talawas blog

Chuyên mục:

Về những phản biện của ông Trương Nhân Tuấn

11/04/2009 | 1:17 sáng | 33 phản hồi

Tác giả: Dương Danh Huy

Chuyên mục: Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ:

Trong bài “Chủ quyền Việt Nam ở vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây”, tôi viết

Trong việc vạch ranh giới, tập quán luật quốc tế và ngoại giao không tính những đảo nhỏ, xa bờ, tự thân không có các điều kiện cho sự cư trú của con người và đời sống kinh tế riêng, như các đảo trong hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, để tránh việc những đảo này ảnh hưởng không công bằng tới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Nguyên tắc này được Toà án Công lý Quốc Tế tuyên bố từ năm 1969 trong phiên toà chia thềm lục địa Bắc Hải và được khẳng định trong Điều 121, Khoản 3 của UNCLOS. Từ năm 1969 tới nay, Toà án Công lý Quốc Tế luôn luôn tôn trọng nguyên tắc này, thí dụ như trong những phiên toà Lybia/Malta, Vịnh Maine, Guniea/Guniea-Bisseau.

Ông Trương Nhân Tuấn cho là tôi đưa ra “dẫn chứng không có thật”/”dẫn chứng sai” và đưa ra một số lý lẽ phản biện.

Trong bài viết này tôi sẽ cho thấy quan điểm và lý lẽ của ông Trương Nhân Tuấn hoặc là sai một cách khách quan, hoặc là chỉ là quan điểm chủ quan. Đại khái là ông Tuấn dùng những phương pháp sai sau:

  • Không đọc kỹ xem Toà nói gì, thí dụ như các phiên toà Bắc Hải, Malta/Tunisia, Vịnh Maine.
  • Sai logic về cho là phiên toà Guinea/Guinea-Bissau: cho là trường hợp đó không thể áp dụng cho các đảo nhỏ xa bờ.
  • Vô tình hay cố ý lẫn lộn việ phân định lãnh hải với việc phân định thềm lục địa: các đảo Channel Islands của Anh.
  • Vô tình hay cố ý cho là có việc “phân định lại” liên quan đến trường hợp ranh giới thềm lục địa Italy-Tunisia – trong khi hoàn toàn không có việc “phân định lại”.
  • Dùng dẫn chứng không chính xác cho quan điểm “vùng nước quần đảo” và “nội thuỷ” cho Hoàng Sa, Trường Sa.

1. Các phiên toà phân định thềm lục địa Bắc Hải (North Sea) 1969

Ông Tuấn cho là tôi đưa ra “dẫn chứng không có thật”/”dẫn chứng sai”.

Quan điểm đó sai một cách khách quan.

Sự thật là biên bản của Toà nói về nguyên tắc vạch ranh giới như sau:

The continental shelf area off, and dividing, opposite States, can be claimed by each of them to be a natural prolongation of its territory. These prolongations meet and overlap, and can therefore only be delimited by means of a median [equidistance] line; and, ignoring the presence of islets, rocks and minor coastal projections, the disproportionally distorting effect of which can be eliminated by other means, such a line must effect an equal division of the particular area involved.

Như vậy, khi Toà tuyên bố về nguyên tắc cho việc vạch ranh giới trong trường hợp thềm lục địa của các nước nằm chồng lấn lên nhau, Toà có tuyên bố nguyên tắc bỏ qua các đảo nhỏ (islets).

Như vậy, dẫn chứng tôi đưa ra có thật và ủng hộ mệnh đề tôi đưa ra.

Ngược lại, ông Tuấn đưa ra 2 quần đảo Orkney và Shetland của Anh để ủng hộ quan điểm là các đảo nhỏ xa bờ cũng được 100% hiệu lực.

Trên thực tế:

  • Quần đảo Orkney có diện tích tổng cộng gần 1000 km2, đảo lớn nhất có diện tích gần 500 km2;
  • Quần đảo Shetland có diện tích tổng cộng 1500 km2, đảo lớn nhất có diện tích gần 1000 km2.
Bản đồ 1 : Quần đảo Orkney và Shetland của Anh: so sánh với HS, TS là không chính xác.

Bản đồ 1 : Quần đảo Orkney và Shetland của Anh: so sánh với HS, TS là không chính xác.

Trong khi đó:

  • Quần đảo Hoàng Sa có diện tích tổng cộng khoảng 10 km2, đảo lớn nhất ở Hoàng Sa có diện tích khoảng 2 km2;
  • Quần đảo Trường có diện tích tổng cộng dưới 10 km2, đảo lớn nhất ở Trường Sa có diện tích khoảng 2 km2.

Như vậy, trong khi Toà có nói như tôi dẫn chứng thì dẫn chứng ông Tuấn đưa ra lại không chính xác cho Hoàng Sa – Trường Sa.

2. Phiên toà phân định thềm lục địa Malta/Tunisia 1985

Ông Tuấn cũng nói đây là “dẫn chứng không có thật”/”dẫn chứng sai”.

Quan điểm đó sai một cách khách quan, hay ít nhất là một quan điểm chủ quan.

Nếu ông Tuấn đọc biên bản của Toà thì sẽ thấy là Toà tuyên bố là không dùng có một đảo nhỏ của Malta cách bờ 5 km trong việc vạch ranh giới (ai muốn biết tên của đảo này có thể email tôi).

Như vậy, Toà có loại một đảo nhỏ như tôi nói.

Đảo này lớn hơn 2/3 các đảo nổi ở Trường Sa và cao hơn tất cả các đảo Trường Sa. Nếu dùng đảo này để vạch trung tuyến thì một phần của ranh giới sẽ bị đẩy về phía Tunisia 2.5 km. Chỉ có 2.5 km mà Toà đã cho là bất công và loại đảo này.

Tuy là đảo này gần bờ, nhưng điều đó chỉ làm cho lý lẽ “loại bỏ các đảo nhỏ xa bờ” của tôi càng đúng hơn. Để tôi minh hoạ cho dễ hiểu:

  • Nếu một đảo nhỏ của nước A cách bờ 5 km được cho đầy đủ hiệu lực thì đảo này sẽ đẩy ranh giới về phía nước B 2.5 km. Toà cho đó là bất công nên không cho đảo này hiệu lực.
  • Nếu một đảo nhỏ của nước C cách bờ 200 km được cho đầy đủ hiệu lực thì đảo này sẽ đẩy ranh giới về phía nước D 100 km. Đẩy ranh giới 100 km như vậy sẽ còn bất công hơn cả đẩy ranh giới 2.5 km như trong trường hợp trên.

Tức là nếu Toà loại các đảo nhỏ gần bờ của một nước thì cũng sẽ loại những đảo nhỏ xa bờ, như mệnh đề tôi đưa ra.

Như vậy dẫn chứng tôi đưa ra có thật và ủng hộ mệnh đề tôi đưa ra.

3. Phiên toà Vịnh Maine 1984

Ông Tuấn cũng nói đây là “dẫn chứng không có thật”/”dẫn chứng sai”.

Quan điểm đó sai một cách khách quan.

Sự thật là biên bản của Toà nói về nguyên tắc vạch tranh giới như sau:

In an apposite passage of the 1969 Judgment on the North Sea Continental Shelfcases (I. C. J. Reports 1969, p. 36, para. 57), the Court showed how, in determining the course of a delimitation line intended to “effect an equal division of the particular area involved” between two coasts, no account need be taken of the presence of “islets, rocks and minor coastal projections, the disproportionally distorting effect of which can be eliminated by other means”. In pursuance of this remark, the Chamber likewise would point out the potential disadvantages inherent in any method which takes tiny islands, uninhabited rocks or low-tide elevations, sometimes lying at a considerable distance from terra firma, as basepoint[s] for the drawing of a line intended to effect an equal division of a given area. If any of these geographical features possess some degree of importance, there is nothing to prevent their subsequently being assigned whatever limited corrective effect may equitably be ascribed to them, but that is an altogether different operation from making a series of minor features the very basis for the determination of the dividing line, or from transforming them into a succession of basepoints for the geometrical construction of the entire line. It is very doubtful whether a line so constructed could, in many concrete situations, constitute a line genuinely giving effect to the criterion of equal division of the area in question.

Tức là

  • Phiên toà Vịnh Maine 1984 tôn trọng nguyên tắc bỏ qua những đảo nhỏ mà Toà đã tuyên bố trong phiên toà Bắc Hải 1969, như tôi nói.
  • Toà khẳng định là nếu dùng các đảo nhỏ để thì sẽ bất lợi cho việc phân chia công bằng khu vực, Toà rất nghi ngờ là trong nhiều trường hợp cụ thể làm như thế sẽ dẫn tới một ranh giới công bằng. Hai điều này đều như tôi nói.

Như vậy dẫn chứng tôi đưa ra có thật và ủng hộ mệnh đề tôi đưa ra.

4. Phiên Toà Guinea/Guinea-Bissau 1985

Ông Tuấn nói:

4. Phiên tòa Guinée và Guinée-Bissao: Do CJI xử ngày 14 tháng 2 năm 1985. Theo đó các đảo nhỏ ven bờ của Guinée-Bissao hầu như không có hiệu lực.

Trường hợp này cũng không thể áp dụng cho các đảo nhỏ, xa bờ.

Quan điểm của ông Tuấn sai logic.

Điều cần hiểu ở đây là nếu các đảo nhỏ ven bờ không được Toà cho hiệu lực thì những đảo nhỏ xa bờ lại càng khó có thể được Toà cho hiệu lực. Tôi đã giải thích điều này khi nói về phiên toà Malta/Tunisia.

Tức là phiên toà Guniea/Guniea-Bisseau, trong đó Toà không cho các đảo nhỏ ven bờ hiệu lực là dẫn chứng đúng cho quan điểm là các đảo nhỏ xa bờ cũng không được hiệu lực.

Như vậy dẫn chứng tôi đưa ra có thật và ủng hộ mệnh đề tôi đưa ra.

5. Về vùng nước quần đảo

Ông Tuấn nói:

Về vùng nước các quần đảo: Phần lớn vùng nưóc giữa quần đảo được quốc gia chủ quyền quần đảo qui định là «nội hải»: quần đảo Féroé của Đan Mạch, quần đảo Malouines (Falkland) của Anh, quần đảo Galapagos của Equateur, quần đảo Reine Elisabeth của Canada v.v… vùng nước các quần đảo này đều là nội hải.

Những dẫn chứng ông Tuấn đưa ra không chính xác cho Hoàng Sa, Trường Sa.

Các đảo trong các quần đảo Faroe (1400km2), Falklands (12,000 km2), Galapagos  (khoảng 7,800 km2), Elizabeth Islands (đảo lớn nhất khoảng 20 km2) và nằm sát nhau.

Như vậy trái ngược hẳn với trường hợp Hoàng Sa Trường Sa vì các đảo Hoàng Sa, Trường Sa chỉ khoảng 0.1 km2 tới 2 km2, lại còn trải ra trên vùng biển mỗi chiều hàng trăm hải lý.

Bản đồ 2: Quần đảo Faroe: Nếu dùng đường cơ sở thẳng thì sẽ hợp lý hơn cho HS, TS

Bản đồ 2: Quần đảo Faroe: Nếu dùng đường cơ sở thẳng thì sẽ hợp lý hơn cho Hoàng Sa, Trường Sa


Bản đồ 3: Quần đảo Falklands/Malvinas: Nếu dùng đường sở thẳng thì sẽ hợp lý hơn cho HS, TS

Bản đồ 3: Quần đảo Falklands/Malvinas: Nếu dùng đường sở thẳng thì sẽ hợp lý hơn cho Hoàng Sa, Trường Sa


tnt_bando3

Bản đồ 4: Quần đảo Galapagos: Nếu dùng đường cơ sở thẳng thì sẽ hợp lý hơn cho Hoàng Sa, Trường Sa

Tức là các dẫn chứng ông Tuấn đưa ra đều không chính xác.

Thêm nữa, chẳng có nước nào tuyên bố vùng nước quần đảo (archipelagic waters) cho các quần đảo này, như ông Tuấn nói về vùng nước quần đảo cho Hoàng Sa, Trường Sa. Nói như thế là không hiểu là quy chế vùng nước quần đảo chỉ áp dụng cho các quốc gia quần đảo.

Ông Tuấn nói:

Vùng quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc cũng tuyên bố vùng nước nơi đây là nội hải.

TQ tuyên bố theo luật rừng. Nếu chúng ta cũng hùa theo thì vừa rừng vừa dại.

Ông Tuấn có thể đọc bài của Daniel Druzek đăng bởi International Boundaries Research Unit phân tích tại sao đường cơ sở thẳng chung quanh Hoàng Sa vi phạm UNCLOS.

Ông Tuấn cũng có thể đọc tài liệu của Department of State Mỹ phân tích tại sao Mỹ không chấp nhận đường cơ sở thẳng chung quanh Hoàng Sa, dù Trung Quốc tuyên bố hay Việt Nam tuyên bố.

6. Về ranh giới thềm lục địa Italy-Tunisia

Ông Tuấn nói:

Trường hợp Tunisie – Ý: Hai nước ký kết năm 1971 hiệp ước phân định thềm lục địa. Lúc đó lãnh hải của Ý được xác định là 6 hải lý (thay vì 12 hải lý như qui định của UNCLOS 1982). Trên tinh thần đó đảo Lampedusa, Linosa và Pantelleria được hưởng 13 hải lý và đảo Lampione được 12 hải lý.

Nhưng sau khi có công ước 1982, phía Ý đã thay đổi lập trường về việc phân định như trên.

Câu trên của ông Tuấn sai một cách khách quan. Ý hoàn toàn không thay đổi lập trường về việc phân định thềm lục địa như trên.

Ông Tuấn nói:

Nguyên nhân việc phân định lại hải phận là do phía Tunise tuyên bố xác định vùng ZEE, dành vùng đánh cá, bao gồm vùng có tên gọi «il Mammelone», có nhiều cá mà ngư thuyền Ý thường xuyên khai thác, trong lúc phí Ý xem vùng này là «biển cả – haute mer». Phía Ý lập ra vùng ZPE (vùng bảo vệ môi sinh – zone de protection écologique) năm 2006. Vì thế hai nước sẽ phải phân định lại «hải phận», theo đó các đảo trên phải được chia theo đường trung tuyến với bờ biển Tunise. (Hình 2)

Đoạn trên có 2 điểm sai một cách khách quan. Hoàn toàn khộng có chuyện “phân định lại”. Không có cái gì được “phân định lại” hết.  Không hiểu sao ông Tuấn cố ý nhét chữ “lại” vào hai câu trong đoạn trên.  Để tạo vẻ Ý đã thay đổi lập trường về việc phân định thềm lục địa chăng?

Việc phân định vùng đánh cá thì có thể dựa vào nhiều điều kiện ngoài hiệu lực của các đảo, thí dụ như ngư dân Ý có truyền thống đánh cá ở những vùng đó mà Tunisia đã chấp nhận hay không phản đối.  Phân định vùng đánh cá theo cách khác phân định thềm lục địa có nghĩa là Ý thay đổi lập trường về việc phân định thềm lục địa như trên.

Tức là dẫn chứng ranh giới thềm lục địa tôi đưa ra có thật, là hiệp định có hiệu lực được 2 bên công nhận, trong khi ông Tuấn lại nói là nó không có thật, sai, bằng cách đưa ra một việc phân định không liên quan đến thềm lục địa, mà cũng chưa được 2 bên công nhận.

7. Về các đảo Channel Islands của Anh

Ông Tuấn nói:

Trường hợp Anh – Pháp: Hai đảo của Anh là Jersey (St Helier) và Guernsey (St Peter Port), rất gần bờ nước Pháp, phân định ngày 4 tháng 7 năm 2000 theo hình dưới đây. Ta thấy việc phân định vùng lãnh hải các đảo được chia theo lối “équidistance – chia đều”. Ông Huy đưa ra các con số 12 hay 13 hải lý, ý muốn cho là hiệu lực các đảo này không có nhiều. Nhưng phía bên Pháp cũng chỉ có bấy nhiêu đó thôi. (Hình 3)

Lập luận của ông Tuấn sai một cách khách quan.

Chúng ta đang nói về hiệu lực của các đảo nhỏ trong việc tính vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Tôi đang nói về Toà vạch ranh giới thềm lục địa cho các đảo Channel Islands. Chứng cớ tôi đưa ra (về thềm lục địa) liên quan tới vấn đề đang nói tới (phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa).

Ông Tuấn lại đưa dẫn chứng về phân định lãnh hải của các đảo Channel Islands. Dẫn chứng đó không nói được gì về phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Quy định của UNCLOS nói riêng và luật pháp quốc tế nói chung về phân định lãnh hải rất khác với về phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Nếu ông Tuấn đọc biên bản của Toà về phân định thềm lục địa giữa các đảo Channel Islands và Pháp thì sẽ thấy không có chuyện “Nhưng phía bên Pháp cũng chỉ có bấy nhiêu đó thôi“, vì các đảo Channel Islands của Anh chỉ được 12 HL thềm lục địa, trong khi phía bên Pháp được nhiều hơn 12 HL.

Tức là trong khi dẫn chứng tôi đưa ra có thật, là một phán quyết của Toà về thềm lục địa, thì ông Tuấn lại cho là nó sai bằng cách đưa ra dẫn chứng về lãnh hải. Thật là lạc đề.

8. Tóm tắt các phản biện của ông Tuấn

Có thể thấy được như trên là những gì ông Tuấn cho là sai lại là đúng. Ngược lại, những gì ông Tuấn cho là đúng để nói người khác sai thì lại là sai hay ít nhất không chính xác.

9. Về khía cạnh chiến lược

Ông Tuấn nói:

Các đảo tranh chấp giữa Việt-Phi hay Việt-Mã đều thuộc chủ quyền Việt Nam. Bỏ qua nó, thì chỉ có Việt Nam là thiệt hại, các vùng biển tại đây phải xem là mất. Việc giải quyết chủ quyền các đảo sau này, giả sử chúng phải trả lại cho Việt Nam thì Việt Nam cũng sẽ không bao giờ giành lại quyền lợi của mình.

Ông Tuấn assumes là Việt Nam có quyền lợi xa đảo hơn 12 hải lý, trong khi điều đó chưa được chứng minh bằng pháp lý. Trên thực tế sẽ khó có Toà  nào cho là các đảo Hoàng Sa, Trường Sa được hưởng quy chế vùng nước quần đảo (được vẽ đường cơ sở thẳng bao quanh quần đảo) và được đầy đủ hiệu lực trong việc tính EEZ.

Thật ra, ý kiến của QNCBĐ là xin Toà ban một ý kiến tư vấn về các đảo Hoàng Sa, Trường Sa được hưởng bao nhiêu HL là hợp lý nhất.

Ông Tuấn nói:

Việc giải quyết tay ba: Việt-Mã-Phi cũng không giải quyết được vấn đề Biển Đông nếu những tranh chấp với Trung Quốc vẫn chưa giải quyết. Chắc chắn Trung Quốc sẽ phản đối, việc này sẽ thường xuyên đem lại bất ổn cho khu vực.

Thật ra nếu Việt, Mã, Phi, Bru, Indo (Bru và Indo cũng bị yêu sách của Trung Quốc đe doạ) đoàn kết và có tiếng nói chung với ASEAN và với các cường quốc thì sẽ kìm chế Trung Quốc nhiều hơn, đỡ bất hôn hơn như bây giờ.

Ông Tuấn nói:

Ông Huy và nhiều người viện lý do khả năng quân sự Trung Quốc rất mạnh, Việt Nam không thể đương đầu, phải nhượng bộ thôi.

Tôi chẳng bao giờ nói điều trên. Ngược lại, ông Tuấn cho rằng vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây thuộc về Trường Sa như Trung Quốc đòi hỏi – điều đó chỉ góp phần them cho lý lẽ của Trung Quốc.

Ông Tuấn nói:

Nhưng việc tự tuyên bố các đảo của mình không có hiệu lực ZEE thì không phải là một nhượng bộ thông minh, vì nó không ảnh hưởng gì đến quyết định của Trung Quốc. Tham vọng của Trung Quốc đã để lộ từ một thế kỷ nay, bằng mọi cách họ sẽ thực hiện tham vọng của mình. Việt Nam hủy bỏ hiệu lực các đảo thì cũng không ảnh hưởng gì đến các quyết định của Trung Quốc. Mục đích của Trung Quốc là tài nguyên dưới thềm lục địa các đảo và vị trí chiến lược của các đảo. Nếu họ chiếm được các đảo Trường Sa, do ảnh hưởng các đảo, họ sẽ tuyên bố chủ quyền cả Biển Đông.

Tôi chẳng bao giờ nói nhượng bộ. Thêm nữa, Trung Quốc đòi là các đảo phải có thật nhiều EEZ. Tôi nói là các đảo phải có ít EEZ, ngược với đòi hỏi của Trung Quốc, cho nên không thể là nhượng bộ.

Ngược lại, chủ trương của ông Tuấn là các đảo phải có thật nhiều EEZ, lấn sâu vào vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây của Việt Nam. Bất kể ông Tuấn có cho đó có phải là nhượng bộ Trung Quốc hay không thì chủ trương đó cũng có lợi cho TQ và có hại cho VN.

Ông Tuấn nói:

Mục đích của họ là vậy, Việt Nam tuyên bố ra sao thì mặc kệ. Nhưng một khi Việt Nam đã tuyên bố rồi, vĩnh viễn Việt Nam sẽ không thể trở ngược lại. Đây là việc rất sơ đẳng, ai có trí óc bình thường cũng suy nghĩ ra được. Nó là một điển hình cho việc tự bắn vào chân ngu xuẩn nhất.

Vậy là ông Tuấn chưa hiểu luật quốc tế rồi. Bao giờ Việt Nam có ký/phê duyệt hiệp định thì mới vĩnh viễn không thể trở ngược lại. Còn nếu như Việt Nam và ASEAN có tuyên bố đơn phương là các đảo Hoàng Sa, Trường Sa chỉ được 12 HL mà Trung Quốc không chấp nhận thì Việt Nam và ASEAN có thể đổi ý. Nếu ông Tuấn có đọc về quá trình đàm phán thì sẽ thấy các bên có thể tuyên bố, đòi hỏi này nọ, sau đó đổi ý.

Ông Tuấn thích nói “sơ đẳng” và chửi “ngu xuẩn” nhưng thật ra ông Tuấn sai về luật quốc tế.

“Chiến lược” của ông Tuấn là:

  • Đòi đường cơ sở thẳng/vùng nước quần đảo cho các đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Điều đó sai với UNCLOS.
  • Đòi thật nhiều EEZ cho Hoàng Sa, Trường Sa. Điều đó chưa chắc phù hợp với luật quốc tế, nhưng trước mắt là có lợi cho Trung Quốc và có hại cho Việt Nam. Trước mắt, Trung Quốc có khả năng dùng lý lẽ đó để lấn vào vùng biển của Việt Nam, còn Việt Nam thì không có khả năng dùng lý lẽ đó để lấn vào vùng biển của Trung Quốc.
  • Chờ tới Tết Công Gô sẽ có Toà nào ban cho Việt Nam 2 điều trên và các nước kia sẽ chấp nhận.
  • Cho tới Tết Công Gô, Việt Nam phải là sao giữ được, không cho mất thêm, mà không có sự ủng hộ của các nước khác.

Rõ ràng, đề nghị của QNCBĐ là xin ý kiến tư vấn của Toà về Hoàng Sa, Trường Sa được bao nhiêu hải lý rồi dùng ý kiến đó làm cơ sở cho liên minh bảo vệ những vùng viể không thuộc Hoàng Sa, Trường Sa, hay hơn “chiến lược” của ông Tuấn nhiều, mà cũng không phải là thiệt hại cho Việt Nam.

10.  Lời kết

Từ khi ông Tuấn bắt đầu “góp ý” với tôi cách đây 6 tháng, thỉnh thoảng ông Tuấn lại “góp ý” kiểu:

  • Ông Huy là người thế này, thế nọ.
  • Chụp mũ.
  • Ông Huy sai ở một loạt điểm A, B, C, D, E, F.

Nhưng nói ra thì chính ông Tuấn lại sai ở các điểm A, B, C, D, E, F.

Một thời gian sau, ông Tuấn lại tiếp tục:

  • Ông Huy là người thế này, thế nọ.
  • Chụp mũ.
  • Ông Huy sai ở một loạt điểm G, H, I, J, K, L.

Nhưng nói ra thì chính ông Tuấn lại sai ở các điểm G, H, I, J, K, L.

Một thời gian sau, ông Tuấn lại tiếp tục:

  • Ông Huy là người thế này, thế nọ.
  • Chụp mũ.
  • Ông Huy sai ở một loạt điểm M, N, O, P, Q.

Nhưng nói ra thì chính ông Tuấn lại sai ở các điểm M, N, O, P, Q.

Tôi không hiểu ông Tuấn có cho là làm vậy là phí thì giờ không. Riêng tôi trong 6 tháng qua thấy trả lời ông Tuấn, viết về ông Tuấn hay các bài viết của ông ấy chưa bao giờ là cách tốt để dùng thời gian của tôi.

Nếu sau bài này tôi không trả lời ông Tuấn nữa thì hy vọng mọi người hiểu.

Phản hồi

33 phản hồi (bài “Về những phản biện của ông Trương Nhân Tuấn”)

  1. Dương Danh Huy says:

    3. Về các biện pháp cho tranh chấp BĐ

    QNCBĐ và tôi viết:

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/08/080818_georgiaeastsea.shtml

    http://www.tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/6378/index.aspx

    và đăng thư ngỏ lên báo Manila Times của Philippines.

    Ông Tuấn thì bảo đợi thế giới văn minh lên và Toà phán quyết là VN được không những HSTS mà còn cả “vùng nước quần đảo” và 100% hiệu lực EEZ cho HSTS.

    Dường như ông Tuấn cho là ông ấy có độc quyền, độc khả năng, về nhận định thế nào là có lợi cho VN, thế nào là có hại cho VN.

    Và trong 8 tháng qua ông luôn Tuấn khẳng định là tôi “mượn” giải pháp của Valencia, và Valencia là người Phi, mặc dù đã có nhiều chứng cớ và lý lẽ ngược lại những điều đó.

    4. Về vụ Exxon

    QNCBĐ và tôi viết như (và trong 1 bài ngắn hơn trên BBC):

    http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/5522/index.aspx

    Ông Tuấn thì đoán nào là Mỹ công nhận đường cơ sở thẳng của Việt Nam (không hề xảy ra), nào là BP, Exxon không thể rút lui nếu không tin vào lý lẽ chủ quyền của TQ (báo South China Morning post nói ngược lại về Exxon). Và ông Tuấn “góp ý” từ tháng 9/2008 tới giờ.

  2. Dương Danh Huy says:

    Có thể so sánh những gì QNCBĐ và tôi viết về Biển Đông với những gì ông Tuấn viết như sau:

    1. Về tàu Impeccable

    QNCBD và tôi viết:

    tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6459/index.aspx

    Ông Tuấn thì đoán:

    Nhưng về phía VN, thái độ của HK đã gây nhiều chú ý: HK có thể không công nhận chủ quyền HS của TQ. Đây là một điều đáng mừng cho VN. VN đã có một đồng minh «có trọng lượng» nếu việc giải quyết HS được đưa ra toà án quốc tế. Không công nhận chủ quyền HS thuộc TQ là hàm ý công nhận nó thuộc VN. Việc sắp tới là ngoại giao VN phải làm thế nào để HK xác nhận việc này: chủ quyền của HS thuộc về VN.

    http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3599

    2. Về việc đăng ký thềm lục địa

    QNCBD và tôi viết (và trong 1 bài ngắn hơn trên BBC):

    http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6351/index.aspx

    Ông Tuấn thì bảo không cần đăng ký; HSTS là của VN và các đảo này được 200 HL EEZ là đủ rồi.

  3. Dương Danh Huy says:

    Tôi có cảm tưởng ông Huy là người mới học võ, rất thích múa may.

    Đúng là tôi là người mới học võ, không như ông Tuấn nghiên cứu từ năm 2000.

    Mới hồi tháng 8 hay tháng 9 gì đó, ông này hoàn toàn không biết gì về «thềm lục địa mở rộng»;

    Nhưng câu trên của ông Tuấn, cũng như nhiều câu khác về tôi, thì buồn cười quá, và chỉ nói về nhận thức của ông Tuấn thay vì về tôi.

    Trong khi đó:

    1. Tới tháng 2008 ông Tuấn còn viết sai là vùng đặc quyền kinh tế ra tới 224 hải lý các đường cơ sở (trong khi UNCLOS viết vỏn vẹn 1 câu là đặc quyền kinh tế ra tới tối đa là 200 HL cách đường cơ sở). Tôi chỉ lỗi đó ra cho ông Tuấn, ông Tuấn còn không sửa hết được, tới năm 2009 tôi còn phải chỉ lần nữa. (Ông Tuấn không hề cảm ơn).

    2. Tới 2008, ông Tuấn còn viết vớ vẩn là hiệp định vịnh Bắc Bộ không cho đảo Cồn Cỏ vùng đặc quyền kinh tế và không tôn trọng lãnh hải của nó (trong khi UNCLOS quy định là lãnh hải là 12 HL, và ranh giới VBB cách ĐCC hơn 12 HL).

    3. Tới năm 2009, ông Tuấn còn viết vớ vẩn về vùng nước quần đảo của TS (trong khi theo UNCLOS chỉ có các quốc gia quần đảo được hưởng quy chế vùng nước quần đảo).

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả