talawas blog

Chuyên mục:

Trương Nhân Tuấn trả lời phỏng vấn của talawas

30/10/2010 | 5:47 sáng | 11 Comments

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Category: 9 năm talawas, Chính trị - Xã hội

talawas – Ngày 03/11/2010 sắp tới, talawas sẽ tròn 9 tuổi và xin nói lời chia tay độc giả. Chúng tôi sẽ nhìn lại chặng đường 9 năm qua và trình bày nguyên nhân kết thúc hoạt động. Nhân dịp này, chúng tôi cũng mời các cộng tác viên tham gia trả lời 3 câu hỏi của talawas sau đây:

1. Theo anh, 5 vấn đề hệ trọng nhất của Việt Nam hiện nay là gì?

2. Nếu được cầm quyền tuyệt đối tại Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, anh sẽ làm gì?

3. Hình dung của anh về Việt Nam năm 2010, 2020 và 2030.

____________

Trương Nhân Tuấn

Tôi trả lời “bài phỏng vấn cuối cùng” của BBT talawas với tâm trạng nửa bâng khuâng, nửa bất an. Tôi không tin lần viết này là lần chót trên trang mạng talawas. Hy vọng đây chỉ là quyết định tạm thời của talawas.

Về các câu hỏi:

1.

Theo thứ tự, hiện nay theo tôi 5 vấn đề hệ trọng nhất của Việt Nam là: a/ giáo dục và chấn hưng văn hóa truyền thống Việt Nam; b/ ngoại giao và quốc phòng; c/ kinh tế; d/ ô nhiễm môi trường và phát triển bền vững và e/ luật pháp không minh bạch và các vấn đề thuộc về an sinh xã hội.

Nếu hỏi vì sao thì tôi xin nói lý do ở hai điểm a và b như sau:

a/ Việt Nam hiện nay vẫn còn xếp hạng trong các nước nghèo trên bảng tính của thế giới, mặc dầu đã được hơn ba thập niên thanh bình để chấn chỉnh nội bộ và phát triển đất nước. Cũng với vốn thời gian này, Nhật Bản đã vươn lên từ đống tro tàn của đất nước họ sau Thế chiến thứ II để trở thành một cường quốc kinh tế. Cũng với thời gian đó, các nước đồng sàng với Việt Nam như Đại Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Mã Lai… đã vượt lên, thành rồng thành hổ, bỏ xa Việt Nam lại đàng sau vài thập niên.

Theo tôi có các nguyên nhân đã làm cho Việt Nam trì trệ: do sai lầm từ việc lựa chọn thể chế chính trị, do sai lầm về đường lối ngoại giao, do sai lầm về chiến lược quốc phòng… các sai lầm này đã làm cho Việt Nam vừa bị cô lập với thế giới tự do, vừa bị đẩy vào hai cuộc chiến đẫm máu với hai lân bang, gây tổn hại biết bao xương máu mà không đem lại lợi lộc nào cho dân và nước, ngoài việc kết thêm thù hận và đem lại sự nghèo khổ cùng cực cho người dân. Ngoài ra còn có những sai lầm trọng đại khác, đã khiến cho đất nước ngày càng đắm chìm vào vòng nghèo đói, khiến xã hội đầy dẫy bất công, luân thường đạo lý suy đồi: sai lầm về chiến lược phát triển kinh tế, sai lầm và bất cập đã tạo ra nền công lý bất phân minh, xã hội đảo điên do luân thường đạo lý (văn hóa truyền thống gia đình) suy đồi.

Nguyên nhân vì đâu Việt Nam đã có một loạt các lựa chọn sai lầm đó? Một câu trả lời đơn giản: nếu có lãnh đạo sáng suốt, chắc chắn Việt Nam đã không liên tục phạm những sai lầm tai hại.

Đến nay Việt Nam vẫn chưa (hay không) có một chiến lược nhất định để phát triển đất nước. Lãnh đạo Việt Nam vẫn chỉ loay hoay từng ngày, đối phó với từng thử thách, từng vấn đề một. Các Đại hội Đảng tiếp nối nhau đi qua, các nghị quyết lần lượt đi vào quá khứ, nhưng mục tiêu đề ra vẫn mập mờ, không điều gì hoàn tất hay thành công trọn vẹn.

Vấn đề cốt lõi, theo tôi, là do kết quả giáo dục và đào tạo con người.

Tất cả các đổ vỡ của dân tộc Việt Nam, từ sau khi giành được độc lập từ tay Pháp (thậm chí đến ngày hôm nay), là do các tầng lớp lãnh đạo quá tồi dở. Những lớp lãnh đạo này phần lớn chưa bao giờ được đào tạo có bài bản từ trường lớp.

Thời cộng sản, người lãnh đạo không có kinh nghiệm quản lý quốc gia (chỉ có kinh nghiệm cầm súng), không có kiến thức (ngoài lý thuyết Mác-Lênin lỗi thời)… do đó làm lãnh đạo không khác chi làm nghiên cứu sinh, lần mò thử nghiệm trong phòng thí nghiệm. Nhưng mỗi thất bại về chính sách của lãnh đạo là mỗi lần gây đau đớn cho người dân, là đem lại mất mát cho đất nước, vì những người lãnh đạo ấy đã lấy dân và nước làm vật thử nghiệm. Điều phẫn nộ là những cá nhân đáng lẽ phải chịu trách nhiệm về các thất bại đó, trước các nạn nhân của nó, thì chưa bao giờ bị trừng trị theo phép nước. Ngoại lệ đã bắt đầu từ thời ông Hồ Chí Minh. Ông Hồ vẫn đứng ngoài mọi trách nhiệm, cho dầu ông là tác nhân gây thiệt hại của hàng trăm ngàn sinh mạng, gây đổ vỡ của hàng triệu gia đình… Phương châm của Đảng CSVN làm lãnh tụ là được phép sai lầm. Phép nước đã bị coi không ra gì bắt đầu từ ấy.

Con người quyết định tất cả. Con người thế nào thì phản ảnh ra xã hội như thế ấy.

Đã có rất nhiều nhà mô phạm có lương tâm và có lòng với đất nước thường xuyên lên tiếng báo động về giáo dục.

Để ý, bất kỳ một quốc gia nào, tiên tiến, phát triển hay đang phát triển, nhà nước luôn dành cho bộ giáo dục ngân sách lớn nhất. Việc này nói lên hết tầm quan trọng của vấn đề giáo dục (và văn hóa) đối với sự phát triển của quốc gia. Quốc gia giàu mạnh hay không phần lớn tùy thuộc vào kết quả việc giáo dục và đào tạo công dân của quốc gia đó.

Tôi mới đọc được thống kê về thành quả của học trò gốc Châu Á (mà Việt Nam chiếm phần lớn vì kiều dân Việt Nam sống tại Pháp đông hơn các sắc dân Châu Á khác) so với các nước Châu Âu, đặc biệt là nước Pháp. Theo đó chỉ có 52% học trò Pháp tốt nghiệp đại học trong khi tỉ lệ học trò các giống dân Châu Á lên đến 62%. Tỉ số này còn đậm nét hơn nếu nhìn sang Hoa Kỳ. Ở đây học trò gốc Châu Á luôn đứng đầu lớp. Thống kê này được các cơ quan thẩm quyền Pháp quốc thực hiện nhằm tổng kết thành quả “hội nhập” của các sắc dân khác sống tại nước Pháp. Thống kê được thực hiện trên các gia đình di dân đã sinh sống khá lâu, có con cái sinh ra và trưởng thành tại Pháp. Cũng theo kết quả đó, thành phần ít thành công trong học đường là các con em có gốc Châu Phi (vùng ảnh hưởng Hồi giáo). Thống kê khác, về tội phạm, cũng cho thấy thành phần con em Châu Á rất ít phạm tội hình sự, trong khi thanh niên gốc Phi Châu Hồi giáo thì liên tục phá mọi kỷ lục về tội phạm trên nước Pháp.

(Nên phân biệt, thống kê này không ghi nhận tội phạm gây ra từ những di dân mới. Điều đáng ghi nhận: tội phạm gốc Việt Nam những năm gần đây đã chiếm một con số rất lớn trên các nước Châu Âu, làm đảo ngược thứ tự mọi thống kê từ trước tới nay. Do các tệ nạn này mà tinh thần “bài Việt” đã nổi dậy rất mạnh mẽ trên một số nước, nhất là các nước Đông Âu cũ.)

Rút được kết luận gì cho giáo dục hiện nay tại Việt Nam? Phải chăng con em gốc Châu Á thông minh hơn con em các nước Châu Âu và con em của các giống dân Á-Âu thì có chỉ số thông minh vượt trội hơn con em gốc Châu Phi?

Theo tôi, không hiện hữu vấn đề “chủng tộc siêu việt”. Dân tộc nào chỉ số thông minh cũng sàn sàn như nhau.

Tôi cho rằng các yếu tố sau đây là yếu tố quyết định: văn hóa truyền thống gia đình, hệ thống giáo dục, đức hạnh của những người làm giáo dục và phẩm chất của chương trình và phương pháp giáo dục.

12% khác biệt mức độ thành công ở thống kê trên là do từ văn hóa truyền thống gia đình. Con số này rất lớn nếu so sánh với tỉ lệ thành công 52%.

Văn hóa Hồi giáo (cực đoan), có nhiều nét tương đồng với lý thuyết cộng sản, như cực đoan và bất bao dung. Văn hóa Châu Âu thì quá phóng khoáng, gia đình đôi khi không là điểm tựa vững chắc về tinh thần và vật chất cho con em để chúng có thể thành công. Trong khi văn hóa phương Đông (Việt Nam) hài hòa và bao dung (thành phần Việt kiều trên đất Pháp đa số theo Phật giáo và Thiên Chúa giáo). Cha mẹ sẵn sàng hy sinh tất cả để con cái được thành công.

Việt Nam sau bao nhiêu năm sống trong nền “văn hóa mới xã hội chủ nghĩa”, lăng tẩm, đền đài, đình, miếu, mồ mả cha ông… đã bị đào xới, nền văn hóa truyền thống do đó lần hồi biến dạng.

Đại lễ “1000 năm Thăng Long” là dịp để người Việt nhìn lại chính mình. Thấy gì? Con người Việt mới xã hội chủ nghĩa (cực đoan và bất bao dung) đã tự đào hố chôn quá khứ của mình, trong khi cái mới thì chưa hình dung được thế nào, vẫn loay hoay ở định hướng và các ý định về xây dựng. Những gì thể hiện chung quanh đại lễ “1000 năm Thăng Long” là sự phản ảnh tự nhiên của việc, mà tôi gọi là khủng hoảng căn cước và  mặc cảm về nguồn gốc, của người Việt hiện nay. Những gì đã thấy từ các sản phẩm văn hóa cống hiến cho đại lễ, từ màu sắc cho đến các tấn tuồng, rõ ràng là ngoại lai. Nhưng khi định tâm trước việc đề nghị cái gọi là “bản sắc Việt Nam”, rõ ràng mọi người có một sự ngập ngừng lớn. Một ngàn năm độ hộ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày, gia tài của mẹ một bọn “lai căn”…

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói những lời như tiên tri: lũ chúng ta chỉ là một bọn “lai căn”. Nếu không nhận diện được các khuyết tật (do đoạn tuyệt với quá khứ) của mình ngay từ hôm nay thì ba thập niên nữa Việt Nam cũng không thoát khỏi tình trạng khủng hoảng căn cước và mặc cảm về nguồn gốc.

Do đó trọng trách về văn hóa và giáo dục rất là lớn lao. Tiên khởi là nhận diện nền văn hóa truyền thống gia đình (đã chứng tỏ thành công trên đất Pháp) đó như thế nào để chấn hưng và phát huy nó, để từ đó làm nền tảng cho văn hóa dân tộc.

Việc hệ trọng khác, để có thể đào tạo người tốt cho xã hội, là đức hạnh và tính chuyên môn của người làm văn hóa giáo dục. Câu hỏi thứ hai tôi xin xen vào ở đây, nếu tôi có quyền tuyệt đối trong 24 tiếng đồng hồ, một việc mà tôi sẽ làm là tìm những người như thầy giáo Đỗ Việt Khoa, mời vào làm Tổng thanh tra Bộ Giáo dục, phẩm hàm ngang hàng Thứ trưởng, trực thuộc phủ Thủ tướng, để cầm trịch trong việc làm sạch hệ thống giáo dục của Việt Nam. Người làm giáo dục phải là những người gương mẫu. Có vậy mới có thể đào tạo được học trò tốt. Mô phạm là có ý nghĩa như vậy.

Nhưng nghĩ lại, khi nghe ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng than: “Từ lúc làm Thủ tướng đến nay tôi chưa kỷ luật đồng chí nào cả!”. Phép nước có cũng như không. Có 1 triệu tấm lòng như ông Đỗ Việt Khoa thì cũng (bó tay chấm com)! Và bây giờ mỗi đảng viên cấp cao là một lãnh tụ, lãnh đạo trong một vùng, một tỉnh riêng. Mỗi người cứ noi gương Bác có quyền được “sai”, không ai chịu trách nhiệm về hậu quả của việc “sai” này.

Xem ra cái nguyên nhân của mọi nguyên nhân, nói “né” như trong nước, là lỗi do hệ thống; nhưng nói thẳng là do Đảng CSVN. Nếu Đảng vẫn coi quyền dân phép nước không ra gì; quyền dân không bằng quyền Đảng, luật nước chỉ áp dụng cho dân (và luật được suy diễn theo ý của Đảng) và đảng viên đứng ra ngoài (hay trên) luật nước, thì tất cả những nỗ lực đều chỉ hoài công.

Các vấn đề khác, hệ thống giáo dục là hệ thống nào và phẩm chất của chương trình giáo dục là phẩm chất gì thì nhiều người đã nói, tôi không bàn thêm.

b/ Về quốc phòng và ngoại giao: Truyền thống Việt Nam, những người đã vẽ nên những trang sử hào hùng cho con cháu đọc các đời sau đều là các vị tướng lãnh, với những trận chiến hào hùng mở nước và giữ nước. Ngày nay có lẽ cũng không khác, vấn đề giữ nước vẫn quan trọng hàng đầu (vì định mạng đã sắp đặt như thế, Việt Nam ở kế một nước lớn mà từ lịch sử dựng nước của họ đã đặt nền tảng trên một thứ chủ nghĩa bành trướng cực đoan). Nhưng thời thế hôm nay là làm thế nào để giữ nước, bảo vệ được quyền lợi của quốc gia, sinh mạng và quyền lợi của mỗi người dân, mà không gây chiến tranh. Chiến tranh phải là điều nên tránh. Đó là việc làm kết hợp giữa quốc phòng và ngoại giao.

Nhưng xem ra thế hệ hôm nay thua kém xa thế hệ cha ông. Việt Nam vẫn không bảo vệ được lãnh thổ, hải phận, hải đảo và quyền lợi của quốc gia ở các nơi đó. Ngoại giao và quốc phòng Việt Nam cũng không bảo vệ được sinh mạng và tài sản của người dân.

Quốc phòng Việt Nam vẫn chưa đủ thể lực để có thể răn đe các thế lực bành trướng. Ngoại giao Việt Nam vẫn thường xuyên bó tay trước những hành vi ngang ngược của Trung Quốc (cũng như của các nước khác) tại biển Đông, ngay trên vùng mà chủ quyền của Việt Nam được xác định.

Thế trận “dân quân tự vệ biển” vẫn không (hay chưa) được khai triển. Việc này còn bị chống đối. Theo tôi, thế trận này khả dĩ chống lại được những gieo rắc kinh hoàng cho ngư dân Việt Nam của những chiếc tàu Ngư Chính (những chiếc tàu đội lốt lực lượng hành chính bảo vệ các nguồn tài nguyên của Trung Quốc), thực tế hành xử như hải tặc. Vấn đề là khai triển thế trận này như thế nào để vừa bảo vệ quyền lợi cũng như sinh mạng của ngư dân Việt Nam, vừa khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại các vùng biển của Việt Nam, đồng thời không tạo nên cớ để Trung Quốc phát động chiến tranh.

Thời gian gần đây, quốc phòng và ngoại giao Việt Nam đã có những bước đi khả quan, như liên kết được Hoa Kỳ vào thế đối trọng với Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp biển Đông. Nhưng quyền lợi Việt Nam trong dự án “quốc tế hóa vấn đề biển Đông” vẫn không rõ ràng. Sự nhập cuộc của Hoa Kỳ vẫn không rõ rệt, chỉ đơn thuần ở mức tuyên bố. Nhiều tiếng nói (thuộc Học viện Ngoại giao hay của một tổ chức nghiên cứu độc lập) vừa qua cho thấy quyền lợi Việt Nam bị đặt vấn đề.

Dường như hai phe quốc phòng và ngoại giao có hiện tượng “lệch pha”.

Quốc tế hóa một vấn đề tranh chấp ở phạm vi khu vực có nhiều ý nghĩa, tùy theo mức độ của việc tranh chấp. Trường hợp biển Đông, trong giờ phút này, quan trọng hơn hết là phải vận động dư luận quốc tế ủng hộ lập trường (hay lý lẽ) của Việt Nam ở biển Đông, về chủ quyền của Việt Nam ở các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Dầu Hoa Kỳ chỉ mới tỏ lập trường ở tuyên bố, nhưng đã cho thấy rõ rệt ý kiến của họ: Hoa Kỳ không ủng hộ phe nào trong việc tranh chấp. Tức là Hoa Kỳ vẫn hoài nghi về lập trường (hay lý lẽ) của Việt Nam ở biển Đông (về chủ quyền của Việt Nam tại các đảo) nhưng vẫn mở một cánh cửa để đó cho Việt Nam.

Thuyết phục quốc tế, trong đó Hoa Kỳ là chính, là sứ mạng của những người nghiên cứu nhưng là công việc của ngoại giao.

Lập trường (hay lý lẽ) của Việt Nam rất bất lợi trước dư luận quốc tế, vì các tác phẩm về nghiên cứu biển Đông của các học giả trên thế giới phần nhiều đều phản đối lập trường Việt Nam. Có nhiều lý do: do các hành động vô trách nhiệm của các lãnh đạo Việt Nam về chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong quá khứ, do thiên vị vì ý thức hệ chính trị, do diễn giải sai các dữ kiện lịch sử hoặc do đầu độc bởi các luận điệu xuyên tạc và “phịa sử” của phía các học giả Trung Quốc. Điều trớ trêu, một số “học giả” Việt Nam lại bị tiêm nhiễm rất nặng nề quan điểm của các học giả quốc tế nói trên. Điều quan trọng khác, các tác phẩm này đã ảnh hưởng rất lớn đối với các thế hệ thanh niên Hoa Kỳ sau này.

Do đó, công việc của các học giả Việt Nam là vừa tự “giải độc” cho “phe mình”, vừa phải phản biện từng lý lẽ một của các học giả quốc tế.

Nói chung, về quốc phòng và ngoại giao, thử thách trước mắt rất lớn, thành quả của việc giải quyết vấn đề sẽ xác định bản lĩnh và trí tuệ của Việt Nam.

2.

Nếu được cầm quyền tuyệt đối tại Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, tôi sẽ vận động để quần tụ một Quốc dân Đại hội gồm đại diện trí thức của các miền, các sắc tộc, các tôn giáo… để soạn thảo bộ luật hòa giải dân tộc.

Từ lâu nay, người Việt Nam chỉ hiểu “hòa giải” như là một hành động, một thủ đoạn chính trị. Họ đã đúng vì thực tế đã cho phép họ nghĩ như vậy. Mỗi khi nghe nói đến “hòa giải” là nghe đến “chính phủ hòa hợp hòa giải dân tộc”, “chính phủ hòa giải hai (ba, bốn bên) v.v… Tất cả chỉ là thủ thuật chính trị để tranh giành hay chia chác quyền lực. Chưa bao giờ hòa giải được hiểu như là một vấn đề thuộc phạm trù đạo đức.

Dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc có nhiều xung đột nhất, kể cả việc xung đột với văn hóa, lịch sử… tức là với chính quá khứ của mình.

Dân tộc Việt Nam phải hòa giải với quá khứ để nhìn lại chính con người thật của mình, nhận thấy mặt thật của mình, để thoát khỏi khủng hoảng về căn cước và mặc cảm về nguồn cội. Lòng tự hào dân tộc chỉ có thể phát sinh nếu không còn mặc cảm về nguồn cội.

Nhưng lòng tự hào của dân tộc từ lâu đã bị đánh tráo với lòng tự hào về các cuộc chiến thắng. Các cuộc chiến thắng này đang bị đánh giá lại. Ngày hôm nay sự thật về các chiến thắng đó dần dần lộ rõ: chiến thắng đó là chiến thắng của Đảng CSVN, hay đúng ra là của phe cộng sản quốc tế. Người cộng sản có thể tự hào về các chiến thắng này nhưng người Việt Nam thì không thể tự hào.

Phải hòa giải với quá khứ, với nạn nhân, với gia đình nạn nhân trong các cuộc cách mạng đẫm máu: Cải cách Ruộng đất, Nhân văn Giai phẩm… bằng cách phục hồi nhân phẩm cho họ, cho con cháu họ. Phải đền bồi, cho dầu ở mức tượng trưng.

Phải hòa giải với những kẻ chiến bại (trước phe cộng sản), phục hồi danh dự và đền bồi cho họ, cho gia đình dòng tộc của họ. Hành động đầu tiên là cho trùng tu Nghĩa trang Biên Hòa, thành một khu “di tích quốc gia”, như đề nghị của một sử gia gần đây trên talawas.

Làm được như vậy là hòa giải đạo đức với chính trị, đưa đạo đức vào lại trong sinh hoạt chính trị.

Từ đó lòng tự hào dân tộc sẽ được phục hồi. Và khi có lòng tự hào về dân tộc mình, người ta có thể làm mọi thứ để hy sinh và phụng sự nó.

3.

Việt Nam năm 2010 thì đã nói và nhiều người đã nói. Nhưng không cần nói thì cũng thấy: một Việt Nam nghèo đói, chậm tiến, bất công, tham nhũng lan tràn… Việt Nam 2010 còn có thêm một xấu hổ lớn với thế giới là vẫn còn giữ một chế độ độc tài do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mà chủ nghĩa cộng sản đã bị thế giới vứt bỏ vào sọt rác lịch sử từ lâu.

Về tương lai Việt Nam 2020 hay 2030, tôi không bi quan mà cũng không lạc quan. Việt Nam tốt đẹp hay bi đát sau này đều do ảnh hưởng của 5 điều mà tôi cho là quan trọng nhất ở trên. Tất cả đều có thể quyết định ngay từ hôm nay.

Theo tôi, sẽ tốt đẹp cho tương lai Việt Nam nếu chế độ chính trị sớm được thay đổi. Vì nó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân.

Chế độ độc tài đảng trị hiện nay đã chứng tỏ sự bất lực ở mọi phương diện, kể cả vấn đề công bằng xã hội, là hòn đá tảng của chế độ chủ nghĩa xã hội. Nhưng giới lãnh đạo Đảng CSVN vẫn tiếp tục dẫn đất nước phiêu lưu không định hướng. Càng “phát triển” thì xã hội càng đầy dẫy bất công, chênh lệch giàu nghèo ở mức cao nhất thế giới. Pháp luật diễn giải tùy tiện theo ý của cán bộ, công an. Tài nguyên khai thác lần hồi kiệt quệ. Vấn đề khai thác bừa bãi đã đưa đến việc ô nhiễm, hay đe dọa ô nhiễm nghiêm trọng. Miền Trung bị đe dọa do việc khai thác bauxite trong khi đồng bằng sông Cửu Long thì vừa bị đe dọa do thiên nhiên (biến đổi khí hậu, nước biển dâng cao), vừa bị đe dọa do… thiên triều với những cái đập xây dựng ở đầu nguồn. Miền Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ trở thành một vùng “no man’s land”, không có người sinh sống.

Một chế độ dân chủ đa nguyên, trên nền tảng tự do về kinh tế, theo tôi sẽ thích hợp cho hoàn cảnh Việt Nam hiện nay. Chế độ chính trị này đã chứng minh sự hữu hiệu ở rất nhiều nước trên thế giới. Điển hình, khá đồng dạng với hoàn cảnh xã hội và lịch sử của Việt Nam, là Đài Loan và Đại Hàn trước đây, hai xứ này áp dụng chế độ dân chủ đa nguyên từ gần hai thập niên nay. Kết quả cho thấy họ đã có một sức bật mãnh liệt trên mọi phương diện, sản phẩm văn hóa cũng như khoa học kỹ thuật của họ đã cạnh tranh với những nước tiên tiến nhất trên thế giới. Hai nước này cũng đã vượt qua khó khăn do khủng hoảng kinh tế Châu Á 1997 một cách dễ dàng và lành mạnh hơn các nước khác trong khu vực như Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan… Lý do giải thích là vì Đại Hàn và Đài Loan có nền tảng chính trị dân chủ đa nguyên, so với các nước kia còn vướng vít ít nhiều trong vòng độc tài, các chế độ lãnh tụ chế hay vương quyền.

Như thế, tương lai của Việt Nam ở các năm 2010, 2020, 2030 thì tùy thuộc vào chế độ chính trị. Tôi tin tưởng ở con người Việt Nam, những người đầy tài năng và bản lĩnh, nhưng nhiều thế hệ đã bị mai một vì không thể thi thố tài năng. Chỉ có một chế độ dân chủ đa nguyên mới có thể giúp họ thi thố tài năng, trên mọi lãnh vực. Nếu thuận tiện và tốt đẹp, năm 2030 Việt Nam có thể vượt qua Đại Hàn.

Nhưng nếu Việt Nam vẫn như hôm nay, nhất định theo đuổi “định hướng xã hội chủ nghĩa” với sự dẫn dắt (mù quáng theo “lề phải”) của Đảng CSVN, thì năm 2030 dân Việt Nam sẽ biến thành… đàn cừu (nói theo khoa học gia Ngô Bảo Châu). Bằng không thì dân Việt Nam sẽ chỉ là một dân tộc chuyên làm thuê gánh mướn cho các nước tư bản chung quanh.

4.

Kết luận: Với một thời gian ít ỏi và một tâm trạng bất an tôi viết trả lời bài “phỏng vấn cuối cùng” của talawas. Những thao thức, trăn trở của tôi về đất nước từ nhiều năm nay không thể dàn trải mạch lạc một lần là xong. Việt Nam có quá nhiều điều cần phải nói. Mà muốn nói cho đúng, cho thuyết phục hơn thì cần có một tâm trạng ổn định với nhiều vốn thời gian. Vì thế tôi hy vọng rằng quyết định của talawas chỉ là quyết định tạm thời.

Tôi không biết lý do nào để talawas có quyết định ngừng hoạt động. Tôi thấy mô hình sinh hoạt nào cũng có khuyết điểm nhưng mô hình nào cũng có thể bổ khuyết cho hoàn chỉnh hơn. Chỉ có con người vừa có uy tín vừa có khả năng lại vừa có tấm lòng thì thật là hiếm hoi. Tôi hy vọng các bạn, sau một thời gian nghỉ ngơi sẽ hồi tâm, sẽ tiếp tục dấn thân, nghĩa bóng và nghĩa đen, trên một hình thức khác, một lề lối sinh hoạt khác. Tôi sẵn sàng cộng tác với các bạn qua một mô hình bất kỳ. Đây là lời hứa long trọng của tôi đến những người bạn mà tôi chưa hề gặp mặt, nhưng suốt đời có lẽ không thể tôi quên, những người thật đáng trân trọng và quí mến.

Hẹn sớm gặp lại, những viên ngọc quí của đất nước.

Marseille, ngày 23 tháng 10 năm 2010

© 2010 Trương Nhân Tuấn

© 2010 talawas

Bình luận

11 Comments (bài “Trương Nhân Tuấn trả lời phỏng vấn của talawas”)

  1. Trương Nhân Tuấn viết:

    Cám ơn anh Dũng Vũ đã soi sáng cho tôi một góc tối về ngôn từ, chữ nghĩa.
    Cám ơn tất cả các bạn.

  2. Đào Nguyên viết:

    @ Khiêm
    Bạn nhận xét khá đúng. Nó thích hợp cho không khí gia đình (ngay từ cái tựa bài của A Maurois) hơn là mang tính cách nhắn gởi cho xã hội như trong nguyên bản Anh ngữ. Nhưng đâu là đầu mối của mọi sự: gia đình, xã hội hay cả hai?
    Mến
    ĐN

  3. Khiêm viết:

    Cảm ơn độc giả ĐN đã giới thiệu những bản dịch khác nhau của IF. Tiếc là bản tiếng Việt không truyền được cái thanh khí rắn rỏi và khí khái của bản tiếng Anh.
    Chúc an lành,

  4. Dũng Vũ viết:

    Một góp ý nhỏ: từ “lai căng”. “Lai” (來) = sau này, cái mới. “Căng” (có ‘g’) (矜)” = chuộng, ra vẻ quan trọng, ta đây. “Căng” có cực tính xấu (negative polarity). Đại để “lai căng” là chuộng cái về sau/cái mới, ra vẻ ta đây là mới. Tôi hiểu sơ là vậy, có thể sai. Có vị nào rành hơn, xin chỉ giáo.

  5. Nguyễn Đăng Thường viết:

    @ Trương Nhân Tuấn

    Kính Anh,

    Đêm qua tôi chỉ lướt qua bài tham luận của anh rồi “nổi hứng” viết hấp tốc vài dòng phản hồi trước khi lên giường nên lời lẽ không minh bạch nên đã gây ngộ nhận, chân thành xin lỗi anh.

    Trước nhất, ý niệm hay khái niệm “quốc gia/dân tộc” mà tôi muốn nói đến trong phản hồi là về “văn hóa/đạo đức”, chứ không phải là về “quốc gia/dân tộc” trên phương diện chính trị, lãnh thổ, chủng tộc, v.v.

    Thiển nghĩ của tôi là cái “nội dung” quốc gia/dân tộc trên bình diện (?) văn hóa và đạo đức ấy đã/phải luôn luôn biến đổi theo thời gian và không gian nên không thể “vĩnh cữu” để làm “khuôn vàng thước ngọc” cất giữ trong viện bảo tàng để “dân tộc” ta noi theo. Chí ít là chỉ tại vì nó khác ở thời vua Hùng lập quốc, nó khác qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn, nó khác dưới thời Pháp thuộc, thời Cộng Hoà, v.v.

    Do dậy “bản sắc” hay “cội nguồn” không chỉ có một mà có nhiều, nếu anh cũng đồng ý. Cái bản sắc, cái cội nguồn đang được phô trương tại quốc nội hay ở hải ngoại hôm nay chỉ là đồ hàng mã, bắt chước lẫn nhau: Áo dài áo thụng áo gấm xanh đỏ, khăn xếp, nhang đèn cúng tế bái lạy “tổ tiên”, hoa hậu siêu mẫu thướt tha áo dài duyên dáng VN, v.v.. Cái bản sắc/cội nguồn chỉ có cái “bề ngoài” ấy đã và đang dư thừa đến mức buồn nôn.

    Anh viết: “Dân tộc Việt Nam phải hòa giải với quá khứ để nhìn lại chính con người thật của mình, nhận thấy mặt thật của mình, để thoát khỏi khủng hoảng về căn cước và mặc cảm về nguồn cội. Lòng tự hào dân tộc chỉ có thể phát sinh nếu không còn mặc cảm về nguồn cội.”

    Thiển nghĩ của tôi là VN hiện không có “mặc cảm về nguồn cội.” mà ngược lại, đi đâu, ở đâu cũng chỉ cội nguồn “1000 năm Thăng Long”. Và: Ai có thẩm quyền (hay dựa vào đâu) để mà bảo rằng người này là “thật”, kẻ kia là “giả”. Mặt này là “thật”, mặt kia là “giả”. Nếu “giả” thì lại phải đi “học tập cải tạo”, phải cắt bỏ cái bản mặt “lai căng” hay sao?

    Xin hỏi: “Quá khứ” nào, “truyền thống” nào, “gia đình” nào? Truyền thống “Khổng Mạnh” chưa “lai căn”? Nhưng “ngài” Khổng Tử và “ngài” Mạnh Tử” đâu phải là “Người” VN. Nếu tôi theo chủ nghĩa “vô thần” không thờ cúng tổ tiên thì gia đình tôi sẽ không thuộc “truyền thống” và sẽ không được quyền “hiện hữu”? Vân vân và vân vân. Đó là những “lo ngại” của tôi và do vậy mà đã có “phản hồi”.

    Pol Pot đã muốn “tự túc” bằng cách quay về văn minh nguồn cội Đế Thiên Đế Thích nên đã tiêu diệt “giới trí thức” (theo Tây đeo kính cận). VN một thời đã đào xới, đập phá đình chùa, nhưng ngày nay lại muốn quay về cái nguồn “đậm đà bản sắc dân tộc” (dởm) để câu khách du lịch với những ngôi chùa mới cất theo “kiến trúc Á Đông” chẳng Tàu, chả Ta… v.v. Đó là những điều mà tôi đã muốn nói.

    Nhạc bolero không nhất thiết phải là nhạc sến. Có nhiều ca khúc, bài nhạc bolero của Tây Ban Nha, của Mễ Tây Cơ rất hay. Ravel có bài “Bolero” (không lời) danh tiếng, đã gợi hứng cho nhạc sĩ Nhật khi viết nhạc đệm cho phim Rashomon. Nếu anh Tuấn hay độc giả nào chưa nghe bản nhạc của Ravel thì có thể vào YouTube gõ “Ravel Bolero” nó sẽ cho vô số liên.

    Với tôi, nhạc TCS sến vì chúng là những tình khúc lãng mạn thần thánh hóa, thần tượng hóa tình yêu lứa đôi dang dớ, tình yêu quê hương thần thoại, pha chút tôn giáo “thiền”, chút triết lý “ba xu” (“Đóa hoa vô thường”, “Thuớ Bống chưa là người”(?) hay gì đó, tôi có nghe thử vài câu là “chịu hết thấu” nên phải tắt máy ngay.

    Sơn viết: “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu / Một trăm năm đô hộ giặc Tây… [cho nên] Gia tài của mẹ một bọn lai căng”. Sơn than thở / trách móc “ôi chinh chiến đã mang theo quê hương thần thoại”, nghĩa là Sơn tiếc nuối và muốn quay về cái quê hương huyền thoại mơ hồ ấy. Nếu chẳng may có một tên độc tài điên khùng (như Pol Bot) đứng ra thực hiện “giấc mộng vàng” của Sơn thì… bỏ mẹ cái nòi giống “lai căng”.

    Các bài Diễm xưa, Tình nhớ, Tình quên (?) Tình sầu (?), Tình buồn (?) hay gì gì đó nữa… thì “khổ lắm nghe rồi hát mãi”. Nếu anh, nếu ai không đồng ý với tôi thì… thôi, tôi thành thật xin lỗi và xin chúc mọi người “Good luck”. Dù sao, tiệm ăn “Thịt cầy Mắm tôm” năm sao, nhà hàng “Ao Ta” mười sao cũng đang mọc ra như nấm sau cơn mưa/cơn lũ, ai thích thì cứ tha hồ.

    Thân ái.

  6. Trương Nhân Tuấn viết:

    Tôi thấy phản hồi của anh Nguyễn Đăng Thường có thể gây ngộ nhận. Tôi xin phép góp ý lại đôi dòng.
    1/ Quốc gia-dân tộc (état-nation) không hề là những « ý niệm » (thực ra phải dùng từ « khái niệm-concept ») mơ hồ như anh ND Thường đã viết. Theo định nghĩa phổ cập (được nhiều người chấp nhận) Quốc gia có thể hiểu một cách sơ lược như là một xã hội chính trị được xác định bằng ba yếu tố : một lãnh thổ, một dân tộc và một chính quyền hiến định.
    Dân tộc có thể được hiểu như là một nhóm người có chung một nguồn gốc, một lịch sử, một văn hóa.
    Nếu hiểu như thế thì « dân tộc » phải là một cái gì « bất di bất dịch ». Làm thế nào thay đổi được « lịch sử », « nguồn gốc » hay « văn hóa » của một dân tộc ?
    Tuy nhiên, tùy theo ý thức hệ chính trị mà khái niệm về « quốc gia-dân tộc » có thể diễn giải một cách khác nhau.
    Người cộng sản thì không có quan niệm về « chủng tộc » hay « dân tộc » mà chỉ có khái niệm về « giai cấp ». Họ cũng cho rằng « quốc gia » chỉ là một sản phẩm của giai cấp tư bản đặt ra nhằm kềm tỏa và bóc lột giai cấp vô sản lao động. Họ chủ trương dẹp bỏ biên giới « quốc gia », dẹp bỏ các khác biệt (văn hóa, lịch sử, nguồn gốc) của chủng tộc để lập nên « thế giới đại đồng ». Vì thế người ta mới gọi cộng sản là tam vô (vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc). Vì thế mới có câu khẩu hiệu (hiện nay ở VN) : yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa.
    Các thí dụ của anh ND Thường về « chủ nghĩa dân tộc » như Pol Pot, Castro hay Bắc Hàn thì không rõ rệt. Ở các nước này không hề có « chủ nghĩa dân tộc » mà chỉ có cách áp dụng khác nhau về chủ nghĩa cộng sản. Những thảm họa (nếu có) xảy ra ở các nước này dĩ nhiên là từ (cách áp dụng) chủ nghĩa cộng sản mà ra. Riêng về « quốc gia xã hội chủ nghĩa », gọi tắt là Quốc Xã, rõ ràng là một chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
    Nhưng tôi không hiểu ý (mục đích muốn nói cái gì ?) của anh ND Thường ở đây. Anh dẫn các khái niệm về « quốc gia và dân tộc » cũng như các thí dụ về « lạm dụng » chủ nghĩa dân tộc… là muốn nói về cái gì (ở đây, trong bài viết của tôi) ?
    2/ Ý kiến của anh ND Thường trong phần này cũng không rõ rệt. Thế nào là “chủ nghĩa quốc gia đậm đà bản sắc dân tộc” ?
    Cụm từ « Quốc gia chủ nghĩa – nationalisme » thực ra cũng là « dân tộc chủ nghĩa ». Có hai khuynh hướng về « dân tộc chủ nghĩa » : khuynh hướng cổ điển chủ trương « một nước cho một giống dân », khuynh hướng thứ hai đặt trên các mục tiêu (gồm bốn nhóm khác nhau : quốc gia chủ nghĩa thống trị (nationalisme de domination), quốc gia chủ nghĩa giải phóng (nationalisme de libération), quốc gia chủ nghĩa bảo thủ (nationalisme de conservation) và quốc gia chủ nghĩa yêu sách (nationalisme de revendication).
    Quốc gia chủ nghĩa nào cũng đặt nền tảng trên « dân tộc », cũng « đậm đà bản sắc dân tộc ».
    Nhưng thực sự cái « Đại lễ 1000 năm Thăng Long » có thể hiện cho “chủ nghĩa quốc gia đậm đà bản sắc dân tộc” hay không ?
    Tôi đồng ý ở phê bình « trò hề, lố bịch » cho « đại lễ 1000 năm Thăng Long ». Nhưng đại lễ này không hề dính dáng gì với “chủ nghĩa quốc gia đậm đà bản sắc dân tộc”. Theo tôi đại lễ này phản ảnh cụ thể hiện tượng khủng hoảng căn cước và mặc cảm cội nguồn (mà tôi có viết sơ lược trong bài) của lãnh đạo CSVN trong nước.
    3/ Trước hết là nói về chữ « căn(g)» trong « lai căn(g) ». Theo tôi viết « lai căng » (có « g » với ý nghĩa về một sự pha trộn từ nguồn cội) là sai. Chữ « căng » ở đây, Hán hay Nôm, đều không có nghĩa về nguồn cội, bản chất (trong khi chữ « căn » thì có ý nghĩa như vậy).
    Chữ « lai căng » có ý nghĩa là gì ? Tôi có đọc bài « Về ý niệm lai căng trong văn học » http://www.voanews.com/vietnamese/news/lai-cang-trong-van-hoc-10-14-2010-104969149.html của ông Nguyễn Hưng Quốc, thật là thú vị. Theo đó (quan điểm văn học) « lai căng » được hiểu như là việc bắt chước, thái độ vọng ngoại, « một thái độ phản bội đối với truyền thống và văn hoá của dân tộc. » Tôi đồng ý với nhận định này (trên quan điểm văn học). Nhưng viết « lai căng » có « g » thì đúng hay không ? Tôi không biết từ « lai căng » đã bắt đầu có trong ngôn ngữ Việt từ hồi nào và ai sử dụng lần đâu tiên và vào mục đích gì ? Hôm nay thì mọi người (ngoại trừ tôi) đều viết « lai căng », tự điển cũng viết như vậy. Nhưng theo tôi, trên quan điểm từ vựng, viết « lai căng » có « g » là trật. « Lai căn » không « g » mới đúng.
    Về phê bình của anh ND Thường với cố nhạc sĩ TCS thì tôi tôn trọng. Mỗi người có một ý kiến, có cái cái « gu » riêng về thẩm mỹ, về âm nhạc… Ý kiến của tôi thì tôi không nghĩ ca từ của TCS (trong phần lớn các bản nhạc của ông) là « sến ». Nên hiểu rõ chữ « sến » để sử dụng nó. Có nhiều người định nghĩa về « các hiện tượng sến », mỗi người một cách, nhưng trong âm nhạc, « nhạc sến », mọi người đều đồng ý về tính « bình dân và bô lê rô » của dòng nhạc này.
    Nhạc của TCS đơn giản, rất gần gũi, có thể là đại chúng, nhưng không Boléro. Nhiều người đã biến thể nhạc TCS thành nhạc cổ điển cho guitare (như VTH), tôi nghe thì thấy hợp « gu » (và cũng tập tễnh làm như thế). Nhạc TCS thiếu chất boléro để trở thành nhạc « sến ». Ca từ của TCS thì chắc chắn không thể là « sến ». Con chim đầu đàn của nền tân nhạc VN là Văn Cao phê bình TCS là « người ca thơ ». Tôi không hề thấy liên quan « sến » trong ca từ của TCS.
    TCS có « lai căn(g) » hay không ? Theo tôi, như đã viết trong bài, « một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây… » tất cả chúng ta đều là « lai căn » hết cả. Vấn đề đặt ra là, VN không hề khác với các giống dân khác như Đại Hàn, Nhật… cũng ảnh hưởng nặng nề văn hóa Đông Phương (Trung Hoa, và trong chừng mực Ấn Độ… hàng ngàn năm) và Tây Phương (sau này). Nhưng tại sao các giống dân này (Nhật, Hàn) đã giữ được cái tinh túy của nòi giống họ ?
    Theo tôi, họ thành công là do họ không hề khước từ (hay chối bỏ) quá khứ và lịch sử. Cái « gốc » văn hóa của Nhật hay Hàn, nếu để ý, thì rõ ràng là bản chất Trung Hoa, nhưng cái ngọn thì hiển hiện là đặc thù của nòi giống. Phải chấp nhận nguồn cội để phát triển trên cái gốc chung đó. Vì muốn gột bỏ cũng không được. Kết quả, từ cái gốc chung, dân Nhật và Hàn, rõ ràng là vượt lên dân Hán cả mấy cái đầu !
    VN thì không thế. Lăng tẩm, đền đài, miếu đình, mồ mả cha ông… khi « cách mạng » đến thì đào tung lên hết để « bài phong », sau này thì « xóa bỏ văn hóa đồi trụy của Mỹ Ngụy ». Khi chiến tranh với TQ thì tất cả những gì của TH, từ văn hóa cho đến con người, đều bị phủ nhận. Những người CSVN muốn « dẹp » hết tất cả những thứ mà họ cho là « ngoại lai », « phản động » để thế vào đó cái mà họ gọi là « văn hóa mới », nhưng đố ai mà biết đó là cái quái gì ! Họ tự phát đao chặt lấy chân, tự dùng cuốc để đào nguồn cội. Bây giờ thì họ muốn trở về với « bản sắc dân tộc », bắt chước TQ hiện nay. TQ thì học phương pháp của Nhật và Hàn, còn VN thì học của ai ? Văn hóa của TH còn, nước này chỉ cần phương pháp để phục hưng lại. Văn hóa VN là văn hóa nào ? Đại lễ 1000 năm Thăng Long là thể hiện rõ rệt hiện tượng hụt hẫng về văn hóa VN.
    Tôi có đề nghị trong bài về một « nền văn hóa truyền thống gia đình » của các « khúc ruột ngàn dặm ». Nền văn hóa này cho thấy thành công ở nước ngoài. Nhưng đó là đề nghị chủ quan của tôi. Nó có thể sai, nhưng ít ra phải là một « đề nghị ».
    Đạp đổ thì rất dễ. Xây dựng thì vô cùng khó.

  7. Lê Thượng viết:

    Tặng ông Nguyễn Đăng Thường,
    …Gia tài của mẹ, một bọn lai căng
    Gia tài của mẹ, một lũ bội tình …

    Không hiểu ai bắt ông phải bới tóc, nhuộm răng, ăn trầu, xỉa thuốc, năm thê bảy thiếp; đạo đức “dân tộc” là “thờ” cha “cúng mẹ”, là mẹ chồng nàng dâu, là cha mẹ đặt đâu con {xin] ngồi đấy mà than thế.

    Có lẽ ông đang nói về thời đại xa xưa, khi Việt nam còn ở dưới sự đô hộ của Pháp vì tôi chưa bao giờ thấy chuyện ấy xẩy ra trong đời tôi. Nếu thế, ông tiếc nối thời vàng son là đúng rồi!

  8. Nguyễn Đăng Thường viết:

    1. “Quốc gia”, “dân tộc” là những ý niệm rất mơ hồ. “Dân tộc” không phải là một cái gì bất di bất dịch, vĩnh cữu, đứng bên ngoài không gian và thời gian. “Chủ nghĩa dân tộc” sử dụng/lạm dụng bởi các chế độ độc tài để mị dân (Hitler, Pol Pot, Castro, Bắc Hàn…) đã gây ra những thảm họa.

    2. Đại lễ “1000 năm Thăng Long” trên đất nước của “sân gôn/hoa hậu/nhà cao tầng” đã cho mọi người trông thấy rõ cái trò hề lố bịch/lố lăng của “chủ nghĩa quốc gia đậm đà bản sắc dân tộc”, trừ những kẻ [có mắt mà như] mù, tất nhiên.

    3. “Lai căn[g]” là điều kiện cần thiết của vạn vật (cây cỏ, muôn thú, nhân loại, văn hóa, đạo đức…) để tồn tại, triển nở, tiến tới văn minh. “Gia tài của mẹ một bọn lai căng” là ca từ sến nhất của nhà “nhạc sĩ thiên tài” mặc tây, học trường tây, uống rượu tây, hút thuốc lá tây, và nhất là vì nó đã được “phổ” nhạc tây. Nếu Tây, nếu Mỹ không đến xứ ta thì xứ ta sẽ không có tân nhạc, thơ mới…

    3. Văn hóa “cổ truyền” là bới tóc, nhuộm răng, ăn trầu, xỉa thuốc, năm thê bảy thiếp; đạo đức “dân tộc” là “thờ” cha “cúng mẹ”, là mẹ chồng nàng dâu, là cha mẹ đặt đâu con {xin] ngồi đấy. “Trung, hiếu, tiết, nghĩa”… vân vân và vân vân, nhưng… với những ai?

    4. Văn nghệ “lai căng” Đông-Tây” là hội họa của phái ấn tượng”; “lai căng” Âu-Phi là tranh Picasso; nhạc “lai căng” Mỹ-Phi là nhạc jazz, nhạc blues, nhạc hip hop…

    5. Sinh viên VN ở hại ngoại học giỏi, thi đỗ không nhất thiết phải đồng nghĩa với “thông minh” mà chỉ vì siêng học để đỗ đạt có địa vị trong xã hội. Tú Xương thông minh hơn người, tài hoa xuất chúng nhưng đã mấy lần hỏng thi.

    Vân vân và vân vân.

  9. […] Trương Nhân Tuấn trả lời phỏng vấn của talawas […]

  10. […] tiếp trên Talawas This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink. ← [DEMO] CỔ NGƯ TRẢ […]

  11. Đào Nguyên viết:

    Đọc xong bài này, xin chép tặng tác giả Trương Nhân Tuấn bài thơ sau làm quà tạm biệt. Kính chúc an lành, như ý.
    ĐN
    =================

    Nếu…

    Nếu con thấy cơ đồ sụp đổ
    Chẳng hở môi con cố tái xây
    Hay gia tài một phút phủi tay
    Không than thở, không hành vi ảm đạm

    Vẫn biết yêu, nhưng không say đắm
    Cương quyết song chẳng kém dịu dàng
    Không căm hờn dù bị ghét oan
    Song tranh đấu sẵn sàng tự vệ

    Bị xuyên tạc con nào xá kể
    Không điên rồ mắc kế lưu manh
    Dẫu người sằng thêu dệt quẹo quanh
    Một lời con không đành dối thế

    Bình dân nhưng vẫn tròn vị thể
    Quyền uy mà như kẻ bạch đinh
    Thương bạn như huynh đệ thâm tình
    Song chớ nặng riêng tình ai hết

    Nếu con ngẫm suy và xét biết
    Chẳng hoài nghi, phá hoại, chạnh lòng
    Mơ màng, nhưng chẳng nghĩ bông lông
    Suy tưởng, song phá vòng lý thuyết

    Rắng rỏi, nhưng không hề điên tiết
    Gan dạ thừa, song chẳng đánh liều
    Tiếng tốt nhiều, khôn khéo bao nhiêu
    Con cũng chẳng làm kiêu lên mặt

    Dầu thắng bại không hề đổi sắc
    Xem ngang nhau, trối mặc cơ cầu
    Vững can tràng, tỉnh trí, mặc dầu
    Khi bao kẻ hàng đầu bái phục

    Thì khi ấy vương, thần, thắng, phúc
    Tùng phục con, chẳng phút nào lơi
    Hơn vinh quang, vua, chúa trên đời
    Và như thế là người con ạ!

    (Phỏng theo A. Maurois)
    Sài gòn, ngày 1 tháng giêng 1983
    HVG thương gởi các con đã vượt biên

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...