong sự đối chiếu với một tôn giáo “đối… chứng” khác, chẳng hạn Phật giáo) để đặt vấn đề:

    Phải chăng cái “hệ thống quản lý” chặt chẽ của Ki-Tô giáo là hệ quả tất yếu của tôn giáo độc thần, và là chướng ngại chính cho mọi “chỉnh sửa” nhằm mục đích “tương thích”/”dung hợp”?

    Thân kính.

  15. Tonnguyen147 nói:

    Theo tôi hội nhập vào hay chấp nhận một nền văn hóa khác thì dễ nhưng chấp nhận một tôn giáo khác thì không đơn giản chút nào. Thí dụ một bên chủ trương có Thượng đế và một bên không thì làm sao hội nhập? Có khác nào đem nước trộn chung với lửa.

    Thí dụ tôi nhiều lần tiếp xúc với các ông mục sư và tín đồ Tin lành thì mới thấy cách suy nghĩ của họ rất khác mình. Từ cách suy nghĩ này đến lời nói, hành động khá lạ lùng như xem đạo của họ không phải là một tôn giáo thuần túy mà là một cái gì đó cao cả vượt lên trên các tôn giáo khác đó là chưa kể họ có thể nói tiếng lạ, dễ dàng khóc lóc, cầu nguyện chữa bệnh, cứu người chết sống lại.

    Chẳng phải riêng trong cộng đồng Tin lành VN ở Mỹ mà còn ngay cả những tín đồ Tin lành Mỹ nữa. Thỉnh thoảng vào buổi sáng Chủ nhật trên một kênh truyền hình Mỹ có một ông mục sư đầu tóc bạc trắng chuyên môn cầu nguyện chữa bệnh đủ mọi thứ nan y mà bác sĩ đã từ chối bằng cách sờ vào đầu, cầu nguyện xong đẩy bệnh nhân té ra sau. Sau đó bệnh tật tiêu trừ trước mắt hàng ngàn tín đồ.

    Tôi có cảm giác họ đang sống trong một thế giới hạnh phúc nào đó mà mình không có khả năng hiểu được.

1 ... 7 8 9 10
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả