talawas blog

Chuyên mục:

Đặng Thân – Còn lũ nào ác hơn phát xít?

02/11/2010 | 9:09 chiều | Comments Off on Đặng Thân – Còn lũ nào ác hơn phát xít?

Tác giả: Đặng Thân

Chuyên mục: 9 năm talawas, Điểm sách
Thẻ:

Giới thiệu tiểu thuyết tự truyện Có được là người [vừa ra mắt tại Việt Nam[1]] và tác giả Primo Levi [nhà văn Ý, nạn nhân Auschwitz].

Mong tất cả quý vị chịu khó xem đôi lời của một nhà văn quèn Việt Nam. Tôi nghĩ, “nhà văn quèn” là một cụm từ chính xác nhất hiện nay để mô tả cái mối quan hệ và vai trò của nhà văn Việt Nam đối với xã hội Việt Nam.

Xin mọi người cũng đừng vì mấy chữ “nhà văn quèn” mà liên tưởng đến một tác phẩm đã được dịch ở Việt Nam từ rất lâu của chủ nhân Nobel văn học 2010, Mario Vargas Llosa [‘maɾjo ‘βarɣaz ‘ʎosa]. Đó là Dì Julia và nhà văn quèn, có mặt ở Việt Nam từ 1986. Ai tên Mario đều dễ lẫy lừng thế giới, nếu ai đã từng nghe tới cả Mario Puzo, Mario Castelnuovo-Tedesco, Mario M. Cuomo, Mario Kempes hay “Super” Mario – chàng thợ sửa ống nước – oanh liệt, và cả Mario Fortunato[2].

Trong những ngày tháng này, thế giới đang tôn vinh Mario Vargas Llosa vì “sự phân tích các cấu trúc quyền lực và những mô tả sắc sảo về sự phản kháng, nổi loạn và thất bại của cá nhân” (như Viện hàn lâm Thụy Điển đánh giá) nghe đau như tiếng “chuông nguyện hồn ai” (talawas đây chăng?), giờ đây chúng ta lại được thêm một niềm đau nhưng cũng là một niềm vui văn học khi cuốn sách lỗi lạc gần như cùng dòng chảy mang tên Có được là người của Primo Levi ra đời từ năm 1946 nhưng mãi đến năm nay mới được lần đầu ra mắt người đọc Việt Nam.

Primo Levi[3] (1919–1987) là một kỹ sư hóa chất người Italia gốc Do Thái, bị phát xít Italia bắt giữ và đày đi các trại tập trung của Đức quốc xã ở Đông Âu. Sống sót sau giải phóng, ông ghi lại thực trạng các nhà tù đã kinh qua, trong một số tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ. Có được là người, tác phẩm danh tiếng nhất của ông, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Ông sinh tại Turin ngày 31.7.1919, là con cả trong một gia đình người Italia gốc Do Thái. Ông đỗ tiến sỹ về hóa học, hoạt động chống phát xít trong phong trào “Công lý và Tự do”. Ông và các bạn trong phong trào bị bắt ngày 13.12.1943. Tháng giêng 1944 bị nhốt ở trại Fossoli rồi bị đưa đi đày ở Auschwitz, trại tù khủng khiếp nhất của Đức trong Thế Chiến II, cùng với 650 người Italia gốc Do Thái khác ngày 22.2.1944. Đầu tháng Ba 1944, ông bị điều tới trại Monowitz cách Auschwitz 10 cây số để làm việc tại nhà máy cao su hóa hợp ở Buna. Đầu tiên, ông phài lao động khổ sai, rồi đến cuối năm thì sung vào phòng thí nghiệm hóa chất. Đến ngày 17.1.1945, trại Monowitz bị không lực tấn công, quân Đức di tản mang theo các tù nhân còn khỏe mạnh, nhưng bỏ lại những người nằm bệnh viện, trong đó có ông. Mười ngày sau, Monowitz được Hồng quân giải phóng. Sau đó, từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1945 còn là hành trình kinh hoàng đi qua Belarus, Rumania,… để trở lại Turin vào ngày 19.10.1945.

Năm 1946, Primo Levi bắt đầu ghi lại những kỷ niệm đau thương ấy của mình trong cuốn Có được là người, in lần đầu năm 1947, nhưng không được để ý. Cả chục năm sau, cuốn sách mới được Nhà xuất bản Einaudi (đã từng từ chối in lần đầu, nhưng lại là NXB in phần lớn các tác phẩm của nhà văn Mario Fortunato[4]) in lại, và lần này khiến Primo Levi trở thành một tên tuổi lừng lẫy khắp thế giới.

Primo Levi tiếp tục viết tiểu thuyết, làm thơ, viết tự sự và nhiều bài tham luận về nhiều vấn đề văn nghệ cũng như xã hội… Ông thường được mời đi nói chuyện với những người thuộc các thế hệ trẻ hơn. Năm 1965 ông cũng trở lại Auschwitz trong một buổi lễ tưởng niệm chính thức. Năm 1986 ông từng là khách mời danh giá của Viện Văn hóa Italia tại London, nơi nhà văn Mario Fortunato từng làm Viện trưởng[5].

Để tiếp cận Có được là người chúng ta có thể bắt đầu với những nhận định của ông Carlo Cibo’[6], Giám đốc Chương trình Hợp tác phát triển – Đại sứ quán Italia ở Việt Nam (những chỗ trích dẫn in đậm trong bài là do tôi [ĐT] nhấn mạnh):

Có những cuốn sách không chỉ là sách mà được công nhận là “di sản của loài người”, và Có được là người chắc chắn nằm trong số đó. Giá trị của nó có thể thấy được qua những lần xuất bản bằng nhiều thứ tiếng, qua sự nổi tiếng trên toàn thế giới, và qua những bình luận có trích dẫn đến cuốn sách như một tác phẩm kinh điển về hoàn cảnh sống của con người.

Qua câu chuyện kể về trải nghiệm hãi hùng trong trại tập trung của phát-xít Đức, Primo Levi như muốn làm sáng tỏ những bản năng và những cách xử sự tưởng như đã bị xóa bỏ trong quá trình văn minh hóa của con người. Cuốn sách được viết ra để lưu lại bằng chứng về sự man rợ, và để tránh cho những sự man rợ ấy không còn cơ hội quay lại nữa.

Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II đến nay, chúng ta vẫn còn phải chứng kiến những cuộc chiến bất tận giết chóc người vô tội, nhưng những cuộc chiến đó không còn man rợ về mức độ phân biệt chủng tộc, về số lượng nạn nhân, cũng như không có kiểu quyết tâm chính trị sắt đá, tàn nhẫn nhằm diệt chủng cả một dân tộc như trong câu chuyện của Levi.

Ông Carlo Cibo’ cảnh báo:

Nếu quan sát kỹ những hiện tượng xã hội mới thì mới hiểu lời cảnh báo của ông vẫn còn nguyên giá trị.

Ở châu Âu, sự lo lắng bắt nguồn từ các cuộc khủng hoảng kinh tế và các cuộc nhập cư mới đã khiến tư tưởng phân biệt chủng tộc bắt đầu xuất hiện và ngày càng thể hiện rõ ở một số đảng phái. Và vì giờ đây không còn những đảng đối lập có khả năng đưa ra chiến lược chính trị khác thuyết phục hơn, những tư tưởng đó càng được đà phát triển. Nguy cơ này không có ở Việt Nam – đất nước đã anh hùng chiến thắng những thế lực man rợ và hiện đang sống trong hoà bình và phát triển. Nhưng một nguy cơ khác, nguy cơ về sự phân cấp xã hội đang bùng nổ khắp nơi, tại các nước đang phát triển cũng như các nước công nghiệp hóa, cũng đã bắt đầu cả ở Việt Nam.

Nhà báo Mỹ Johathan Rosen[7] thì nhận định:

Đọc Levi để hiểu và để thích ứng với việc là một con người!

Jonathan Rosen đã nghiên cứu rất kỹ về Primo Levi. Theo ông, Levi

– là một người khiêm tốn nhưng là một nhà văn và một nhà tư tưởng đầy tham vọng. Ông đối mặt những câu hỏi lớn – thiện và ác, cuộc đời và tôn giáo – với một cách nhìn độc đáo và hiện đại, vừa như một kẻ sống sót của nhà tù Auschwitz vừa như một nhà khoa học-nhà thơ đã nhuần nhuyễn cả Darwin và Einstein nhưng cũng biết rằng khoa học không thôi không thể cho chúng ta có được một tầm nhìn mạch lạc chặt chẽ về thế giới và vị trí của chúng ta trong đó.

Levi muốn hiểu con người, và ông muốn, tự mình, trở thành một con người hoàn thiện. Ông theo đuổi cả hai mục tiêu bằng việc viết.

– Levi có vẻ nước đôi về việc được gọi là nhà văn Do Thái. Ông chưa bao giờ là kẻ tuân theo luật lệ, ông không tin vào Chúa, và ông thiếu một cảm quan về thần bí. …Levi là một người lai, một người không tương xứng với chính mình, vừa như là một nhà văn Do Thái vừa như là một nhà văn không phải Do Thái.

– Một phần thiên tài của ông thể hiện trong việc tạo ra một vũ trụ chặt chẽ mà vẫn dân chủ, hơn là cứ giáo điều. Ông không tin vào thiên khải mà vào những cuộc đối thoại của lý trí. …Ông tuyên bố rằng trí nhớ và trí tưởng tượng là tuyệt đối cần thiết nhưng không đáng tin cậy, rằng người ta phải tự nghĩ thật thấu đáo về vạn vật.

– Ông cho rằng chẳng có hệ thống nào là đầy đủ. …Ông nghĩ rằng tính hiện đại đã hòa tan lòng tin lâu đời và tạo ra sự lộn xộn, và rằng chúng ta cần những nhà thơ-nhà khoa học mới để “phần chiết” [một thuật ngữ hóa học – ĐT] sự hài hòa từ trạng thái rối ren tăm tối” nhưng cũng để làm cho nó có thể “tương thích, đối chiếu, đồng hóa” với văn hóa truyền thống của chúng ta.

– Ông phát hiện khoa học và thi ca không chỉ tương thích, mà còn là không thể thay thế và bổ sung lẫn nhau. … Ông từng so sánh chuyện viết lách với việc chưng cất rượu, cả hai đều là cách để “lấy được những gì tinh túy”, đạt tới một “tinh thần” gắn với vật chất…

Câu chuyện Levi kể trong Có được là người gắn với chủ nghĩa bài Do Thái đáng kinh sợ ở châu Âu. Ngay khi là thanh niên ông biết rất ít về tính chất Do Thái, nhưng chính sách bài Do Thái của Mussolini đã dạy ông rằng không có cái gọi là “sự dị biệt nhỏ vui vẻ” trong lòng một đất nước Catholic. Như một người Do Thái thâm căn cố đế, ông chưa hề có tí kinh nghiệm tình dục nào trước khi gặp vợ mình Lucia vào năm 1946. Trước khi luật phân biệt chủng tộc của phát xít ban hành năm 1938 cấm người Do Thái được theo học đại học, Levi đã kịp đi học hóa ở Đại học Turin.[8]

Sau khi chế độ Mussolini sụp đổ, ông đã cố liên lạc với một nhóm du kích phía bắc Italia, rồi bị bắt vào 12.1943. Đầu tiên ở trại Fòssoli rồi hai tháng sau bị chuyển tới trại Moniwitz-Auschwitz. Một đoàn tàu chở 650 người Do Thái sau chỉ còn 15 đàn ông và 9 phụ nữ sống sót. Tuổi thọ bình quân của các tù nhân trong các Lager là 3 tháng.

Ở trong trại tập trung ông dạy tiếng Italia cho một người bạn bằng cách trích dẫn Dante. Chính từ chương “Ulysses” trong Địa ngục ông đã chọn ra một đoạn giải quyết câu hỏi hệ trọng này: “Con người là gì?”

Levi viết Có được là người dưới dạng hồi ký, chỉ rõ Auschwitz đã làm biến mất nhân dạng của các tù nhân rồi cuối cùng hủy hoại họ hoàn toàn. Khi một nhà xuất bản lớn như Einaudi từ chối bản thảo, một nhà xuất bản nhỏ đã in nó. 10 năm sau nó đã được in lại với số lượng kỷ lục; ngay ở Italia người ta đã bán hơn nửa triệu bản; sau đó được dịch ra 8 thứ tiếng và được chuyển thể cho nhà hát và đài phát thanh. Ảnh hưởng to lớn đó là nhờ văn phong nghiêm ngắn, súc tích của Levi. Tuy rằng mô tả sự tàn bạo với những sự kiện ghê rợn nhất nhưng ông giữ được ngòi bút của một nhà khoa học đang quan sát chúng, thế nhưng tác phẩm vẫn toát lên cảm xúc mãnh liệt của chủ nghĩa anh hùng của những con người phải chịu đựng những đớn đau có một không hai.

Trong một bài thuyết trình vào năm 1979 Levi đã bày tỏ quan điểm vô cùng bi quan về loài người, coi cuộc sống là khủng khiếp. Trong cuốn sách cuối cùng ra đời năm 1986 I sommersi e i salvati, ông đã chỉ ra rằng chủ nghĩa bài Do Thái là một phần của văn hóa Đức, không chỉ là một phát minh của bọn Quốc xã, và ông nhìn thấy sự tương tự mang tính nghịch lý giữa nạn nhân kẻ áp bức.[9]

Động cơ để ông viết Có được là người là khát vọng muốn đưa ra chứng cứ về những nỗi kinh sợ đối với những cố gắng của bọn Quốc xã hòng hủy diệt người Do Thái. Sau này ông đã thành biểu tượng chống phát xít ở Italia. Quan điểm của ông là những trại tập trung chết chóc của Quốc xã và sự tiêu diệt người Do Thái là một nỗi khủng khiếp có một không hai trong lịch sử vì mục đích là sự phá hủy toàn diện một dân tộc do một dân tộc khác tự coi mình là thượng đẳng gây ra; một cuộc tàn sát có tổ chức và có hệ thống.

Với sự xuất bản các tác phẩm của nhà văn Aleksandr Solzhenitsyn trong những năm 1960 và 1970, thế giới đã đưa ra sự tương đồng giữa các gulag – nơi giam giữ đàn áp những người bất đồng chính kiến trên quê hương của Solzhenitsyn – và các Lager (những trại tập trung kiểu Đức quốc xã), nhưng Levi phản đối. Tỉ lệ người chết ở các gulag là khoảng 30%, trong khi ở các Lager là 90-98%; mục đích của các Lager là xóa bỏ người Do Thái; không trừ một ai; không có ai từ bỏ đạo Do Thái; bọn Quốc xã đối xử với người Do Thái như là một sắc tộc hơn là một tôn giáo.[10]

Levi không chú ý đến việc mình có phải là trí thức Do Thái hay không. Chính luật phân biệt chủng tộc của bọn phát xít và các trại tập trung Quốc xã đã khiến ông cảm thấy mình là người Do Thái. Ông đam mê hóa học và đâu nghĩ mình sẽ viết văn; thế nhưng, Auschwitz đã biến tôi thành một nhà văn.[11]

Tại sao người Do Thái bị căm ghét, ở khắp nơi? Mấy lâu cũng đã có những học giả khắp nơi và chính gốc Do Thái viết về vấn đề hóc búa này, mong quý vị tìm đọc cho rõ thêm câu trả lời. Có thể tham khảo Chiến tranh Do Thái, Nxb Văn hóa Thông tin, 2001; Mưu lược làm giàu Do Thái, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005; và các cuốn sách của Kỷ lục Guinness Thế giới người Do Thái Eran Kats mới được dịch ở Việt Nam: Trí tuệ Do TháiBí mật của một trí nhớ siêu phàm. Kats có nói người Do Thái bị ghét vì họ giỏi hơn người; họ giỏi hơn người vì một trong nhiều nguyên do là họ có cái bản chất của “người lang thang”, ý là chó hoang thì ắt tràn đầy sức sống và bản năng mãnh liệt hơn chó nhà. Ấy thế mà bọn phát xít độc tài, tuy cũng là một loại chó nhà, đã vì lòng đố kỵ kinh tởm mà cam tâm tiêu diệt hết loài chó hoang ấy.

Về chủ đề này, tôi cũng có viết trong cuốn 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] [12] dày cỡ 900 trang mà khoảng gần 1/3 là dành cho người Do Thái, người Đức, Hitler và Thế Chiến II (rất buồn, chưa ở đâu chịu nhận in; nhưng có thể cuốn sách của tôi [đã từng post lên blog] chính là lý do cho cái sự được mời đến lễ ra mắt của Có được là người cùng nhà văn Mario Fortunato khả kính). Quan điểm của tôi về Do Thái thì có vẻ nặng phần “văn nghệ”. Ví dụ một chút ở phần phụ lục dưới đây.

Giờ thì xin mời bạn đọc hãy cầm lên cuốn Có được là người. Ngay từ đầu là bài thơ với cấu trúc gây tò mò với những giả định thức như đang mời gọi độc giả đưa ra đánh giá, nhận định.

Bài thơ bóng gió về sự đối xử với những con người như thể không bằng nô lệ, cùng với ánh mắt soi xét của tác giả rằng là liệu một người tù thì có thể giữ lại được nhân tính của mình hay không. Bài thơ giải thích cho nhan đề và đưa ra cái tứ của câu chuyện: nhân tính nằm giữa phi nhân tính.[13]

Nào, hãy bắt đầu nhé:

Các anh, sống đời yên ổn
Trong căn nhà ấm áp của mình,
Các anh, tối đến trở về nhà
Có đồ ăn nóng sốt, có bạn có bè:
Xem thử đây có được là người
Quần quật trong bùn lầy
Không biết đến bình yên
Đánh nhau vì nửa miếng bánh
Chết vì một câu Có hay Không.
Xem thử đây có được là đàn bà,
Không tóc tai, không tên tuổi
Không còn sức mà nhớ
Đôi mắt trống rỗng và vòng tay giá lạnh

(Thực ra, trong bản gốc của tác giả thì “vòng tay giá lạnh” được viết là “tử cung giá lạnh”. Trời ơi! Thế mới đích thực tột đỉnh nhân văn chứ!! Dịch giả Việt Nam đáng thương đã vì kiêng kỵ linh tinh theo tinh thần lề phải nào đó mà đâm ra “phản chủ”)

Như cánh cò ủ rũ mùa đông.
Các anh nghĩ xem cảnh này cảnh gì:
Tôi dặn các anh những lời này
Hãy khắc sâu vào tâm khảm
Dù đang ở nhà hay đang đi xa
Dù đang ngủ ngon hay là đã dậy
Hãy nhắc con cháu điều này.
Còn nếu không sẽ tan hoang nhà cửa,
Bệnh tật sẽ đổ vào người,
Con cái ngoảnh mặt quay đi.

Liệu giống người có tái lập câu chuyện này nữa hay không, tôi nghĩ, khả năng không là có thể, và khả năng đó hình như nằm trong tay tất cả những người được đọc cuốn sách này.

Hãy cùng nhau dẹp hết bọn phát xít đi!

10/10

© 2010 Đặng Thân

© 2010 talawas

Phụ lục

(Trích chương 44 của 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần])

… Hai đứa em tôi, cả con Russische Tuyết (mẹ tôi thường gọi nó là Schneeaffe [khỉ tuyết]) da ngăm và con Ruhe (tức con Yên Hà ấy mà), đúng là dân Do Thái chính hiệu – chúng nó là những đứa con của đá. Chúng nó thích đi du lịch đến bất kỳ núi đá nổi tiếng nào, nhất là con Schneeaffe.

Chúng nó đã từng trèo leo khắp mọi nơi.

Chúng đã trèo lên Fansipan (nóc nhà Việt Nam – cao 3.143 m), Yên Tử (chỗ này con Ruhe rất thích), núi Bà Đen (cái này con Schneeaffe khoái), núi Bài Thơ (nơi các vua chúa và danh sỹ Việt Nam từng đề thơ lên vách – có thể nói họ là những người đầu tiên mắc tội phá hoại công trình văn hóa và cảnh quan thiên nhiên. Thảo nào sau này con cháu thoải mái phát huy; con Schneeaffe háo danh cũng khắc tên mình lên vách đá ở đây).

Hai đứa từng rủ nhau trèo lên nóc nhà châu Âu nằm giữa Pháp và Ý – đỉnh Mont Blanc (bà ngoại tôi gọi là đỉnh La Dame Blanche, người Ý gọi nó là Monte Bianco) cao 4.810 m. Tôi đã từng đến thị trấn Chamonix (nằm ở độ cao 1.035 m, nơi tổ chức Thế Vận Hội mùa đông đầu tiên năm 1924) ngay chân núi Mont Blanc để trượt tuyết chứ chưa dám trèo lên “nóc nhà”. Tôi cũng thích đá và băng tuyết nhưng ngại trèo lên những đỉnh cao, nghe có cái vẻ cạnh tranh rất “thú vật”, và đặc biệt là sau khi đọc xong một bài báo có tựa đề “Trèo núi tiêu diệt các tế bào não” trên tạp chí Scientific American. Bạn có thể tìm thấy bài này tại đây: www.sciam.com/article.cfm?id=brain-cells-into-thin-air

Có thể não bộ của bọn em gái tôi không có cấu tạo tế bào chăng. Tuy nhiên, bọn chúng nó như thể muốn chứng minh một điều mà ai cũng biết: ý chí vươn lên đỉnh cao của người Do Thái.

Sau này, trong một chuyến công cán tôi cũng có cơ hội trèo lên đỉnh núi cao nhất lục địa Úc. Thực ra tôi cũng cố lên đỉnh núi một lần cho biết chứ núi ở xứ “Miệt Dưới” Nam Bán cầu này không phải trèo. Núi non ở Úc đều thấp, cây cối cũng lùn và mọc thưa, vì thế dân Oz[14] gọi rừng của mình là bush (tiếng Anh là bụi cây) chứ không phải là forest hay jungle. Vì vậy trên thực tế họ không dùng từ mountain climbing (leo núi) mà chỉ gọi công việc này (nghe khá hài hước) là bush walking. […]

Có lẽ đó là lần “leo núi cao” duy nhất với tôi. Sau khi từ đỉnh cao của nước Úc trở về tôi gặp vận xui liên tục. Phải chăng ai lên đến một đỉnh nào đó rồi cũng tất yếu phải đi xuống, phải “tụt dốc”.

Từ đó tôi sợ lên đỉnh cao.

Đồ ngu!

Ngươi không dám lên đỉnh cao vì ngươi sợ “tụt dốc”. Nếu sợ những đoạn “tụt dốc” thì làm sao ngươi có có cơ hội được “thăng hoa”? Mà không lên đỉnh cao không có nghĩa là ngươi thoát được mọi xui xẻo. Xui xẻo luôn rình rập. “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí” mà.

Một lẽ tất nhiên, bọn em tôi đã tìm mọi cách để được tới Israel.

Sang đến “quê hương ngàn đời” con Yên Hà đã va phải một cú culture shock. Do sinh ra ở Hà Nội nóng và ẩm nên từ bé con này rất hay ngoáy lỗ mũi và móc gỉ mũi (chuyện này bình thường vì tôi có thấy nhiều em gái Hà Nội rất hay ngoáy mũi bất kể lúc nào và ở đâu), lớn lên vẫn không bỏ được cái tật ấy.

Hai chị em chúng nó bay tới Tel Aviv vào một sáng thứ Bẩy. Lấy xong hành lý hai đứa ra ngoài vẫy taxi. Trong khi đang chờ taxi vào đón thì bỗng thấy mấy người phụ nữ ồ lên như phát rồ, tay chỉ loạn xạ vào mặt Yên Hà. Hai chị em nó không hiểu chuyện gì xảy ra cứ liên mồm “What’s happened?” và “What’s the matter?” Nghe họ nói xì xồ hai đứa chả hiểu ra làm sao cả. Mãi rồi mới có một nhân viên sân bay đến chỉ vẽ cho chúng nó: ở Israel ngoáy mũi vào ngày thứ Bẩy bị cấm hoàn toàn!

Tại đây bọn chúng lại không tìm được núi cao, thế mới buồn. Núi nào ở đây cao nhất thì cũng chỉ trên dưới dăm trăm mét, chẳng bõ trèo đối với chúng nó. Thấy bọn chúng quá chán nản khi gọi điện cho tôi, tôi đưa ra gợi ý: “Hay là chúng mày tìm đến chỗ thấp nhất mà trèo cho bõ công. Không trèo lên thì trèo xuống.” Chẳng ngờ tôi đã “nói như xui”. Chúng nó đã tìm đến được nơi thấp nhất của thế giới – Biển Chết. Cái biển này nằm giữa Israel và Jordan, có độ “cao” bề mặt là… – 420 m (âm 420 mét so với mực nước biển), bờ biển này là điểm thấp nhất của bề mặt trái đất.

Thật là kì dị!

Một dân tộc lúc nào cũng muốn trèo lên đỉnh của thế giới lại vốn sinh ra ở nơi thấp nhất trần gian.

Thật khác với họ là dân Tây Tạng, đã sinh ra ở nóc nhà thế giới cho nên người Tạng chẳng màng gì chuyện cao thấp nữa. Họ chẳng cạnh tranh, chẳng thèm danh lợi. Đến quốc gia hay dân tộc đối với họ cũng thành chuyện “vô thường”. Trong khi bà con khắp thế giới đang sôi sục “thương vay khóc mướn” đấu tranh cho Tây Tạng thì Đức Dalai Lama bảo độc lập cũng được mà nằm trong tay Trung Quốc cũng tốt.

Người Tạng không thèm leo trèo. Họ khát khao “đi vào chiều sâu” của “tâm” mình.

Chỉ có người Tây phương thích leo trèo nên hàng năm có đến 250 triệu người “trèo” đến Tây Tạng. Để nghe các sư phụ người Tạng dạy cho cách “đi vào chiều sâu”.

Cũng là “Tây” nhưng nghịch nhau về cái “tạng” và cái “phương” vậy, he he… phải không các bác.

Biển Chết có nồng độ mặn nhất nhì thế giới (sau hồ Asal ở Djibouti), bờ biển ở đây muối bám vào trắng xóa. Do nồng độ mặn cao như thế nên mọi thứ ném xuống biển này đều nổi lềnh phềnh. Hai con “nặc nô” nhà tôi còn chụp ảnh gửi về cảnh hai đứa đang nằm đọc báo trên… mặt nước biển. Thật là một hiện tượng kỳ diệu của thiên nhiên!

Cái ảnh ấn tượng nhất của chúng nó là cảnh chụp tại cột mốc bằng đá trắng, với tấm biển cũng bằng đá khắc mấy hàng chữ bằng hai thứ tiếng Ả Rập và Anh. Dưới đây là phần tiếng Anh của cột mốc:

WORLD’S  LOWEST POINT
394 Mtrs (1291 Ft)
BELOW SEA LEVEL

Nghĩa là:

ĐIỂM THẤP NHẤT
CỦA THẾ GIỚI
394 m (1.291 ft)
DƯỚI MỰC NƯỚC BIỂN

Phía sau cột mốc còn có một cái cây khá rậm rạp, đáng ngạc nhiên trong điều kiện đất có nồng độ muối như thế.

Tôi rất thích tấm ảnh này. Nó như một nơi cảnh tỉnh bọn “giặc cái” đang “háo” của nhà tôi.

[…]


[1] Buổi ra mắt sách do Đại sứ quán Italia tại Việt Nam và CTVH&TT Nhã Nam tổ chức tại Hà Nội tối 12.10.2010 nhân tuần lễ văn hóa Italia tại Việt Nam. Khách mời của chương trình là một trong những nhà văn hàng đầu của Italia, Mario Fortunato, và nhà văn ngoài lề Đặng Thân.

[2] Xem: http://www.italyinliterature.com/2008/10/10-contemporary-italian-authors-you.html

[3] Phần tiểu sử Primo Levi có tham khảo từ: http://www.tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=513

[4] Xem: http://it.wikipedia.org/wiki/Mario_Fortunato

[5] Xem: http://www.iicbelgrado.esteri.it/IIC_Londra/Menu/Istituto/Chi_siamo/Storia/

[6] Nguồn: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=3537&CategoryID=41

[7] Nguồn: http://www.tabletmag.com/arts-and-culture/books/13240/exceptional-spiritedness/

[8] Nguồn tham khảo: http://kirjasto.sci.fi/primo.htm

[9] Nt.

[10] Nguồn tham khảo: http://en.wikipedia.org/wiki/Primo_Levi

[11] Nguồn: http://www.guardian.co.uk/books/2008/jun/13/primo.levi

[12] Xin mời quí vị độc giả tham khảo một số chương đã đăng trên Da Màu tại: http://damau.org/archives/author/dzangthan

[13] Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/If_This_Is_a_Man

[14] Người Úc thường dùng các từ Oz, Ozzy, Ozzie và Aussie trong “khẩu ngữ” để thay cho Australia/Australian.

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Đặng Thân – Còn lũ nào ác hơn phát xít?”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả