talawas blog

Chuyên mục:

Sự khác nhau giữa Dân chủ và Tự do

28/05/2009 | 12:05 sáng | 6 phản hồi

Tác giả: Hà Sĩ Phu

Chuyên mục: Tư tưởng
Thẻ: > >

Hai khái niệm Tự do (Liberty) và Dân chủ (Democracy) xưa nay thường được hiểu là tương tự, hoặc ít ra thì cũng rất gần nhau, theo hướng giải phóng con người. Quả thực, trong các nước dân chủ phương Tây thì hai yếu tố ấy cũng bện chặt vào nhau để tạo nên một nền Dân chủ – Tự do (liberal democracy). Hầu hết chúng ta đều hiểu Dân chủ và Tự do là hai yếu tố biến thiên cùng chiều như một cặp bài trùng. Vì thế cũng không ai mổ xẻ tách bạch sự khác nhau giữa hai khái niệm ấy làm gì.

Song thực tiễn chính trị đã khiến cho hai từ Dân chủ và Tự do buộc phải được hiểu một cách chính xác hơn (nhưng vẫn cùng chiều), rồi thật bất ngờ, dưới bàn tay nhào nặn khéo léo của một số nhà chính trị ở một số quốc gia, Dân chủ và Tự do không bện chặt vào nhau nữa, chẳng những rời nhau ra mà có thể còn chống lại nhau. Từ đó hình thành và phát triển những hệ thống chính trị Dân chủ – nhưng không Tự do (illiberal democracy).

Nhiều chính quyền được bầu lên một cách dân chủ, thậm chí các chính quyền được bầu lại hoặc được tái xác nhận thông qua trưng cầu dân ý, lại càng bất chấp các giới hạn quyền lực do hiến pháp qui định và thường tước đi các quyền và những tự do căn bản của người dân“.

Sự phát hiện điều nghịch lý và khái quát thành lý luận này của Fareed Zakaria, một nhà báo, nhà triết học chính trị với vốn sống chính trị phong phú, thuộc số những nhà trí thức hàng đầu có nhiều ảnh hưởng nhất hiện nay [1], theo tôi là một phát kiến rất lớn, mặc dù nhiều học giả  của thế kỷ 18 và 19 cũng đã bắt đầu “nhìn thấy trong Dân chủ một sức mạnh có thể gây tổn hại cho Tự do”.

Thật vậy, Dân chủ trước hết và chủ yếu được hiểu là quyền làm chủ của dân, là sự can dự của dân vào quá trình hình thành bộ máy cai trị. Khi một quốc gia tổ chức các cuộc bầu cử đa đảng, có cạnh tranh, bộ máy cầm quyền do lá phiếu của người dân bầu ra, không ai áp đặt, chúng ta gọi quốc gia đó là dân chủ.

Còn Tự do, theo nghĩa truyền thống và thường được hiến định, là các quyền tự nhiên, bất khả nhượng nên còn gọi là Tự do hiến định (constitutional liberalism), nhằm bảo vệ tính độc lập tự chủ và nhân phẩm của con người trước những chèn ép về chính trị, xã hội, tôn giáo và những cái khác.

Nếu muốn coi Dân chủ cũng là biểu hiện của Tự do thì đó là Tự do chính trị, còn quyền Tự do hiến định chính là Tự do dân sự; một đằng tạo ra chính quyền, một đằng không ngừng chỉnh lý, khống chế chính quyền ấy. Vì Tự do là nền tảng, Dân chủ là thượng tầng nên quan hệ giữa Tự do và Dân chủ là quan hệ hầu như một chiều: Chủ nghĩa Tự do hiến định dẫn đến Dân chủ, nhưng Dân chủ thì dường như không mang lại chủ nghĩa tự do hiến định. Gốc nào thì quả ấy, cho nên “Cái làm thành nét  đặc trưng và tạo ra sự khác biệt giữa các chính quyền tại châu Âu và Bắc Mỹ với các chính quyền khác trên toàn thế giới không phải là dân chủ mà chính là chủ nghĩa tự do hiến định. Biểu tượng tốt nhất của “Mô hình phương Tây” không phải là hệ thống bầu cử đại chúng mà chính là vị quan tòa không thiên vị” (Zakaria).

Nếu vội vàng tạo lập Dân chủ nơi chính quyền trong khi chưa giành được những quyền tự do dân sự trong dân chúng thì đó là thứ Dân chủ không có gốc, nó dễ dàng trở thành phản bội.

Chúng ta vẫn thường nghĩ một cách đạo đức và đơn giản rằng: sự cảnh giác chỉ cần khi chính quyền đối lập với nhân dân, chứ khi nhân dân đã tự gánh vác trách nhiệm thì sự thận trọng là không còn cần thiết. Xin thưa, Alexandr Lukashenko sau khi được bầu làm Tổng thống Belarus một cách dân chủ với đa số phiếu áp đảo trong cuộc bầu cử tự do năm 1994, khi được hỏi về việc giới hạn quyền lực của ông ta, thì chính nhà độc tài này đã tuyên bố “Chế độ độc tài sẽ không có ở đây. Tôi thuộc về nhân dân, vì vậy tôi sẽ cống hiến vì nhân dân!“.

Cũng đừng tưởng rằng khi người cầm quyền do dân bầu ra mà chống lại tự do của dân thì dân sẽ không bầu nữa. Trái lại có thể dân vẫn bầu, mà còn bầu với số phiếu cao nữa kia! Bởi nếu những quyền tự do hiến định không được thực hiện thì những thủ thuật để chiếm lòng dân, để tạo sức mạnh của số đông, để dân lại tiếp tục bầu là điều không khó khăn gì.

Đối với pháp trị, lòng tin dễ thành thuốc độc, bởi tinh thần căn bản của luật pháp là dựa trên sự nghi ngờ. Khi đã cố xây dựng lòng tin làm cẩm nang, làm tiên đề để điều hành xã hội thì luật pháp sẽ bị vận dụng méo mó, sẽ mất hiệu năng và đó là mầm mống bành trướng của quyền lực tuyệt đối.

Sau một diễn tiến Dân chủ thường tạo được lòng tin, nhưng lòng tin lại gây mất cảnh giác nơi dân chúng và là mảnh đất phát sinh lạm quyền, rồi sự lạm quyền sẽ quay lại chống Tự do. Con đường Dân chủ chống lại Tự do cứ khép một đường vòng như vậy. Đừng bao giờ quên rằng khi có quyền trong tay người ta có thể biến thành một người hoàn toàn khác. Chỉ trong một xã hội có Tự do dân sự vững chắc thì sự tha hoá của quyền lực mới được kiềm chế và đường vòng phản hồi chống dân chủ kia mới có khả năng ngăn chặn. Biết đặt sự nghi ngờ lên trước để xử lý thì lòng tin sẽ đến theo sau.

Bằng con mắt tinh tường và với một quan điểm lý luận có hệ thống, Zakaria đã điểm mặt những vùng địa lý chính trị, nơi nào có Dân chủ-Tự do điển hình, nơi nào tuy chưa thật dân chủ nhưng lại có Tự do, ngược lại nhiều nơi chưa có Tự do nhưng lại được xếp vào nước có Dân chủ…

Đặc biệt ông đã nhận ra sự trỗi dậy mạnh mẽ của xu thế Dân chủ phi Tự do (illiberal democracy), như một lối thoát được ngụy trang rất khôn ngoan của những chính quyền cố giữ cho được sự cai trị độc đoán trước một trào lưu dân chủ toàn cầu không thể chống lại. Những chính quyền ở Peru, Palestin, Sierra Leon, Slovakia, Kazakstan, Kyrgystan, Pakistan, Belarus,… và những nhân vật chính trị như Boris Yeltsin, Alexandr Lukashenko, Alberto Fujimori, Carlos Menem,… là những ví dụ điển hình (khi ấy là năm 1997, sau này phải kể thêm Vladimir Putin). Theo Zakaria thì lúc ấy một nửa số các quốc gia đang dân chủ hoá lại là các chế độ Dân chủ phi tự do (illiberal democracy).

Trước sự trỗi dậy của xu thế có Dân chủ nhưng không có Tự do như thế, dân Việt Nam phải làm gì để khỏi sa vào?

Chính trị cũng như thị trường, chẳng qua cũng một Quy luật cung cầu chi phối cả. Có “cầu” ắt có “cung“, và thế nào cũng xuất hiện bọn “cung đểu” (bọn làm hàng giả), quy luật cạnh tranh sinh tồn vốn tiềm tàng tính “bất thiện” như thế. Nhân dân cần Dân chủ và Tự do ư? (và nghĩ rằng hai thứ đó giống nhau), thì sẽ có giới cầm quyền đứng ra nhận thoả mãn nhu cầu ấy. Nhưng đối với giới cầm quyền thì món hàng Dân chủ có “giá thành” rẻ hơn lại ít nguy hiểm hơn so với Tự do, nên họ cứ trưng cái nửa Dân chủ ra trước đã. Nếu dân là người tiêu dùng hồn nhiên, gặp kẻ tiếp thị có nghề là “bập” vào ngay. Thế là dân hoan nghênh, dân bầu ngay, tín nhiệm ngay, rất tự giác, rất dân chủ.

Nhưng như thế là “thượng đế” bị sa bẫy rồi, cái bẫy có tên là Dân chủ phi Tự do. Khi cái ghế quyền lực đã “đúc bê tông” thì số phận cái nửa Tự do kia sẽ thế nào là chuyện “hạ hồi phân giải”!

Chỉ khi nào dân trí đã khôn, đã từng trải, mới biết “nắm đằng chuôi”, mới biết khước từ món “mì chính trị ăn liền” thường rất đậm đà màu sắc địa phương, mà đòi cho được quyền Tự do hiến định, tức Tự do dân sự như dân các nước văn minh được hưởng. Điều tưởng như rất bình dị này mới chính là sản phẩm quốc tế chất lượng cao, đã được lịch sử kiểm định. Người khôn ngoan không đòi ngay con cá mà cố giành lấy chiếc cần câu chính là như vậy.

Trong lúc tôi đang băn khoăn, thai nghén những ý tưởng về chủ đề này thì may mắn thay, cùng một lúc tôi được đọc hai tài liệu cùng của Fareed Zakaria: cuốn Tương lai của Tự do (The Future of Freedom) do trang mạng X-café dịch và đăng nhiều kỳ và bài tiểu luận “Sự trỗi dậy của các chế độ Dân chủ phi tự do” (The Rise of Illiberal Democracy) do Phạm Hồng Sơn dịch và Mai Thái Lĩnh hiệu đính (và được phép chính thức của tạp chí Foreign Affairs). Bài tiểu luận này viết năm 1997 chính là nòng cốt để tác giả phát triển thành cuốn The Future of Freedom năm 2003.

Với những độc giả không có nhu cầu tìm hiểu rộng và chi tiết, chỉ cần nắm được luận điểm chính và những ví dụ điển hình, tôi nghĩ đọc bài tiểu luận “Sự trỗi dậy của các chế độ Dân chủ phi tự do” là thích hợp, trong đó tác giả trình bày ý tưởng một cách ngắn gọn, súc tích và sắc xảo.

Xin chân thành cảm ơn cả hai dịch giả của hai tác phẩm nói trên.

Tháng 5-2009

© 2009 Hà Sĩ Phu

© 2009 talawas blog

________

[1] Fareed Zakaria là một nhà báo Mỹ gốc Ấn Độ. Ông sinh năm 1964 tại thành phố Mumbai (tên cũ là Bombay) thuộc bang Maharashtra – Ấn Độ, trong một gia đình Hồi giáo. Cha ông là Rafiq Zakaria (1920-2005), một học giả Hồi giáo và là một chính trị gia của Đảng Quốc Đại Ấn Độ (Indian National Congress). Mẹ ông, Fatima Zakaria, đã có thời là biên tập viên của tuần báo Times of India (Thời báo Ấn độ). Sau khi học trung học tại Ấn Độ, Zakaria du học tại Hoa Kỳ, tốt nghiệp Cử nhân (B.A.) tại Đại học Yale và lấy bằng tiến sĩ chính trị học (Ph.D. in Political Science) tại Đại học Havard – nơi đây ông được hướng dẫn bởi các vị giáo sư chính trị học nổi tiếng như Samuel P. Huntington và Stanley Hoffmann. Ông nhập quốc tịch Hoa Kỳ vào năm 2001.

Sau khi tham gia một công trình nghiên cứu của Đại học Havard về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, Zakaria trở thành biên tập viên điều hành (managing editor) của tạp chí Foreign Affairs (Các vấn đề đối ngoại) và giữ chức vụ này trong 7 năm (từ năm 1993 đến năm 2000). Tạp chí này là một tập san chuyên đề bàn về các quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, được phát hành hai tháng một lần bởi Hội đồng về Các Quan hệ Đối ngoại (Council on Foreign Relations, CFR). Tháng 10 năm 2000, ông được bổ nhiệm làm tổng biên tập (editor) của tạp chí Newsweek International (tức ấn bản quốc tế của tạp chí Newsweek). Với chức vụ này, ông chịu trách nhiệm trông nom các ấn bản tiếng Anh ở hải ngoại của tờ tạp chí nổi tiếng này, được phát hành khắp châu Âu, châu Á, châu Phi và vùng Trung Đông với trên 3 triệu ruỡi độc giả. Ngoài nhiệm vụ đó, ông còn thường xuyên viết bài cho các tờ báo nổi tiếng ở Mỹ như New York Times, Wall Street Journal, Washington Post, New Republic, v.v… Ông còn cộng tác với nhiều đài truyền hình nổi tiếng như PBS (2005-2007), ABC (2002-2007) và CNN (từ tháng 6 năm 2008). Không chỉ là nhà báo, Zakaria còn là tác giả của một số cuốn sách nổi tiếng như: The Future of Freedom (Tương lai của Tự do, 2003) và The Post-American World (Thế giới hậu – Hoa Kỳ, 2008).

Năm 1999, tạp chí Esquire vinh danh ông là “một trong 21 nhân vật quan trọng của thế kỷ 21″. Năm 2007 ông được các tạp chí Foreign PolicyProspect xếp vào danh sách 100 nhà trí thức hàng đầu được nhiều người biết đến của thế giới. Tháng 1 năm 2009, tạp chí Forbes xếp Zakaria vào danh sách 25 nhà tự do (liberals) có ảnh hưởng nhất trong giới truyền thông Hoa Kỳ.

Bài báo “Sự trỗi dậy của nền dân chủ phi-tự do” (The Rise of Illiberal Democracy) công bố trên tạp chí Foreign Affairs vào tháng 11 năm 1997 là tác phẩm có ảnh hưởng lớn nhất của Zakaria.

(Tư liệu do nhà nghiên cứu Mai Thái Lĩnh cung cấp.)

Phản hồi

6 phản hồi (bài “Sự khác nhau giữa Dân chủ và Tự do”)

  1. [...] xã hội phải có sự thay đổi. Tôi xin góp ý kiến với 3 vị thức giả là các ông Hà Sĩ Phu, Trương Nhân Tuấn, Hoàng Giang về những lí do nêu lên. Sau đó tôi xin đưa ra [...]

  2. [...] (*) Sự khác nhau giữa Dân chủ và Tự do –  http://www.talawas.org/?p=4903 [...]

  3. Thanh nói:

    Một vài cảm nhận từ bài viết của Hà Sĩ Phu và bài “Sự trỗi dậy của các thể chế dân chủ phi tự do” của Fareed Zakaria (Phạm Hồng Sơn chuyển ngữ).

    Tự do là “thể”, còn dân chủ là “dụng”.
    Tự do nhất thiết dẫn đến dân chủ. Nói cách khác, dân chủ là hệ quả tất yếu của tự do.
    Nếu không có tự do, thì dân chủ chỉ là dân chủ “giả cầy”, dân chủ “cuội”.
    Nói dân chủ mà không có tự do chẳng khác nào một cây mà không có gốc rễ vậy.

    Tuy nhiên, ở một xứ như Việt Nam ta bao nhiêu năm nay, những khái niệm này đã bị đánh tráo, lợi dụng bởi những kẻ “buôn bạc giả” đến mức không còn biết được nghĩa thật của nó là gì nữa, đến mức mỗi khi người dân nghe đến những từ cao quý ấy lại cảm thấy dị ứng, rùng mình.
    Thật mỉa mai thay những xứ nào trưng bảng hiệu “dân chủ, tự do” to nhất, lai là nơi chà đạp, phỉ báng nó nhất.
    Tự do, dân chủ (đích thực) vẫn là món hàng quá xa xỉ đối với dân Việt.

    Làm sao để người dân ý thức được đâu là “hàng giả, hàng nhái” cũng là khó. Nhưng… biết mà cũng đành bất lực trong tuyệt vọng thì lại càng xót xa hơn.
    “Ngày xưa tôi tin tất cả kể cả những điều vô lý. Bây giờ tôi nghi ngờ tất cả, kể cả chân lý” (B. Paternak).
    Cảm ơn ông Hà Sĩ Phu và dịch giả Phạm Hồng Sơn.

  4. Hoàng Trường Sa nói:

    “Cái làm thành nét đặc trưng và tạo ra sự khác biệt giữa các chính quyền tại châu Âu và Bắc Mỹ với các chính quyền khác trên toàn thế giới không phải là dân chủ mà chính là chủ nghĩa tự do hiến định. Biểu tượng tốt nhất của “Mô hình phương Tây” không phải là hệ thống bầu cử đại chúng mà chính là vị quan tòa không thiên vị” (Zakaria).
    Theo tôi, phát biểu này rất đúng. Nhưng, đối với tình trạng cụ thể của VN ngày nay, một nước thiếu cả Tự do hiến định lẫn Dân chủ, thì vấn đề là làm sao để có được nền Tự do (hiến định) này. Ai sẽ xây dựng ra và bảo vệ nền Tự do này của người dân? Rõ ràng là qua phân tích của tác giả Hà Sĩ Phu, ta dễ thấy rằng đối với VN đây là một vòng luẩn quẩn. Vì muốn có một nền Tự do đúng nghĩa, điều cần trước nhất phải có, ngoài tri thức giác ngộ về Tự do của các công dân, là một hệ thống pháp luật thật sự đại diện ý muốn và quyền lợi của nhân dân, từ đó mới quy định ra các quyền Tự do dân sự của người dân mà luật pháp phải tôn trọng và bảo vệ, trong đó có cả quyền chọn lựa thể chế chính trị và những người cai trị đất nước. Nhưng muốn thế, ta cần phải có Dân chủ trước nhất. Thế nhưng, như tác giả HSP phân tích, nền Dân chủ (nhưng thiếu chủ nghĩa hay tinh thần tự do hiến định) có khi lại đưa tới nền Dân chủ phi tự do.

    Nói tóm lại, theo tôi, VN hiện nay đang thiếu nhất là ba điều: Tinh thần giác ngộ của các công dân về các quyền Tự do căn bản, Hệ thống hiến định và bảo vệ nền Tự do, và nền Dân chủ pháp trị. Ba điều này cần phải được phát triển đồng bộ mới mong đưa nước ta đến trình độ Tự do Dân chủ của các nước Âu, Úc, Mỹ.

  5. Hoà Nguyễn nói:

    Có sự khác nhau giữa dân chủ và tự do vì dân chủ là quyền đảm nhiệm việc công ích của đa số người dân qua những đại biểu được họ chọn bằng bầu cử (bỏ phiếu phổ thông), còn tự do là quyền tư tưởng, ngôn luận, sinh hoạt theo ý riêng của mọi người kể cả các nhóm thiểu số (bị thất cử) và của mỗi cá nhân.

    Để đảm bảo hạnh phúc cho tất cả mọi người cần có sự bổ túc và quân bình giữa dân chủ với tự do trong sinh hoạt chính trị và trong các sinh hoạt khác của cuộc sống. Dù sao, chỉ chế độ dân chủ mới có thể dẫn tới tự do cho nhiều người, còn chế độ toàn trị vừa không dân chủ vừa chẳng có tự do cho đại chúng, hay chỉ dành sự tự do thái quá cho một thiểu số đặc quyền.

  6. Dân Chủ là phương tiện, là cách để nhà nước đảm bảo Tự Do cho nhân dân. Tự Do là mục đích cuối cùng. Hiểu Dân Chủ = Tự Do có nghĩa là đã biến phương tiện thành mục đích vậy.

    Thực sự mà nói một nhà nước cho dù được dân bầu, nhưng không đảm bảo các quyền tự do cao nhất của con người là Tự Do Biểu Hiện và Tự Do Ngôn Luận (bao gồm tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập đảng đối lập) thì chưa thể được coi là một nhà nước dân chủ vì chưa bảo đảm được Tự Do cho người dân. Nhà nước như vậy mới ở mức “do dân” (bầu lên) nhưng chưa “vì dân”.

    Chính vì vậy mà nền Dân Chủ thực sự phải là Dân Chủ Tự Do (liberal democracy) trong đó Dân Chủ là phương tiện, Tự Do là mục đích.

    Dưới đây là diễn từ về Bốn quyền Tự Do do Tổng thống Franklin D. Roosevelt đọc tại Thượng viện Hoa Kỳ ngày 1/6/1941.

    Trong tương lai mà chúng ta cố gắng bảo đảm an toàn, chúng ta hướng tới một thế giới được xây dựng trên 4 quyền tự do cơ bản của con người.

    Thứ nhất là tự do ngôn luận và biểu hiện – ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

    Thứ hai là tự do cho mỗi người được thờ phụng Chúa Trời theo cách của riêng mình – ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

    Thứ ba là tự do khỏi sự thiếu thốn – mà nói một cách phố thông có nghĩa là những điều kiện kinh tế để mỗi quốc gia bảo đảm cho các công dân của mình một cuộc sống hoà bình khoẻ mạnh – ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

    Thứ tư là tự do khỏi sự sợ hãi – mà theo cách diễn đạt toàn cầu có nghĩa là cắt giảm vũ khí trên toàn thế giới triệt để tới mức mà không quốc gia nào có thể có hành động xâm lược bất cứ láng giềng nào – ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

    Đó không phải là viễn cảnh xa vời ngàn năm. Đó là nền tảng rõ ràng cho một hình thức thế giới có thể đạt được trong thời đại và thế hệ của chúng ta. Một thế giới như vậy thực sự là một phản đề của cái gọi là trật tự mới của chính thể chuyên chế mà các nhà độc tài cố gắng tạo dựng bằng các vụ nổ bom.”

    Bốn quyền tự do cơ bản này đã được ghi tường minh trong Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc sau này (1948) (Xem http://en.wikipedia.org/wiki/United_Nations_Declaration_of_Human_Rights).

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả