talawas blog

Chuyên mục:

Về các dẫn chứng sai của ông Dương Danh Huy

10/04/2009 | 4:16 sáng | 2 phản hồi

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Chuyên mục: Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ:

Ông Dương Danh Huy trong bài viết “Chủ quyền Việt Nam ở vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây” có viết thế này:

“Trong việc vạch ranh giới, tập quán luật quốc tế và ngoại giao không tính những đảo nhỏ, xa bờ, tự thân không có các điều kiện cho sự cư trú của con người và đời sống kinh tế riêng, như các đảo trong hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, để tránh việc những đảo này ảnh hưởng không công bằng tới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Nguyên tắc này được Toà án Công lý Quốc Tế tuyên bố từ năm 1969 trong phiên toà chia thềm lục địa Bắc Hải và được khẳng định trong Điều 121, Khoản 3 của UNCLOS. Từ năm 1969 tới nay, Toà án Công lý Quốc Tế luôn luôn tôn trọng nguyên tắc này, thí dụ như trong những phiên toà Lybia/Malta, Vịnh Maine, Guniea/Guniea-Bisseau.” 

Nhưng thực tế các phiên tòa về «thềm lục địa Bắc Hải, Lybia và Malta, Vịnh Maine, Guniea và Guniea-Bisseau» đã được phân xử như thế nào? Các đảo nhỏ, xa bờ thì hiệu lực nó ra sao?

1. Các nước chung quanh Bắc Hải gồm có : Anh, Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển, Đức, Hòa Lan, Bỉ và Pháp. Việc phân chia thềm lục địa biển Bắc đều do các nước tự thuơng thảo và ký kết hiệp ước. Việc phân định dựa trên nguyên tắc «équidistance – chia đều», ngoại trừ trường hợp Đức – Hòa Lan và Đức – Đan Mạch. Do địa hình lõm vào của bờ biển Đức quốc, nguyên tắc phân chia «équidistance» không thuận lợi cho phía Đức, do đó các nước này đưa vấn đề ra CIJ vào tháng 2 năm 1967, mục đích xác định một nguyên tắc phân chia công bằng nhất. Phiên tòa tháng 2 năm 1969 cho rằng nguyên tắc phân chia theo lối «équidistance» không phải là một nguyên tắc luật định do tục lệ. Tòa cũng xác định rằng mỗi nước có quyền được hưởng phần «thềm lục địa», thực ra là phần nối dài tự nhiên vùng đất của nước này chìm ngập dưới đáy biển. Tòa cũng ghi nhận các yếu tố có ảnh hưởng đến việc phân chia như: địa hình đặc thù bờ biển; cơ cấu vật lý, cấu tầng địa chất và tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa đang tranh chấp;  tỉ lệ tương ứng với bờ biển các nước.

Đức – Hòa Lan – Đan Mạch ký với nhau hiệp ước phân định ngày 28 tháng 1 năm 1971 trên tinh thần của phiên tòa tháng 2 năm 1969. Phiên tòa này là một phiên tòa mẫu mực, các nguyên tắc phân định được áp dụng cho mọi đối tác sau này.

Hiệp ước phân định thềm lục địa đầu tiên ở biển Bắc xảy ra giữa Anh và Na Uy vào ngày 10 tháng 3 năm 1965. Hai bên phân chia theo lối «équidistance», tức theo đường trung tuyến, chia đều cho hai bên. Hai quần đảo Orkney (cận bờ) và Shetland (xa bờ) đều có hiệu lực 100%.

Na Uy – Đan Mạch: phân định ngày 8 tháng 12 năm 1965 theo nguyên tắc chia đều.

Anh – Đan Mạch: phân định ngày 25-11-1971 theo nguyên tắc chia đều.

Bỉ – Anh phân định ngày 29-5-1991 và Bỉ – Hòa Lan phân định ngày 18-12-1996, cả hai đều dựa trên nguyên tắc chia đều, v.v.

Như thế «các phiên tòa chia thềm lục địa Bắc Hải», thực ra là phiên tòa giữa ba nước Đức – Hòa Lan – Đan Mạch, không phải là kiểu mẫu lý tưởng để áp dụng cho các đảo nhỏ, xa bờ. (Hình 1 và 1 bis)

 

hinh-11

hinh-1-bis1

2. Phân định thềm lục địa Libye-Malte: Do quyết định phiên tòa CIJ ngày 3 tháng 6 năm 1985. Malte là một đảo rất nhỏ nếu so sánh với Libye. Việc phân định phần lợi nghiêng về Libye vì có chiều dài bờ biển quan trọng, tỉ lệ phân chia không áp đảo, vào khoảng 8/10. (Hình 2)

hinh-21

Trường hợp này cũng không quan hệ đến «các đảo nhỏ, xa bờ».

3. Vịnh Maine: CIJ quyết định ngày 12-10-1984, theo đó đường phân định thềm lục địa và vùng nước giữa Canada và Hoa Kỳ thể hiện theo hình 3 sau đây:

Không có đảo nhỏ, xa bờ trong vịnh Maine; chỉ có đảo Machias Seal, ở cửa vũng Funday, hiện vẫn còn trong vòng tranh chấp chủ quyền. Phía HK cho rằng, theo kết ước độc lập năm 1783, tất cả các đảo cách bờ dưới 20 hải lý đều thuộc HK. Nhưng phía Canada đã dựng trên đảo này một đèn pha năm 1832 và liên tục bảo trì không gặp sự phản đối từ phía HK cho đến năm 1971. Vùng tranh chấp đảo này được khoanh vùng mực đỏ.

Ngoài ra có đảo Seal, cận bờ, phía nam bán đảo Nouvelle Ecosse, hưởng ½ hiệu lực trong lúc phân định. Việc phân định dựa lên tỉ lệ chiều dào bờ biển của hai bên.

Như thế trường hợp này cũng không áp dụng cho các đảo nhỏ xa bờ.

4. Phiên tòa Guinée và Guinée-Bissao: Do CJI xử ngày 14 tháng 2 năm 1985. Theo đó các đảo nhỏ ven bờ của Guinée-Bissao hầu như không có hiệu lực.

Trường hợp này cũng không thể áp dụng cho các đảo nhỏ, xa bờ.

Như thế, tất cả các thí dụ mà ông Huy đưa ra trong bài này đều không liên quan gì đến các «đảo nhỏ, xa bờ» như HS và TS.

Trong khi các đảo nhỏ, xa bờ, như các đảo sau đây, đều có ZEE 200 hải lý:

– Đá St Pierre và St Paul, Atoll das Rocas (bãi san hô, tương tự các bãi san hô ở HS, TS) của Brésil.

– Các đảo cực nhỏ thuộc biển Tasman, biển Corail cũng như các đảo cực nhỏ thuộc Thái Bình Dương,

v.v…

Về vùng nước các quần đảo: Phần lớn vùng nưóc giữa quần đảo được quốc gia chủ quyền quần đảo qui định là «nội hải»: quần đảo Féroé của Đan Mạch, quần đảo Malouines (Falkland) của Anh, quần đảo Galapagos của Equateur, quần đảo Reine Elisabeth của Canada v.v… vùng nước các quần đảo này đều là nội hải. Vùng quần đảo Hoàng Sa, TQ cũng tuyên bố vùng nước nơi đây là nội hải.

Trong bài viết của ông Huy «Sự khác biệt ý kiến giữa Dương Danh Huy và Trương Nhân Tuấn về các vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông», ông có viết như thế này: 

“Tôi và các tác giả đưa ra một dẫn chứng ngoại giao (ranh giới thềm lục địa giữa ItalyTunisia) và một dẫn chứng phán quyết của Toà quốc tế (ranh giới thềm lục địa giữa Anh và Pháp).

Trong hai trường hợp này, những đảo lớn tới 83 km² (Pantelleria của Ý) hay 78 km² (Guernsey của Anh) cũng chỉ được 12 tới 13 HL trong việc phân định thềm lục địa.”

Trường hợp Tunisie – Ý: Hai nước ký kết năm 1971 hiệp ước phân định thềm lục địa. Lúc đó lãnh hải của Ý được xác định là 6 hải lý (thay vì 12 hải lý như qui định của UNCLOS 1982). Trên tinh thần đó đảo Lampedusa, Linosa và Pantelleria được hưởng 13 hải lý và đảo Lampione được 12 hải lý.

Nhưng sau khi có công ước 1982, phía Ý đã thay đổi lập trường về việc phân định như trên. Nguyên nhân việc phân định lại hải phận là do phía Tunise tuyên bố xác định vùng ZEE, dành vùng đánh cá, bao gồm vùng có tên gọi «il Mammelone», có nhiều cá mà ngư thuyền Ý thường xuyên khai thác, trong lúc phí Ý xem vùng này là «biển cả – haute mer». Phía Ý lập ra vùng ZPE (vùng bảo vệ môi sinh – zone de protection écologique) năm 2006. Vì thế hai nước sẽ phải phân định lại «hải phận», theo đó các đảo trên phải được chia theo đường trung tuyến với bờ biển Tunise. (Hình 2)

Trường hợp Anh – Pháp: Hai đảo của Anh là Jersey (St Helier) và Guernsey (St Peter Port), rất gần bờ nước Pháp, phân định ngày 4 tháng 7 năm 2000 theo hình dưới đây. Ta thấy việc phân định vùng lãnh hải các đảo được chia theo lối “équidistance – chia đều”. Ông Huy đưa ra các con số 12 hay 13 hải lý, ý muốn cho là hiệu lực các đảo này không có nhiều. Nhưng phía bên Pháp cũng chỉ có bấy nhiêu đó thôi. (Hình 3)

hinh-51

Cả hai trường hợp trên đều không thể áp dụng cho các đảo nhỏ, xa bờ.

Rõ ràng ông Huy đưa ra nhiều bằng chứng để cố gắng chứng minh các đảo HS&TS không có hiệu lực, nhưng các bằng chứng đều không thể áp dụng cho các đảo nhỏ, xa bờ như các đảo HS và TS của Việt Nam.

Trong bài viết của ông Huy «Sự khác biệt ý kiến giữa Dương Danh Huy và Trương Nhân Tuấn về các vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông», ông có viết như thế này:

«Tôi có thể đi vào chi tiết cụ thể, nhưng tạm nói là 3 dẫn chứng đó được luật sư Mỹ Brice Clagett dùng trong bài viết về vùng Thanh Long (thuộc Nam Côn Sơn), Tư Chính. Ai có nhu cầu thì có thể đọc bài của Brice Clagett trên tạp chí quốc tế Oil & Gas Law and Taxation Review 1955.

Brice Clagett là một luật sư tài ba của Mỹ chuyên về tranh chấp quốc tế[5]. Ông đã từng giúp Campuchia thắng đền thờ Preah Vihear trong phiên toà quốc tế với Thái Lan. Bài viết của ông được đăng trên tạp chí học thuật quốc tế và được nhiều bài viết khác trên các tạp chí học thuật quốc tế trích dẫn.

Khi ông Trương Nhân Tuấn nói, “các bằng chứng này không đúng với sự thật” và “Tác giả Dương Danh Huy đưa chứng từ sai – một lỗi học thuật rất nặng”, thì tôi tạm nói là tôi tin tưởng vào bài của LS Brice Clagett hơn.»

Bây giờ thì mọi người đã biết ai đúng, ai sai. Nhưng tôi không nghĩ LS Brice Clagett có ý muốn chứng minh các đảo nhỏ xa bờ là không có hiệu lực như ý kiến của ông Huy. Bài viết của ông này, nếu có dịp, xin ông Huy gởi lên cho mọi người kiểm chứng. Cái link ông Huy đưa lên không đi đến đâu hết. Tôi nghĩ là ông Huy không hiểu ý nghĩa của bài viết này. Ông Huy khó qui lỗi cho LS Brice Clagett đưa bằng chứng sai được.

Điều này cho thấy ông Huy sử dụng tài liệu của người khác mà không ghi xuất xứ. Tương tự như trường hợp mượn tạm ý kiến của ông Valencia mà nói là của mình.

Thông thường, khi nghe nói bằng chứng của mình sai, thay vì kiểm chứng lại, ông Huy tiếp tục khẳng định rằng mình đúng, vì lý do người sử dụng trước đó là người nổi tiếng, là LS Brice Clagett. Đây là một lý lẽ lạ đời, lần đầu tôi nghe từ một ông «tiến sĩ».

Ngoài ra, bài này ông Huy có nêu các ý kiến của tôi về HS&TS và Biển Đông. Tôi thấy có ít phần đúng, nhiều phần sai, nhưng quan trọng là thiếu hoàn toàn những nhận thức của tôi về địa lý chiến lược. Bài viết này tôi không nhằm nói tới các việc này. Tôi chỉ muốn xác định rằng những gì ông Huy nói là «ý kiến của Trương Nhân Tuấn» trong bài đó là điều là sản phẩm tưởng tượng của ông Huy.

Như thế, ông Dương Danh Huy đưa bằng chứng sai để chứng minh các đảo HS&TS không có hiệu lực theo qui định của UNCLOS. Điều mọi người muốn biết là ông Huy làm thế để nhằm mục đích gì?

Trong nhiều tuần qua, ông Huy đã viết bài cổ vũ cho việc hủy bỏ hiệu lực ZEE các đảo Trường Sa, đặc biệt trong một bài đề nghị «phương pháp giải quyết vấn đề Biển Đông». Ông Phạm Quang Tuấn ca ngợi và bênh vực phương pháp này. Ý chính trích từ bài «Giải pháp Biển Đông của Dương Danh Huy và Quĩ Nguyên cứu Biển Đông» của ông Phạm Quang Tuấn như sau:

1. TẠM THỜI gác việc tranh giành các quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa sang một bên để bàn về việc phân chia các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa (continental shelf) ở Biển Đông. 

2. Thương lượng với các nước chung quanh Biển Đông (Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Brunei, Phillippines) để chia Biển Đông ra thành những vùng kinh tế của mỗi nước, theo đúng luật biển UNCLOS (United Nations Law of the Sea) [5] và tiền lệ quốc tế, tức là:

(a) Mỗi nước được 1 vùng EEZ 200 hải lý (370 km) tính từ “đường cơ sở” (bờ)

(b) Phía nam Biển Đông có một thềm lục địa rất lớn tên là Sunda Shelf, theo UNCLOS thì các nước quanh đó (kể cả Việt Nam) được tính thêm ra tối đa 350 hải lý.

(c) Khi khu kinh tế hay thềm lục địa của hai nước trùng nhau, thì chia hai theo nguyên tắc vẽ một đường trung tuyến từ ranh giới trên đất liền.

(d) Các đảo (Hoàng Sa, Trường Sa) là đảo nhỏ, không nuôi sống được người, nên không được tính EEZ mà chỉ cho tối đa một lãnh hải (territorial sea) 12 hải lý; tức là, các đảo đó không ảnh hưởng đến việc phân chia EEZ và thềm lục địa.

Ý kiến của ông Huy đặt nền tảng lên các đảo TS không có hiệu lực ZEE. Việc đưa bằng chứng của ông Huy là để củng cố cho phương pháp phân chia này, nhưng nó đã thất bại, vì ông Huy đưa bằng chứng sai. Việc này cho thấy ý kiến «giải quyết Biển Đông» của ông Huy không còn giá trị nữa.

Tuy nhiên, phương pháp phân chia này tôi có phê bình trong bài viết vừa qua, là không có lợi cho Việt Nam và bất khả thi, nội dung đại khái như sau:

Các đảo tranh chấp giữa Việt-Phi hay Việt-Mã đều thuộc chủ quyền Việt Nam. Bỏ qua nó, thì chỉ có Việt Nam là thiệt hại, các vùng biển tại đây phải xem là mất. Việc giải quyết chủ quyền các đảo sau này, giả sử chúng phải trả lại cho Việt Nam thì Việt Nam cũng sẽ không bao giờ giành lại quyền lợi của mình. Việc giải quyết tay ba: Việt-Mã-Phi cũng không giải quyết được vấn đề Biển Đông nếu những tranh chấp với Trung Quốc vẫn chưa giải quyết. Chắc chắn Trung Quốc sẽ phản đối, việc này sẽ thường xuyên đem lại bất ổn cho khu vực.

Ông Huy và nhiều người viện lý do khả năng quân sự Trung Quốc rất mạnh, Việt Nam không thể đương đầu, phải nhượng bộ thôi.

Trung Quốc muốn gì ở biển Đông? Vùng biển chữ U là thí dụ điển hình cho tham vọng của Trung Quốc.

Nhưng việc tự tuyên bố các đảo của mình không có hiệu lực ZEE thì không phải là một nhượng bộ thông minh, vì nó không ảnh hưởng gì đến quyết định của Trung Quốc. Tham vọng của Trung Quốc đã để lộ từ một thế kỷ nay, bằng mọi cách họ sẽ thực hiện tham vọng của mình. Việt Nam hủy bỏ hiệu lực các đảo thì cũng không ảnh hưởng gì đến các quyết định của Trung Quốc. Mục đích của Trung Quốc là tài nguyên dưới thềm lục địa các đảo và vị trí chiến lược của các đảo. Nếu họ chiếm được các đảo TS, do ảnh hưởng các đảo, họ sẽ tuyên bố chủ quyền cả Biển Đông. Mục đích của họ là vậy, Việt Nam tuyên bố ra sao thì mặc kệ. Nhưng một khi Việt Nam đã tuyên bố rồi, vĩnh viễn Việt Nam sẽ không thể trở ngược lại. Đây là việc rất sơ đẳng, ai có trí óc bình thường cũng suy nghĩ ra được. Nó là một điển hình cho việc tự bắn vào chân ngu xuẩn nhất.

Do đó thái độ của Việt Nam để không bị mất HS và TS không thể là các phương pháp ấu trĩ, các ý kiến hời hợt, cho dầu cố gắng tranh luận với các lý lẽ gian dối và hàm hồ, như đã thấy. Đây là một chính sách quốc gia, đương nhiên cần sự đầu tư trí tuệ của các nhà chiến lược, các học giả nhiều kinh nghiệm.

(Nguồn bản đồ: Atlas Géopolitique des Espaces Maritimes.  Edition Technip. Coordination: Didier Ortolland; Cartographie: J.P. Pirat.)  

© 2009 Trương Nhân Tuấn

© 2009 talawas blog

Phản hồi

2 phản hồi (bài “Về các dẫn chứng sai của ông Dương Danh Huy”)

  1. […] vẫn im lặng thêm suốt một tuần, dù tôi nhắc ông một lần nữa vào ngày 11/4 (http://www.talawas.org/?p=2541)! Cuối cùng, nhịn không nổi nữa, tôi thách thức: (16/4/2009) “Chỉ riêng cái […]

  2. Phạm Quang Tuấn says:

    Ông TN Tuấn bảo ông DD Huy dùng “tranh luận với các lý lẽ gian dối và hàm hồ”. Trong khi đó chính TN Tuấn đã bịa đặt trắng trợn:

    – chuyện Exxon Mobil “rút ra khỏi Việt Nam”
    – chuyện Mark Valencia “là người Phi và ủng hộ Phi Luật Tân” (một lý lẽ đã được TNT dùng rất nhiều lần)

    Chuyện Exxon Mobil thì ông còn trơ trẽn bảo rằng tuy là sai, nhưng vì ông nói rằng BP và Exxon Mobil rút lui, nên ông chỉ nói sai 50%! Còn chuyện Valencia là người Phi thì ông cứng lưỡi lờ luôn, không giải thích, cải chính hay xin lỗi gì cả.

    Chỉ một ngày sau khi lộ tẩy sự bịa đặt, ông gọi người khác là gian dối! Tiếng Việt gọi như vậy là gì nhỉ? Chữ trơ trẽn tôi cho là quá yếu.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả