Đáp số cho một bài viết
05/05/2009 | 9:53 sáng | 5 phản hồi
Chuyên mục: Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: Tự do sáng tạo
Trong bài Tự do trong sáng tạo, tác giả Trần Văn Tích viết rằng tôi đã “cho biết âm nhạc, hội hoạ không được hưởng tự do tuyệt đối.” Thực ra tôi không hề khẳng định như vậy.
Bài viết Âm nhạc, hội hoạ, và kiểm duyệt của tôi, tóm tắt lại, chỉ gồm hai ý sau:
1. Muốn hiểu được âm nhạc và hội họa thì cũng cần phải học, và khi đã học rồi thì sẽ tránh được những tranh cãi vô bổ.
2. Ở các nước văn minh dân chủ (như Nhật Bản) chính quyền không can thiệp vào nghệ thuật.
Điều 21 trong Hiến pháp Nhật Bản viết: “Quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận, tự do báo chí và tất cả các dạng khác của biểu hiện được đảm bảo. Không được duy trì kiểm duyệt. Không được xâm phạm bí mật thông tin dưới mọi hình thức.” Như vậy có nghĩa là, ở Nhật Bản, kiểm duyệt là vi hiến.
Như một số người Việt Nam khác, tôi cũng muốn đất nước của tôi trở thành một nước văn minh dân chủ, và nghệ sĩ Việt Nam nói riêng cũng như tất cả người dân Việt Nam nói chung cũng được hưởng quyền tự do cao nhất của con người là tự do ngôn luận và tự do biểu hiện, như các bạn nghệ sĩ và công dân Nhật Bản. Vì thế tôi đề nghị nhà nước Việt Nam “giải tán mọi cơ quan kiểm duyệt văn hoá cũng như bãi bỏ việc bắt các nghệ sĩ phải xin phép xuất bản, triển lãm, trình diễn tác phẩm của mình” để “trả lại cho công chúng quyền tự đánh giá và phán xét” càng sớm càng tốt. Đi đôi với việc này là việc đổi mới hệ thống giáo dục đang hết sức trì trệ ở Việt Nam, ít nhất là theo một số giải pháp rất cụ thể như tôi đã đề xuất trong bài “Tại sao giáo dục Việt Nam khủng hoảng và đâu là lối thoát” viết cách đây 5 năm, trong đó có việc: 1) đưa âm nhạc và mỹ thuật vào giảng dạy ở trường phổ thông, 2) tư nhân hoá toàn bộ việc xuất bản sách giáo khoa, 3) đảm bảo cho các thày cô có thu nhập nuôi sống được gia đình họ, và 4) bãi bỏ toàn bộ kỳ thi vào đại học.

Jean-Auguste-Dominique Ingres: La Grande Odalisque (1814), Musée du Louvre
Tôi muốn lưu ý rằng, trong bài viết của tôi, vài cô cậu học sinh Nhật tự bịt mắt mình khi nhìn thấy tranh khỏa thân là học sinh trung học (có thể mới chỉ là năm đầu, tức độ 13 tuổi). Sau khi tốt nghiệp 3 năm trung học, bước vào cao học (tức 16 tuổi ), tất cả học sinh ở Nhật đều đã được dạy kỹ về mỹ thuật thế giới, bao gồm từ bức “La Grande Odalisque” không mảnh vải che thân của Dominique Ingres tới các kiệt tác của Salvador Dalí mà ông Trần Văn Tích gọi là các bức tranh “siêu thực mê sảng“, hay các tranh khỏa thân của Paul Cézanne, Henri Matisse v.v. Dĩ nhiên là các cô cậu bây giờ không việc gì phải tự bịt mắt mình nữa sau khi đã được học và đã tạm hiểu thế nào là nghệ thuật. Và cũng vì vậy mà ta cũng không ngại các cô cậu sẽ lẫn lộn tự do tuyệt đối trong sáng tạo nghệ thuật với tự do… tốc váy trước mặt nữ hoàng Anh, như ông Trần Văn Tích đã lo xa.
Còn về các “quy định rõ ràng” của một vài địa điểm công cộng ở Nhật thì, như tôi đã giải thích, lý do là vì có nhiều trẻ nhỏ lui tớí. Điều này cũng tương tự như TV (ở Nhật) có các chương trình dành cho người lớn, mà trẻ em không nên xem, hay các hiệu cho thuê băng video (ở Nhật) có quầy băng sex được che rèm. Đơn giản có vậy thôi. Không phải vì có trẻ em mà đi cấm tất cả các chương trình dành cho người lớn! Bảo tàng ở Kyushu không muốn treo tranh vẽ bom nguyên tử nổ trên đầu Nhật Hoàng Showa vì ban giám đốc sợ những người cánh hữu đến sinh sự, chứ không phải do quy định kiểm duyệt của ban văn hoá tư tưởng nào đó của nhà nước. Khác với bảo tàng ở Kyushu, tại nhiều nơi khác ở Nhật người ta không sợ những người cánh hữu. Ví dụ bức tranh nói trên vẫn được triển lãm ở một bảo tàng tại Tokyo mà chẳng gặp rắc rối gì. Cách đây vài năm đã có vụ chủ bút một tờ báo lớn của Nhật bị một người cánh hữu hành hung (ném gạt tàn thuốc lá vào đầu, gây thương tích) chỉ vì đã không in hết các tước hiệu của hoàng thái tử Nhật Bản trong một bài báo, nhưng từ chối đính chính với lý do rằng điều đó không cần thiết trong phạm vi tự do báo chí. Tất nhiên toà án đã ra lệnh bắt và tuyên phạt người đã hành hung ông chủ bút. Các ví dụ như vậy trong các lĩnh vực ở trong cũng như ngoài nghệ thuật ở Nhật cũng như ở các nước văn minh khác có thể kể không hết. Chẳng hạn English Garden ở Munich có hẳn một khu cho người lớn trẻ con phơi nắng và vui chơi mà lại… khoả thân hoàn toàn gọi là FKK (Freie Körperkultur = Free Body Culture, tức là “Văn hoá tự do thân thể”). Ai thấy bị xúc phạm cứ việc đi chơi chỗ khác. Song tôi không muốn sa vào các ví dụ lạc đề này để khỏi làm độc giả phân tán. Quay lại vấn đề tự do sáng tạo, Hiến pháp của Nhật Bản cho ta thấy rằng chính kiểm duyệt trong văn học nghệ thuật mới xúc phạm nhân phẩm của văn nghệ sĩ và công chúng.
Các nhận xét từ cuốn Prétextes (1903) của André Gide như câu ở đầu bài viết của ông Trần Văn Tích cũng như đoạn “nghệ thuật luôn luôn có cưỡng chế là hệ luận. Nghĩ rằng nghệ thuật càng vươn lên cao khi càng có tự do cũng giống như nghĩ rằng cái dây níu con diều giấy lại không cho nó tung hoành trong bầu trời…” mà ông Trần Văn Tích đã trích dẫn nhưng lại quên không để trong ngoặc kép, cần được hiểu đúng văn cảnh của chúng. Nguyên văn câu này của Gide là: “L’art est toujours le résultat d’une contrainte. Croire qu’il s’élève d’autant plus haut qu’il est plus libre, c’est croire que ce qui retient le cerf-volant de monter, c’est sa corde.” Tuy nhiên dịch: “L’art est toujours le résultat d’une contrainte.” thành “Nghệ thuật luôn luôn có cưỡng chế là hệ luận.” theo tôi không được chính xác, nếu không nói là nhầm lẫn. Câu này cần được dịch là: “Nghệ thuật luôn là kết quả của một sự hạn chế do bị ràng buộc.” thì đúng hơn, vì “cưỡng chế” (强制) trong tiếng Hán – Việt có nghĩa là “dùng sức mạnh để bắt phải tuân theo”. 34 tuổi, Gide nhận ra rằng “Vẻ đẹp không bao giờ là một sản phẩm tự nhiên; mà chỉ có được nhờ những hạn chế nhân tạo. Nghệ thuật và Tự nhiên cạnh tranh với nhau trên trái đất.“(Nguyên văn: “La beauté ne sera jamais une production naturelle; elle ne s’obtient que par une artificielle contrainte. Art et Nature sont en rivalité sur terre.” – Nouveaux Prétextes, 1904). Điều này khá đơn giản nếu ta nhớ tới, chẳng hạn, tỉ lệ vàng như một hạn chế phải tuân theo trong nghệ thuật và kiến trúc từ thời Phục hưng. Những hạn chế do ràng buộc này từng được các thiên tài vận dụng để tạo nên các kiệt tác. Ví dụ, chỉ dùng đá cẩm thạch mà Michelangelo gây cho ta ảo giác về da thịt trên tượng David. Chỉ dùng phấn đỏ và giấy mà Leonardo Da Vinci đã tả chất liệu của nếp vải rất tuyệt vời. Moses variations được Nicolo Paganini viết cho riêng một dây Sol của đàn vĩ cầm (violin). Đó là những vẻ đẹp do con người sáng tạo ra trong phạm vi các hạn chế do chất liệu ràng buộc. Nhưng cũng chính vì thế mà đó là những vẻ đẹp không thể có được trong tự nhiên. Song, những hạn chế ràng buộc để tạo nên các vẻ đẹp đó chẳng liên quan gì đến tự do sáng tạo bị cưỡng chế (theo đúng nghĩa của từ này) bởi sự kiểm duyệt của chính quyền mà bài viết của tôi đề cập. Điều này cũng tương tự như việc viết văn theo đúng văn phạm không có liên quan gì đến việc các câu văn bị cắt đi bởi kiểm duyệt. Trong khi đó, ông Trần Văn Tích buộc một độc giả như tôi phải hiểu rằng, nghệ sĩ được ví như con chim, còn kiểm duyệt thì được ví như không khí nâng cánh con chim, nhờ đó mà nó mới “đập cánh tung mình” lên được! Tiếp tục suy diễn “à la Mr. Trần Văn Tích”, ta sẽ thấy nếu không có kiểm duyệt, nghệ sĩ chẳng những không bay lên được, hoặc sẽ rơi tòm từ trên không xuống nếu đang bay, mà còn chết tươi vì thiếu không khí để thở hít.
Chúng ta không nên quên rằng, các tác phẩm của André Gide phản ánh một cuộc đấu tranh nội tâm giữa một bên là các ước lệ xã hội, một bên là cái Tôi chân thật nhất mà Gide luôn muốn đạt tới. Cũng không nên quên rằng, vào năm 1904 Gide chỉ có thể biết được đến hội hoạ và âm nhạc ấn tượng là cùng. Thậm chí trường phái dã thú (fauvism) phải một năm sau mới được nhận tên khai sinh tại Salon d’Automne ở Paris (năm 1905), nói chi đến hội họa lập thể (cubism), trừu tượng (abstractionism), siêu thực (surrealism), cực thực (hyperrealism), hay âm nhạc phi điệu (atonal music) của Arnold Schönberg, v.v… sau này, là những thứ ngày nay đã trở thành kinh điển cho những ai học hội hoạ và âm nhạc. Năm 1930, tức là 26 năm sau khi viết Prétextes và Nouveaux Prétextes, Gide (lúc đó đã 61 tuổi) được mời sang thăm Liên Xô với tư cách là một nhà văn thân cộng. Kết quả của chuyến đi này là cuốn Từ Liên Xô trở về (Retour de L’U.R.S.S.) viết năm 1936, trong đó Gide cho thấy ông đã “sáng mắt” ra như thế nào sau khi được mục kích xã hội Liên Xô dưới chế độ của Stalin. Ông nói ông phải viết cuốn sách đó để “nhân dân lao động hiểu là họ bị những người cộng sản lừa dối, như họ đang bị Moscow lừa ngày hôm nay” (Que le peuple des travailleurs comprenne qu’il est dupé par les communistes, comme ceux-ci le sont aujourd’hui par Moscou.) Quá trình sàng lọc vẫn tiếp tục. Vài thế kỷ nữa, nhân loại sẽ chỉ giữ lại những giá trị đích thực từ những gì chúng ta biết và trải nghiệm ngày hôm nay. Những gì gượng ép, xấu xa, phi nhân tính, chống lại loài người, sớm muộn sẽ bị loại bỏ, cho dù thời gian có thể mất tới 74 năm, hoặc lâu hơn nữa.
“Bao năm trời tôi tưởng tôi la hét trong sa mạc hoang vu không có ai nghe, sau đó thì cũng chỉ nói được với một số rất ít thính giả, song hôm nay các vị đã chứng minh cho tôi thấy rằng tôi đã đúng khi tin vào tư chất của một thiểu số, và rằng sớm hay muộn thiểu số đó sẽ thắng thế.” Đó là lời của André Gide trong diễn từ nhận giải Nobel Văn chương năm 1947 mà tôi trích thay lời kết với hy vọng cái ngày Việt Nam có được một André Gide của mình sẽ không còn quá xa.
Tokyo 4/5/2009
© 2009 Nguyễn Đình Đăng
© 2009 talawas blog
Phản hồi
5 phản hồi (bài “Đáp số cho một bài viết”)


Kính thưa ông Phạm Quang Tuấn,
Mấy hôm nay cái màn ảnh máy vi tính của tôi bị hỏng, phải đi mua cái mới nên chậm hồi đáp phản hồi của ông. Dầu sao cũng nhờ thế mà chúng ta được nghe thêm những tiếng nói mới.
Để tập trung vào “thiển ý” của ông theo đó, cộng đồng tỵ nạn Úc “phải hơn ở tinh thần dân chủ, đa nguyên, bao dung, cởi mở, hiểu biết (…)”, tôi xin có ý kiến là có vẻ như đồng bào chúng ta ở Úc đã cố gắng hành xử như vậy. Tôi ở xa, chỉ biết chi tiết qua những người trực tiếp hoặc gián tiếp sinh hoạt cùng cộng đồng và được biết là cộng đồng đã đối thoại (với cả Úc lẫn Việt), hơn nữa, đã từng tham gia triển lãm trong quá khứ. Nhưng rồi vì những bất đồng sau đó nên đã có sự bất bình, thậm chí tẩy chay triển lãm. Chuyện này khiến tôi nhớ lại là chỉ cách đây không lâu, Hoa Kỳ, Đức đã không tham dự một hội nghị của Liên Hiệp Quốc ở Thụy Sĩ vì trong dĩ vãng, hội nghị này đã là diễn đàn bài Do Thái.
Qua trung gian talawas blog, đã có sự liên lạc trực tiếp bằng điện thoại giữa hai vị “chủ chốt”. Có vị đã nêu hẳn câu hỏi phải chăng bây giờ là lúc chúng ta nên ngồi lại cùng nhau.
Chúng ta có lẽ nên vui mừng vì diễn biến tương đối khả quan trong vụ CPM, NM này.
Thưa ông Lê Diễn Đức,
Talawas blog có cái dở (!) là cho mình cơ hội viết đôi dòng để trao đổi thật lẹ nhưng cũng vì vậy mà thành ra đôi khi mình viết chưa hẳn đúng với điều mình nghĩ. Có vẻ như ông cũng ở vào hoàn cảnh đó. Ông trích câu văn của tôi trong đó có mấy chữ “ngưng lại đúng lúc” để rồi liền ngay sau đó, ông bảo “sáng tạo mà phải ngưng lại, bất kỳ lúc nào (…)”.
Thực ra vì đầu dây mối nhợ câu chuyện chúng ta trao đổi hôm nay là cuộc triển lãm ở Úc trong đó hội hoạ gây phản ứng không thuận lợi của cộng đồng nên tôi đã tập trung vào nội dung hạn chế tự do trong sáng tạo nghệ thuật (kiến trúc, điêu khắc, sân khấu, hội hoạ). Nếu chúng ta bước sang lĩnh vực văn chương, sự hạn chế tự do càng rõ hơn nữa.
Khi tôi viết những dòng này, tôi không hoàn toàn tự do, tôi không tự do tuyệt đối. Để nói cho cụ thể (vì nếu nói về lý thuyết thì nhiều lắm, dài lắm), tôi xin trình bày cùng ông 2 điều hạn chế. Điều 1: ngôn ngữ ràng buộc tôi: tôi phải viết đúng chính tả, đúng văn phạm, tôi phải chọn đúng chữ, đúng lời; nếu không, tôi sẽ thành ra phóng túng, lập dị. Điều 2: cả ông lẫn tôi, chúng ta đang là thành viên của một tập thể mà đảng trưởng là nữ Phạm Giáo chủ. Chúng ta bị ràng buộc bởi các qui định của tập thể liên hệ mà chúng ta là hai thành viên. Cho nên chúng ta phải biết ngưng lại đúng lúc ông ạ. Chắc ông đã biết là có bài viết được (hay bị) bỏ bớt đoạn cuối trước khi xuất hiện trên talawas blog?
Mong được tiếp tục đọc ông. Hy vọng có ngày gặp ông. Ba Lan và Đức không xa mà.
Ông Trần Văn Tích sau khi giải thích đôi điều (tôi không có ý kiến gì) nhưng từ trên trời tự dưng ông phán một câu cứ như Ban Tư tưởng Văn hoá nào đó nói xuống (khi nhìn nhận về bức tranh tuyệt tác mà ông Nguyễn Đình Đăng minh hoạ trong bài, treo trong Bảo tàng Louvre mà già trẻ, lớn, bé đều có thể tham quan, chiêm ngưỡng: “tôi thì cho rằng đây cũng là điểm ngừng lại đúng lúc của tự do trong sáng tạo“.
Nếu trong tự do, sáng tạo mà phải ngưng lại, bất kỳ lúc nào, thì theo tôi, sẽ không còn sáng tạo trong nghệ thuật nữa. Nghệ thuật là sáng tạo. Muốn có sáng tạo phải có tự do tuyệt đối. Còn sản phẩm nghệ thuật cụ thể nào đó hợp nhãn với ai, với giới nào là một chuyện hoàn toàn khác!
Ông Trần Văn Tích nói: “Cộng đồng tỵ nạn không thể “qui định rõ ràng” điều gì hết vì lẽ giản dị nó không có quyền “qui định rõ ràng”; qua đó, thương xác rằng khi có người lên án những kẻ đã từ bỏ chế độ cộng sản lại cũng quay lại hành động y như cộng sản, thì việc lên án như vậy là thiếu công bình“.
Nói như ông Trần Văn Tích thì cũng giống như bảo xin đừng so sánh tôi với tên ăn cướp kia, tôi không có súng như nó. Nói như vậy không làm cho người nghe cảm thấy yên tâm lắm về ưu điểm của cộng đồng người Việt hải ngoại so với VN. Chẳng lẽ “ta” chỉ hơn “họ” ở chỗ KHÔNG có công an, KHÔNG có quân đội, KHÔNG có nhà tù, KHÔNG có súng ống, KHÔNG có quyền qui định, v.v.? Vậy nếu “lỡ” ta có những thứ đó thì sao?
Đáng lẽ thì phải hơn ở tinh thần dân chủ, đa nguyên, bao dung (tolerant), cởi mở, hiểu biết, tự do, bạo dạn, khai phá chứ. Ít ra, đó là thiển ý của tôi.
Khi đọc bài viết trước đây của ông Nguyễn Đình Đăng, tôi hiểu rằng ông nghĩ âm nhạc, hội hoạ không được hưởng tự do tuyệt đối và tôi nêu ra làm dẫn chứng hai dữ kiện do ông trình bày trong bài viết. Hôm nay ông bảo ông không hề có ý nghĩ đó. Vậy tôi xin rút lại sự suy diễn không đúng ý tác giả của tôi.
Thật ra, như hầu hết những trao đổi trên mạng, tôi thấy mình càng trao đổi càng bị kéo đi xa điểm khởi đầu. Mục đích lên tiếng của tôi là góp tiếng nói với cộng đồng tỵ nạn Úc châu về những bức tranh mà tôi nghĩ là dễ gây tranh luận đồng thời thanh minh rằng cộng đồng tỵ nạn không thể “qui định rõ ràng” điều gì hết vì lẽ giản dị nó không có quyền “qui định rõ ràng”; qua đó, thương xác rằng khi có người lên án những kẻ đã từ bỏ chế độ cộng sản lại cũng quay lại hành động y như cộng sản, thì việc lên án như vậy là thiếu công bình.
Nhưng hôm nay thì điểm ra đi đó đã đi vào hư vô (!) và 1) trở thành chuyện tôi dịch Gide không đúng (tôi đâu có dịch, tôi chỉ mượn ý của Gide), 2) hoá thành cách phê phán S. Dali của tôi (tôi đâu có phê phán, tôi chỉ “thuổng” của Le Petit Larousse Illustré, ấn bản 2002, mục từ S.Dali: images oniriques du surréalisme).
Tôi không viết thêm nữa, vì càng viết sẽ càng đi xa điểm ra đi. Chỉ xin được ghi nhận là bức tranh ông Nguyễn Đình Đăng đưa lên talawas blog không cho thấy cái sự đời của mỹ nhân.
Không rõ ông Nguyễn Đình Đăng nghĩ sao nhưng tôi thì cho rằng đây cũng là điểm ngừng lại đúng lúc của tự do trong sáng tạo.