talawas blog

Chuyên mục:

Kalu Rinpoche – Nhị đế

21/10/2010 | 9:37 sáng | 13 Comments

Tác giả: Đặng Hữu Phúc

Category: Tôn giáo
Thẻ:

Đặng Hữu Phúc dịch

Giáo Pháp của Phật căn cứ vào nhị đế:

Tục đế và chân đế.[8]

Những ai không hiểu biết sáng tỏ sự khác biệt giữa nhị đế,

Thì không hiểu biết sáng tỏ chân lý thâm sâu của Phật.[9]

Chân đế không thể được giảng dạy khi không có căn bản về tục đế;

Không thực chứng lý nghĩa của chân đế, Niết bàn không thể đạt được.[10]

Nagarjuna. Trung luận XXIV, 8 – 9 – 10.

Niềm tin bị nhầm lẫn, tạo nên nhân duyên đau thương cho tất cả hữu tình trong luân hồi sinh tử, sinh khởi từ vô minh. Vô minh, đó là sự thiếu vắng nhận thức sáng tỏ về tính không hiện hoạt của tâm và những sản phẩm của tâm. Thật ra, niềm tin bị nhầm lẫn là không biết đúng về cách thế hiện hoạt của hiện hữu của tất cả sự sự vậtvật.

(The mistaken belief that painfully conditions all beings in cyclic existence arises from ignorance. That ignorance is an absence of awareness about the actual emptiness of the mind and its productions. In fact, the mistaken belief is ignorance about the actual mode of existence of all things.)

Tất cả sự sự vật vật, tất cả các hiện tượng, tất cả các đối tượng của nhận thức –đó là vũ trụ bên ngoài và tất cả hữu tình của nó, mỗi sự sự vật vật chúng ta kinh nghiệm xét theo hình tượng, âm thanh, vị, hương, những đối tượng xúc chạm và những đối tượng của nhận thức tâm ý– tất cả những cái chúng ta là và mỗi sự sự vật vật chúng ta có thể biết, biến hiện bởi năng lực của các tập khí của tâm, mà những biến hiện này về mặt tự tính đều trống thông (empty).

Tâm thì chẳng hiện hữu cũng chẳng không hiện hữu. Cũng giống như thế, các hiện tượng tâm tạo ra chẳng hoàn toàn hư huyễn cũng chẳng hoàn toàn thật. Như chúng ta thông thường kinh nghiệm chúng, chúng thì tương đối thật, nhưng từ toàn cảnh khách quan tối hậu, thật tại tương đối đó thì hư huyễn. (illusory)

(The mind is neither existent nor nonexistent. Likewise, the phenomena it produces are neither completely illusory nor completely real. As we ordinarily experience them , they are relatively real, but from an ultimate perspective, that relative reality is illusory.)

Nhị đế

Tất cả sự sự vật vật có thể được nhìn xét theo hai mức độ của thật tại: mức độ tương đối hoặc quy ước (thế tục) và mức độ tối hậu. Hai chân lý này tương ứng với hai quan điểm tri kiến, hai năng lực tri kiến của thật tại: chân lý hoặc tri kiến tương đối thì thật một cách tương đối hoặc quy ước nhưng hư huyễn một cách tối hậu, và chân lý hoặc tri kiến tối hậu thì thật một cách quyết định, kinh nghiệm chân thật vượt ngoài tất cả huyễn tượng.

(All things can be viewed according to two levels of reality: the relative or conventional level and the ultimate level. These two truths correspond to two points of view , two visions of reality: the relative truth or view is relatively or conventionally true but ultimately illusory, and the ultimate truth or view is definitely true, the authentic experience beyond all illusion.)

Tất cả các nhận-thức có tính sinh tử trầm luân (all samsaric perceptions) là những kinh nghiệm của chân lý tương đối (chân lý thế tục, tục đế). Niết bàn, vượt ngoài tất cả những huyễn tượng và đau thương của sinh tử trầm luân là mức độ của chân đế.Thế nên, tỉ dụ, những kinh nghiệm của một hữu tình thuộc cõi địa ngục là hoàn toàn thật từ quan điểm tri kiến tương đối, trong khi đó từ một toàn cảnh khách quan tối hậu những nhận thức này là hư huyễn. Điều này nghĩa là một hữu tình tìm thấy chính mình ở trong một cõi địa ngục thực sự đang kinh nghiệm những đau thương nơi đó: từ toàn cảnh khách quan của nó, những kinh nghiệm và đau thương là thật và hoàn toàn có vẻ địa ngục. Nhưng từ một quan điểm tri kiến tối hậu, địa ngục chẳng hiện hữu gì cả; nó về mặt hiện hoạt chỉ là một phóng chiếu, một sản phẩm của cái tâm lệ thuộc nhân duyên mà bản chất của tâm này là tính không.

Đau thương đến từ không nhận định được tính không của sự sự vật vật, nên tạo ra cho chúng một thật tại với những thuộc tính mà chúng không thật sự có. Sự chấp thủ vào sự sự vật vật như là thật làm chúng ta thành những chủ thể những kinh nghiệm đớn đau.

(Suffering comes from not recognizing the emptiness of things , which results in our attributing to them a reality that they don’t actually have. The grasping at thing as real subjects us to painful experience.)

Chúng ta có thể đạt được một sự nhận biết sáng tỏ hơn về sự vụ này bằng một tỉ dụ về một chiêm bao. Khi một kẻ có một ác mộng, kẻ đó chịu đựng đau thương. Đối với kẻ chiêm bao, ác mộng thì thật; thật ra nó là thật tại duy nhất kẻ chiêm bao nhận biết. Và cho đến thời điểm đó chiêm bao không có một thật tại có thể sờ mó được và không thật sự ‘thật’; nó không có một thật tại ở bên ngoài chính cái tâm bị lệ thuộc vào nhân duyên, ở bên ngoài cái nghiệp (=hành động) của chính kẻ đó. Từ một toàn cảnh khách quan tối hậu, thật ra nó là một huyễn tượng. Huyễn tượng của kẻ chiêm bao là không nhận định được về bản chất của những kinh nghiệm của mình. Không biết đúng thật về những gì chúng thật sự là (= thật tướng), kẻ chiêm bao lấy những sản phẩm của chính mình –những tạo tác của chính tâm mình – làm một thật tại tự trị; như vậy đã bị dẫn dắt điên đảo, kẻ đó bị sợ hãi bởi chính những phóng chiếu của chính mình và bằng vào những phương tiện đó tạo ra những đau thương cho chính mình. Vọng tưởng đưa đến nhận thức lấy làm thật cái thực sự không thật. (The delusion is to perceive as real what actually not).

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dạy rằng tất cả các cõi sinh tử trầm luân hoặc hiện hữu lệ thuộc nhân duyên, tất cả sự sự vật vật, tất cả những kinh nghiệm của chúng ta là, nói chung, những hiện tướng hư huyễn chúng không thể được xem xét như là hoặc thực sự thật hoặc hoàn toàn hư huyễn. Ngài đã biểu tỏ rõ ràng tính nhị nguyên tương đãi này bằng cách dùng cái tỉ dụ sự hiện tướng của mặt trăng trên bề mặt của của một khối lượng nước:

Bản chất của tất cả sự sự vật vật và tất cả các hiện tướng

Thì giống như sự phản chiếu của mặt trăng trên nước.

Mặt trăng được phản chiếu trên mặt hồ nước đều thật cho tới bao lâu nó có thể thấy được ở đó, nhưng thật tại của nó chỉ là một hiện tướng tương đối, hư huyễn, bởi vì mặt trăng trên nước chỉ hoàn toàn là một  phản chiếu. Nó thì chẳng thực sự thật, cũng chẳng hoàn toàn hư huyễn. Từ toàn cảnh khách quan này, chúng ta có thể nói đến chân lý tương đối (tục-đế) như là chân lý của các hiện tướng. (It is neither truly real nor completely illusory. From this perspective, we can refer to relative truth as truth of apperances).

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dùng những tỉ dụ khác, nói rằng tất cả các sự sự vật vật thì giống như một phóng chiếu, một ảo tượng, một cầu vồng, một cái bóng, một ảo ảnh sóng nắng, một hình ảnh trong gương,và một âm vang; ở bên ngoài một hiện tướng đơn thuần kết quả từ “sự vận hành” của các yếu tố vô tận duyên khởi, không một sự sự vật vật có hiện hữu ở trong, của, hoặc bởi chính nó.

(Buddha Sakyamuni used other examples , saying that all things are like a projection, a hallucination, a rainbow, a shadow, a mirage, a mirror image, and an echo; outside of a simple apperance resulting from the “functionality” of interrelated factors, no thing has existence in, of, or by itself.)

Nó có thể giúp chúng ta thực sự hiểu biết điều này, bởi vì, mặc dầu chúng không có hiện hữu chân thực, chúng ta gắn bó với những sự sự vật vật này như là chúng đều thật. Mục đích giáo pháp của Phật là để làm tan biến sự chấp thủ này, vì nó là  nguồn gốc của tất cả các huyễn tưởng và nó cầm giữ chúng ta chặt chẽ cũng như nghiệp duyên của chính chúng ta.

Nghiệp, Tương liên tùy thuộc, và Tính Không

(Karma, Interdependence, and Emptiness)

Trong ý niệm về nghiệp, không có quan-niệm về sự quyết định tiền định (notion of destiny) hoặc chủ- thuyết tiền định (fatalism) ; chúng ta chỉ gặt hái cái chúng ta gieo trồng.Chúng ta kinh nghiệm các kết quả của các hành động của chính chúng ta.Quan-niệm về nghiệp liên kết mật thiết với quan-niệm về duyên khởi (dependent arising) hoặc tendrel trong Tạng ngữ.Vòng nối của nghiệp cũng là sự tương liên tác động của tendrel, hoặc các yếu tố tương liên tùy thuộc tạo các nhân và các quả sinh khởi một cách hỗ tương tới một cái khác.

Từ Tạng ngữ tendrel có nghĩa sự tương liên tác hành , sự tương liên liên kết, sự tương liên liên hệ, sự tương liên tùy thuộc, hoặc các yếu tố tương liên tùy thuộc. (interaction, interconnection, interrelation, interdependence, or interdependent factors). Tất cả sự sự vật vật, tất cả những kinh nghiệm của chúng ta, là tendrel, nghĩa là nói rằng chúng là những pháp (events) chúng hiện hữu bởi vì sự liên hệ giữa các yếu tố tương liên liên hệ. Ý niệm này có tính tinh yếu đối với sự nhận biết sáng tỏ Pháp trong tổng quát và, trong đặc thù, tâm di cư qua lại các cõi trong sinh tử luân chuyển như thế nào.

Để hiểu tendrel hoặc duyên khởi là gì, hãy lấy một tỉ dụ. Khi bạn nghe âm thanh của một cái chuông, hãy hỏi chính bạn, Cái gì làm ra âm thanh? Có phải thân của chuông, cái lưỡi chuông (clapper), bàn tay di chuyển chuông tới lui, những cái tai nghe âm thanh?

Không có riêng một trong những thành phần này tạo ra âm thanh; nó kết quả từ sự tương liên tác động của tất cả những yếu tố này. Tất cả các thành phần này thì cần thiết cho âm thanh được nhận biết, và chúng thì cần thiết không phải kế tiếp nhau nhưng một cách đồng thời. Âm thanh là một pháp (event) mà hiện hữu của nó tùy thuộc sự tương liên tác động của những thành phần này; đó là tendrel.

Tương tự, tất cả những đời sống đã điều kiện hoá (conditioned; lệ thuộc nhân duyên; điều kiện hoá), tất cả các hiện tượng sinh tử lưu chuyển, kết quả từ vô số những tương liên tác động thuộc vào 12 mối nối của duyên khởi. Mười hai thành tố này làm sinh khởi các thành tố khác một cách hỗ tương. Đó không phải là mỗi một thành tố làm cho một thành tố xảy ra trong thời gian kế tiếp; như với tỉ dụ cái chuông, chúng thì đồng thời và đồng hiện hữu. Một điều cần thiết là 12 thành tố hiện diện cùng một thời điểm để tạo ra một hiện hữu điều kiện hoá. Vòng kiềm toả nhân quả của những thành tố tương liên tùy thuộc này lưu xuất huyễn tượng là hành động của sinh tử lưu chuyển. Mỗi sự sự vật vật trong sinh tử lưu chuyển là sự tương liên liên hệ nghiệp duyên; tất cả những kinh nghiệm của chúng ta là tendrel.

(The bondage of causes and results of these interdependent factors that generate illusion is the action of samsara. Everything within samsara is karmically conditioned interrelationship; all our experiences are tendrel.)

Chân lý của những hiện tướng được tạo lập bởi vòng kiềm toả của những duyên khởi là chân lý quy ước hoặc chân lý nhị nguyên tương đãi. (The truth of appearances created by bondage of dependent arisings is conventional or dualistic truth). Đây là cách chúng ta thông thường sinh sống như thế nào.Nó được nghiệp cai trị. Chúng ta gọi bản chất rỗng thông của cái hiện hữu ở mức độ tương đối là chân lý tối hậu. Sự hiểu biết thực sự duyên khởi cho phép chúng ta vượt ngoài sự điều kiện hoá của mức độ tương đối hoặc quy ước và  đạt được tịch lạc và tự do của trạng thái vô vi (=vô-duyên) (peace and freedom of unconditionality). Khi bạn hiểu duyên khởi một cách hoàn toàn, bạn cũng hiểu tính không. Và tính không là tự do.

(The empty nature of what exists at the relative level is what we call ultimate truth. Truly understanding dependent arising allows us to go beyond the conditioning of the relative or conventional level and to attain peace and freedom of unconditionality. When you completely understand dependent arising, you also understand emptiness. And that is freedom.)

Thế nên, trí tuệ hoặc nhận thức thì về căn bản không cách biệt với như huyễn. Đó là tại sao thường nói luân hồi và niết bàn không khác nhau và rằng một hình tướng của trí tuệ thì tiềm ẩn trong vô minh. Lý luận và suy lý một cách tối hậu đưa đến những biểu từ như thế, chúng xuất hiện có vẻ mâu thuẫn và nghịch lý. Lý luận và suy lý có thể tiếp tục mãi mãi. Chúng là một phần của tiến trình luân hồi và dẫn tới những mâu thuẫn một cách tối hậu. Tuy nhiên, vì chúng là những công cụ đem tới thật chứng chân lý, chúng đều hữu ích và không nên bị loại bỏ, ngay cả nếu (biết rằng) cuối cùng chúng được buông bỏ vào thời điểm thật chứng tính không.

Nhưng hãy cẩn thận. Sự hiểu biết sáng tỏ đúng đắn của tính không thì không là đoạn diệt. Nếu chúng ta quyết định rằng mỗi sự sự vật vật thì trống không và không có một thật tại, rằng phật quả không có hiện hữu thật sự, rằng nhân quả nghiệp duyên thì trống không, và rằng thế nên chẳng có gì mà phải bận lòng, đây là một quan điểm đoạn diệt, và quan điểm này tệ hại hơn cả quan điểm nhận sự sự vật vật tương đối thì hiện hữu thật sự.

Những ý niệm đoạn diệt là một sai lầm nghiêm trọng nhiều hơn những ý niệm duy thực chủ trương hiện tượng hiện hữu như chúng hiện tướng.

Sự hiểu biết sáng tỏ đúng đắn của tính không nằm ở giữa hai cực đoan của chủ thuyết thường hằng (tin tưởng sự sự vật vật có tự tính hoặc thực sự hiện hữu) và chủ thuyết đoạn diệt (tin tưởng chúng chẳng hiện hữu gì cả). Tri kiến trung đạo này loại bỏ những ý tưởng sai lầm và cho phép chúng ta vượt trên những quan niệm hữu niệm hóa về thật tại một cách tối hậu. Nhưng hãy coi chừng: kiến chấp về tính không đóng kín cánh cửa đi tới giải thoát. (To conceive of Emptiness closes the door to liberation). [Kiến chấp về tính không = tin rằng các pháp đều hiện hữu có tự tính].

Và Ngài Long Thọ đã nói (Trung luận XIII.8):

Những ai kiến chấp về tính không (rằng các pháp có tự tính) thì sai lầm không thể cứu chữa được. (Those who conceive of emptiness are incurable.)

Ghi chú

1. Theo Phật Quang Đại Từ Điển, Thích Quảng Độ dịch. Hội Văn Hoá Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản năm 2000. [Bộ 6 quyển -7374 trang-và quyển mục lục.]

[1.1] Đệ nhất nghĩa đế || Phạn: Paramartha-satya || Pali:Paramattha-sacca. Gọi tắt: Đệ nhất nghĩa. Cũng gọi: Thắng nghĩa đế, Chân đế, Thánh đế, Niết bàn, Chân như, Thực tướng, Trung đạo, Pháp giới. –Đối lại với Tục đế.||

Chân lí sâu xa màu nhiệm vượt trên tất cả pháp. Là một trong hai đế.

Học phái Trung quán thì cho rằng các bậc Thánh hiền hiểu rõ lí duyên khởi tính không và thấu suốt sự nhận thức điên đảo của thế tục, cái thấu suốt ấy là đạo lí Chân thực, gọi là Chân đế.

Đại thừa thì chủ yếu dựa vào Chân đế và Tục đế để điều hoà sự đối lập thế gian và xuất thế gian, rồi dung hợp 2 đế mà quán xét hiện tượng, gọi là Trung quán, Trung đạo, là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của Đại thừa.

Ngoài ra, Thiền lâm thường dùng Đệ nhất nghĩa đế để diễn tả cảnh giới tuyệt đối không thể nghĩ bàn.

[1.2] Tục đế || Phạn: Samvrti-satya. Cũng gọi: Thế tục đế, Thế đế, Hữu đế || Đối lại: Chân đế.|| Chỉ cho lí sinh diệt có thật được thuyết minh thuận theo sự hiểu biết của thế tục. || Chữ “Thế” trong thế tục đế, tiếng Phạn có nghĩa là hoại diệt, tức là các pháp hữu vi đều có tướng hoại diệt. Còn chữ “Tục” thì có nhiều nghĩa. 1.Nghĩa không biết hoặc không rõ: Tức không biết hoặc không rõ nghĩa chân thực của các pháp. 2.Nghĩa ngăn che: Do năng lực của vô minh ngăn che nghĩa chân thật của các pháp. 3.Nghĩa nương tựa nhau: các pháp hữu vi đều nương tựa vào nhau để tồn tại. 4. Nghĩa biểu diễn rõ ràng: Tức danh tự ngôn ngữ của thế gian có khả năng diễn bày tính, tướng các pháp một cách rõ ràng khiến người ta dễ hiểu.

Chữ ‘Đế’ là chân lí bất biến. Phú tục đế xưa gọi là Thế tục đế, nghĩa bất tận. Ý nói việc tục che lấp chân lí kia.

2. Theo Geshe Kelsang Gyatso, Joyful Path of Good Fortune – The Complete Buddhist Path to Enlightenment. 1997. 636pp.

Vô minh (Skt: avidya || ignorance; fundamental ignorance)

[2.1] Theo định nghĩa tổng quát của Ngài  Vô Trước (Asanga) và Ngài Thế Thân (Vasubandhu) thì –Vô minh là sự thiếu vắng nhận biết sáng tỏ. Vô minh không nhận biết sự vô ngã –bản chất tối hậu của người và pháp– tạo ra sự chấp ngã (self-grasping), hoặc chấp thực (true-grasping), đó là gốc rễ của tất cả các các vọng tưởng điên đảo khác và tất cả các tái sinh thuộc sinh tử trầm luân.

Vô minh không nhận biết tính vô ngã này tác động như căn bản cho (nhưng khác biệt với) sự chấp ngã. Sự chấp ngã này là sự nhận biết sai lầm nên chấp thủ đối tượng của nó như là một hiện hữu có tự tính. (This ignorance not understanding selflessness acts as the basis for, but is distinct from self-grasping, which is a wrong awareness grasping its object as inherently existent.)

[2.2]. Theo định nghĩa chuyên biệt về phương diện vô minh là gốc rễ của sinh tử trầm luân [của Ngài Long Thọ (Nagarjuna) và Ngài Pháp Xứng (Dharmakirti)] thì chỉ có sự chấp ngã là vô minh. Vì sự vô ngã là đối tượng chính cần phải được nhận biết sáng tỏ để buông bỏ sự chấp ngã, gốc rễ của sinh tử trầm luân.

Lý do chúng ta tiếp tục sinh tử trầm luân là do sự vô minh của chúng ta, chúng ta không nhận biết sáng tỏ bản chất của đối tượng một cách thông suốt và trọn vẹn (clearly and perfectly).

3. Theo Jeffrey Hopkins, Meditation on Emptiness. Revised Edition 1996. 1018 pp. [Lược trích trang 399-428]

[3.1] Ngài Long Thọ giảng nhị đế trong Trung Luận:

1.  bản chất của nhị đế

2.  rằng nếu một người không hiểu biết sáng tỏ nhị đế , người ấy không hiểu tinh yếu của kinh Phật

3.  mục đích của sự giảng dạy nhị đế

4.  những lỗi lầm của những tiến trình nghĩ tưởng sai lạc về nhị đế

5.  rằng bởi vì nhị đế thì khó thực chứng, Phật đã không giảng nhị đế vào thời khởi đầu.

[3.2] Nhị đế là những đối tượng, không phải những ý niệm hàm hỗn của chân lý, sự đẹp và v.v… Chúng là những pháp (dharma), đối tượng (vishaya), những cái hiện hữu (existents || sat: Skt) và những đối tượng của trí tuệ (jneya).

Những chân lý là những sự sự vật vật chúng hiện hữu theo cách chúng hiện tướng, và như vậy chỉ những chân lý tối hậu (paramarthasatya; chân đế, thắng nghĩa đế, đệ nhất nghĩa đế, đệ nhất nghĩa), những tính không (18, 20 loại tính không) có tính đức như là những chân lý. (Truths are those things that exist the way they appear, and thus only ultimate truths (paramarthasatya) or emptinesses qualify as truths). [trang 405]

[3.3] Những đối tượng vạn thù sai biệt khác nhau không hiện hữu theo cách chúng hiện tướng, ngoại trừ đối với Chư Phật. Những đối tượng này là những chân lý cho một cái che lấp tính như thị, một cái tâm thức vô minh; thế nên chúng được gọi là những chân lý cho một cái che lấp cái thật (= Phú tục đế = Chân lý thế tục= thế tục đế = tục đế) (These objects are truths only for a concealer of suchness, an ignorant consciousness; therefore, they are called truths-for- a-concealer || samvrtisatya). [trang 405]

Những chân lý cho một cái che lấp cái thật (= thế tục đế) là những cái hư dối, xuất hiện theo một cách và hiện hữu (= liên tồn) một cách khác. Như vậy, vì chỉ chân lý tối hậu có thể thực sự bảo toàn ý nghĩa của chân lý, nó không phải là những chân lý được phân chia thành nhị đế. [trang 405]

[3.4] Những đối tượng của trí tuệ, hoặc hiện tượng (=pháp), là cái căn bản của sự phân chia nhị đế.

Vì những cái được phân chia thành nhị đế là những pháp (và những cái đồng nghĩa pháp) [pháp= hiện-tượng=phenomena], mỗi thành viên của mỗi phân bộ là một pháp, một đối tượng, một hiện hữu thể (an existent), và một đối tượng của trí tuệ. Điều này có nghĩa là một tính không là một pháp, một đối tượng, hiện hữu thể, và đối tượng của trí tuệ, như tất cả những đối tượng vạn thù sai biệt khác nhau. (This means that an emptiness is a phenomenon, object, existent, and object of knowledge as are all other various and sundry objects) [trang 406].

… Thế nên nhị đế không là những thực thể khác nhau ; chúng là thực thể đồng nhất. Đây chính là cái mà Tâm Kinh định nói khi kinh nói rằng không là sắc và sắc là không (emptiness is form and form is emptiness). Nhị đế không phải là một, nhưng được định danh khác nhau, vì chúng xuất hiện một cách khác nhau đối với tâm niệm (thought). [trang 413]

[3.5] Những chân lý cho một cái che lấp cái thật (samvrtisatya) được gọi như thế bởi vì tất cả những đối tượng khác đã bị vô minh giả định như hiện hữu theo cách chúng xuất hiện. Một tâm thức vô minh không phải chỉ là một tâm thức không nhận biết tính như thị nhưng còn là một cái che lấp tính như thị xuyên qua đồng ý một cách chủ động với hiện tướng hư dối của hiện hữu khách quan. (An ignorant consciousness is not just a consciousness which does not know suchness but a concealer of suchness through actively assenting to the false appearance of objective existence.)

Tất cả những pháp — ngoại trừ những tính không– xuất hiện trước những chủ thể nhận thức theo cách chúng chứng tỏ chúng như đang hiện hữu như chúng hiện hữu có tự tính. (All phenomena except emptinesses appear to cognizers that certify them as existing as if they exist inherently.)

Bởi vì vô minh tán đồng với hiện tướng này là gốc rễ của sinh tử luân hồi, vai trò của nó trong những nhận thức hàng ngày thì được nhấn mạnh qua định danh tất cả những hiện tượng ngoại trừ những tính không “chân lý cho cái che lấp cái thật”, những chân lý cho vô minh (Since the ignorance that assents to this appearance is the root of cycle existence, its role in every perceptions is  emphasized through naming all phenomena except emptinesses “ truths –for-a-concealer”, truths for ignorance .) [trang 417].

[3.6] Một chân lý tối hậu, hoặc theo nguyên văn hơn, một chân lý đối tượng cao nhất (paramarthasatya) được gọi như thế bởi vì một tính không là tối thượng của tất cả hiện tượng và là đối tượng của trí tuệ thật chứng tính như thị. Nó là một chân lý bởi vì nó hiện hữu theo cách nó xuất hiện trong sự nhận thức trực tiếp. [ trang 416]

[3.7] Nhị đế không là những cõi hàm-hồ của chân lý mù sương như được đề nghị trong những bản dịch sử dụng danh từ ở mức đơn biệt, chẳng hạn “Absolute Truth” và “Conventional Truth” (Chân Lý Tuyệt Đối Và Chân Lý Quy Ước”) [The two truths are not vague realms of misty truth as suggested by translations which use the singular, such as “Absolute Truth” and “Conventional Truth” ] [trang 419]

Paramartha (Sanskrit) dịch thành tối hậu (ultimate) thì hay hơn là dịch thành “Tuyệt đối” (Absolute) là vì Absolute ngụ ý cái gì đó hiện hữu trong chính nó và của chính nó, một cách độc lập, trong khi đó chẳng có cái gì độc lập trong hệ thống Trung quán (Madhymika system), ngay cả một tính không. [trang 420]

[3.8] Nhị đế hỗ tương loại trừ, nghĩa là nếu một cái gì là chân lý cho cái che lấp cái thật thì không là chân lý tối hậu. Và nếu cái gì là chân lý tối hậu thì không là chân lý cho cái che lấp cái thật. [trang 412]

4.  Từ Tsong Khapa, Ocean of Reasoning – A Great Commentary on Nagarjuna’s Mulamadhyamakakarika. Translated by Geshe Ngawang Samten and Jay L. Garfield , Oxford University Press, 2006. 603pp. [Tông Cách Ba, Đại hải của Suy lý – Đại luận giải về Căn bản Trung luận Tụng] [Lược trích: chươngXIII Quán các pháp hữu vi, chương XVIII Quán ngã và các pháp, chương XXIV Quán bốn thánh đế]

[4.1] Trung luận XIII, 8

Các đấng Tối Thắng đã nói

Cái tính không đó là sự loại bỏ tất cả các kiến chấp

(=các kiến chấp rằng các pháp hiện hữu có tự tính)

Bất cứ ai tính không là một kiến chấp

(= tính không thì hiện hữu có tự tính)

Thì sai lầm không thể cứu chữa được.

The victorious ones have said

That emptiness is the elimination of all views

Anyone for whom emptiness is a view

Is incorrigible.

[4.2] The Kasyapa parivarta-sutra (trong Ratnakuta-sutra: kinh Bảo Tích):

“Cái mà nó là tính không thì không làm trống thông (=rỗng thông) các pháp (=hiện tượng), bởi vì các pháp tự chúng thì trống thông; cái mà nó là vô tướng không làm các pháp vô tướng, bởi vì các pháp tự chúng vô tướng; cái mà nó là vô nguyện không làm các pháp vô nguyện, bởi vì các pháp tự chúng vô nguyện.

Phân tích như thế, này, Ca Diếp, được gọi là trung đạo.- sự phân tích đúng thật các pháp. Này, Ca Diếp, tôi nói rằng bất cứ ai phân tích tính không bằng cách đối tượng hóa tính không thì đã, đang rơi xuống thấp cách xa với giáo pháp của tôi”. (“That which is emptiness does not empty phenomena, because phenomena themselves are empty; that which is signlessness does not make phenomena signless, because phenomena themselves are signless; that which is wishlessness does not make phenomena wishless, because phenomena themselves are wishless.

To so analyze, oh Kasyapa, is called the middle path – in the correct analysis of phenomena. Oh , Kasyapa, I say that whoever analyzes emptines by objectifying emptiness has fallen, fallen far from my teachings”. [trang 300]

[4.3] [Ngài Tsong Khapa giảng]

“Những biểu từ rằng những sự sự vật vật như tính không không làm trống thông các pháp nhưng rằng các pháp tự chúng trống thông v.v… có ý nói rằng không nên nhận lấy quan điểm rằng các pháp không tự chúng thực là trống thông mà thực là được làm trống thông bởi một cái gì khác.

Khi nói rằng hữu niệm hóa tính không là đã đang rơi xuống thấp cách xa, thì cách thế của sự hữu niệm hoá là, như nó được nói trong “bất cứ ai đối tượng hóa tính không”, sự đối tượng hoá (này) của tính không tạo lập tính không như là một hiện hữu thể đích thực (=hiện hữu có tự tính), nhưng nó không hoàn toàn là sự hữu niệm hóa tính không như là “đây là tính không”. Nói một cách khác đi, là một điều mâu thuẫn khi nói ngay sau đó rằng sự phân tích cả ba cái này (tính không, vô tướng, vô nguyện – ĐHP), gồm cả tính không, là trung đạo. [1.Nếu đối tượng hóa tính không thành một hiện hữu thể có tự tính –tỉ dụ tự tính làm trống thông các pháp – thì đó là điều sai lầm xa với giáo pháp. 2. Những sự phân tích tính không, vô tướng, vô nguyện đưa đến sự hữu niệm hoá “đây là tính không”… (thì sự hữu niệm hóa này hoàn toàn khác hẳn với sự đối tượng hoá nói trên) thì sự phân tích tính không, vô tướng, vô nguyện, theo cách thế như thế được gọi là trung đạo – ĐHP]. Phương pháp ứng dụng tỉ dụ này có minh họa trong trường hợp “bất cứ ai kiến chấp tính không thì không cứu chữa được”, như bản kinh nói đến,

“… Đấng Vô Thượng lúc đó đáp, Này, Ca Diếp, cũng đúng như vậy, khi tính không chính là cái xóa đi tất cả các kiến chấp, tôi gọi một người chấp nhận tính không như một kiến chấp là kẻ không cứu chữa được.” (“The statements that such things as emptiness do not empty phenomena but that phenomena themselves are empty etc., means that it should not be taken that phenomena are not themselves truly empty are truly emptied by something else.

When it says that to conceptualize emptiness is to have fallen far, the mode of that conceptualization is, as it is said in “whoever objectifies emptiness”, the objectification of emptiness as truly existent,but it is not just the conceptualization of emptiness as “this is emptiness”. Otherwise, it would be contradictory to say immediately that the analysis of these three, including emptiness, is the middle path. The method of the application of the example to that which it illustrates in the case of “whoever views emptiness is incurable” is, as the sutra puts it.

“…The Transcendent Lord then replied, “Oh, Kasyapa, in exactly the same way, when emptiness is that which eliminates all views, I call someone incurable who adopts emptiness as a view” [trang 300]

[4.4] Tính không, duyên khởi và trung đạo —  Trung luận XXIV

18.   Cái gì do duyên khởi

Được gọi là tính không

Đó cũng là giả danh

Cũng chính là trung đạo

18.   That which is dependent origination

Is explained to be emptiness

That, being dependent designation

Is itself the middle way

19.   Chẳng hiện hữu cái gì

Mà chẳng do duyên khởi

Thế nên chẳng hiện hữu

Cái gì mà chẳng không

19 .  There does not exist anything

That is not dependently arisen

Therefore there does not exist anything

That is not empty.

Trong Vigrahavyavartani (Hồi tranh luận), Ngài Long Thọ nói Đức Phật giảng tính không, duyên khởi và trung đạo là đồng nghĩa:

Tôi cung kính lễ Đức Phật vị vô thượng, và

Người giảng pháp tối thượng rằng

Tính không, duyên khởi và

Trung đạo có cùng một nghĩa. [71]

I protrate to the Buddha who is unparalled, and

Who has given the supreme teaching that

Emptiness, dependent origination and

The middle path have the same meaning. [71]

[4.5] Nói về giáo pháp – Trung luận XVIII:

8. Các pháp đều thật; và đều không thật;

Cũng thật và cũng không thật;

Chẳng thật cũng chẳng không thật.

Đây là giáo pháp của Đức Phật.

8. Everything is real; and is not real;

Both real and unreal;

Neither real nor real.

This is the Lord Buddha’s teaching.

[Ngài Tsong Khapa giảng:]

“Thế nên, thứ nhất Đức Phật dạy giáo pháp sự sự vật vật đều thật trong tính đức không biến dịch từng sát na, mặc dầu chúng đều vô thường trong tính đức chấm dứt sự tương tục. Thứ nhì, ngài dạy giáo pháp để xóa bỏ sự chấp thủ vi tế của thường hằng qua sự xác nhận rằng bởi vì sự sự vật vật biến dịch từng sát na chúng đều không thật. Thứ ba, ngài dạy rằng có hai toàn cảnh khách quan trong tính đức của những sự sự vật vật đều thật hoặc không thật, cho tới khi chúng không biến dịch hoặc biến dịch từng sát na, một cách tương ứng. Thứ tư, ngài dạy rằng cả hai cái nó thường và nó vô thường thì đều trống vắng cái hiện hữu có tự tính.

Thứ tự giảng dạy là để chuyển hướng những người từ những con đường sai lạc và sau đó dẫn họ vào những thánh đạo. Như vậy bởi vì chúng được trình bày bởi vị thầy một cách tuần tự, vì chúng thích hợp cho những tâm thức của các đệ tử, chúng được gọi là “những giáo pháp”. Chư vị tối thắng không dạy cái không là một phương tiện để thụ hưởng cam lộ– thật tướng của sự sự vật vật. (The victors do not teach that which is not a means to enjoy the nectar—the way things really are.) [trang384]

Cũng như một thầy thuốc cho thuốc thích đáng theo bệnh ngài giảng dạy trong một cách thích hợp cho mỗi người được nghe giảng. “Bốn trăm bài tụng” [của ngài Aryadeva-Thánh Thiên] nói:

Hiện-hữu, phi hiện hữu, và cả hai

Và thêm chẳng cả hai đã được dạy

Có thể nào một thuốc kê chữa bệnh

Không tùy thuộc vào bệnh? [VIII:20]

Existence, nonexistence, and both

As well as neither have been taught

Cannot anything be a medecine prescribed

Depending on the diseae? [VIII:20]

Chú thích 4.5.a: Đây là Tụng [195] theo bản [Aryadeva’s Four Hundred Stanzas on the Middle Way-with commentary by Gyel-stap ||Additional Commentary by Geshe Sonam Rinchen, translated by Ruth Sonam. Snow Lion 2008]:

Giảng dạy hiện hữu, phi hiện hữu,

Cả hai hiện hữu và phi hiện hữu, và chẳng cả hai

Chắc chắn là những thuốc cho tất cả

Những ai đang có bệnh. [195]

Teaching existence, non-existence,

Both existence and non-existence, and neither

Surely are medecines for all

That are influenced by the sickness. [195]

Chú thích 4.5.b:

Ngũ ngữ của Như Lai

Ngũ ngữ: Chơn ngữ, Thật ngữ, Như ngữ, Bất cuống ngữ, bất dị ngữ.

Phật thuyết chơn ngữ: là nghĩa chung với nhị thừa

[có sanh tử để diệt, có Niết Bàn để chứng]

thật ngữ: là nghĩa chung với Bồ tát

[nghĩa đại thừa, sanh tử Niết Bàn đều như hoa đốm trên không]

như ngữ: là nghĩa chung với Tam thừa–Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát –

[trí huệ chẳng thể suy lường, lời nói chẳng thể diễn tả]

bất cuống ngữ: chẳng dối tức là vô hư

bất dị ngữ: thấy trước việc chưa đến nên gọi là bất dị tức là vô thật,

nên Phật nói pháp ấy là vô thật vô hư.

[HT Duy Lực lược giảng]

“Those all-beings of whom the Tathagata has spoken  they are indeed no-beings. Why? Because the Tathagata speaks in accordance with reality, speaks the truth, speaks of what is, not otherwise. A Tathagata does not speaks falsely”.

[The Diamond Sutra – Edward Conze translated]

Kinh Kim Cương

Tu-Bồ-Đề! Như Lai là người chơn ngữ, thật ngữ, như ngữ, bất cuống ngữ, bất dị ngữ. Tu-Bồ-Đề! Pháp của Như Lai chứng đắc, ấy là pháp vô thật vô hư.

[Ngài Tsong Khapa viết:]

“Ngài Buddhapalita (Phật Hộ) giảng điểm này [tụng VIII:20 = tụng 195] như sau:

Đức Phật đã dạy căn cứ vào nhận thức của những người bình thường về cái gì là thật và cái gì là không thật, và cái đó đều theo những quy ước thế tục. Sự biện luận của cả hai thật tại và phi thật tại đều từ quan điểm tối hậu.Với một cách chọn lựa khác thì, thật tại, phi thật tại và cả hai có thể là hiện hữu, phi hiện hữu, hoặc cả hai, một cách tương ứng, của sự khởi sinh của hiệu qủa vào thời điểm của nguyên nhân. Đức Phật dạy rằng chúng đều chỉ là được giả định trên căn bản của những nhân và những duyên qua biện luận của những cực đoan của hiện hữu và phi hiện hữu.Thế nên, những ai cố gắng để thấy thật tướng sự sự vật vật nên hiểu biết sáng tỏ thật tướng thật sự là gì mà không bị gắn chặt vào giáo pháp chỉ thuần căn cứ vào những quy ước thế tục”. [trang 385]

[4.6] Nói về thật tướng -Trung luận XVIII

9. Không lệ thuộc vào cái khác (=tự mình chứng biết), tịch tĩnh và

Không hí luận (=dứt đường ngôn ngữ)

Không bị hữu niệm hoá, không phân biệt

Đó là các đặc hữu của thật tướng

9.   Not dependent on another, peaceful and

Not fabricated by fabrications,

Not conceptualized, without distinctions :

That is the characteristic of things as they really are.

“Để xóa đi các ý niệm sai lầm, thật tướng được nói là gồm có năm đặc hữu.

Đặc hữu thứ nhất là “không lệ thuộc vào cái khác”: Bạn không thể chỉ thuần  thật chứng nó qua sự giảng dạy của một người khác. Nó phải được thật chứng trên chính bạn qua tuệ quán không bị ô nhiễm (uncontaminated insight).

Đặc hữu thứ nhì là tịch tĩnh (peaceful): cũng như người không có mắt cườm không thấy những sợi tóc đang rơi, thật tướng của sự sự vật vật là chúng trống vắng cái hiện hữu có tự tính, nghĩa là không có tự tính.

Đặc hữu thứ ba là “thông tin không được chế tạo ra nữa”: dứt đường ngôn ngữ, không còn hí luận; đó là chúng đều không thể diễn tả được (“not fabricated by fabrication”: The verbal fabrication by means of which things are fabricated no longer fabricates them; that is, they are inexpressible).

Đặc hữu thứ tư là “không bị hữu niệm hoá”: sự hữu niệm hoá là sự lang thang của tâm. Khi một người thật chứng thật tướng của các pháp, thì không còn cái tâm lang thang đó nữa. Kinh Aksayamatinirdesa nói: Cái gì là chân lý tối hậu? Khi không có sự lang thang của tâm, thì không có nhu cầu để nói về từ, ngữ.

Đặc hữu thứ năm là “không phân biệt”: Cũng như một pháp thì tối hậu, thì các pháp khác cũng như thế. Thế nên, một cách tối hậu thì không có sự cá biệt (Therefore, ultimately there is no individuality)”. [trang 385-386]

[5.] Chú thích thêm vài điểm:

1. Tính không chính là sự trống vắng của cái hiện hữu có tự tính. Tính không, duyên khởi đều chẳng có tự tính.

2. Các pháp thì vô tự tính.Tính không chẳng phải là cái hiện hữu của cái vô tự tính. –Nếu hiểu tính không là cái hiện hữu của cái vô tự tính (thì vô tự tính chỉ là cái tên mới của tự tính, và là một thứ tự tính) thì là hiểu sai.

3. Các pháp đều không, nghĩa là không có tự tính.

(empty = open =không= trống thông, trống không, rỗng thông, rỗng suốt, rỗng rang, không ngăn ngại,…) Nên các pháp có thể nói là trong tiến trình đang trở thành, đang biến dịch, có thể thay đổi… (becoming, changing,…)

4. Các pháp hiện hữu (exist, existence), có hiện hữu hiện hoạt (actually exist, actual existence). Các nhà Trung quán (Madhyamika) chỉ phủ định cái hiện hữu có tự tính của các pháp (empty of intrinsic existence, empty of inherent existence, empty of essential existence, emptiness of essential existence of things, not exists essentially, reject true existence…)

5. Các nhà Trung quán chỉ rõ rằng không có một mảy may vi trần của một pháp nào thuộc về luân hồi hoặc niết bàn là hiện hữu có tự tính.

6. Điểm chính của ý nghĩa của tính không là duyên khởi, nhưng tính không chẳng có nghĩa là phủ định sự sự vật vật như tác nghiệp và tác giả (emptiness does not mean the negation of things such as action and agent). Không ở đây là trống thông, rỗng thông, thông suốt, rỗng suốt, không ngăn ngại… thế nên: có tác giả, có tác nghiệp, có nghiệp quả — thế nên: ta có thể tích tập phúc đức, tích tập trí tuệ. Không ở đây chẳng phải là cái ngoan không (= chẳng có cái chi hết) – nên muốn làm gì thì làm mà chẳng có chi bận lòng thì đó là hiểu sai lầm vè tính không, về duyên khởi. [Giật mình, mình lại thương mình xót xa; muối xát lòng ai nấy mặn mòi.]

7. Bao giờ tâm không còn lang thang nữa?

Nguồn: Kalu Rinpoche, “The Two Truths”, Trích từ Luminous mind: The Way of The Buddha. Wisdom, 1997.

Bản tiếng Việt © 2010 Đặng Hữu Phúc

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Bình luận

13 Comments (bài “Kalu Rinpoche – Nhị đế”)

  1. Lê Quốc Trinh viết:

    Lạ thật! Bài PH Nhị Đế tôi viết có đến cả 16 giòng, rõ ràng, mạch lạc, nêu cả những hình ảnh thật về cuộc sống của Đức Thế Tôn để giải thích phong cách “thế tục” của một người thật sự Giác Ngộ ra sao kèm theo dẫn chứng về Tứ Điệu Đế. Thế mà vài vị độc giả chỉ chăm chú đọc có mỗi câu chót mà thôi, rồi chấp vào đó để PH.

    Thế thì tôi có cần hồi âm hay không nhỉ?

  2. Hoà Nguyễn viết:

    Thật sự, ông Lê Quốc Trinh đã nói về Nhị đế trong hai phản hồi trước như trích dẫn, khi ông đưa ra thí dụ so sánh luật hấp dẫn của Newton, thuyết Tương đối của Einstein, và thuyết Lượng tử để cho cái này là Tục đế còn cái kia là Chân đế (và ông muốn làm cho cân bằng). Phần góp ý của tôi là tất cả các thuyết đó, theo quan điểm đạo Phật, đều là Tục đế (là chân lý về hiện tượng, thuộc thế gian, của con người, ở mức tương đối), nhân đọc thấy câu ông Đặng Hữu Phúc viết: “ Khi nói về ý niệm phật học, độc giả nên hiểu rõ các thuật ngữ phật học, cũng như nói về toán học, cần hiểu rõ thuật ngữ toán học, tỉ dụ điểm, đường thẳng “. Nhiều ngưới chấp nhận mình không biết về nhạc, không biết về tranh, thì cũng có người không hiểu rõ một triết học, một giáo lý.

    Bài ông Đặng Hữu Phúc dịch là của một Lạt ma hay một bậc thầy Tây Tạng thuyết giảng cho một thính chúng hay một số độc giả là những người đã hiểu sâu xa về giáo lý Phật, ít ra về Trung Quán luận của ngài Long Thọ. Vậy mà tôi tin chưa chắc nhiều người họ (hôm đó) hiểu được đầy đủ ý nghĩa bài giảng này. Tuy nhiên, nếu người theo Phật giáo VN mà không hiểu được hết lới giảng của một vị Lạt Ma Mật tông thì không có gì đáng ngạc nhiên (hay phải xấu hổ). Tôi không một lời nhận xét về bài giảng đó.

    Ông Lê Quốc Trinh nhắc lại đúng về lời nói của đức Thích Ca: “ Ai tin ta mà không hiểu lời ta là phỉ báng ta ” . Nhưng mục đích của Thế Tôn là muốn người đã tin theo đạo Phật nên cố gắng tìm hiểu giáo lý của ngài, đừng tự mãn mình đã hiểu biết hết. Nhất là ngài từng đưa ra ẩn dụ để khuyên môn đồ tinh tấn tu học: những điều ta nói chỉ như số lá cây sala nắm trong bàn tay ta, còn giáo lý của ta thì nhiều như lá rừng.

  3. Thanh Nguyễn viết:

    @Lê Quốc Trinh:

    Ngài còn tuyên bố: “Kẻ nào tin ta mà không hiểu là phỉ báng ta” đấy!

    Bằng cái nhìn thấu thị muôn vạn kiếp, Đức Phật đã nhìn thấy và tuyên bố một câu thật là tuyệt cho chúng sinh, trong đó có ông Trinh.

    Cảm ơn về sự trích dẫn này.

  4. Lê Quốc Trinh viết:

    Nhị Đế!!!

    Tôi cũng giống bác LêThượng và Trầm Kha, càng đọc bài dịch của ông Đặng Hữu Phúc càng nặng đầu, giờ lại thêm bài của bác Hoà Nguyễn nữa. Tôi chỉ nghe nói Đức Thế Tôn thuyết giảng bài đầu tiên cho bốn anh em Kiều Trần Như là thuyết Tứ Diệu Đế nói về Khổ, không hiểu các Phật tử thuần thành ý thức và cảm nhận thực thụ hết bốn chân lý này chưa, ngay trong cuộc sống khoa học cực kỳ hiện đại và đầy đủ tiện nghi như thời buổi này.

    Tôi chẳng hiểu Đức Thế Tôn nói về Chân Đế và Tục Đế ra sao, nhưng cứ quan sát cách sống thường nhật của Ngài sau khi đắc đạo là tôi cảm nhận được ngay. Không những Ngài từ chối hồi cung để tiếp tục sống ấm no đầy đủ, mà ngược lại Ngài còn cam chịu cảnh sống nghèo khổ, làm hành khất mỗi ngày chỉ một bữa cơm đúng Ngọ. Ngài không màng chùa chiền, sống nhờ vào tiền cúng dường công quả của thiện nam tín nữ. Ngài chấp nhận cuộc sống thấp nhất, giai cấp cùng đinh, trà trộn với đám dân nghèo, có gì thế tục hơn thế không?

    Ngài còn tuyên bố: “Kẻ nào tin ta mà không hiểu là phỉ báng ta” đấy!

  5. Đặng Hữu Phúc viết:

    Ý nghĩa của sống và bản tính của tâm – chân không diệu hữu và duyên khởi

    Bản Anh: Meaning of Life and Nature of Mind — Openness and Dependent Arising by Van Dang
    Bản Việt: Đặng Hữu Phúc
    [Bản văn này lược trích từ một bản sưu khảo, thế nên có một tựa đề mới ở đây]

    Kalu Rinpoche giải thích vắn tắt về bản tính của tâm: Bản tính của tâm có thể được nói về ba phương diện thể tính, bổ túc, và đồng thời: chân không diệu hữu (=openness Sanskrit: Sunyata), viên minh giác chiếu (=clarity ; Sanskrit: prabhasvara; sáng tỏ thấu suốt, tính giác) và phân biệt vô ngại (=unimpededness. Tâm là cái nghĩ: “Tôi là, tôi muốn, tôi không muốn…”. Trong nghĩa này, tâm và các tính năng của nó dường như hiện hữu…nó không có chiều hướng, màu sắc, hình tướng, cũng không có phẩm tính có thể thấy được. Trong nghĩa này, thì nó được gọi là viên dung (=open) bởi vì về mặt thể tính nó thì không xác định, không thể định phẩm tính được, vượt ngoài ý niệm, và như thế có thể so sánh với hư không. Cái bản tính không thể quy định được này là chân không diệu hữu, tính đức thể tính thứ nhất của tâm. Nó thì vượt ngoài vọng thức (=illusory consciousness) cái làm chúng ta kinh – quá tâm như là một cái tôi (=a “me”) sở hữu những đặc tính chúng ta vẫn thường quen xem là thuộc chúng ta…Tâm không chỉ những viên dung – nó sở hữu một tính đức thể tính thứ nhì, nó là khả năng của nó đối với những kinh – quá, đối với nhận biết. Cái tính đức động năng được gọi là sự nhận biết thấu tỏ sáng suốt (=clarity ; viên minh giác chiếu). Nó là cả hai sự sáng tỏ thấu suốt của tính giác (giác chiếu quang chiếu : lucidity) và sự sáng tỏ thấu suốt của những kinh – quá của nó (giác chiếu cảnh chiếu : luminosity) [Quang là chủ thể năng chiếu ; cảnh là đối tượng sở chiếu]… Cái hư không tâm ý (the mental space) nơi mà giấc chiêm bao xảy ra – độc lập với nơi chốn vật thể chúng ta đang hiện hữu – có thể so sánh với chân không diệu hữu của tâm, trong khi đó cái khả năng của nó đối với tiến trình kinh – quá (for experiencing) mặc dù bóng tối bên ngoài, tương ứng với viên minh giác chiếu của nó. Cái giác chiếu quang chiếu này ôm trọn tất cả các tri thức của tâm và là giác chiếu tự nội trong những kinh – quá này. Nó cũng là giác chiếu quang chiếu của cái gì hoặc ai đang kinh – quá chúng; chủ thể biết và cái được biết, tính giác quang chiếu và tính giác cảnh chiếu chỉ là hai mặt của cùng một thật tại… về phương diện thứ ba…là phân biệt vô ngại… Đây là sự tự do của tâm để kinh – quá mà không có gì ngăn ngại… Phân biệt vô ngại (=liễu tri biện biệt: phân biệt rành rẽ không gì ngăn ngại)là toàn thể tính của tất cả các phương diện điều được kinh quá rõ ràng rành rẽ. Thế nên, tâm thanh tịnh (pure mind: tịnh tâm) có thể được hiểu như sau: về thể tính: chân không diệu hữu; về bản tính: viên minh giác chiếu; về mặt các phương diện của nó: phân biệt vô ngại. Ba mặt này, chân không diệu hữu, viên minh giác chiếu, và phân biệt vô ngại không ly cách nhưng đồng thời. Chúng là những tính đức đồng thời và kết hợp của giác tâm (the awakened mind)[1](p21-23)

    Tâm có hai khuôn mặt, hai mặt, chúng là hai phương diện của một thật tại. Đó là giác ngộ và hư vọng.

    Giác ngộ là trạng thái của tâm thanh tịnh cái biết bất nhị và được gọi là trí tuệ bản nguyên (bản trí). Những kinh – quá của nó là chân thật; đó là, chúng không có hư vọng. Tâm thanh tịnh thì tự do và có rất nhiều tính đức từ vô thuỷ.

    Hư vọng là trạng thái của tâm không thanh tịnh (vọng tâm). Thể cách của nó về tri thức là nhị biên hoặc phân hai; nó là “tâm thức bị đối tượng hoá” (=tâm thức bị trói buộc bởi nhân duyên). Những kinh – quá của nó thì bị nhơ nhuốm bởi những hư – vọng. Tâm không thanh tịnh thì bị nhân duyên hoá và từ vô thuỷ đem đến quá nhiều khổ đau.

    Thế nên trạng thái thông thường và trạng thái giác ngộ được phân biệt chỉ bởi sự không thanh tịnh hoặc thanh tịnh của tâm, bởi sự có mặt hoặc sự vắng mặt của các hư vọng. Tâm hiện tại của chúng ta có những tính đức của tính phật; những tính đức này an trú trong tâm; chúng là bản tính thanh tịnh của tâm. Kém may mắn thay, những tính đức giác ngộ này không thể thấy được đối với chúng ta bởi vì chúng bị che giấu bởi những bao phủ, những ngăn ngại và các loại khác do nhơ nhuốm [1](p19-20)

    Hiểu lầm về tính không (emptiness) có thể gây ra suy nhược trầm cảm nơi nhiều người sử dụng Internet. Tính không là một tên khác của chân không diệu hữu (openness) và chân không (nothingness). Nó cũng nghĩa là tự do. Một biểu ngữ nổi danh của Tri Kiến về Duyên khởi là:

    “Bất cứ cái gì tuỳ thuộc vào nhân duyên
    Cái đó trống rỗng không có tự tính”

    Một hiện tượng (Sự sự, tiến trình) thì trống rỗng không có tự tính có nghĩa là nó không có một hiện hữu độc lập, nó tuỳ thuộc vào nhân duyên, nó thì duyên khởi. Thế nên tính không nghĩa là chân không diệu hữu – mở ra cho các biến hiện, mở ra cho các khả thể. Chân không diệu hữu là toàn thể. Chân không diệu hữu và duyên khởi là hai mặt của một thật tại. Về phương diện hiện hữu nó là chân không diệu hữu trong khi đó về phương diện hoạt động nó là duyên khởi. Những tên khác của chân không diệu hữu là tình yêu và tự do. Một hình ảnh của chân không diệu hữu là hư không vô tận. Một nhà văn hỏi Osho (1931-1990) về chuyện khi ông ta đang viết một quyển sách, ông ta đầy tràn năng lực và hoan hỉ, nhưng khi ông ta viết xong, ông ta thấy trống rỗng quá đỗi và đứt bóng thấy khó lòng sống. Osho giảng rằng một khi quyển sách đã viết xong, nhà văn cảm thấy một sự trống rỗng sâu xa. Một khi ông ta gọi tên một sự vật bằng một cái tên sai lầm, ông ta bắt đầu trở thành sợ hãi nó, tạo nên những liên kết sâu sắc với hiện hữu của ông ta. Một khi ông ta đã gọi một sự vật là tính trống rỗng (=tính không) ông ta trở thành sợ hãi – ngay chính từ ngữ. Osho nói ở Ấn Độ “Shunya” là một từ tốt đẹp hơn đối với tính không, nó đơn giản nghĩa là hư không, không có bờ mé. “Đừng gọi nó là trống rỗng, hãy gọi nó là toàn thể, hãy gọi nó là hiện hữu, hãy gọi nó là sự thật, hãy gọi nó là Viên Dung (=god). Và lúc đó bạn có thể cảm thấy lòng – đem – lại – an – ổn – không – sợ – hãi của nó (=lòng vô – uý – thí của nó : the benediction of it) [2] (p 157-163)

    Con người trong đời sống thực và trong đời sống tương tự thực (virtual life: đời sống trên mạng Internet) với những nhận diện bản sắc và những mong cầu thành – tựu của họ xuất hiện trong một bài thơ của Ralph Waldo Emerson (1803-1882):

    “Có nhất tính.
    Nhất tính liên kết với thế giới.
    Nghệ thuật là hành động của nhất tính vị nghệ thuật.
    Khoa học tìm thấy phương pháp của nhất tính.
    Văn chương là những ghi nhận của nhất tính.
    Tôn giáo là cảm xúc của tôn kính mà nhất tính cảm hứng.
    Đạo đức là nhất tính sáng tỏ nơi đời sống con người.
    Xã hội là sự tìm thấy của nhất tính này bởi những cá nhân nơi mỗi cá nhân khác.
    Chức nghiệp là sự học hỏi của nhất tính nơi thiên nhiên bằng cần lao.
    Chính trị là hoạt động của nhất tính sáng tỏ nơi quyền lực.”

    Những phong cách là những diễn tả tĩnh lặng và trung gian của nhất tính. [3](p44)

    Ralph Waldo Emerson phát biểu: Phụng hiến vũ trụ, có ba người con, sinh cùng một lúc, tái hiện dưới những tên khác biệt trong mỗi hệ thống tư tưởng, hoặc là chúng được gọi là nhân, hành và quả; hoặc là, thi ca hơn, Jove. Pluto, Neptune; hoặc về thần học, Cha, Thánh Thần, và Con; nhưng chúng ta có thể gọi ở đây Người Biết, Người Làm, và Người Nói. Những cái này tương ứng cho tình yêu của sự thật, cho tình yêu của sự thiện, và cho tình yêu của sự đẹp. Cả ba đều bình đẳng. Mỗi cái là cái nó là, nói về thể tính, thế nên nó không thể bị đem đặt trên cái khác hoặc bị phân giải ra xem nó gồm có những gì, và mỗi một trong ba có cái quyền lực của cái khác tiềm ẩn trong nó và chính nó, hiển nhiên.[3](p41-42)

    Bản sưu khảo này trình bày vài phương diện của cộng đồng trực tuyến (online communities) về mặt đa nguyên và dị biệt trong ngôi làng toàn cầu. Bản văn này cũng trình bày vai trò của truyền thông kĩ thuật số, đặc biệt là Trang Mạng Toàn Thế Giới (World Wide Web) như là một truyền thông, một môi trường trong sự hình thành các cộng đồng trực tuyến. Môi trường này thì mở ra cho các biến hoá hiển hiện, cho duyên khởi và cho các mong cầu thành tựu. Nó cũng biểu thị rằng “truyền thông là thông điệp” và “nội dung của bất cứ truyền thông là một truyền thông khác”. Từ đó những hình thức mới của những nhận diện bản sắc về xã hội / văn hoá xuất hiện như là những công dân của ngôi làng toàn cầu, cùng nhau chia sẻ những giá trị chung, hạnh phúc và đau khổ của hiện hữu làm người. Bản văn này cũng trình bày những ảnh hưởng có thể có, đáng mong cầu, từ những hình thức mới của những giao lưu trực tuyến vào sự hiểu biết những cộng đồng và dân chủ của chúng ta thế nên chúng tăng gia sự nhận thức sáng tỏ thấu suốt của cộng đồng hướng về nhu cầu sáng tạo những giá trị mới và tiến bộ và chuyển biến chính chúng. “Đời sống tự nó không có ý nghĩa. Đời sống là một cơ hội để sáng tạo ý nghĩa. Ý nghĩa không phải được khám phá ra: nó phải được sáng tạo. Bạn sẽ tìm thấy ý nghĩa chỉ nếu sáng tạo nó… Hàng triệu người đang sống những cuộc đời không ý nghĩa bởi vì chính cái ý tưởng hoàn toàn ngu ngốc này cho rằng ý nghĩa phải được khám phá ra. Như là nó đã ở đó rồi. Tất cả cái bạn cần là chỉ kéo tấm màn che, và nắm lấy! Ý nghĩa đang ở đây. Nó không giống như thế… Và thật là tốt khi ý nghĩa không nằm ở đó nơi nào đó, nói khác đi một người sẽ có thể khám phá ra nó – lúc đó có gì là nhu cầu cho mỗi người khác khám phá ra nó?” [2] (p181)

    Ghi chú về duyên khởi

    Từ Trung Bộ Kinh của kinh tạng chữ Pali.
    Cái này hiện hữu, cái kia trở thành, từ sự sinh khởi của cái này, cái kia sinh khởi; cái này không hiện hữu, cái kia không trở thành; từ sự chấm dứt của cái này, cái kia chấm dứt.
    (Trung Bộ Kinh, II, 32)

  6. Lê Thượng viết:

    Tôi cũng như bác Trầm Kha, càng đọc bài này lại thấy đầu óc càng nặng trĩu hơn. Nhĩ nhiên tôi không đọc hết bài vì không muốn cái đầu nặng hơn, cũng như để nhờ các bác giải thích cho sự liên hệ giữa Tục đế và Chân đế:

    Từ Tục đế đến Chân đế là một sự liên tục hay gián đoạn? Nếu liên tục, đâu là nơi biên giới? Nếu gián đoạn, làm sao mình biết sắp đến hay “đã gần với Chân đế hơn trước”?
    Cảm ơn.

  7. Hoà Nguyễn viết:

    Đặng Hữu Phúc nói: 1/ ” Tục đế cũng là chân lí của các hiện tướng .
    Cách giải thích này rất đúng.
    Vì vậy, ông Lê Quốc Trinh nên hiểu, theo đạo Phật, thuyết Tương Đối của Einstein và nguyên lý Lực Hấp dẫn của Newton cũng đều là Tục đế, khi Tục đế hiểu là chân lý về các hiện tượng mà con người có thể nhận thức, khảo sát bằng dụng cụ khoa học hiện có.

    Ông Lê Quốc Trinh cũng viết ở phản hối trước nữa: “Tôi nêu ví dụ đó cốt để đưa mọi người trở về thực tại cân bằng giữa Tục Đế (Newton) và Chân Đế (thuyết Tương Đối va thuyết Lượng Tử).
    Nói thế là không đúng với quan điểm Nhị Đế của Phật giáo, vì định luật hấp dẫn Newton và thuyết Tương Đối hay Lương tử đều là Tục Đế theo cách nhìn của Phật giáo. Khoa học (ở đây là Vật lý) theo Phật giáo chỉ đưa tới những Tục đế ngày càng chân xác hơn, nhưng chưa phải là Chân đế, tuy rắng (hy vọng) khoa học sau cùng sẽ đi đến Chân Đế. (sẽ giải thích sau).

    Đặng Hữu Phúc nói: 2/ “,i>Cái lý tính thiếu vắng cái hiện hữu có tự tính đó, được gọi là tính không và cái tính không đó cũng được gọi là chân đế.

    Cái tính Không thường được giải thích là không có Tự tính, nhưng thật sự như thế nào thì kinh luận đều không nói sáng tỏ. Thiền tông cho là không thể giải thích Tự tính, mà chính thân tâm phải thâm nhập vào tính Không, phải trải nghiệm Tự tính bằng tự thân, mới tự biết được. Những lời giải thích sau đó cho người khác hiểu chỉ là tạm dùng, và cách rất xa sự thật chứng nghiệm (tức Chân Đế).
    Tôi lấy một thí dụ, tuy biết là khập khễnh. Với con mắt bình thường, chúng ta thấy cái bàn trước mặt là rắn chắc, phẳng, trơn láng. Nhưng một nhà vật lý qua một kính phóng đại cực lớn có thề thấy mặt bàn không phẳng, láng mà lại xù xì, và riêng caí bàn không phải một khối gỗ rắn chắc mà gồm nhiều nguyên tử rất nhỏ kết hợp, và giữa các hạt nguyên tử là một khoảng trống không gian rất rộng, đến đỗi nếu ép các hạt nhân nguyên tử lại sát nhau, thì chùng sẽ chỉ là một khối rất nhỏ, không thể thấy được bằng mắt thường. Vậy trong vât thể nào cũng là một khoảng trống không rất rộng. Nhưng đó chứa phải là cái không của Chân Đế. Du sao, khi đến mức nhận thức hiện tượng như thế, tuy vẫn còn là Tục đế, đã gần với Chân đế hơn trước.

    Tôi thích một định nghĩa khác: Tục đế là biểu hiện của Chân đế , khi hiểu Tục đế nói về các hiện tượng, và Chân đế nói về bản thể, chân tính của hiện tượng.

    Như đã dẫn trong một phản hồi, kinh Kim Cang nói “ mọi vật ở thế gian đều không có thực (hư huyễn), giống như ảo ảnh hay một tiếng vang “.
    Nhưng không phải ảo ảnh và tiếng vang là không có thực, mà câu kinh trên chỉ dùng làm thí dụ để nói là chúng không co thực tính. Bóng trăng trên mặt nước không phải là trăng, nhưng nó có những đặc tính riêng, có thề nhận biết, khảo sát, và dù là hư huyễn (theo một cách nói) bóng trăng cũng giúp cho người nhìn nó biết rằng lúc đó trên bầu trời cao đang có một vầng trăng thật, sáng tỏ. Cũng vậy, tiếng vang, dội lại từ vách núi hay đáy giếng, cũng có thể giúp tìm thấy nguồn của âm thanh phát ra ban đầu. Vì vậy, Tục đế không phải là những gì không thật, hay phải dứt khoát loại trừ trong cuộc sống, trên đường tu, mà qua Tục đế con người dần dần đi đến gần Chân đế .
    Không thể từ bỏ Tục đế đã đành, nhưng cũng nên nhớ Tục đế chỉ là phương tiện trên đướng nhận thức (của Phật giáo) , và Chân đế là cứu cánh mà Phật giáo muốn đạt tới (đó là điều tôi thử nóí với anh Trầm Kha).

    Tóm lại theo Phật giáo, thực tại (bản thể) là Chân đế, những biều hiện của thực tại thuộc về Tục đế ( hiện tượng. Nhưng Tục đế bị che mò bởi những điều kiện thuộc nội tâm và cả ngoại cảnh nữa (gọi chung là vô minh) tạo thành bức màn khuất lấp, hay làm biến dạng thực tại, cho nên cái chân tướng (hay độ chân xác) của Tục đế thường khi cũng khó nhận thấy đúng, huống chi là Chân đế nằm đàng sau, bên trong, ở chỗ sâu kín nhất của Tục đế, hay vượt lên trên Tục đế.
    Đạo Phật khởi đầu có thuyết Duyên khởi (nhân duyên kết hợp) làm phát sinh ra vạn pháp (mọi hiện tượng, sự vật, kể cà chỉ có trong tâm thức). Nhưng có người cho thuyết Duyên Khởi còn thuộc Tục đế, và thật sự có nhiều người, như triết gia Hy Lạp, Khổng Tử, cũng thấy vạn vật biến đổi không ngừng (dịch), gần với ý tưởng duyên khởi. Khi đi tới thuyết Không tính, nhiều người cho là gần với Chân Đế hơn. Nhưng đó có phải đã là Chân đế không, thì vẫn còn là câu hỏi (từ những người chưa đạt tới hay chưa “kiến tánh”). Chân đế có lẽ nằm trong câu nói của Tâm kinh: “Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, (và) Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc “) . Dù sao, có thể tạm cho Tục đế là phương tiện để đạt tới thực tại tuyệt đối, hay chân đế. miễn là không “chấp” tục đế là tất cả sự thật, là chân lý đầy đủ về thực tại.

  8. Trầm Kha viết:

    Vâng. Thưa bác
    Lê Quốc Trinh,

    em chưa viết
    dòng cảm ơn
    là bác biết
    lòng vấn vương
    ngựa chổng vó
    còn nhai cương

    cảm ơn miết
    lời vô phương
    đời bí tỉ
    thôi thì
    bác với em
    sương sương…

  9. Đặng Hữu Phúc viết:

    Tục đế cũng là chân lí của các hiện tướng. Hiện tướng có vẻ như hiện hữu có tự tính, nghĩa là có tính độc lập. Có tự tính nghĩa là không biến dịch. Nếu bạn hiện hữu có tự tính thì nhan sắc bạn không tàn phai theo phút giây ngày giờ năm tháng và sẽ không có “đìu hiu ngoài bãi gió tịch dương, bay vàng đôi lối nhớ càng thương”.
    Cái lý tính thiếu vắng cái hiện hữu có tự tính đó, được gọi là tính không và cái tính không đó cũng được gọi là chân đế.
    Ngài Tsong Khapa nói: Bất cứ cái gì tùy thuộc vào nhân duyên, cái đó thì không có tự tính (Whatever depends upon conditions, that is empty of intrinsic existence).
    Thế nên, nói Duyên khởi cũng là nói Tính Không, cũng là nói Trung Đạo và cũng là nói Như huyễn (illusion).
    Nói tính không nghĩa là nói vạn hữu đều KHÔNG (không ở đây là rỗng thông, nghĩa là đang ở trạng thái biến dịch, đang trở thành|| KHÔNG chỉ phủ định cái hiện hữu có tự tính –nghĩa là các pháp (=hiện tượng ngoại giới, nội tâm và kinh nghiệm tâm linh) vẫn hiện hữu (actual existence).
    Cái hiện tướng của các pháp thì phủ định cái chủ nghĩa đoạn diệt (nihilism) và cái tính không (=tính rỗng thông luôn luôn mở rộng cho biến dịch = empty=open; emptiness= openness opens for manifestation) thì phủ định chủ nghĩa thường hằng (eternalism). Thế nên nói tính không cũng là nói Trung Đạo, nghĩa là vượt ngoài, vượt trên hai cực đoan Thường Hằng và Đoạn Diệt. Trung đạo không có nghĩa là ở giữa hai cái Thường hằng và Đoạn Diệt.
    Nói Duyên Khởi có nghĩa là phủ định Thượng đế hữu ngã thường hằng tạo lập vũ trụ.
    Đức Dalai Lama trong “Awakening the mind, Lightening the heart”, trang 228-229, có giảng, có hai loại như huyễn, một là nói đến tính không theo nghĩa là sự sự vật vật hiện hữu nhưng không có cái hiện hữu có tự tính, hai là mặc dầu chúng (=sự sự vật vật) thiếu vắng hiện hữu có tự tính (true or intrinsic existence) chúng phóng chiếu cái hiện tướng của hiện hữu có tự tính.Thế nên, đơn giản, nói: Duyên khởi= Tính Không = Trung Đạo = Như Huyễn. Khi nói về ý niệm phật học, độc giả nên hiểu rõ các thuật ngữ phật học, cũng như nói về toán học, cần hiểu rõ thuật ngữ toán học, tỉ dụ điểm, đường thẳng [nếu không hiểu mà cứ tranh luận về phật học như kiểu điểm hoặc đường thẳng thì phải có kích thước chứ].
    Duyên khởi cũng là tính không (=tính mở ra các biến dịch; các biến dịch này tôn trọng lý tính duyên khởi) cũng là trung đạo và cũng là như huyễn — tất cả đều là những đăm chiêu tư lự cảm hoài và kinh nghiệm của hữu tình
    trong cõi sinh tử tử sinh.
    Trong một đoạn phim tài liệu, Thủ Tướng Do thái Rabin nói –phụ đề Anh ngữ ghi –Chúng ta không thể giết người và bị người giết theo một cái vòng vô tận được. We cannot kill and be killed in an endless circle. Khi chúng ta đến mảnh đất này thì nó không phải là mảnh đất trống (empty land). Ông bị giết ba ngày sau khi nói những câu đó.
    Độc giả cũng nên cùng nhau đọc lại một bài thơ của Nguyễn Hữu Chỉnh, vị tướng quân vào thời Tây Sơn đem quân ra Bắc:
    Cửa sổ buồn xem ngựa trắng qua
    Vừa khôn lại thấy cũng vừa già
    Trước đã cậy lòng con cái
    Sau còn nhớ đức mẹ cha
    Giàu có làng sang có nước
    No nên bụt đói nên ma
    Sắc không chữ ấy âu vàng thép
    Nghĩ lại thì là bẵng cái hoa.
    Có những gì u hoài trong bài thơ ấy. Bài thơ viết trong cảnh nào ở trong bao năm chinh chiến, từ khi đỗ Hương Cống và Tam Trường Võ, từ khi Thăng long trong khói lửa kiêu binh, từ khi vào Nam theo Tây sơn để lánh nạn đất Bắc, từ những ngày ngang dọc trên biển Đông để tiễu trừ giặc Tàu Ô trên biển cả và giặc “lạ” đã cho ông một nickname –Chim Cắt Biển. Cảnh sống dân Việt thời đó ra sao mà ông phải than –no nên bụt đói nên ma. Ông đã viết cho một tướng thủy quân đất Bắc – hãy quên hiềm xưa mà cùng nhau chống Tây Sơn.Nhưng ông tướng đó rũ tay áo đứng xem (toạ thủ bàng quan) nên sau đó cả hai đều bại trận. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân về Thăng Long để dựng lại triều Lê thì chỉ có 6 tháng để chuẩn bị chống Tây sơn trong cảnh dinh thự kinh thành đã bị Tây sơn trước đó đã phá tan hoang, kho tàng vét sạch đem về Nam, lòng người li tán. Ông và các người con đều cầm quân (trước đã cậy lòng con cái). Khi Tây sơn ra Bắc dân chúng khóc chạy đầy đường. Khi Tây sơn bắt được ông, bỏ ông vào trong cũi, và treo đầu con ông bên ngoài cũi. Sau đó ông bị cho bốn ngựa xé.Trong bài thơ ông có nói đến sắc không và hoa đốm hư không. Chắc chắn ông đã đọc kinh Viên giác rồi (Này các vị! Do pháp như việc trong mộng nên biết sinh tử và Niết bàn chẳng sinh chẳng diệt , chẳng đến chẳng đi…)
    Và Nguyễn Du, người đồng thời với Bằng Quận Công Nguyễn Hữu Chỉnh, trên đường đi sứ sang Tàu năm 1813, đã ghé Kim Lăng, thăm Phân Kinh Thạch Đài, viết bài thơ Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân kinh Thạch Đài, tâm sự là ông đã đọc kinh Kim Cương hơn một ngàn lần mà vẫn chưa thấy áo chỉ của kinh. Cuối bài thơ ông nói Vô Tự Thị Chân Kinh – đó cũng là ý dứt đường ngôn ngữ (ngôn ngữ đạo đoạn) ngàiTsong Khapa nói về thật tướng trong phần Chú Thích Nhị Đế có ghi lại.
    Nước Anh ngày xưa Shakespeare qua Macbeth và Hamlet cũng đã có lòng cảm hoài với Duyên khởi, Tính Không, Trung đạo và Như huyễn.
    (Macbeth,Act 1, scene 7, lines 1-28| Act 5, Scene 5, lines16-28)
    (Hamlet, to be or not to be…)

  10. Lê Quốc Trinh viết:

    Bác Trầm Kha thân mến,

    Thật lòng mà nói thì có lẽ bác nên cám ơn tôi mới đúng chứ. Bác đang rị mọ ngồi làm cái chuyện “gỡ rối”, chẳng hiểu bác gỡ rối cái chi (gỡ rối tơ lòng, gỡ rối tơ duyên hay gỡ rối mạng lưới càn khôn của vũ trụ), bác đang nhức đầu gỡ mãi chưa xong, gỡ nút này thì lại bị ràng buộc vương vấn vào cái nút khác. Trò đời bát nháo phức tạp lắm bác ơi! Cho nên Nhà Phật mới gọi đó là hiện tượng “trùng trùng duyên khởi” tạo nên bối cảnh hỗn loạn mà tục đế gọi nôm na là “vô thường” đấy. Cho nên tôi đã xông pha “bứt dây” để giải thoát cho bác ra khỏi “những mối dây ràng buộc vô hình” đấy. Stress của bác đã được giải toả rồi? Đúng không?

    Chào bạn Thanh Nguyễn,

    Bạn thân! Tôi thật tình muốn tránh đôi co trong diễn đàn này. Do đó tôi chỉ muốn đàm luận trước tiên với dịch giả Đặng Hữu Phúc. Dĩ nhiên ông dịch bài này và gửi đăng lên Talawas là có mục đích rõ ràng. Nếu ông không muốn tham dự vào cuộc tranh luận trao đổi, thì lý do gì mà chúng ta phải “nặng lời” với nhau làm chi, chẳng hoá tâm trí chúng ta bị người dịch gây kích động sao?

    Nhiều người cứ thầm nghĩ “Tục Đế” nhàm chán chẳng có gì đáng nói, thế nhưng họ đâu biết những vấn đề rất ư bình thường đó, đôi khi là trở ngại lớn trong cuộc sống thường nhật mà không hay. Lấy ví dụ biểu tượng tứ khoái (Ăn, Ngủ, Đụ, Ỉa) như bạn nêu lên, đó là những nhu cầu sinh tồn chính yếu của mọi loài sinh vật trên thế gian này đấy, kể cả con người. Thiếu sót hay không kiểm soát một trong bốn thứ trọng đại này là đời sống cá nhân hay tập thể xã hội sẽ mất cân bằng ngay:

    – chiến tranh triền miên (Ăn);
    – tâm thần thác loạn (Ngủ);
    – đưa đến mất hạnh phúc (Đụ);
    – và môi trường ô nhiễm (Ỉa).

    Nếu gọi đó là Chân Đế (chân lý tuyệt đối, không quy ước) cũng không ngoa.

    Còn chuyện ông hoàng vật lý Stephens Hawking ư? Tôi nêu ví dụ đó cốt để đưa mọi người trở về thực tại cân bằng giữa Tục Đế (Newton) và Chân Đế (thuyết Tương Đối va thuyết Lượng Tử). Các nhà bác học có chẻ nguyên tử ra thành nhiều hạt nhỏ hơn, với những lý thuyết cực kỳ phức tạp hơn để giải thích vũ trụ, nhưng Tục Đế trước mắt hiển nhiên vẫn là “chân chạm đất”. Những ai theo dõi dự án siêu thế kỷ về “cỗ máy gia tốc một tỷ đô la” chắc hẳn còn nhớ giai thoại khá thú vị: “lý do công trình vĩ đại mộ tỷ đô la bị thất bại lần chót chỉ vì một mẩu bánh mì nhỏ bé do một con chim nhỏ bé đánh rơi (định luật hấp dẫn Newton) vào cỗ máy khổng lồ, gây ra court circuit”.

    Tôi không hề phản đối hay phê phán những công lao vĩ đại của các nhà bác học đương thời, nhờ họ mà khoa học tiến bộ vượt bực và nhân loại hưởng được nhiều lợi ích, tiện nghi, nhất là lãnh vực computer (Internet).

    Chào thân ái,

  11. Thanh Nguyễn viết:

    @Lê Quốc Trinh:

    1. Bài của ông Đặng Hữu Phúc là bài dịch. Qua cái nhìn “tục đế” là thấy, sao lại cảm tưởng?

    2. Đoạn trích dẫn Stephen Hawking của ông vào đây không biết có mục đích gì? Tôi thấy chả có ăn nhập gì đến bài dịch “Nhị đế” của ông ĐHP. Ông Trinh muốn “update” kiến thức khoa học vật lý cho độc giả talawas chắc? Không cần thiết, but thanks anyway!

    3. Cuộc đời này cần nghệ thuật, cần khoa học, cần các phương tiện như các trang mạng talawas, tiền vệ, cần bay bổng diệu vợi tí chút… để không bị quá trói buộc vào những thứ như “ăn – ngủ – đụ – ỉa” đơn giản, mà con vật cũng làm được.

    4. [1.2] Tục đế || Phạn: Samvrti-satya. Cũng gọi: Thế tục đế, Thế đế, Hữu đế || Đối lại: Chân đế.|| Chỉ cho lí sinh diệt có thật được thuyết minh thuận theo sự hiểu biết của thế tục. || Chữ “Thế” trong thế tục đế, tiếng Phạn có nghĩa là hoại diệt, tức là các pháp hữu vi đều có tướng hoại diệt. Còn chữ “Tục” thì có nhiều nghĩa. 1.Nghĩa không biết hoặc không rõ: Tức không biết hoặc không rõ nghĩa chân thực của các pháp. 2.Nghĩa ngăn che: Do năng lực của vô minh ngăn che nghĩa chân thật của các pháp. 3.Nghĩa nương tựa nhau: các pháp hữu vi đều nương tựa vào nhau để tồn tại. 4. Nghĩa biểu diễn rõ ràng: Tức danh tự ngôn ngữ của thế gian có khả năng diễn bày tính, tướng các pháp một cách rõ ràng khiến người ta dễ hiểu.

    Chữ ‘Đế’ là chân lí bất biến. Phú tục đế xưa gọi là Thế tục đế, nghĩa bất tận. Ý nói việc tục che lấp chân lí kia. (Trích định nghĩa giải thích về Tục đế trong bài dịch – Nhị đế của Đặng Hữu Phúc).

  12. Trầm Kha viết:

    @ bác Lê Quốc Trinh:

    Em đang rối
    loay hoay
    gỡ rối
    Bác nhảy vào
    bứt phát
    đứt dây.

    Kính,

  13. Lê Quốc Trinh viết:

    Tục Đế và Chân Đế

    Đọc toàn bộ bài này, tôi có cảm tưởng rằng ông Đặng Hữu Phúc chỉ làm một việc là dịch thuật bài viết từ một người khác.

    Tôi hy vọng dịch giả hiểu được phần nào Nhị Đế và Tính Không, để có thể trao đổi với mọi người trong diễn đàn này. Sự kiện này nhắc tôi nhớ đến lời tuyên bố mới đây của nhà vật lý nổi tiếng thế giới Hawking, trong lúc mà hàng ngàn nhà bác học vật lý đang nín thở theo dõi những thử nghiệm cách mạng dưới lòng trái đất để truy tìm nguồn gốc vũ trụ:
    ………………………………………….

    Hawking: “Chúa không tạo ra vũ trụ”

    Ông hoàng vật lý Stephen Hawking vừa đưa ra một tuyên bố gây tranh cãi, rằng vũ trụ ra đời tự phát nhờ những quy luật vật lý chứ không phải do quyền năng của Chúa Trời.

    Stephen Hawking sắp xuất bản cuốn sách mới nhất mang tên “The Grand Design”, CNN cho hay. Mục đích của tác phẩm là loại bỏ vai trò của thánh thần ra khỏi vật lý, đồng thời giải đáp những câu hỏi cơ bản nhất về sự sống, vũ trụ và mọi thứ. Trong một đoạn trích được đăng trên tạp chí Times của Anh, Hawking cho rằng con người không cần nhắc tới những thế lực thần thánh để giải thích sự hình thành của vũ trụ.

    “Do sự tồn tại hiển nhiên của những quy luật vật lý, chẳng hạn như lực hấp dẫn, vũ trụ có thể và sẽ tiếp tục tự tạo ra nó từ hư không. Sự hình thành tự phát của vũ trụ là lý do khiến vũ trụ và con người tồn tại. Vì thế đưa Chúa vào quá trình hình thành của vũ trụ là việc không cần thiết”, Hawking viết trong cuốn sáchTelegraph cho biết, trong cuốn “A Brief History of Time” (Lược sử thời gian) – tác phẩm nổi tiếng nhất của Hawking và được phát hành vào năm 1988 – vị giáo sư không hề bác bỏ khả năng Chúa tham gia vào quá trình tạo ra vũ trụ.

    Nhưng trong cuốn sách mới, ông bác bỏ giả thuyết của nhà khoa học thiên tài Isaac Newton về việc Chúa tạo ra vũ trụ. Newton từng cho rằng một vị thần hay thánh nào đó đã tác động để trái đất trở thành nơi duy nhất có đầy đủ mọi điều kiện thích hợp đối với sự sống.

    Năm 1992, các nhà thiên văn tìm thấy nhiều hệ hành tinh bên ngoài hệ Mặt Trời. Phát hiện đó trái ngược với một lập luận cơ bản của Newton. Hawking lý giải rằng, do vũ trụ có vô số thiên hà và mỗi thiên hà có vô số hành tinh nên rất có thể trái đất không phải là nơi duy nhất có sự sống. Thậm chí vũ trụ của chúng ta đang tồn tại cùng nhiều vũ trụ khác. Những vũ trụ kia cũng có những quy luật vật lý giống như vũ trụ của chúng ta, nghĩa là chúng cũng được tạo ra từ hư không, chứ không phải bởi bàn tay của Chúa.

    Hồi tháng 6 giáo sư Hawking phát biểu trên kênh truyền hình Channel 4 rằng ông không tin Chúa thực sự tồn tại. Ông đặt ra câu hỏi: “Vũ trụ bắt đầu theo ý muốn của Chúa hay nhờ một quy luật khoa học?”. Sau đó ông tự trả lời: “Tôi tin vào yếu tố thứ hai. Nếu thích, các bạn có thể gọi quy luật khoa học là Chúa, song đó không phải là vị Chúa mà chúng ta có thể gặp và đặt câu hỏi”.

    Stephen Hawking được coi là ông hoàng vật lý lý thuyết của thế giới trong suốt nhiều thập kỷ qua. Ông nổi tiếng với những công trình nghiên cứu về hố đen trong vũ trụ. Hawking cũng từng nỗ lực theo đuổi mục tiêu tìm ra một “lý thuyết thống nhất” để giải quyết các mâu thuẫn giữa thuyết tương đối của Albert Einstein và thuyết lượng tử. Hawking từng giữ vị trí giáo sư toán Lucasian tại Đại học Cambridge, Anh. Đây cũng là chức danh mà Newton từng đảm nhiệm. Ông hoàng vật lý nghỉ hưu năm ngoái.

    Cuốn sách “The Grand Design” sẽ được phát hành vào ngày 7/9 tại Mỹ và ngày 9/9 tại Anh. Leonard Mlodinow, một nhà vật lý Mỹ, là đồng tác giả của cuốn sách.

    Minh Long (VNExpress – 06-09-2010)
    ………………………………………….

    Có những người thường hay đem Chân Đế ra rao giảng, nhưng họ vẫn chưa hề hiểu rõ Tục Đế như thế nào. Họ mang hình hài người trần mắt thịt, hãy còn cần đến mọi vật chất nhị nguyên để kéo lê cuộc sống hiện hữu (ăn, uống, ngủ, nhà cửa, xe cộ, quần áo). Nói chung thể xác họ vướng víu trần gian thế tục (Tục Đế) nhưng tâm thần họ đang bay bổng ở một nơi xa vời diệu vợi mà họ gọi là Chân Đế. Họ càng rao giảng Chân Đế thì càng xa rời giáo lý Nhà Phật, vốn là căn bản thực tiễn ngay trong đời sống hàng ngày. Có những người thường đem thuyết Tương Đối (A. Einstein) hay thuyết lượng tử ra giảng giải, nhưng họ vẫn không biết rằng Nguyên Lý Lực Hấp Dẫn của Newton vẫn còn giá trị đời đời, để họ hiểu lý do tại sao chân họ vẫn luôn luôn chạm đất mà không bay bổng ra ngoài vũ trụ bao la diệu vợi.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...