talawas blog

Chuyên mục:

Nhượng Tống – Tận trung báo quốc (Hồi 3 & hồi 4)

27/10/2010 | 12:07 sáng | Comments Off on Nhượng Tống – Tận trung báo quốc (Hồi 3 & hồi 4)

Tác giả: talawas blog

Chuyên mục: Sáng tác, Tư liệu
Thẻ:

Hồi thứ ba – Cảnh trong nhà

Lớp I

Ba Thiết: (vừa đi ra vừa hát)

Vỉa:

Này em thuộc lấy làm lòng

Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề

Hát cách:

Xưa kia em đã Tổng Đề,

Duyên mai dun dủi nay về Cập Tên!

Chẳng qua, chỉ vị đồng tiền

Nào ai kẻ thệ non nguyền với ai!
Nói:

Buôn người bán thịt,

Ba Thiết là tôi

Khi trẻ trung tôi trăng gió tung trời.

Lúc đứng tuổi, tôi mới lấy chồng chơi mấy chuyến

Trước đã lấy làm ba ông Huyện

Ông ta cách quan, tôi mới lấy chú Tổng Đề

Nhưng quân Tầu thua, chú Tổng về quê,

Tôi mới chơi cho cậu Trưởng Dê xơ xác!

Số phận tiền hay duyên kiếp bạc,

Tôi vừa đẹp duyên với bác Cập Tên xong.

Nghĩ như bọn Nam nhi còn thờ vua bằng ba bẩy tấm lòng

Vậy tôi phận gái, dẫu tám chín mười chồng sao chẳng được!

Tuy lúc này của tôi như nước

Nhưng chủ cô đầu tôi vẫn theo nghề trước cho vui!

Nào các em! em Đào! em Lý! em Mai!

Trời đã muộn, liệu trang điểm ra ngồi chơi đón khách.

Nào là trống, nào đàn, nào phách,

Dù sao, ta cũng nên giấy rách giữ lấy lề…

Lớp II

Ba Thiết, Đào, Lý

Đào, Lý: (ra) Thưa me, chúng con đã biết ý me;

Đã trang điểm chỉnh tề đáo để

Lớp III

Các vai trước, thêm Tư Thum, bớt Ba Thiết

Đào:

Đời loạn lạc, mấy hôm nay thưa khách tệ!

Lý:

À  chị em mình, lại đốt vía xem sao!

(Cầm giấy ra đốt vía trong khi Ba Thiết quay vào)

Này vía, này van!

Này đốt thằng lắm gan!

Này đốt con sinh sự!

Vía lành thì ở!

Vía dữ thì đi!

Tư Thum: (vừa đi vào, vừa nghêu ngao)

Lấy gì làm thú giải phiền!

Tổ tôm trăm hai mươi lá, ngọn đèn một hoa!

Đào: (giật mình)

Thôi chết rồi, lại Tư Thum nhà ta!

Lý:

Chợ chưa họp, sao kẻ cắp đã ra sớm thế?

Tư Thum: (toe toét vào ngồi, vơ lấy trống)

Chào cả nhà, chào em Đào, em Lý,

Gớm các em, sao đẹp đẽ thế kia?

Pha nước đây, gọi kép đàn đi!

Ta có bài hát mới, hay ghê hay gớm.

Này, nhà này có em nào tranh cốm,

Vào ngồi đây, hát tạm cho nghe!

Đào, Lý:

Vâng ạ!

(người đi pha nước, người đi gọi kép)

Lớp IV

Các vai trước, thêm kép

Kép: (vác đàn vào chào mọi người)

Lạy quan ạ! …(so đàn sau khi vào ngồi).

Đào: (vào ngồi, cầm lấy bài hát ở tay Tư Thum,

để trước mặt, gõ phách hát)

Gửi thư:

Vương hiên trước mấy đường tơ mảnh,

Chạm rèm ngoài từng cánh bông rơi

Hoa bay, bay vẫn đầy trời,

Hồng tan hương nhạt, ai người thương hoa.

Trong buồng em, xót xa xuân muộn

Sầu đầy lòng bộn rộn khôn ngăn,

Vén màn cầm cuốc ra sân

Ra vào giầy đạp mấy lần hoa rơi.

Kìa du liễu đương thời tươi đẹp

Đào, Lý riêng chịu kiếp lạc loài,

Sang năm Đào, Lý lại tươi,

Sang năm phỏng biết còn người nữa không?
Cung Bắc:

Tháng ba đắp vừa xong tổ trứng,

Én trên lầu hờ hững vô tình,

Sang năm hoa lại đầy cành,

Nào có biết lầu không người vắng mà tổ cũng tan tành đáng thương

Gươm gió thét, đao sương lại giục,

Năm ba trăm sáu chục ngày dư!

Xinh tươi nào được mấy giờ

Một mai hoa rụng bơ vơ khôn tìm.

Rụng khôn tim nở xem vẫn dễ,

Buồn chết lòng riêng kẻ chôn hoa,

Vin cành thầm gạt lệ sa,

Trên cành thấy vết lệ hòa máu rơi.

Tỳ bà:

Quyên lặng tiếng, chiều trời xẩm tối.

Cuốc cất vào cửa vội khép hờ,

Đèn xanh soi vách tỏ mờ,

Mưa rào đập cửa, chăn chưa ấm mình,

Nghĩ vơ vẩn, lòng sinh thổn thức

Thương xuân về, lại tức xuân đi.

Xuân về, xuân chẳng nói chi

Xuân đi, nào có câu gì bảo nhau

Đêm nghe tiếng hát đâu buồn bã

Hẳn hồn chim hoặc giả hồn hoa

Hồn nào hồn chả xót xa

Hoa đà thẹn mặt, chim đà im hơi,

Ước mình mọc được đôi cánh sẵn,

Theo hoa bay đến tận cuối trời,

Cuối trời xa tít mù khơi

Mồ hoa nào biết ở nơi chốn nào?

Sao bằng đựng hoa vào bao gấm

Nắm xương tàn vùi nấm đất nông

Sống trong, chết cũng cho trong

Còn hơn vùi lấp ở trong ruộng bùn.

Nay hoa chết, em chôn đã hết

Còn thân em, biết chết ngày nào?

Chôn hoa, người bảo gàn sao,

Chôn em, nào biết trông vào tay ai?

Ngẫm nhan sắc một đời mòn mỏi.

Khác gì hoa gặp buổi xuân qua!

Một mai sắc hết xuân già,

Hoa tàn, người thác, ai mà biết ai?

(Ba Thiết ra)

Lớp V

Các vai trước, thêm Ba Thiết

Ba Thiết: (tươi tỉnh bước ra, nhưng khi trông thấy Tư Thum thì đổi ngay sắc mặt)

Tưởng khách nào, lại hoá ra khách khổ,

Mấy chầu rồi, cậu trả đủ đủ hay chưa?

(Hầm hầm ngồi xuống)

Tư Thum:

Mười chầu rồi, chị hãy để cho em nhờ…

Xoay xở mãi, em chưa thu xếp nổi!

Ba Thiết:

Tiền không có thì hát chằng chi mãi?

Thế chầu hôm nay, cậu nói làm sao?

Tư Thum:

Hôm nay em cũng chưa có đồng nào,

Xin chị cứ cho tạm biên vào trong sổ.

Ba Thiết:

Thôi đừng theo thói chơi lường chơi xỏ!

Có lạ gì con cháu họ nhà Trần!

Các em! Tóm cậu ta lột lấy áo khăn!

Kẻo quen ngõ, cứ lần khân đến mãi.

Đào, Lý:

Dạ!

(Xúm vào lột khăn áo)

Tư Thum: (Giằng co)

Nói:

Đừng nghịch dại! đùa mà… đừng nghịch dại!

(Quay lại Ba Thiết)

Lạy chị! Quả tình em biết tội đã nhiều,

Chỉ vì chưa chừa được thói phong lưu

Phải đâu dám chơi liều bạt mạng.

Em biết chị là người đại lượng,

Nên mới dám để tiền nong hàng tháng trây lười

Có quỷ thần chứng giám hai vai!

Không bao giờ em quên được bụng liên tài của chị!

Ơn đền ơn, nghĩa mong trả nghĩa

Dù chị sai em lội sông, lội bể cũng không từ!

Còn lúc này “Sàng đầu kim tận, tráng sĩ mặt trơ”…

Chị mắng làm phép vậy, âu đã thừa nhục nhã

Đào, Lý:

Áo khăn gì như trò đồ mã!

Mới động vào thôi đã rách tả tơi!

Ba Thiết:

Thôi các em! Cậu ta van vỉ hết lời,

Làm ra âu không khỏi mang tiếng con người độc ác!

(Quay lại Tư Thum, cười).

Chỉ được miệng nói như phác lác

Nhưng thân hình lúc nào cũng kiết xác mòng tơi!

Ừ! đã quen khoác lác khoe tài,

Có việc này, cậu làm thử, tôi coi có được?…

Tư Thum: (Rung đùi đắc chí).

Ngâm:

Ta con ông Cống, cháu ông Nghè.

Nói láo trên trời, dưới đất nghe

Đàn giỏi Bá Nha thua mấy bậc!

Cờ cao Đế Thích chấp đôi xe

Vung tay ra bể, vơ tầu lại,

Gác cẳng lên non, bắt cọp về

Hôm trước lên chơi trên Thượng Đế

Ba nghìn tiên nữ phải lòng mê!
Nói:

Thực tình tôi không phải nói khoe

No thuốc phiện, việc gì làm chẳng được

Ba Thiết:

Mà làm xong thì tôi xúy xoá tất, của các chầu chịu trước,

Lại cho thêm ba mươi lạng bạc đón tay,

Mà rồi ra còn chán trò hay!

Tuần phủ, Tổng Đốc, có lẽ may cũng dễ!

Tư Thum: (Mừng rỡ cuống quýt)

Việc gì thế? Việc gì thế chị?

Tư Thum tôi xin nhận ký hai tay?

Có lẽ mả nhà tôi kết phát rồi đây

Không dưng sao chị lại có dịp may đến thế?

Nếu được thế, em xin làm cho chị,

Chị cứ truyền, em sẽ tiến hành ngay?

Ba Thiết: (Xua tay đuổi kép và Đào, Lý)

Các người lui ra khỏi cả nơi này!

Kẻo câu chuyện kín, ngồi đây không tiện nói.

Đào, Lý và kép:

Dạ! (Cùng lui ra)

Lớp VI

Ba Thiết, Tư Thum

Tư Thum:

Nghe mẹ dậy, mà lòng con sôi nổi!

Xin phép mẹ, con gọi thế cho thân…

Ba Thiết:

Ông Ba nhà tôi coi việc này là việc rất cần

Phải kén được kẻ tay chân, kẻo sợ…

Tư Thum:

Kẻ tay chân, đã đâu bằng tình mẫu tử,

Việc gì cần, mẹ cứ giao con…

Ba Thiết:

Giờ đây, Hà thành tuy bốn mặt vây tròn

Nhưng lão Tổng Đốc vẫn còn cố giữ

Giữ sao cho nổi, kíp chầy thành tất vỡ,

Chỉ làm thêm khổ sở nhân gian

Cho nhân dân chóng được làm ăn

Quân quý quốc rất cần ta giúp sức…

Vậy cần cho tiền các quân canh lính gác

Bảo chúng đốt ngay kho đạn dược trong thành

Thấy xẩy ra nội chiến thình lình,

Các tướng sĩ tất phải thất kinh hoảng sợ.

Giữa lúc ấy, cất quân đánh giữ,

Việc hạ thành, âu chỉ nửa ngày là…

Tư Thum:

Thật trời thương! con có mấy người nhà

Kho đạn dược, vẫn vào ra canh gác…

Nhưng số bạc, mẹ phải cho tạm trước ,

Chỉ sáng mai, con xin làm được như lời…

(có tiếng gõ cửa)

Ồ! có ai gõ cửa bên ngoài?

Ba Thiết:

Cậu đứng dậy, xem ai hộ chị!

Tư Thum:

Vâng! (đứng dậy mở cửa)

Lớp VII

Ba Thiết, Tư Thum, Bá Hộ Kim

Bá Hộ Kim: (cắp cái tráp, từ ngoài vào, cúi chào)

Lạy bà lớn ạ!

Ba Thiết: (kiêu hãnh)

… Ông là ai thế? Ngồi chơi.

(Nhìn Tư Thum) Cậu kéo ghế mời ngồi.

Tư Thum: Dạ! (Kéo ghế mời Bá Hộ Kim)

Bá Hộ Kim: (Đặt tráp vào bàn, nhưng vẫn đứng)

Bẩm bà lớn, tôi là Bá Hộ Kim, trưởng phố Hàng Vôi.

Do quan án Bá sai đến hầu bà lớn.

(Quay lại Tư Thum)

Cậu xem có cái khay, tôi mượn.

(Tư Thum lấy khay đưa, rồi lẩn vào)

Lớp VIII

Bớt Tư Thum

Bá Hộ Kim: (Giở tráp lấy vàng bạc ra khay, đưa đến trước mặt Ba Thiết).

Bẩm… Bẩm… gọi là chút vi thiềng của quan lớn chúng tôi…

Ba Thiết: (kiêu hãnh)

Ông Án à? Ta chưa được biết người!

Việc gì thế? Bác ngồi chơi ta nói chuyện.

Bá Hộ Kim: (vào ngồi gãi tai).

Bẩm bà lớn!

Hiện tình thế đương trong nguy biến,

Quan Án chúng tôi, ngày đêm lo vạ đến thình lình

Phúc phận đâu, khi lửa đã cháy thành

Ngọc hay đá, cũng thành tan nát cả!

Vậy mong được lệnh bà che chở…

“Cứu một người phúc tựa hà sa!”

Huống chi nhà quan Án tôi lớn, bé, trẻ, già,

Đếm đầu tính chẵn ba chục mạng…

Ba Thiết: (gật đầu)

Nếu ông Án muốn yên lành sung sướng,

Thì chi bằng nhận ngay làm nội ứng bên trong?

Phải chăng ông ta đương coi giữ cửa Đông?

Ấy phu quân ta cũng coi việc tấn công mạn đó

Nếu ông Án thực lòng quy phục

Thì xin nên mở cửa thành chịu khó ra hàng

Cứ việc mũ cao áo rộng nghiêm trang

Chỉ cần phải đặt hương án ngang đường quỳ lậy

Trước mặt trận trông hình dạng ấy

Phu nhân ta sẽ đến tận nơi mà đỡ dậy hẳn hoi!

Tuy lúc này tụy lụy khó coi

Nhưng mai mốt ghế Tổng Đốc, Kinh Lược, sẽ ngồi bảnh choẹ!

Bá Hộ Kim:

Lệnh bà dậy sao, quan Án tôi sẽ vâng lời thế

Trông ơn trên xét kỹ rộng thương

Gọi tâm thành nhiều ít bạc vàng

Xin lệnh bà nhận cho con được có đường đi lại!

Ba Thiết: (gật đầu)

Không nhận ta hoá ra người khoảnh khoái!

Và ông Án nhà cũng không khỏi ăn năn

Tình đồng bào “Nam quốc Nam nhân”

Vậy ta cứ nhận, để có việc khó khăn ông cứ tới…

Bá Hộ Kim: (đứng dậy)

Đã biết cửa lệnh bà mở cho đi lại,

Hẳn còn nhiều hậu hội không xa! (vái rạp)

Lạy lệnh bà, con cái xin ra!

(Quay ra)

Lớp IX

Ba Thiết một mình

Ba Thiết: (cười đắc ý, nhìn theo Bá Hộ Kim).

Đời là thế! A ha! Người đời là thế thế!

Hạ  màn

(hết hồi thứ ba)

Hồi thứ tư – Cảnh công đường

Bài trí đại khái như trước, chỉ thêm một hoành phi, kèm hai câu đối và một giá cắm các đồ lộ bộ.

Màn mở lên, giữa lúc Hoàng Diệu ngồi một mình, một thanh gươm tuốt trần để trên bàn.

Lớp I

Hoàng Diệu

Hoàng Diệu: (mũ áo chỉnh tề)

Ngâm:

Non sông thấy rõ tan tành nước!

Trời đất sinh chi nhục nhã tôi.

Nát xác, tan xương, chi xá nghĩ

Trắng trong, mong để tiếng trên đời.

Quốc phá sơn hà tại

Thành hoang thảo mộc thâm,

Nghĩ ơn vua lệ máu không cầm

Nhớ lời mẹ già mà ruột tằm quặn khúc

Như nay, thành Hà nội đã trùng trùng vây bọc

Súng vang tai, tiếng khóc dậy trời

Nhìn xác chồng, mà đau xót khôn nguôi

Thấy dân đói, ăn ngồi đâu dám thiết!

Này là lúc “thời cùng kiếm tiết”

Kẻ nam nhi được chết là vinh!

Hôm qua ta đã họp các quan văn võ trong thành

Lòng thần tử, cậy thần minh soi xét.

Thề tất cả theo thành cùng sống chết

Để tấm gương trung liệt lại ngàn sau.

Lớp II

Hoàng Diệu, Lính

Lính (vào): Bẩm quan lớn! Bẩm… bẩm…

Hoàng Diệu: Gì đó con?

Lính:

Bẩm quan Tổng binh Đường chẳng biết lẩn đàng nào

Quan Đề Đốc Trinh đi đâu, tìm chẳng được!

Quan Lãnh Trực thì trốn sang tỉnh Bắc

Quan Tán Phong cũng chạy ngược xứ đoài!

Vì vậy các cửa thành phòng thủ thiếu người,

Mà đạn trái phá bên ngoài như vũ bão,

Quan Bảng Long sai con về phi báo…

Hoàng Diệu: Trời đất ơi!

Con ra truyền bảo hàng phòng:

Mời ngay quan Tuần, quan Án cho Ông,

Cả quan Bố, đặng ta cùng nghị sự!

Lính: Dạ (ra)

Lớp III

Hoàng Diệu một mình

Hoàng Diệu:

Thôi đại sự, trông mong gì nữa!

Tướng sĩ đà tan vỡ bốn bề

Hôm qua vừa uống máu ăn thề,

Hôm nay đã bỏ việc nước, lần về với vợ!

Muôn lòng đã ngói tan cát lở,

Một tay ai chống đỡ nổi sơn hà?

Lớp IV

Hoàng Diệu, Lính

Lính (vào)

Bẩm… Bẩm quan lớn!

Quan Tuần, quan Án, đều cáo bịnh nằm nhà

Chỉ có quan Bố chịu ra tiếp kiến

Nghe lời mời, ngài đã theo con đến.

Hoàng Diệu (thở dài lắc đầu):

Con ra mời ngài vào, đặng ta bàn chuyện thiệt hơn.

Lính: Dạ! (lui ra)

Lớp V

Hoàng Diệu, Quan Bố

Quan Bố (lật đật vào):

Lậy quan lớn ạ!

Hoàng Diệu:

Không dám, chào quan lớn!

Chúng ta đang ở thế cô đơn,

Mời quan lớn giải tọa, để ta cùng bàn lợi hại!

Quan Bố:

Vâng, ngài liệu đấy mà tính đường lui tới!

Kẻo tiếng thần công làm tôi sợ hãi chẳng còn hồn!

Bọn quan võ nhanh chân còn có thể chuồn,

Đến như tôi, lòng muốn trốn, nhưng chân run đi chẳng nổi!

Hoàng Diệu:

Mới hôm qua, họ còn hăng hái,

Thề cùng nhau chống chọi đến cùng,

Vậy mà hôm nay đã bỏ trốn lung tung,

Và quan Tuần, quan Án, mời cũng không đến nữa.

Quan Bố:

Bẩm quan lớn

Nói thế này, nghe ra lời nói dở

Nhưng thực tình ai mà chẳng sợ đạn ông Tây!

Ngay đến các ông “Thần công” gan sắt dạn dầy,

Vậy mà cũng nín thít mấy hôm nay không dám nổ

Rượu, quân lính đã đổ cho hàng hũ,

Vậy mà đạn các ông ngậm đó nhả không ra

Ấy là thần còn thế huống chi ta!

Không chống nổi, tôi cho là không chống nổi.

Vậy quan lớn phải liệu đường tiến thoái,

Kẻo chúng mình không khỏi chết oan.

Hoàng Diệu:

Trời ơi! Chết để cho danh tiết vẹn toàn,

Chết để sống với giang sơn đất nước,

Chết đáng chỗ, sao gọi là chết oan cho được!

Quan Bố:

Theo ý tôi  thì, chết lúc này mất xác như chơi

Người ta chết, lượt là khâm liệm hẳn hoi

Chúng mình chết, không khéo xương thịt đều làm mồi cho quạ.

Hoàng Diệu:

Tôi bằng lòng cho búa rìu mổ xẻ,

Xác tan tành nhưng hồn đã thảnh thơi!

Còn hơn sống trăm năm mà phụ nước quên nòi,

Để tên họ cho muôn đời xỉ vả!

Quan Bố:

Theo ý tôi thì chết lúc này, chẳng lợi gì cho nước cả

Vậy mà chống một ngày, là quân dân vất vả một ngày

Nếu không mở cửa thành tìm lối hàng ngay,

Khi thành vỡ sẽ rầy rà đáo để …

Chết một mình thôi, đành chẳng kể,

Nhưng còn vợ, con, còn mẹ, còn cha …

Hoàng Diệu:

Trời ơi! Đạo người dân, đâu được nghĩ đến nhà,

Kẻ thờ nước, chỉ biết nước là cha mẹ.

(Có tiếng đại bác nổ liên tiếp)

Quan Bố: (giật mình hoảng hốt thất thần)

Tiếng, tiếng, tiếng, tiếng… gì thế, thế?

Đích “Tấy sung”, bỏ mẹ! “Tấy sung!”

Trời đất ôi! có khổ tôi không?

Chóng mặt quá, tôi ngồi không được nữa!

(loạng choạng đứng dậy vẫy lính)

Chú, chú, chú!

Làm ơn dắt tôi về tận cửa,

Cha mẹ ơi! ới vợ, con ơi!

(vịn vai lính chạy ra)

Lớp VI

Hoàng Diệu, Lính

Lính (vào):

Bẩm, bẩm quan lớn!

Quan Bảng Long đã tử trận mất rồi!

Quan Bảng Hổ phải coi thay cửa Bắc!

Chính cửa Bắc đã nhiều chỗ sạt vì đại bác!

Chẳng rõ sớm chiều có giữ được hay không?

Hoàng Diệu: Trời ơi!

Chết trước ta, Long đã trả được nghĩa non sông!

Nhưng tình sư đệ, ta đau lòng xiết kể!

Các con sắp quan ván, chôn ông Long cho tử tế,

Gọi là tròn cùng nhau chút nghĩa tử sinh!

Lính: Dạ (đi ra)

Lớp VII

Hoàng Diệu, thị tỳ

Thị tỳ: (vừa khóc vừa chạy ra)

Bẩm, bẩm quan lớn!

Bà hai con đã thắt cổ quyên sinh,

Có để thư lại, xin trình quan lớn biết (đưa thư)

Hoàng Diệu: (lắc đầu cười chua chát)

Chết! Ồ! sự thế này, ai không muốn chết,

Nhưng còn sống một ngày, còn phải làm cho hết bổn phận một ngày.

Ta cũng chẳng nhìn chi nàng trong lúc tủi thương này

Dưới chín suối, mai ngày ta sẽ gặp!

Các con! Hãy khâm liệm, hãy chôn cất gấp,

Cơ sự, coi thành cũng sắp nguy rồi!…

Thị tỳ: Dạ (đi vào)

Lớp VIII

Hoàng Diệu một mình

Hoàng Diệu: (cầm thơ đọc)

Thành vỡ, nhà tan, phận nữ nhi

Tay người, sống nhục mà chi

Chết trung, chàng nhớ đền ơn nước

Chín suối, nghìn thu chẳng biệt ly

Nói: Trời ơi!

Bạn hồng nhan, còn ai coi chết như về,

Người quân tử, đâu có cam bề sống nhục.

Nhưng ta chết lúc này, chưa phải lúc,

Ta chết đi, ai đốc thúc coi thành?

Ta đã gửi thư đi cầu cứu các vùng quanh

Biết đâu trong sớm tối, viện binh chẳng tới?

Lớp IX

Hoàng Diệu, Nghĩa, lính

Nghĩa: (hoảng hốt chạy vào)

Bẩm quan lớn! Nguy cơ đã tới!

Quanh mình ngài, phản bội biết bao người!

Phía trong thành, khói lửa ngất trời!

Kho thuốc đạn, không biết ai đốt!

Hoàng Diệu (nghiến răng):

Nghe tin báo mà bầm gan tím ruột!

Quân gian phi sao lọt vào chỗ kho tàng?

Quân lính (hoảng hốt chạy vào)

Bẩm, bẩm quan lớn!

Thật là biến cố phi thường!

Quan Án Bá đã ra hàng bên địch trước?

Ông ta võng, lọng, cân đai chững chạc,

Mở cửa Đông, ngài rước Tây vào!

Hoàng Diệu:

Trời ơi! Thế còn các tướng sĩ khác thì sao?

Lính:

Không biết họ chạy đàng nào mất cả!

Chỉ có quan Bảng Hổ là đương tất tả,

Đem quân về chẹn đánh ngả hàng Da,

Nhưng xem chừng núng thế, quân ta,

Kém súng đạn, khó mà chống nổi!

Hoàng Diệu: (đập gươm chém bàn)

Ghê gớm chửa, những quân phản bội!

Ta chúc cho chúng sống mãi ngàn năm mà hưởng mãi giàu sang.

Trời đất ơi! Ta còn mặt mũi nào mà nhìn dân chúng giữa tang thương.

Tội nghiệp cho ta, ta đã phụ Thánh hoàng lòng ký thác.

Thôi! Thôi! Đành non nước mặc đàn sau gánh vác!

Trước bàn thờ Tổ quốc nguyện hy sinh,

Các con! Bầy hương án ra, để ta bái vọng Triều đình

Đặng yên dạ theo thành cùng chết!

Lính: Dạ! (cùng Nghĩa ra khiêng hương án vào)

Hoàng Diệu: (thắp hương, lạy 5 lạy vừa lạy vừa nói)

Trông kinh quốc khói mây mờ mịt,

Kẻ hạ thần, xin bái biệt long nhan

Phụ nước nhà, để nhục giang san

Tội lỗi kể muôn vàn, thần tự biết

Nhưng sức đã kiệt, tài hèn đã hết

Bước đường cùng, bao xiết bi ai!

Xin cầu Trời chóng sinh ra những bậc hiền tài,

Để cứu vớt lấy giống nòi Hồng Lạc.

(đeo bản sớ rồi đứng dậy)

Nói: Này Nghĩa con!

Nghĩa: Dạ!

Hoàng Diệu: (Cầm bản sớ đưa)

Bản sớ này, con giữ cho cẩn thận

Sau khi ông chết rồi thì con trốn lẩn đi ngay

Đưa sớ lên quan tuần phủ Sơn Tây

Nhờ Ngài cho ngựa trạm tâu về Ngài ngự biết.

Nghĩa (sụt sùi): Bẩm ông!

Bà đã chết, giờ ông lại chết

Thân con còn có thiết sống đâu

Thôi thì thầy trò sống chết có nhau

Cho con được dưới chín suối theo hầu sớm tối.

Hoàng Diệu (vỗ vai Nghĩa):

Không, con thương ta, con đừng chết vội

Phải cố công lặn lội lần mò,

Sao cho sớ này tới được nhà vua

Ta mới có thể đem tâm sự giải cho đời rõ.

Ta chết đi, thật muôn vàn tủi hổ,

Con trẻ trung, nên chịu khó sống với đời.

Hoa nở tàn, trăng có đầy vơi

Vận nước bĩ hết rồi lại thái,

Người trước ngã, người sau kế tới,

Ta làm không xong, con cái phải làm xong!

Trời đất vô cùng, cơ hội cũng vô cùng.

Phải có lúc khôi phục được non sông nước cũ.

Dù có chết cũng phải chết cho đúng chỗ

Chứ chết theo ta chết có ích gì?

Thôi! con ngồi đây thong thả để ta đi!

Nghĩa (nắm áo) :

Ông đi đâu? Ông đi đâu?

Hoàng Diệu:

Ta đi về chín suối! (lắng tai nghe)

Đó, tiếng sông núi đương xa xăm thúc gọi

Đó! tiếng ông cha đương đòi hỏi chờ mong…

Nghĩa:

Con xin đi, theo ông đến phút cuối cùng

Hoàng Diệu:

Không! con ở lại! Chớ phụ lòng ta ủy thác! (Cười)

Đạo trung hiếu, ta giữ gìn từng bước!

Con không sợ ta đi lạc đường đâu!

(đi ra. Nghĩa ngơ ngẩn nhìn theo)

Lớp X

Nghĩa, Phó Bảng Hổ

Phó Bảng Hổ (áo trắng, máu đầm đìa, tập tễnh bước vào, nhớn nhác nhìn quanh):

Ô kìa! các anh!

Khắp bốn bề quân địch đã kéo vào,

Mà quan lớn tôi tìm sao chẳng thấy?

Nghĩa:

Chính quan lớn vừa bước ra ngoài ấy!

Phó Bảng Hổ:

Tìm ngay Ngài về đây! Tôi lạy các anh!

Nghĩa và lính:

Bẩm vâng! (cùng ra)

Lớp XI

Trước Phó Bảng Hổ, sau thêm Nghĩa

Hổ: (loạng choạng ngồi bệt xuống đất)

Nói:

Hoài công thay trời đất sinh mình,

Non sông chịu tan tành trong bóng tối

Ô, này máu! Máu sao mà chảy mãi?

Tiếc thay! máu đẹp thế này mà không tô điểm non sông?

Ô này nước! Nước đâu? Sao ta khát nước vô cùng!

(chắp tay vái hương án)

Lạy Thánh thượng!

Hạ thần quả không có hai lòng phụ nước

(Nghĩa, Lính vừa khóc vừa khiêng xác Hoàng Diệu vào)

Hổ (xô lại, ôm lấy Hoàng Diệu nghẹn ngào):

Ôi thầy tôi! Ôi! chí khí, ôi tài thao lược!

Ôi trời ôi! Hãm chi nhau vào bước đường cùng

Lạy thầy! Thầy đợi con! Thầy đợi con cùng!

Thầy đã chết, con lòng nào sống nữa?

(rút gươm đâm cổ, phục xuống bên xác Hoàng Diệu)

Nghĩa (hoảng hốt giơ tay lên trời)

Nói:

Thế là bao nhiêu bậc kỳ nam, hiệp nữ,

Đều đã thành ra người trên lịch sử cả rồi!

Còn chúng ta, chúng ta có làm sao cứu vớt giống nòi?

Hay đành sấp mặt chịu mãn đời nô lệ?

Hạ màn

Nguồn: Nhượng Tống. Hoa Cành Nam – Từ Nam Đồng Thư Xã Đến V.N.Q.D. Đ. Di Cảo. Nguyễn Thạch Kiên biên tập (Lời Tựa, 1-8-1972). Xuất bản tại Sài Gòn, Việt Nam trước 1975. Tái bản lần đầu tiên tại hải ngoại do: Nguồn Việt. Struchtrup 3, 4924 Barntrup, West Germany. Bản văn này do Đặng Hữu Phúc, Sydney, Australia đánh máy.

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Nhượng Tống – Tận trung báo quốc (Hồi 3 & hồi 4)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả