talawas blog

Chuyên mục:

Quỳnh Thi – Một số suy nghĩ về thi tập Nghịch lưu của tuổi

25/10/2010 | 11:40 chiều | Comments Off on Quỳnh Thi – Một số suy nghĩ về thi tập Nghịch lưu của tuổi

Tác giả: Quỳnh Thi

Chuyên mục: Điểm sách
Thẻ:

Nguyễn Hàn Chung vừa cho ra đời tập thơ Nghịch lưu của tuổi, đứa con tinh thần anh cưu mang, chắt chiu trong những năm gần đây, khi đời sống anh đã ổn định trên đất Mỹ. Trước khi sang định cư theo diện ODP, Nguyễn Hàn Chung đã tốt nghiệp Đại học Sư phạm và là giáo viên Trung học. Anh hiện đang sinh sống tại Thành phố Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.

Trên diễn đàn thi ca Việt Nam ở hải ngoại, Nguyễn Hàn Chung là một tên tuổi không xa lạ gì với người yêu chuộng văn chương. Anh cộng tác và có thơ đăng trên các tạp chí văn học có uy tín như Văn nghệ, Thơ, Hợp Lưu và các website Da Màu, Gió–o, v.v… Nghịch lưu của tuổi là tác phẩm thứ 3 của Nguyễn Hàn chung, dày hơn 126 trang, gồm 66 bài, hầu hết là thơ Tự do, thơ phá thể và một vài bài lục bát; đầu đề lấy từ tên một bài thơ ở trang 66.

Nguyễn Hàn Chung thuộc nhóm những người chủ trương canh tân đổi mới thi ca từ hình thức đến nội dung. Anh dùng chữ cẩn trọng, cân nhắc, nên trong suốt tập thơ, người đọc không thấy những sáo ngữ, những câu chữ mượt mà, bóng bảy, lê thê, sướt mướt. Ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Hàn Chung song hành với đời sống ý tưởng gồ ghề mà anh thể hiện.

Tập thơ bao gồm 66 bài tuần tự không chia ra từng chương hay từng phần như thông lệ. Nhưng ở phân nửa quyển đầu, người đọc dễ nhận ra một số bài trước đây anh đã làm ở trong nước. Nó chất chứa kỷ niệm thời niên thiếu, lúc anh còn đi học. Những bài còn lại đa số được làm ở Hoa Kỳ. Hình như trong tập thơ này, chúng ta ít đọc được bài thơ tình nào hay của Nguyễn Hàn Chung. Không phải anh không làm thơ tình, hay không có thơ tình hay. Chúng ta thấy trên www.nguyenhanchung.com, thơ tình của anh được nhiều người hâm mộ. Không hiểu vì một lý do nào đó mà Nguyễn Hàn Chung không đưa thơ tình vào thi tập này.

Nghịch lưu của tuổi thể hiện những ray rứt suy tư của Nguyễn Hàn Chung về đời sống của con người, cả thời anh còn dạy học ở trong nước và sau này khi anh định cư ở hải ngoại. Cái khắc nghiệt trong cuộc sống mới, cái lam lũ trong công việc sinh nhai hằng ngày, không phù hợp với khả năng chuyên môn của anh trước đây, đã làm cho anh thống khổ và cay đắng, khiến anh thốt lên,

Ngày quê nhà đùm tiếng tre reo

Còn một khắc đến chai sần cơn bếp núc

Lao nếp nhăn gom góp bụi đường.

(“À ơi điệu cũ”)

Những dằn vặt của kiếp nhân sinh cũng là đề tài tạo cảm hứng để anh làm ra được những bài thơ gây xúc động cho người đọc.

Nhỏ chăn đồng cuối tóc phải chăn côi

Ngoai ngoái lại mồ cha xanh nếp trán

Nâng chai cạn mà không đành nốc cạn

Giọt rơi tràn con mắt nhướng sa mi

Tiếng à ơi kĩu kịt rát cơn mê

Miễn là em cơm nếp dẻo anh về.

(“À ơi điệu cũ”)

Trên các tạp chí văn chương ở hải ngoại mấy thập niên qua, người ta thấy các nhà thơ không ngừng tìm tòi nghiên cứu các thể thơ cũng như văn phong, bút pháp. Họ luôn đổi mới, cầu tiến, mong sao theo kịp thẩm mỹ thưởng ngoạn văn chương đương đại. Những câu thơ mượt mà, bóng bảy sáo mòn ít thấy xuất hiện trên các tờ báo văn học có uy tín. Tính nghệ thuật trong thơ, tùy bút, truyện ngắn, truyện dài có được là nhờ sự chọn lọc kỹ lưỡng của các tác giả và công lao của các nhà phê bình nghiên cứu, những người mang nặng tâm huyết với nền văn học dân tộc.

Trên lãnh vực thi ca, người  làm thơ có tinh thần đổi mới. Dù làm thơ mới Tiền chiến 4 chữ, 7, 8 chữ, hay làm thơ lục bát cũng vẫn có thể đổi mới. Đổi mới ở đây là đổi mới tứ thơ, đổi mới chữ nghĩa, đổi mới bút pháp văn phong, chứ không hẳn là phải làm thơ tự do, thơ Tân hình thức hay thơ Cụ thể, v.v… mới được gọi là đổi mới.

Tuy nhiên, dù canh tân đổi mới đến đâu chăng nữa, câu thơ vẫn phải gây được xúc động lòng người. Khi ta đọc lên, ý thơ phải ăm ắp, dạt dào, khiến ta suy tư tìm kiếm ý tưởng mà tác giả muốn gửi gắm, thì bài thơ đó mới gọi được là thành công. Có không ít những bài thơ nói là đổi mới, nhưng ngôn từ thiếu sức truyền cảm, cố tình lập dị làm dáng, chính người viết ra nó cũng chẳng hiểu họ đang nói về cái gì hay ý nghĩa của câu thơ là gì. Đó là chưa kể ngôn từ được dùng đôi khi sống sượng và tục tĩu, gây phản cảm hay khó chịu cho người đọc, chứ không làm cho người đọc mặn nồng hào hứng để thưởng thức văn chương.

Trong tập Nghịch lưu của tuổi, hầu hết là thơ mới phá thể, có câu 7 chữ, 8 chữ và một số bài lục bát. Rải rác một số bài là thơ Tự do đúng nghĩa. Thơ Nguyễn Hàn Chung thường nhiều ẩn dụ, chẳng hạn như bài “Canh giấc cánh đồng”

Cánh đồng xanh mơ ở đâu

Gai cào ngực anh tướm máu

Cánh đồng cánh đồng cánh đồng

Anh canh giấc mơ tràn mộng mị

Có đôi cánh chuồn chuồn

Rụng kín cầu ao…

Cánh đồng xanh mơ ở đâu

Anh mải mốt chạy marathon tìm em mệt nhoài ký ức.

Hay bài “Đánh cờ một mình” có những câu,

Chơi cờ

Ít nhất phải chơi tay đôi

Anh chơi một mình

Cũng lạ.

Thực ra, nhà thơ đang chơi cờ tay đôi với một người nào đó đấy chứ! Đâu phải anh chơi một mình ru? Có thể đối thủ của anh vô hình, nguy hiểm, lại “cao cờ” hơn anh. Nên

Mỗi lần anh vượt sông

Anh đều chia quân cản phá

Quay về thủ thành

Anh thí mã

Anh rụng pháo

Anh rơi xe

Cuộc cờ

Tan rã cả.

Cuối cùng, ta nghe giọng ngậm ngùi,

Cái giá phải trả

Cho lối chơi cờ một mình

Địch thủ cũng là anh

Có lẽ “Đánh cờ một mình” là bài Nguyễn Hàn Chung ưng ý nhất. Thời gian khi còn ở trong nước, bài thơ này đã gây lụy phiền làm anh sốt vó, suýt bị khốn khổ vì nó. (Anh từng có ý định lấy bài này làm tên cho  cả tập thơ để kỷ niệm, nhưng rồi không hiểu sao anh lại đổi ý!)

Bài “Bí mật tháng Giêng” có những câu “Bí ẩn của tháng Giêng cũng là bí ẩn của những điều không thể nói ra”, “Mặc những cơn gió ganh tỵ chỉ chực len vào cội hoa ức hiếp”. Trong câu thơ trên, chúng ta thấy Nguyễn Hàn Chung dùng nhóm chữ “Những cơn gió ganh tỵ” một cách tài tình. Chẳng rõ “cơn gió ganh tỵ” là cơn gió gì; liệu đó có phải là một ám chỉ cho “Bí mật tháng Giêng” không? Rồi còn “Con bướm khấp khởi đôi cánh mỏng – nương nhờ chiếc lá khô chờ hơi xuân hé”. Chiếc lá khô là của mùa Đông. Con bướm nương nhờ mùa Đông lúc còn nằm trong cái kén! Thật thâm thúy. Đó cũng là phong cách dùng chữ để diễn tả ý tưởng riêng biệt của thơ Nguyễn Hàn Chung vậy.

Chúng ta đọc thêm một số hồi tưởng, thí dụ như trong bài “Đêm vỡ”

Đêm vỡ ra từ gốc tre làng

Em không nhặt hỏi ai còn nhặt nữa

Khi nhìn lại thân phận mình:

Đừng hốt hoảng khi nếp nhăn đòi nó

Gốc ao xưa lòng đã tới rồi.

Rồi khi Nguyễn Hàn Chung mới tới sinh sống ở một đất nước xa lạ, lúc đầu còn nhiều khó khăn, nhất là khi ngày hết Tết đến,

Xuân xứ sở cao bồi xa tít viễn Đông

Sắm Tết bằng không gian ảo.

Ngày chăm bẵm lò cò trẻ nít

Gồng gánh bưng biền rơm rác đã xa.

(“Bài tha phương không chín”)

Nghịch lưu của tuổi là một tập thơ hay và xúc tích. Tôi rất hân hạnh được Nguyễn Hàn Chung gửi cho đọc, trước khi tập thơ được  phổ biến rộng rãi. Xin được giới thiệu với quí bạn đọc.

© 2010 Quỳnh Thi

© 2010 talawas

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Quỳnh Thi – Một số suy nghĩ về thi tập Nghịch lưu của tuổi”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả