talawas blog

Chuyên mục:

Christopher Dawson – Văn minh Thiên Chúa giáo là gì?

22/04/2009 | 9:00 sáng | 3 Comments

Tác giả: Cao Hùng Lynh

Category: Chưa phân loại
Thẻ: > >

Cao Hùng Lynh dịch

Câu hỏi mà tôi dùng làm nhan đề cho chương này là một trong những câu hỏi mang tính chất sống còn của thời đại chúng ta. Chúng ta nhất thiết phải đặt ra câu hỏi ấy; tuy nhiên, sự việc mà chúng ta đang làm là triệu chứng của một tình trạng hoài nghi và hoang man mà con người hiện đại đang tồn tại trong đó, bởi vì trong quá khứ, nó không gây nên vấn đề gì đối với con người bình thường. Ai ai cũng tưởng rằng – mặc dù rất sai lầm – họ biết văn minh Thiên chúa giáo là gì; không ai nghi ngờ về tính hợp lý của nó; và đa số đều có lẽ đã cho rằng nó là hình thức văn minh duy nhất thích hợp với người phương Tây.

Điều này hoàn toàn đúng đối với toàn thể thế giới Thiên chúa giáo tính từ thế kỷ mười tám trở về trước. Sự việc tôi dùng thuật ngữ thế giới Thiên chúa giáo, và đồng thời nghĩ rằng độc giả sẽ hiểu điều tôi muốn nói, cũng đủ để chứng minh cho quan điểm này. Rõ ràng là sau thế kỷ mười tám, tại Âu châu lục địa, điều này không còn đúng nữa, và khái niệm nền văn minh Thiên chúa giáo đã trở thành một vấn đề gây tranh cãi. Nhưng sự  đổi thay này không xuất hiện với một mức độ giống nhau tại nước Anh và nước Mỹ. Chẳng hạn, phong trào truyền giáo của người Anglo-Saxon vào thế kỷ mười chín, được đại diện bởi những nhân vật như David Livingstone, dường như đã mặc nhiên cho rằng sự bành trướng của Thiên chúa giáo không tách rời với sự bành trướng của nền văn minh phương Tây. Dưới ánh mắt của những nhân vật đó, nền văn minh phương Tây chính là một nền văn minh Thiên chúa giáo khi được so sánh với tình trạng dã man của những kẻ ngoại giáo và các nền văn minh phi Thiên chúa giáo của các dân tộc cổ.

Ngày nay, chúng ta dễ dàng nhận ra sai lầm của họ và thấy được các hậu quả tai hại của nó. Nhưng mối nguy nằm ở chỗ chúng ta đi đến một thái cực ngược lại khi phủ nhận ý nghĩa văn hóa và xã hội của Thiên chúa giáo. Một người như Livingstone có lẽ đã không thực hiện công cuộc truyền giáo của mình, nếu như không có bối cảnh Thiên chúa giáo mà ông đã từng được dưỡng dục trong đó. Ông là con đẻ của một xã hội Thiên chúa giáo, và một xã hội Thiên chúa giáo thì luôn bao hàm một nền văn hóa Thiên chúa giáo. Dẫu cho khoảng cách giữa thánh kinh và cuộc đời, đức tin và hoạt động thế tục, giáo hội và nhà nước, tôn giáo và thương mại có xa đến đâu đi chăng nữa, người ta cũng không thể tách rời đức tin ra khỏi đời sống, hoặc đời sống cá nhân ra khỏi đời sống cộng đồng mà cá nhân là một thành viên. Nơi nào có tín đồ Thiên chúa giáo, thì nơi đó phải có một xã hội Thiên chúa giáo; và nếu một xã hội Thiên chúa giáo trải qua một thời gian đủ dài để có thể phát triển các truyền thống và định chế xã hội, thì sẽ có một nền văn hóa Thiên chúa giáo, và cuối cùng, một nền văn minh Thiên chúa giáo.

Nhưng có lẽ tôi đã đi quá xa khi thừa nhận sự tán thành phổ biến về cách dùng của một thuật ngữ không rõ ràng chút nào, bởi vì những từ như “văn minh”, “văn hóa” và “Thiên chúa giáo” luôn gắn liền với các yếu tố luân lý và cảm xúc. Từ “Thiên chúa giáo” hiện được dùng, hoặc đã được dùng cách đây không lâu, theo ý nghĩa “có phẩm hạnh cao”; từ “văn minh” thường liên quan đến một sự phán xét giá trị và gợi lên hình ảnh phát triển ở mức độ cao về xã hội và tri thức; trong khi đó, từ “văn hóa” được dùng theo hai ý nghĩa khác nhau, nhưng cũng thường mang một hàm ý về sự giáo dục cao và tinh tế.

Vì các mục đích của vấn đề hiện được thảo luận, tôi chỉ dùng các từ này trong một ý nghĩa mang tính chất mô tả ý niệm, mà không hề có bất cứ ngụ ý nào về những xét đoán luân lý hay giá trị. Tôi dùng từ “văn hóa” theo cách các nhà nhân chủng học xã hội thường dùng nhằm mô tả bất cứ lối sống xã hội nào có một hình thái tổ chức cố định, và với phạm vi ấy, người ta vẫn có thể dùng nó để nói về văn hóa của một bộ tộc dốt nát ăn thịt đồng loại nào đó. Và tôi sử dụng từ “văn minh” nhằm nói về một nền văn hóa có đủ độ phức tạp để phát triển các đô thị và quốc gia. Tương tự thế, khi nói về cá nhân hay xã hội mang đặc tính “Thiên chúa giáo”, tôi chỉ muốn nói rằng cá nhân và xã hội ấy tin theo Thiên chúa giáo, chứ không có ý rằng họ là những con người hoặc dân tộc có lối xử sự theo cách thức mà chúng ta nghĩ người Thiên chúa giáo buộc phải xử sự.

Chúng ta hãy bắt đầu bằng sự tìm hiểu về những điều liên quan đến văn hóa – bất cứ dạng văn hóa nào, dù là một dạng văn hóa thấp kém nhất. Không có một nền văn hóa nào thấp cho đến nỗi không có lấy một nguyên tắc trật tự luân lý. Thật vậy, tôi nghĩ chúng ta có thể đi xa hơn thế để nói rằng văn hóa, về mặt bản chất, là một trật tự luân lý, và đây chính là điều làm cho nó trở thành văn hóa. Ngay cả các nhà xã hội học có khuynh hướng giảm thiểu hoặc chối bỏ yếu tố tinh thần đó trong văn hóa và xem nó thuộc phạm vi của một hình thức ứng xử thuần túy, giống như quan niệm của cố giáo sư W. G. Sumner, cũng sẵn sàng thừa nhận rằng văn hóa thực chất là một hệ thống hoặc khuôn mẫu các “lề thói” (folkways) hay “tập quán” (mores); việc họ sử dụng thuật ngữ La-tinh này đã nói lên sự đồng thuận căn bản trong quan niệm về văn hóa, bởi vì “mores” có nghĩa là các chuẩn mực và cách thức xử sự, và dẫu cho ngày nay chúng ta có được sự phân biệt rõ ràng giữa đạo đức và tập quán, nhưng thực ra sự phân biệt ấy đã hình thành cách đây không lâu. Người La-mã, những kẻ, một cách khác thường, đã ý thức được các vấn đề đạo đức và sở hữu một hệ thống luân lý đích thực, vẫn chỉ có một từ cho hai khái niệm nói trên, khiến cho “boni mores” của La-mã mang ý nghĩa của cái mà chúng ta gọi là “good morals” – “những chuẩn mực đúng đắn của hành vi” – nó được dùng để mô tả cách cư xử tốt đẹp. Ngày nay, chúng ta không thể không lưu tâm đến sự song hành và mối quan hệ gần gũi giữa đức dục và rèn luyện cách xử sự tốt, khiến cho trẻ con không phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa lầm lỗi đạo đức và sự hỗ thẹn khi xử sự không đúng mực.

Khi quay ngược về các xã hội nguyên thủy, chúng ta không mong tìm thấy sự phân biệt rõ ràng nào giữa đạo đức và tập quán. Nhưng như vậy không có nghĩa là đạo đức kém quan trọng hơn; trái lại, nó còn bao trùm một phạm vi rộng lớn hơn rất nhiều và vươn đến cả lãnh vực tôn giáo lẫn xã hội. Bởi vì, trong các nền văn hóa của xã hội nguyên thủy, đạo đức gắn liền với toàn bộ các ý niệm mà ngày nay đã được phân biệt tương đối thấu đáo, nhưng trước đây đã thiết lập nhiều địa hạt khác nhau nằm trong một lãnh vực luân lý duy nhất, bao gồm luật pháp, nghi thức tôn giáo, chuẩn mực hành xử và tập quán xã hội. Hãy lấy trường hợp luật pháp để khảo sát; sự phân biệt giữa các chuẩn mực luân lý và pháp lý chỉ mới xuất hiện, không những trong các nền văn hóa giản đơn, mà còn ngay cả trong các nền văn minh lớn của thế giới cổ đại. Bởi vì các chuẩn mực pháp lý ấy bao gồm trong chúng tất cả mọi lãnh vực, bất kể mang tính luật pháp hay luân lý, đồng thời luôn có một đặc tính thiêng liêng, chi phối và đặt ra các biện pháp chế tài như nhau đối với các vấn đề, mà sau này chúng ta gọi là thế tục, công quyền hoặc chính trị, cho đến các vấn đề luân lý, tôn giáo hay nghi lễ.

Sự đồng nhất các vấn đề này, về phương diện lịch sử, rất quen thuộc với chúng ta qua trường hợp bộ thánh luật[1] của người Do-thái, trong đó, sự hợp nhất của tôn giáo, đạo đức, luật pháp, nghi lễ rất dễ dàng nhận ra, và chúng ta hiểu được tại sao bộ thánh luật này còn được xem là nền tảng của nền văn hóa quốc gia và bản chất của sự tồn tại của một dân tộc. Tuy nhiên, mối tương quan như thế giữa tôn giáo, luật pháp, luân lý và nghi lễ không chỉ xuất hiện trong các nền văn minh lớn như Trung hoa, Ấn-độ và Hồi giáo, mà còn trong nhiều nền văn hóa sơ khai khác nữa.

Chẳng hạn như, tại Trung hoa, chúng ta đã chứng kiến cách thức Khổng giáo đã trở thành nền tảng luân lý của nền văn hóa Trung hoa trong suốt hơn hai ngàn năm, khiến cho người ta sẽ không tài nào hiểu được bất cứ khía cạnh lịch sử nào của người Trung hoa, nếu không đặt chúng trong mối tương quan với Khổng giáo. Một mặt, chúng được gắn chặt với tôn giáo và nghi lễ, và mặt khác, với trật tự xã hội và chính trị của người Trung hoa. Ngoài ra, chúng còn có mối liên hệ không thể tách rời với nền giáo dục và truyền thống học vấn Trung hoa. Khi nhìn dưới khía cạnh này, văn hóa Trung hoa được xem như là một tổng thể bất khả phân – một mạng lưới các quan hệ xã hội và luân lý được đan dệt mà không hề thấy các mắt lưới từ đầu đến cuối.

Ngày nay, chúng ta đang đứng tại một vị trí có tầm nhìn bao quát hơn để thông hiểu ý nghĩa của nền văn minh Thiên chúa giáo. Bởi vì, trong quá khứ, Thiên chúa giáo có một vai trò trong nền văn minh phương Tây tương tự như vai trò của Khổng giáo ở Trung hoa, hay Hồi giáo ở Trung Đông. Chính nguyên tắc thống nhất luân lý đã mang lại cho nhiều dân tộc phương Tây các giá trị tâm linh, chuẩn mực luân lý và ý niệm về một thánh luật, để từ đó, tất cả luật lệ của con người nhận được những giá trị và nguyên tắc chế tài cho chính mình. Không có Thiên chúa giáo, thì có thể cũng có nền văn minh phương Tây, nhưng chắc chắn đó phải là một nền văn minh hoàn toàn khác hẳn, bởi vì chính thế giới Thiên chúa giáo đã khiến cho các bộ tộc, dân tộc và quốc gia phương Tây đạt được sự nhận thức chung và một ý nghĩa về sự hòa hợp tinh thần và văn hóa. Điều này không phải là một biện thuyết của một kẻ biện giải cho Thiên chúa giáo. Nó được thừa nhận rộng rãi bởi các sử gia, những người không hề ủng hộ Thiên chúa giáo. Edward Gibbon, chẳng hạn, nổi tiếng là kẻ căm ghét toàn bộ truyền thống Thiên chúa giáo; tuy nhiên, ông chưa bao giờ phủ nhận rằng Giáo hội là người tạo dựng Âu châu, và đồng thời kết thúc bài nghiên cứu mang tính chỉ trích về nguồn gốc Thiên chúa giáo bằng cách vạch ra phương cách các tác động tôn giáo và “quyền hành ngày càng tăng cao của những vị Giáo hoàng đã tạo ra liên minh các quốc gia Thiên chúa giáo; và dần dần sản sinh lối hành xử và một hệ thống luật pháp khác hẳn với phần còn lại của nhân loại, những quốc gia độc lập và thậm chí thù nghịch với Âu châu hiện đại.”

Nhưng khi Gibbon nói về “lối hành xử”, thì chúng ta phải hiểu nó trong cái nghĩa rộng mà tôi đang đề cập đến, bởi vì điều làm cho các dân tộc Thiên chúa giáo hiện nay khác với tổ tiên ngoại giáo là sự tin tưởng mà họ dành cho một hệ thống các chuẩn mực luân lý và lý tưởng mới. Trên thực tế, rõ ràng sự thừa nhận các chuẩn mực mới này của họ vẫn chưa phải là hoàn hảo, nhưng điều tương tự thế cũng đã xảy ra đối với các chuẩn mực cũ, vì rằng luôn luôn có một khoảng cách đáng kể giữa chuẩn mực luân lý của một xã hội và hành động luân lý của các cá nhân; và chuẩn mực càng cao, thì khoảng cách càng rộng, khiến cho chúng ta nghiễm nhiên mong muốn độ tương phản giữa các nguyên tắc luân lý và hành vi xã hội trở nên rõ nét hơn trong trường hợp xã hội Thiên chúa giáo so với một xã hội ngoại giáo. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng các giá trị luân lý và tinh thần, về phương diện xã hội, là không quan trọng. Chúng ảnh hưởng đến văn hóa theo đủ mọi cách, thông qua các định chế, biểu tượng, văn chương, nghệ thuật và hành vi cá nhân. Có thể lấy trường hợp thay đổi bạo chúa vua hoặc lãnh tụ chiến tranh bằng thánh lễ tấn phong ở Âu châu thời Trung cổ làm ví dụ. Điều này rõ ràng đã không biến vị quân vương bình thường thành một St. Louis hay một vua Alfred, nhưng nó thiết lập một chuẩn mực lý tưởng mà nhờ vào đó, người ta phán xét các nhà cai trị và phê phán chính cái định chế mà nó tạo ra. Điều tương tự như thế cũng xảy ra đối với định chế hiệp sĩ và cũng có thể  được áp dụng cho các định chế Thiên chúa giáo như linh mục, giám mục và đời sống tu hành. Văn minh Thiên chúa giáo chắc chắn không là một nền văn minh hoàn hảo, nhưng chính là một nền văn minh chấp thuận lối sống Thiên chúa giáo như là một điều bình thường, đồng thời thiết lập các định chế của nó như là những bộ phận tuân theo một trật tự Thiên chúa giáo. Nền văn minh như thế đã thực sự tồn tại trên dưới một ngàn năm. Nó giống như  một sinh vật đang phát triển – một cây đại thụ văn hóa đơm hoa kết trái đúng mùa. Như tôi đã nói, Nó không phải là một nền văn minh hoàn hảo; nó là nền văn minh của những kẻ dã man đã được cải hóa, và nền văn minh ấy vẫn còn lưu giữ một số yếu tố bán khai nào đó, những yếu tố không ngừng tái khẳng định mình trên con đường lịch sử của nền văn minh.

Nền văn minh phương Tây hiện đại của chúng ta tại Âu châu và Mỹ là sự kế thừa trực tiếp của nền văn minh Thiên chúa giáo này. Không có cái đứng sau, thì có lẽ nó chẳng bao giờ tồn tại. Tuy nhiên, nền văn minh hiện đại của chúng ta lại không phải là một nền văn minh Thiên chúa giáo. Nó là kết quả của quá trình hai trăm năm thế tục hóa, từ đó, các định chế  và chuẩn mực xã hội mang tính thuần Thiên chúa giáo dần dần bị loại bỏ. Việc này là một tiến trình phức tạp. Ở Âu châu, đặc biệt là nước Pháp, tiến trình này là một sự đổi thay đau đớn và hung bạo, liên quan đến nhiều cuộc cách mạng chính trị và hành quyết tôn giáo. Tại Anh quốc, trái lại, nó diễn ra chậm chạp và từng phần, thậm chí, ngày nay, một số định chế tiêu biểu của trật tự Thiên chúa giáo cũ như sự công nhận chính thức nhà nước của giáo hội Anh giáo và thánh lễ tấn phong quân vương vẫn còn tồn tại. Trường hợp của Mỹ châu, hoặc đúng hơn là của Hoa Kỳ, thì hoàn toàn khác biệt. Đó là quốc gia đầu tiên trong thế giới Thiên chúa giáo khởi xướng việc tách rời nhà nước ra khỏi giáo hội. Nhưng điều này không đòi hỏi một sự thế tục hóa nền văn hóa. Trong suốt phần lớn những năm tháng của thế kỷ mười chín, chính nhà thờ, chứ không phải nhà nước, chịu trách nhiệm về văn hóa và giáo dục, đặc biệt tại các thuộc địa mới thuộc khu vực Trung Tây và Viễn Tây. Sự thế tục hóa toàn diện nền giáo dục công là một yếu tố mới xảy ra; điều này khiến cho sự tác động của nó lên nền văn hóa Mỹ chỉ được nhìn nhận đầy đủ trong khoảng thời gian gần đây.

Vì lẽ đó, tại nhiều vùng đất miền Tây, sự tác động của hai trăm năm phát triển vừa qua đã đưa đến những kết quả tương tự nhau. Văn minh Thiên chúa giáo truyền thống hiện nay đã trở thành một phần của lịch sử, và chỉ có thể được hiểu bằng sự cố gắng đáng kể trong nghiên cứu và sáng tạo, trong khi toàn bộ thế giới phương Tây đang tiến đến hành động chia sẻ một nền văn minh kỹ nghệ thế tục chung đã và đang phổ biến đến phần còn lại của thế giới – những nền văn minh lâu đời của Á châu và những dân tộc mới ở Phi châu và châu Đại dương. Tuy nhiên, tại Âu chân lẫn Mỹ châu, nền văn minh thế tục hóa này vẫn mang nhiều dấu ấn của nguồn gốc Thiên chúa giáo và dung chứa nhiều truyền thống và định chế Thiên chúa giáo sống động, dẫu cho có thể nói những điều này đã bị phân tán và không còn hội nhập vào cấu trúc cơ bản của nền văn minh.

Có nhiều ý kiến khác biệt liên quan đến tầm quan trọng tương đối của các yếu tố này, tùy theo kinh nghiệm riêng của từng cá nhân. Vào cuối thế kỷ mười tám, có nhiều khu vực và giai tầng xã hội mà Thiên chúa giáo không được tin theo nữa, trong khi tại nhiều vùng khác, cho đến ngày nay, nó vẫn còn được chấp nhận như là nền tảng của giáo dục và đời sống xã hội. Và cái khuôn mẫu gãy vỡ này của nền văn hóa Thiên chúa giáo là nguồn gốc của hầu hết các khó khăn của chúng ta khi tìm kiếm câu trả lời và những giải pháp thỏa đáng cho vấn đề đang được thảo luận. Mặt khác, chúng ta hiện đang mang một quan điểm mà T. S. Eliot đã trình bày trong các nghiên cứu sâu sắc và đầy tính khiêu khích về nền văn hóa Thiên chúa giáo.

Trong bài nghiên cứu đầu tiên, Ý Niệm Về Một Xã Hội Thiên Chúa Giáo (The Idea of a Christian Society), ông viết:

“Một xã hội không còn được xem như là xã hội Thiên chúa giáo, một khi nó chắc chắn đã biến thành một xã hội khác. Luận điểm của tôi là, ngày nay, chúng ta đang có một nền văn hóa đầy tích chất tiêu cực, nhưng nếu trong một chừng mực nào đó, nó vẫn mang tính chất tích cực, thì nó vẫn có tính chất Thiên chúa giáo. Tôi không nghĩ rằng nền văn hóa ấy tiêu cực, vì lẽ một nền văn hóa tiêu cực sẽ không có những tác động hiệu quả trong một thế giới mà kinh tế cùng với mọi thế lực tinh thần khác đang minh chứng cho tính hiệu quả của những nền văn hóa ngoại giáo tích cực; và tôi tin rằng sự chọn lựa đặt ra cho chúng ta chính là sự chọn lựa giữa việc hình thành một nền văn hóa Thiên chúa giáo mới và việc chấp nhận một nền văn hóa ngoại giáo. Cả hai đều là những đổi thay mang tính chất quyết liệt; nhưng tôi tin rằng đa số chúng ta, nếu có thể đối diện ngay tức khắc với mọi sự thay đổi diễn ra trong vài thế hệ sắp tới, đều sẽ chọn Thiên chúa giáo.”

Mặc dầu đồng ý với Eliot về sự chọn lựa mà chúng ta nên thực hiện, nhưng tôi vẫn nghĩ ông đánh giá thấp mực độ thế tục hóa mà nền văn minh hiện đại đạt được, đồng thời tôi tự hỏi có phải đa số con người hiện đại đều không muốn chấp nhận tình trạng hiện tại hay không. Văn minh Thiên chúa giáo đã được khai mở bởi sự thừa nhận Thập tự giá như là biểu tượng phụng sự – in hoc signo, vinces, với dấu hiệu này, người sẽ là kẻ chiến thắng. Nhưng văn minh hiện đại đã nhận một biểu tượng hoàn toàn khác, và hiện nay, chính đôla, hơn là Thập tự giá, mới là dấu hiệu xếp đặt mọi thế lực của nền văn minh hiện đại. Tôi không nghĩ rằng đa số chúng ta không muốn nhìn nhận biểu tượng mới này. Đôla là một vật có giá trị theo cách thức của nó, và có nhiều người Thiên chúa giáo lương hảo rất sẵn sàng biến nó thành một tiêu chuẩn cho nền văn minh của chúng ta. Có điều là họ không hoàn toàn nhìn nhận những ý nghĩa mà sự thế tục hóa toàn diện nền văn minh tạo ra. Họ sẵn lòng chấp nhận một tình trạng và một nền giáo dục thế tục, nhưng họ vẫn hy vọng duy trì các chuẩn mực đạo đức Thiên chúa giáo, đồng thời họ không hiểu mức độ sâu sắc và số lượng cách thức mà một nền văn minh sẽ tác động đến các giá trị luân lý của từng cá nhân.

Trong quá khứ, nhà thờ và các tổ chức thiểu số khác đã chứng tỏ được khả năng duy trì các chuẩn mực đạo đức của họ để chống lại những chuẩn mực của một nền văn hóa ưu trội hơn. Nhưng họ phải trả một giá rất đắt cho điều này. Đối với trường hợp những người Thiên chúa giáo vào thời kỳ đầu, hành động này đồng nghĩa với một cuộc chiến đẫm máu giữa Giáo hội và xã hội ngoại giáo, mà Thiên chúa giáo chỉ chiến thắng sau nhiều thế kỷ dài bị bách hại. Đối với trường hợp người Do-thái ở Âu châu, đó là đời sống trong những khu định cư, sự cô lập và triệt tiêu nền văn hóa của họ; và đối với trường hợp các nhóm thiểu số trong thế giới Thiên chúa giáo hiện đại, những tín đồ Tin lành Mennonite và giáo phái Quaker, nó sản sinh ra một hiện tượng có đôi phần tương tự như trường hợp mà người Do-thái phải gánh chịu; đó là chủ nghĩa bè phái, một chủ nghĩa đã đặt nhóm thiểu số ra khỏi nền văn hóa dân tộc rộng lớn hơn.

Ví như có thể gìn giữ các chuẩn mực Thiên chúa giáo trong đời sống gia  đình và giáo phái thiểu số, thì có lẽ cũng đáng để trả một cái giá cho việc đó, ngay cả nếu làm như vậy có thể gây ra sự mất mát một số lợi ích xã hội. Nhưng trong đời sống được tổ chức chặc chẽ của nhà nước thế tục hiện đại, điều này càng lúc càng gây ra những khó khăn cho các thành phần xã hội tách biệt như thế  để có thể tồn tại và duy trì lối sống riêng theo hình thức của một xã hội tôn giáo ngầm hay một nền văn hóa đứng bên lề; bởi vì một nhà nước hiện đại, cho dù trong một thể chế dân chủ như Hoa Kỳ, hay cộng sản như Liên Xô, hoặc Phát-xít như Ý và Đức thời tiền chiến, hoặc dân tộc chủ nghĩa như một số tân bang của Á châu và Phi châu, đã không còn muốn tự trói buộc  mình trong một số chức năng giới hạn nào đó giống như các nhà nước cấp tiến của thế kỷ mười chín. Trên thực tế, tất cả các nhà nước hiện đại đều có tính chất toàn trị, với ý nghĩa tuyệt đối của từ này, khi chúng tìm cách thâu tóm mọi hoạt động kinh tế, văn hóa và chính trị vào sự ảnh hưởng của mình. Chúng gánh vác trách nhiệm đối với tất cả các hình thức hoạt động cộng đồng mà trước đây thường do cá nhân hoặc những tổ chức xã hội độc lập như nhà thờ đảm nhận, và giám sát đời sống của công dân từ thuở lọt lòng đến khi nằm xuống.

Vì thế, ngay cả nhà nước dân chủ hiện đại tại Mỹ cũng hoàn toàn khác với hình thức nhà nước đã được dự định bởi các bậc tổ phụ, những người tạo ra bản hiến pháp liên bang. Nhìn chung, người ta có thể nói rằng họ đã từng là kẻ thù của tình trạng can thiệp của nhà nước, đồng thời mục đích của họ là nhắm đến việc kiến tạo một hệ thống cho phép cộng đồng và cá nhân tự do làm chủ vận mệnh và dựng lên các định chế văn hóa cho chính mình. Tuy nhiên, nhà nước dân chủ hiện đại cũng có phần nào mang dáng dấp của giáo hội. Nó là nhà giáo dục và kẻ hướng dẫn tinh thần cho công dân của nó, và bất cứ tác động nào nhằm đưa người dân, đặc biệt là con em của người dân, thoát khỏi sự dẫn dắt phổ biến này đều bị coi như là một hành động đáng chê trách, nếu không nói là bất trung.

Rõ ràng tình trạng như thế là một mối hiểm họa đối với một xã hội Thiên chúa giáo. Tại Hoa Kỳ, ít ra, mối hiểm nguy ấy hiện nay không có tính chất gay gắt. Chừng nào mà đa số dân biểu quốc hội Hoa Kỳ vẫn còn là tín đồ của nhà thờ, dẫu chỉ trên danh nghĩa, thì ít có khả năng nhà nước liên bang sẽ áp dụng một chính sách chống Thiên chúa giáo một cách chủ động, nhưng tương lai chắc sẽ  có nhiều điều bất ổn xảy ra. Nền giáo dục công càng được triệt để thế tục hóa, thì nhà nước sẽ càng đòi hỏi sự độc quyền về giáo dục, và chắn chắn yếu tố Thiên chúa giáo càng lúc càng bị thu hẹp trong nền văn hóa của chúng ta; khi đó, sự chiến thắng toàn diện của tiến trình thế tục hóa nhà trường sẽ sớm đến. Ngày nay, trường công hầu như không còn được xem như là một học viện thuần túy theo ý nghĩa của thế kỷ mười chín – có nghĩa là nơi cung cấp sự hướng dẫn căn bản các kiến thức truyền thống về khoa học và văn chương – nhưng được xem là nơi rèn luyện tinh thần về ý thức công dân, nơi truyền bá và khai tâm theo lối sống Mỹ; và vì trường công, về cơ bản, mang tính chất thế tục, do đó chỉ những yếu tố văn hóa Mỹ mới được nhìn nhận là có giá trị. Từ đây, chỉ bước thêm một bước ngắn nữa là đến nơi mà tại đó, lối sống Thiên chúa giáo bị lên án và đặt ra ngoài vòng pháp luật như là một sự chệch hướng khỏi những khuôn mẫu chuẩn mực của cách hành xử xã hội.

Người Thiên chúa giáo, tương tự như người Do-thái, cho rằng kính sợ Thượng đế là bước khởi đầu của sự thông tuệ, vì thế, không thể có nền giáo dục chân chính nào mà lại thiếu vắng sự hiểu biết về Thượng đế. Nền văn minh thế tục hiện đại của chúng ta thì quyết định đi theo chiều hướng ngược lại. Cựu giám đốc UNESCO, tiến sĩ Julian Huxley, cách đây không lâu, đã phát biểu: “Ngày nay, Thượng đế đang trở thành một giả thuyết sai lầm trong tất cả mọi giác độ thực tế, kể cả đời sống tâm linh của nhân loại.” Thế cho nên, có vẻ rõ ràng là tình trạng hiện tại của thế giới hậu Thiên chúa giáo, một thế giới không còn mang đặc tính Thiên chúa giáo, nhưng vẫn duy trì một sự đồng cảm mơ hồ hoặc một sự gắn bó tình cảm với các lý tưởng luân lý Thiên chúa giáo, về mặt bản chất, chỉ là một tình trạng nhất thời. Và trong một nền văn minh phi Thượng đế như thế này, sẽ khó khăn hơn nhiều cho người Thiên chúa giáo tồn tại và hành đạo so với trước đây, thậm chí so với thời kỳ bị bách hại. Trong quá khứ, chẳng hạn như dưới thời đế chế La-mã, gia đình là một xã hội biệt lập, hầu như không bị tác động bởi nhà nước, do đó, có thể trở thành bộ phận căn bản của một xã hội và nền văn hóa Thiên chúa giáo chưa được nhìn nhận. Nhưng ngày nay, sự tồn tại của gia đình trong vai trò là một đơn vị xã hội đang bị đe dọa bời sự ảnh hưởng mang tính thuyết phục toàn diện của nhà nước và nền văn hóa thế tục đại chúng. Tuy nhiên, nếu không có gia đình Thiên chúa giáo, không thể có xã hội Thiên chúa giáo, đồng thời cũng thực sự không có nhà thờ theo ý nghĩa truyền thống của danh từ này; họa chăng chỉ có một số ít cá nhân rải rác, những người ủng hộ một nhà tiên tri cô độc nào đó, một Elias[2] nhạt nhòa, không còn được tin theo.

Nhưng vấn đề là chẳng lẽ ý niệm về sự quay về với nền văn minh Thiên chúa giáo lại không thích hợp với các điều kiện xã hội hiện đại, một xã hội được cả người Thiên chúa giáo lẫn người thế tục chấp nhận? Chắc chắn không thể có vấn đề quay trở lại với chế độ cũ, chế độ của sự liên kết giữa giáo hội và nhà nước hoặc của sự thống trị của giáo hội đối với xã hội. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chúng ta có thể loại bỏ mô hình lý tưởng của nền văn minh Thiên chúa giáo hoặc nhu cầu tìm về một sự hòa hợp tinh thần. Cương thổ của Thượng đế rất bao la: không có yếu tố đời sống nhân loại nào đứng ngoài hoặc không lệ thuộc vào cương thổ ấy. Bản chất của Thiên chúa giáo nằm ở chỗ nó là một tôn giáo làm biến chuyển thế giới. Nó làm thay đổi con người, và thông qua diễn biến của tiến trình này, nó làm đổi thay xã hội và nền văn minh. Đức giáo hoàng Pius X, cách đây nửa thể kỷ, đã viết: “Khôi phục mọi điều theo ý Chúa luôn luôn là tôn chỉ của giáo hội, khôi phục theo ý Chúa không chỉ những gì trực tiếp thuộc về sứ mệnh dẫn dắt linh hồn đến với Thượng đế của giáo hội, mà còn, như chúng tôi đã giải thích, những gì phát nguyên một cách tự nhiên từ sứ mệnh này, nghĩa là, khôi phục tất cả những yếu tố tạo nên nền văn minh Thiên chúa giáo.”

Quan điểm này được phổ biến thông qua hàng loạt các thông tri xã hội của Giáo hoàng từ thời Giáo hoàng Leo XIII cho đến nay, và tôi không nghĩ sẽ có người đặt vấn đề đây có phải là lời huấn thị được thừa nhận của giáo hội Thiên chúa giáo La-mã hay không. Lẽ dĩ nhiên người ta có thể phản đối rằng điều này không tốt cho người Tin Lành, và đây là điểm khác nhau chủ yếu giữa Tin Lành và Thiên chúa giáo La-mã. Điều này hẳn nhiên là đúng đối với người Tin Lành, và trong thời đại của chúng ta, sự phản đối quan niệm văn minh Thiên chúa giáo đã trở thành một trong những dấu hiệu của trường phái Thiên chúa giáo hiện sinh tân Kierkegaard, trường phái có nhiều tác động đến giới trí thức tôn giáo. Tuy nhiên, theo sự hiểu biết của tôi, sự phản đối ấy, nhìn chung, chưa bao giờ là đặc điểm của đạo Tin Lành. Một trong các tư tưởng gia Tin Lành Anh quốc có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ vừa qua, F. D. Maurice, đã đưa lời khẳng định cương quyết về quyền năng bao trùm của đức Ki-tô đối với mọi lãnh vực văn hóa nhân loại và mọi hình thức đời sống con người thành điểm trọng tâm trong toàn bộ các lời huấn giảng của mình; và một trong các môn sinh của ông, Canon Alec Vidler, qua nhiều cuộc thuyết trình tại Hoa Kỳ vài năm trước, đã cho rằng mặc dầu Maurice có thể là một tư tưởng gia cô độc, nhưng nhiều quan điểm của ông hiện đang được tán thành bởi phần đông các nhà thần học giáo điều tiêu biểu nhất trong thời đại chúng ta.

Hoa Kỳ là một quốc gia có một truyền thống lâu đời về chủ nghĩa cá nhân và về các hoạt động chính trị-xã hội của những cộng đồng thiểu số.  Truyền thống này không quan tâm đến vấn đề văn minh theo khía cạnh tôn giáo, và nếu như tôi hiểu đúng, nó có được là nhờ vào sự gặp gỡ của hai khuynh hướng ảnh hưởng khác nhau – một bên là thuyết Calvin về sự chọn lựa của Chúa, và bên kia là sự kiên trì khẳng định một loại kinh nghiệm tôn giáo riêng biệt của những người Tin Lành. Điều này không mang lại giá trị gì cho truyền thống của những người theo thuyết Calvin, bởi vì không có người Tin lành nào có thể kiên trì hơn Calvin trong việc khẳng định tầm quan trọng của các chuẩn mực Thiên chúa giáo đối với đời sống cộng đồng, và trong việc xác quyết trách nhiệm tôn giáo của nhà nước Thiên chúa giáo; và điều tương tự như thế cũng xảy ra đối với người Thanh giáo ở New England. Sự phản đối người Thanh giáo ở nước Anh thế kỷ mười bảy và ở nước Mỹ thời hiện đại xảy ra là vì người Thanh giáo đã cố gắng áp đặt một cách cứng nhắc các chuẩn mực văn hóa và luân lý theo thuyết Calvin lên xã hội. Tuy nhiên, sự công kích ở đây lại không xuất phát từ các nhà thần học, những người đã hoài nghi về khả năng của một nền văn minh Thiên chúa giáo, mà từ các nhà nhân văn, hoặc những người theo chủ nghĩa thế tục mong muốn giải phóng văn hóa thoát khỏi sự kiểm soát của giáo hội.

Ngày nay, các hành động phản đối ấy vẫn còn rất mạnh mẽ. Sự phản đối của người bình thường dành cho nền văn minh Thiên chúa giáo không phải là sự phản đối nền văn hóa trung cổ, một nền văn hóa thâu gộp mọi hành vi của đời sống xã hội vào một trật tự bất khả xâm phạm của những biểu tượng thiêng thánh và các hành động tuân thủ lễ nghi – một nền văn hóa như thế sẽ luôn trở nên xa cách và không thể khuấy động cảm xúc của chúng ta: nó là sự kinh sợ được tạo ra bởi tính khắc nghiệt về luân lý, bởi lệnh cấm rượu, bởi sự kiểm duyệt sách vở, phim ảnh, hoặc bởi sự cấm đoán giảng dạy thuyết tiến hóa sinh học của những kẻ theo trào lưu chính thống trong tôn giáo.

Nhưng điều mà những người ủng hộ nền văn minh Thiên chúa giáo mong muốn không phải là hành động thu hẹp chân trời văn hóa như vậy, mà là điều ngược lại: khôi phục yếu tố tâm linh trong đời sống xã hội, một yếu tố mà vì thiếu nó, nền văn hóa của thế giới hiện đại đã trở nên u tối và bị tổn thương. Chúng ta đạt được nguồn sức mạnh và tri thức mới mà nền văn minh Thiên chúa giáo cũ hầu như không dám mơ ước tới. Tuy nhiên, chúng ta, đồng thời, cũng đã đánh mất cái nhìn mang tính chất tâm linh vốn có trước đây – ý nghĩa về một thế giới vĩnh hằng mà thế giới phù du, tạm bợ của con người tùy thuộc vào. Cách nhìn này không chỉ là cách nhìn của Thiên chúa giáo, mà nó còn là quan điểm cơ bản của nhiều nền văn minh vĩ đại của phương Đông và thế giới ngoại giáo; do đó, không phải chỉ mỗi nền văn minh Thiên chúa giáo đang lâm vào cảnh hiểm nguy. Đến đây, tôi chợt nghĩ John Baillie, trong cuốn sách nhỏ Văn Minh Thiên Chúa Giáo Là Gì? (What is Christian Civilization?) của ông, đã thực hiện một sự phân biệt cần thiết và hữu ích khi ông phản đối việc dùng từ “ngoại giáo” để mô tả một xã hội thế tục.

“Từ ngoại giáo thường được dùng một cách thiếu suy nghĩ để gán cho người không có tình cảm tôn giáo và không thờ phượng thần linh. Nhưng những người ngoại giáo, trên thực tế, lại chan chứa tình cảm tôn giáo, và sai lầm căn bản của họ phần nào là do hành động thờ phượng quá nhiều thần linh. Ngày nay, sự chọn lựa không nằm ở chỗ trở thành người Thiên chúa giáo hay trở thành người ngoại giáo, mà ở chỗ trở thành người Thiên chúa giáo hay không theo tôn giáo nào cả, không nằm ở chỗ thuộc về giáo hội hay thuộc về một cộng đồng tôn giáo mang tính xã hội nào đó – tức là một sự chọn lựa mang tính tận trung, mà ở chỗ thuộc về Giáo hội hay không thuộc về một tổ chức nào cả – tức là sự chọn lựa mang tính không trung thành tuyệt đối với bất cứ điều gì. Tấn thảm kịch như thế liên tục xảy đến trong đời sống thường nhật của chúng ta, một đời sống không tùy thuộc vào chỗ dựa nào, một đời sống không có lấy một mái ấm tâm linh, một đời sống không dung chứa các chuẩn mực tối thượng và có rất ít ý niệm rõ ràng về hướng đi mà nó khát khao cất bước.”

Tôi nghĩ đây là lời chẩn đoán xác thực về nền văn minh hiện tại của chúng ta.  Nhưng xã hội không thể nào chỉ là một thực thể bất động đứng giữa vùng đất thiếu vắng bóng dáng tâm linh như thế. Chắc chắn nó sẽ trở thành con mồi cho những xúc cảm bẩn thỉu đang tìm cách trú ngụ trong tâm hồn trống rỗng của con người; bởi vì một xã hội thế tục không có một cứu cánh nào ngoài sự tự thỏa mãn của chính nó sẽ luôn là một xã hội quái đản, một sự phát triển mang tính ung hoại, cuối cùng rồi sẽ tự hủy diệt. Sức mạnh duy nhất có thể giải phóng con người thoát khỏi vương quốc đen tối này chính là đức tin Thiên chúa giáo. Trong thế giới phương Tây hiện đại, không hề có các giải pháp chọn lựa nào khác, không hề có tôn giáo nào khác có khả năng làm được điều ấy. Nó là sự lựa chọn hoặc là Thiên chúa giáo hoặc là không còn gì để lựa chọn. Và như thế, Thiên chúa giáo vẫn là sự chọn lựa thích hợp. Văn hóa và các yếu tố bị phân tán của truyền thống Thiên chúa giáo vẫn tồn tại trong thế giới hiện đại, dẫu cho hiện thời có bị lãng quên hay chối bỏ. Do đó, khôi phục nền văn minh Thiên chúa giáo không phải là tạo dựng ra một nền văn minh hoàn toàn mới mẻ, mà đúng hơn là một hành động khơi dậy hoặc tái kích hoạt các yếu tố văn hóa có trong khối thiểu số Thiên chúa giáo. Nền văn minh của chúng ta đã bị thế tục hóa trên quy mô rộng lớn, bởi vì Thiên chúa giáo đã thực hiện một quan điểm thụ động, khiến cho vai trò lãnh đạo văn hóa đã chuyển sang nhóm thiểu số phi Thiên chúa giáo. Sự thụ động văn hóa này không phải có nguyên nhân từ mối ưu tư mang tính hiện sinh liên quan đến tình trạng khốn khó của con người và sự phán xét thiêng thánh, mà từ khuynh hướng tuân phục xã hội và thái độ sẵn sàng chấp nhận các giá trị của một xã hội thế tục. Chính tính trì trệ của người Thiên chúa giáo trong lãnh vực tri thức và xã hội là trở ngại thực sự cho sự khôi phục nền văn hóa Thiên chúa giáo; bởi vì nếu con số hơn phân nửa dân số của đất nước này là tín đồ của nhà thờ là hoàn toàn chính xác, thì người Thiên Chúa giáo hầu như không thể nói rằng họ không có sức mạnh để tạo ảnh hưởng đến xã hội. Vấn đề nằm ở sự thiếu ý chí, chứ không phải thiếu sức mạnh.

Nguồn: Chistopher Dawson, The Historic Reality of Christian Culture, Harper & Bros. xuất bản, 1960.


[1] Hebrew Torah: năm quyển đầu tiên của kinh Cựu Ước.

[2] Nhà tiên tri người Do-thái, sống vào thế kỷ IX trước CN.

Bình luận

3 Comments (bài “Christopher Dawson – Văn minh Thiên Chúa giáo là gì?”)

  1. Tôn Nguyễn viết:

    Khi mà tinh thần coexistence giữa các tôn giáo không được tôn trọng như thì sự phê phán cái tinh thần này nảy sinh.

    Nó có thể được hiểu là chấp nhận tôn giáo khác chứa đựng ít nhiều giá trị và như vậy cũng là chấp nhận tôn giáo của mình chưa hoàn chỉnh. Điều này có lẽ đúng với các tôn giáo có tầm cỡ quốc tế như Công giáo, Hồi giáo, Tin lành, Phật giáo…

    Đối với Thiên Chúa giáo (Ky Tô giáo?) sự tồn tại của nó hình như đang đi xuống nhất là tại các nước văn minh tiên tiến qua việc tín đồ bỏ đạo hàng loạt. Bây giờ người ta nhắm vào các nước ở Phi châu là nơi dân trí tương đối kém và mức sống nghèo nàn.

    Đối với giới trí thức – nếu xem họ là người hiểu biết rộng và nhiều – thì Thiên Chúa giáo khó có chỗ đứng trang trọng trong họ bởi nếu đã là tín đồ, họ mặc nhiên chấp nhận một sự đã rồi mà sự đã rồi này thường đối kháng với lý luận và không có cơ sở khoa học. Thí dụ Chúa tạo ra con người trong một giây phút ngắn ngủi hay con người tiến hóa từ những vi sinh vật ở biển từ thủa sơ khai của trái đất?. Hai điều nghịch lý không thể cùng đúng. Trái đất đã có từ lâu lắm và sự phát triển của nó xảy ra vô cùng phức tạp chứ không đơn giản như trong kinh điển viết.

    Khoa học đã từng làm ra nhiều phép lạ chứ chưa tôn giáo nào tạo được bất kỳ một phép lạ. Do vậy trong tương lai tôn giáo nào đối kháng với khoa học sẽ khó có thể tồn tại lâu.

    Có nên cho rằng tôn giáo nào phù hợp với cách lý luận khoa học và hòa hợp với những giá trị đạo lý của con người sẽ tồn tại lâu bền chăng?.

  2. NguyenAustin viết:

    Trích:”Sức mạnh duy nhất có thể giải phóng con người thoát khỏi vương quốc đen tối này chính là đức tin Thiên chúa giáo. Trong thế giới phương Tây hiện đại, không hề có các giải pháp chọn lựa nào khác, không hề có tôn giáo nào khác có khả năng làm được điều ấy. Nó là sự lựa chọn hoặc là Thiên chúa giáo hoặc là không còn gì để lựa chọn.”
    Nguồn:Chistopher Dawson, The Historic Reality of Christian Culture, Harper & Bros. xuất bản, 1960.

    Nhận xét:
    Tác gỉa đưa ra nhận định này vào khoảng thập niên 50-60. Sau gần nửa thế kỷ hãy nhìn lại những vụ bê bối tình dục hiện nay của các linh mục được phát hiện ngay tại những “ vương quốc Thiên chúa giáo” , hãy nhìn xem con số tín đồ bỏ đạo và sự phát triển của các tôn giáo khác tại các vương quốc này và hãy tìm hiểu xem có thật sự là không có tôn giáo nào có khả năng chuyển hóa được con người khỏi “vương quốc đen tối” hay không để thấy rằng những nhận định này qúa sai lầm và lạc hậu.

  3. […] Kitô giới. Bài “Văn minh Thiên Chúa Giáo là gì?” được đăng trên diễn đàn talawas , do Cao Huỳnh Linh dịch từ cuốn “The Historic Reality of Christian Culture” của […]

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...