talawas blog

Chuyên mục:

Tom Buckley – Chân dung một bạo chúa về hưu

30/05/2009 | 6:01 sáng | 2 phản hồi

Tác giả: Trịnh Hữu Tuệ

Chuyên mục: Chiến tranh Việt Nam, Chính trị - Xã hội
Thẻ:

Trịnh Hữu Tuệ dịch

Lời người dịch: Đây là bản dịch bài báo mang tên “Portrait of an Aging Despot” của Tom Buckley, đăng trên Harper’s Magazine vào tháng 4 năm 1972. Qua việc miêu tả nhân vật định mệnh Nguyễn Ngọc Loan, Buckley chuyển tải một cách khá tinh tế cái nhìn của ông – một người Mỹ – về cuộc chiến tranh Việt Nam và các bên tham gia của nó. Kiến thức hạn chế về chính trị và quân sự của người dịch khiến những lỗi lầm trong việc chuyển ngữ các khái niệm kỹ thuật trở nên không thể tránh khỏi. Rất mong nhận được góp ý của độc giả.

__________

VIETNAM OBIT LOAN“Anh nên mang theo một két bia,” người đàn ông thu xếp cho tôi gặp tướng Loan nói. “Thế cho nó vui vẻ.” Tôi cứ tưởng anh ta đùa. Nhưng rồi tôi cũng vác vai một két Budweiser, mua tại Post Exchange với giá $2.40, và leo ba tầng gác tòa nhà Bộ Quốc phòng để gặp tướng Nguyễn Ngọc Loan tại văn phòng của ông. Khi tôi đến nơi, ông đứng dậy – lóng ngóng vì chân ông bị nẹp – để bắt tay tôi. Ông nhìn tôi chăm chú một lúc rồi nói với giọng pha chút đắc thắng, “Tôi nhớ ra anh là ai rồi.” Rồi ông nhìn đi chỗ khác. Lúc đó mới 10:30 sáng, nhưng trên bàn ông đã có, và chỉ có duy nhất, một chai bia ‘33′ của Việt Nam và một cái cốc thủy tinh rỗng. Văn phòng của ông nằm ở cuối hành lang, không trang  trí và rất ít đồ đạc. Thay vì một cái két sắt đựng hồ sơ, ta thấy một chiếc tủ lạnh nhỏ; két bia Budweiser được một thuộc hạ của ông cất vào đó để giữ lạnh.

Loan vừa được thăng hàm sĩ quan lên hai sao. Ông phẩy tay khi tôi chúc mừng. “Trò hề ấy mà,” ông nói. “Tôi không có binh lính, cũng không có nghĩa vụ gì cả. Việc của tôi là lên kế hoạch lâu dài, có thể cho cuộc chiến tranh sau. Tôi đòi về hưu nhưng họ không cho, vậy nên họ cho tôi hai sao và vài đồng bạc. Lương của tôi đủ sống, vợ tôi không phàn nàn, nhưng nếu ra làm kinh doanh tôi sẽ kiếm gấp hai lần. Gì thì gì, tôi cũng đã học một lớp quản trị tại MIT cơ mà.” Ông rít thuốc, và ông cười, gần như cười khúc khích, rồi sau đó ho khục khặc.

Lần này khác hẳn so với lần tôi gặp ông trước đó, vào tháng 3 năm 1968, khi Loan vẫn còn nắm chức Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia. Từ trụ sở của ông – một địa điểm rùng rợn đối với nhiều người Việt – Loan chỉ huy 70.000 người, bao gồm cảnh sát, đặc nhiệm, các đơn vị dã chiến, và một đội quân gián điệp và chỉ điểm. Ông có quyền sinh quyền sát, và do lệnh của ông, hàng chục ngàn người đã bị giam trong những chuồng cọp tại Côn Sơn và các nơi khác, bị tra tấn tại những trung tâm địa phương, bị ám sát, bị hành quyết, hoặc đơn giản là biến mất không dấu vết.

Nhưng kể cả vào lúc đó, hai trong số ba sự kiện làm hỏng sự nghiệp của Loan cũng đã xảy ra rồi. Nguyễn Cao Kỳ, bạn và đồng nghiệp Không lực của ông, đã bị ép bỏ chức thủ tướng để ra tranh cử phó tổng thống cùng tướng Nguyễn Văn Thiệu. Sau đó, vào tháng hai năm 1968, trong chiến dịch Tết, Loan không may bị chụp ảnh đúng lúc ông dùng súng lục bắn vào đầu một tù binh Việt Cộng đang bị trói. Loan có thể đã thoát được những hệ quả của hai sự kiện trên, nhưng vào tháng 5 năm đó, ông trở thành – theo tôi biết – vị tướng miền Nam duy nhất bị thương trên chiến trường. Chân phải của ông bị súng máy bắn nát khi ông tấn công một đơn vị du kích. Thiệu lợi dụng cơ hội này và thay thế Loan bằng một người trong cánh của ông ta.

Loan được đưa sang Úc để điều trị, nhưng bức ảnh và đoạn phim ông bắn người tù binh đã làm ông khét tiếng. Ông trở thành biểu tượng cho sự tàn ác và hèn nhát của cuộc chiến tranh nói chung và của quân đội miền Nam nói riêng. Dân Úc ép ông phải rời nước họ. Ông được đưa đến Bệnh viện Quân sự Walter Reed tại Washington. Người ta cứu được cái chân của ông, nhưng nó chẳng hơn một que gỗ là mấy. Ông và gia đình tiếp tục sống trong lưu vong một thời gian dài sau khi ông hồi phục, tại thành phố Alexandria, bang Virginia, dưới sự bảo vệ nghiêm ngặt của CIA. Thiệu dùng quãng thời gian này để củng cố quyền lực của ông ta. Khi Loan được phép quay lại Sài Gòn, ông được giao một công việc vô nghĩa và một văn phòng trống rỗng.

***

Lần đầu tiên tôi gặp Loan là vào mùa hè năm 1967. Đó là buổi lễ tốt nghiệp lớp đào tạo cảnh sát, tổ chức tại trụ sở của Loan. Tôi được vị cố vấn an ninh người Mỹ mời. Ông ta đã từng là đại úy cảnh sát bang New York, giờ đã về hưu. Ông ta khá dễ thương, đặc biệt là so với một số nhân viên của ông, trong đó có cựu thành viên của các lực lượng cảnh sát thực dân tại Mã Lai, Miến Điện, Indonesia, và một số khá đông những cảnh sát truởng và quan chức miền Nam nước Mỹ. Tôi nghĩ ông làm chỉ huy lính gác nhà băng thì hợp hơn.

Loan ngồi cách tôi không xa, dưới một cái mái che màu trắng và da cam làm từ dù trở hàng. Bề ngoài của ông không phải loại dễ ưa. Trán và cằm ông vát về đằng sau, tóc ông bắt đầu rụng, mắt ông lồi, răng ông đen, vai ông so và người ông gày hom hem. Các sĩ quan cấp cao, cả Việt lẫn Mỹ, luôn mặc bộ đồ đánh trận giặt là hoàn hảo và đi ủng đánh bóng như gương – kể cả khi họ chỉ ngồi bàn giấy – và luôn cau mày một cách nghiêm trọng để giấu cái đầu rỗng tuếch của họ. Ngược lại, Loan đi dép lê và mặc đồng phục của một viên cảnh sát bình thường. Khuôn mặt chất phác của ông linh động, thông minh. Trong buổi lễ, ông uống cognac và soda, đùa cợt với các nhân viên dưới quyền. Thỉnh thoảng, ông cười sằng sặc, giẫm chân thình thịch xuống mặt đất, tạo ra những vết lồi lõm dưới chỗ ông ngồi. Hình như ông đang nói tới một chủ đề quen thuộc: những gia đình Việt Nam phải trả rất nhiều tiền để con cái họ được làm cảnh sát, vì làm cảnh sát vừa an toàn hơn làm bộ binh vừa có nhiều cơ hội ăn hối lộ, nhất là từ những kẻ trốn lính.

Sau khi trao tấm huân chương cuối cùng (dành cho thành tích bắn súng và tra khảo), người ta tổ chức một bữa tiệc. Các nhà báo Mỹ vây xung quanh Loan. Ông có vẻ thích đấu khẩu và ông nói tiếng Anh khá tốt, mặc dù các từ của ông bị dính vào nhau – tôi nghĩ không phải chỉ vì ông hơi say, mà vì ông không thưởng thức được các nguyên âm và phụ âm tiếng Anh. Thường là ông né tránh các câu hỏi, nhưng có một câu ông nói mà tôi thấy khá sắc sảo, mặc dù thực tế sau đó đã cho thấy là nó không được chính xác cho lắm. “Chừng nào Kỳ còn nắm quyền, tôi còn nắm quyền,” ông nói, “và chừng nào tôi còn nắm quyền, Kỳ còn nắm quyền.”

Giữa cuộc bầu cử và những trận đánh lẻ tẻ nhưng dữ dội trong vùng phi quân sự, mùa hè đó là một mùa hè bận rộn. Tôi không gặp lại Loan lần nào cho đến đầu tháng 9. Ủy ban Bầu cử của Quốc hội đề nghị bãi bỏ chiến thắng của Kỳ và Thiệu vì phát hiện ra có quá nhiều gian lận. Trong lúc Quốc hội họp và biểu quyết vấn đề này tại một nhà hát ở Sài gòn, Loan ngồi ườn oài trong một cái lô nhìn xuống sân khấu, mũ hất ngược ra sau đầu, uống bia và lơ đễnh quay ổ đạn khẩu súng lục Smith & Wesson của ông. Đề nghị của Ủy ban Bầu cử không được chấp thuận.

***

Sau nhiều tuần tìm cách gặp Loan, tôi thu xếp được một cái hẹn vào đầu tháng 12 năm 1967. Vào thời điểm đó, tinh thần lạc quan của Mỹ về cuộc chiến tranh đã lên đến mức đỉnh điểm của sự ngu xuẩn. Tướng Westmoreland về Washington để thông báo rằng phía địch đã hết khả năng thực hiện những cuộc tấn công lớn. Các đơn vị quân đội đang truy đuổi lực lượng du kích gần biên giới Campuchia, và lính thủy đánh bộ vừa lấy lại được Khe Sanh. Vào đúng đêm giao thừa, một nhóm nhân viên trẻ của Sứ quán Mỹ, tự xưng là “the Flower People”, một cái tên thú vị và thông minh vào lúc đó, tổ chức một bữa tiệc giả trang mang tên “ánh sáng cuối đường hầm.”

Với những bức tường bê-tông dày 3 mét, những chòi canh, những cuộn dây thép gai rỉ và những biển báo mìn mang hình đầu lâu, bề ngoài trụ sở của Loan trông đáng sợ hơn là phía trong. Ít nhất là ta không nhìn thấy giá treo cổ, cột trói hay những ngôi mộ mới đào. Văn phòng của ông nằm trên tầng hai một căn nhà màu vàng dưới bóng cây, chắc đã từng là dinh cơ của một vị chỉ huy trung đoàn kỵ binh Pháp nào đấy. Khi tôi bước vào văn phòng ông, Loan đang đọc hồ sơ. Ông để tôi đợi 15 phút, không ngẩng mặt lên lần nào. Cuối cùng ông cũng đọc xong, và ra hiệu cho tôi ngồi xuống chiếc ghế trước mặt ông, và gọi nước uống. Tôi bảo ông kể một chút về thời trẻ của ông. Ông nói ông sinh ra ở Huế, cố đô của Việt Nam, vào năm 1930, trong một gia đình có 11 người con. Bố ông là kỹ sư đường sắt. Tôi đoán rằng ông ta không phải là một kỹ sư bình thường mà chỉ là một chuyên gia cấp thấp thôi, vì hiếm khi người Pháp để dân Việt Nam leo cao hơn thế. Nhưng gia đình Loan chắc là phải khá sung túc; họ thuộc tầng lớp trung lưu tạo ra bởi người Pháp, khác biệt và đứng thấp hơn so với tầng lớp quan lại và địa chủ truyền thống.

Vào năm 1951, khi Loan đang theo học ngành dược phẩm tại Đại học Huế, người Pháp nhận ra rằng để chiến thắng, thậm chí để tránh sự thất bại, họ cần phải có một lực lượng quân đội người Việt. Cho đến lúc đó, quân đội Pháp phần lớn vẫn gồm lính từ nước Pháp, lính lê dương, và lính thuộc địa từ Bắc Phi và Senegal. Đội quân người Việt, gồm 70.000 lính xung phong, được chia thành nhiều tiểu đội. Sĩ quan chỉ huy của họ là người Pháp, và nhiệm vụ chính của họ là bảo vệ. Việc này được lặp lại 15 năm sau đối với người Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Sau đó, người Pháp bắt đầu áp đặt nghĩa vụ quân sự, và bắt đầu đạo tạo một số sĩ quan người Việt. Đó là lúc mà Loan, vốn mang cảm tình với Pháp do địa vị xã hội của gia đình, xung phong tham gia lớp đào tạo sĩ quan. Những người cùng thế hệ ông đi đến một quyết định khác: vào rừng để theo Việt Minh. Như nhiều sĩ quan Việt Nam cao cấp khác mà tôi đã từng hỏi chuyện, Loan nói rằng ông đã đi theo Việt Minh một thời gian ngắn, khi còn đang đi học phổ thông, nhưng bỏ khi phát hiện ra rằng họ là Cộng sản và không chỉ đơn thuần là những người Việt Nam yêu nước đấu tranh vì độc lập. Tôi nghi ngờ câu chuyện này.

“Vào lúc đó, họ không nói gì về chủ nghĩa Cộng sản cả,” Loan nói. “Tôi làm cán bộ Việt Minh từ năm 14 cho đến năm 19 tuổi, và họ chỉ nói rằng phải đánh đuổi quân đế quốc Nhật, Tàu và Pháp.”

Loan tốt nghiệp thủ khoa, cùng lớp với Kỳ. Ông thi hành nghĩa vụ tại vùng sông Cửu Long một thời gian ngắn, và sau đó được gửi đi Ma-rốc thuộc Pháp để học lái máy bay. Ông học một thời gian tại St. Cyr, một dạng West Point của Pháp. Khi ông quay lại Việt Nam năm 1955, rừng đã bắt đầu mọc lại trên đống đổ nát của Điện Biên Phủ, Pháp đã ký Hiệp định Genève, và chính phủ miền Nam Việt Nam, đứng đầu bởi Ngô Đình Diệm, đang bắt đầu được Mỹ dựng lên.

Quân đội quốc gia có 300.000 người vào thời điểm Pháp thua trận, nhưng không bao giờ trở thành một lực lượng chiến đấu có hiệu quả. Trong Vietnam: A Dragon Embattled, tác giả Joseph Buttinger nhận xét rất chính xác rằng “Họ được đào tạo và trang bị tồi, nhưng nhược điểm lớn nhất của họ là không có sĩ quan giỏi: Những thành phần ưu tú nhất của tầng lớp trung lưu Việt Nam hoàn toàn không muốn phục vụ trong một quân đội được thành lập để chiến đấu, vẫn dưới sự chỉ huy của người Pháp, vì một chính quyền họ khinh ghét và chống lại những người vẫn được công nhận là đang đấu tranh vì độc lập tự do cho Việt Nam, kể cả họ có là cộng sản đi chăng nữa.”

Nhưng những sĩ quan yếu kém này lại là những người nắm các chức vụ chủ chốt trong quân đội của Ngô Đình Diệm, và cho đến phút cuối, họ vẫn chẳng hơn gì. Họ được tuyển dụng trong sự lưỡng lự, đào tạo trong sự bàng quan, bị đối xử một cách bề trên và bị coi thường bởi người Pháp rồi sau đó là người Mỹ. Đám tinh hoa của chính đất nước họ cũng chẳng coi họ ra gì, bởi theo tư tưởng phương Đông thì binh lính là đẳng cấp thấp nhất trong xã hội. Trong 11 năm của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, hiếm khi có dịp để đám sĩ quan này củng cố lòng tự tin của họ.

Không lực Việt Nam Cộng hòa có lẽ đỡ tự ti hơn các lực lượng khác một chút, phần lớn bởi vì Việt cộng không có chiếc máy bay nào cả. Cho đến thời gian gần đây, tất cả những gì những người Việt cộng có chỉ là một vài khẩu súng máy để bắn những chiếc máy bay cánh quạt Skyraider của Mỹ. Càng lên chức cao – chỉ khi Diệm bị lật đổ ông mới được phong thiếu tá – Loan càng ít lái máy bay và làm nhiều việc văn phòng hơn. Ông được gửi sang Mỹ để học tiếp và sau đó trở thành một chuyên gia tình báo an ninh.

Một người Việt biết Loan thời đó miêu tả ông là một nhân vật không được hào nhoáng như Kỳ, một người kín đáo, một thanh niên có vẻ rụt rè, uống ít bia rượu, không có bồ, và chỉ có thói xấu duy nhất là thích chơi poker trên gác quán Brodard’s Café.

Không lực Việt Nam Cộng hòa có một khoảnh khắc huy hoàng ngắn ngủi vào năm 1965. Họ thực hiện hai trận ném bom miền Bắc Việt Nam đầu tiên. Kỳ chỉ huy cuộc tấn công, và Loan bay bên cạnh yểm trợ ông. Hai trận tấn công này thực ra chỉ mang tính chất tượng trưng. Những chiếc Skyraider không bay quá phía bắc sông Bến Hải là mấy; và vì ai cũng biết những chiếc máy bay này không thể đọ được với tên lửa, súng phòng không có radar và máy bay MiG của quân miền Bắc nên họ chỉ được phép hoạt động tại miền Nam sau đó. Chỉ đến năm 1968, Không quân Việt Nam Cộng hòa mới nhận được một vài chiếc máy bay phản lực, và những chiếc máy bay này cũng không có khả năng tấn công miền Bắc.

(“Các ông trói tay chúng tôi,” Loan nói khi tôi gặp lại ông. “Các ông muốn chiến thắng cuộc chiến này một mình.” Ông có thể nói được gì khác nữa? Hơn nữa, khó mà chối cãi được rằng người Mỹ, cho đến khi đã quá muộn, đúng là đã muốn dùng lính Mỹ để thắng cuộc chiến một mình và bắt người Việt Nam thu dọn chiến trường sau đó.)

Vào tháng 6 năm 1965, Kỳ lên nắm quyền sau hai năm miền Nam chuyển từ chính phủ này sang chính phủ khác. Việc này xảy ra đúng lúc quân chiến đấu Mỹ bắt đầu tiến vào Việt Nam, và sự hiện diện của họ mang lại một cảm giác ổn định mà thực chất là hoang tưởng. Các sĩ quan già bị tống ra nước ngoài hoặc cho về hưu. Loan được thăng chức lên đại tá và được phong Giám đốc Nha An ninh Quân đội. Một năm sau, ông được phong Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia. Ông là người thân tín nhất của Kỳ và – theo nhận xét của mọi người – là người nắm quyền thứ hai tại miền Nam Việt Nam.

***

Chiến dịch Tết bắt đầu tại miền Bắc và miền Trung Việt Nam, sáng sớm ngày 30 tháng Giêng năm 1968. Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long bị tấn công sau đó 24 giờ. Thiệu đang đi nghỉ tại villa của ông ở Mỹ Tho, quê vợ ông. Kỳ và Loan chịu trách nhiệm bảo vệ thủ đô.

Buổi chiều ngày 1 tháng 2, có một trận đánh nhỏ gần chùa An Quang, trụ sở của cánh đạo Phật ‘hiếu chiến’ muốn đàm phán hòa bình với Việt cộng. Trong lúc đang giao chiến, một tù nhân được đưa đến trước mặt Loan. Không một lời, Loan quẳng điếu thuốc đang hút dở, rút súng. Ông lấy tư thế ngắm bắn, giương súng, và từ một khoảng cách khoảng 1 mét, bắn đúng một viên đạn vào đầu người tù nhân.

Trong cơn giận dữ, Loan không để ý đến sự hiện diện của Eddie Adams, chuyên gia nhiếp ảnh của Associated Press, và một nhóm quay phim của NBC. Ông nhìn họ sau khi bắn, và ai cũng tưởng ông sẽ tịch thu các cuộn phim, nhưng không hiểu sao, ông lại không làm như vậy. Chỉ trong vòng một vài tiếng đồng hồ, những bức ảnh của Adams được truyền đi khắp thế giới. Tối sau đó, đoạn phim được phát trên chương trình tin tức Huntley-Brinkley.

Hai phút phát sóng trôi qua, trận chiến kết thúc, nhưng hình ảnh đó thì đọng lại. Loan – đi ủng, mặc áo vét quân sự – trở thành một biểu tượng của sự mọi rợ vô nhân tính. Người tù nhân – nhỏ bé, gày guộc, bơ vơ, hai tay bị trói sau lưng – chỉ mặc một chiếc áo rách và một chiếc quần đùi. Mặt anh biến dạng, méo mó vì áp lực của viên đạn, tóc anh dựng đứng, miếng há ra như để kêu tiếng kêu cuối cùng.

Tôi nghĩ đó là thời điểm quyết định, khi công luận Mỹ quay sang phản chiến. Chiến dịch Tết tiêu diệt sự tin tưởng mà họ dành cho giới lãnh đạo, và hành động sát nhân của Loan khẳng định sự băng hoại đạo đức của nó. Đồng thời, người ta bắt đầu phải công nhận sự dũng cảm của kẻ địch – một kẻ dám chiến đấu suốt một thời gian dài chống lại quốc gia hùng mạnh nhất thế giới cùng với đám lính đánh thuê của nó từ khắp châu Á mà không cần một chiếc trực thăng, phản lực, xe tăng hay một khẩu đại bác nào.

Có một yếu tố nực cười trong toàn bộ sự việc này. Người tù nhân được xác định – có lẽ là chính xác – là chỉ huy của một đơn vị công binh Việt cộng. Nghe nói rằng anh ta có một khẩu súng lục và đã dùng nó để giết một người cảnh sát. Không như những đội quân đánh chiếm Sài Gòn mặc bộ đồ ka-ki, hay như những công binh tấn công Đại sứ quán Hoa kỳ đeo băng tay đỏ, người tù nhân không có trang phục gì đặc biệt. Thực ra mà nói, anh ta chết như vậy có lẽ là sướng, vì anh ta thoát được màn tra tấn khủng khiếp mà đằng nào cũng dẫn đến cái chết.

Vụ giết người làm nước Mỹ kinh hoàng đó không gây chấn động tương tự tại Việt Nam. Chẳng mấy người Việt biết đến nó, mà nếu họ có biết thì họ cũng hiểu tại sao Loan làm như vậy. Những người Việt cộng thường xuyên ám sát các quan chức nhà nước, mặc dù họ hợp pháp hóa những vụ giết người này bằng cách xử tử vắng mặt nạn nhân tại một tòa án cách mạng nào đó và để lại một mẩu giấy bên cạnh xác chết. Thỉnh thoảng, những người Việt cộng còn thi hành xử bắn hàng loạt. Tôi nhớ là họ đã xử bắn cả một bản dân miền núi theo chính quyền. Tại Huế, trong chiến dịch Tết, hàng trăm quan chức và những người ủng hộ chính quyền, cùng với gia đình họ, đã bị giết. Nhưng phải nói là nhìn chung thì phía Liên minh gây ra nhiều giết chóc và tội ác hơn nhiều. Lý do thứ nhất là họ có súng ống và phương tiện di chuyển để tấn công các làng mạc Việt cộng. Lý do thứ hai là nhu cầu lấy thông tin về quân thù của họ cấp bách hơn, nên họ không thể không tra tấn và làm những việc còn tồi tệ hơn thế.

***

Tôi gặp lại Loan khoảng một tháng sau vụ bắn người, khi tôi xin phép đi cùng ông trong một chuyến tuần tra thành phố vào buổi đêm. Cuộc tấn công của Việt cộng đã kết thúc, nhưng những trận đánh lẻ tẻ vẫn tiếp tục diễn ra tại các vùng ngoại ô. Để chuẩn bị cho một ‘đợt sóng tấn công thứ hai’, Sài Gòn ban lệnh giới nghiêm từ 7 giờ tối đến sáng hôm sau. Một chiếc xe jeep của cảnh sát đến đón tôi vào lúc 10 giờ tối và chở tôi đến cơ sở của Loan. Ông đang đợi tôi ở đó. Tôi ngồi cạnh ông trên một trong ba chiếc xe jeep và chúng tôi đi quanh những con phố bỏ hoang, yên lặng một cách ma quái.

Ông nói rằng vụ tấn công Sài Gòn không làm ông ngạc nhiên chút nào. “Chúng tôi biết trước là sẽ bị tấn công,” ông nói. “Ba ngày trước đó chúng tôi chỉ có họp, họp và họp. Đêm hôm có tấn công, Kỳ gọi điện bảo vợ chồng tôi qua chỗ ông ấy. Tôi bảo cám ơn nhưng tôi không qua được vì tôi đang chuẩn bị chiến đấu. Nhưng ông ấy cứ ép thành ra tôi phải chạy qua vài phút. Ông ấy nhìn tôi. ‘Ông mang súng vào nhà tôi đúng mồng một Tết,’ ông ấy bảo. ‘Ông biết làm như vậy là dông cả năm.’

“Tôi chỉ ngồi đó vài phút thôi,” Loan nói. “Tôi đi lòng vòng quanh thành phố, như chúng ta đang làm bây giờ, cho đến 2 giờ sáng. Tôi vừa nằm xuống cái giường trong trụ sở thì nghe tin. Việt cộng tấn công khắp mọi nơi. Kỳ gọi điện bảo Tân Sơn Nhất đang bị tấn công. Ông ấy bảo được người ta khuyên là nên rời chỗ đó. ‘Không,’ tôi nói. ‘Ông phải ở lại với Không quân.’ Tướng Khanh, chỉ huy quân đoàn 3, gọi điện bảo tôi chỉ huy toàn bộ Sài Gòn. Tôi chỉ có một nhúm quân. Tôi điều hai đại đội xe tăng đi bảo vệ Tân Sơn Nhất. Sau đó tôi gọi một trung đội cảnh sát dã chiến và hai chiếc xe bọc thép rồi chạy đến Đài phát thanh, nơi đã bị Việt cộng chiếm đóng. Chúng tôi lấy lại Đài phát thanh và người đàn ông ngồi cạnh tôi lúc đó bị bắn chết, rơi đè lên người tôi.”

Loan nhấp một ngụm rượu do thuộc hạ pha sẵn cho ông. Đồ pha rượu được cất trong một cái bar di động nhỏ để phía sau xe. Cảm thấy ông có vẻ đang vui tính, tôi hỏi tại sao ông lại bắn người tù nhân. “Tôi không phải chính trị gia,” ông trả lời. “Tôi không phải cảnh sát trưởng. Tôi là một người lính. Nếu một người mặc trang phục thường dân cầm súng bắn bạn ông… nếu nhiều người quen của ông đã bị giết, lúc đó ông biết làm gì? Chúng tôi biết người đàn ông này là ai. Tên anh ta là Nguyen Tan Dat, biệt hiệu là Han Son. Anh ta là chỉ huy một đơn vị công binh. Anh ta đã giết một người cảnh sát. Anh ta nhổ vào mặt những người bắt anh ta. Các ông muốn bọn tôi phải làm gì? Giam anh ta hai ba năm để rồi thả cho anh ta quay lại với đồng đội à?”

“Ở bên Mỹ người ta không biết những chuyện bên này,” ông nói. “Tôi tôn trọng những người Việt cộng mặc đồng phục. Họ là chiến binh, như tôi. Ai cũng biết tôi đưa họ vào bệnh viện khi họ bị thương. Nhưng khi họ không mặc đồng phục thì họ là tội phạm và luật chiến tranh là xử bắn.”

Chúng tôi đi qua cầu, tiến vào khu cảng. Phía sau những nhà kho và những bãi để hàng là một mê cung lều lán và ruộng trồng rau, nguy hiểm kể cả vào những thời điểm ổn định nhất. Chúng tôi rời khỏi đường chính, từ từ rẽ vào một con hẻm gập ghềnh, đi khoảng 100 mét rồi dừng lại. Tài xế của Loan bật một cái công-tắc, và một cái đèn pha trên chiếc xe jeep chiếu sáng những căn lều trơ trọi ở hai bên chúng tôi. Anh ta nhấp nháy cái đèn pha thêm hai lần. Cách đó khoảng 100 mét nữa, một chiếc jeep thứ hai trả lời tín hiệu. Chúng tôi lại tiếp tục tiến về phía trước, rẽ thêm khoảng hai ba lần và dừng lại trước một cái đồn cảnh sát.

Vài chục viên cảnh sát xuất hiện từ trong bóng tối. Những nhóm đàn ông và đàn bà được đẩy đến đứng trước những cái bàn, đằng sau có cảnh sát đặc nhiệm ngồi, kiểm tra kỹ lưỡng những tấm chứng minh thư mà bất kỳ người Việt Nam nào trên 16 tuổi cũng phải mang theo người. Những cuộc vây bắt như thế này xảy ra khắp nơi tại Sài Gòn vào những tuần đó. Tại khu vực cảng, một khu vực được ngăn riêng ra, những ngôi nhà tại đó bị khám xét và và dân bị đến đồn cảnh sát.

Ở một góc, ngồi xổm trong bóng tối, là một nhóm khoảng 15 đến 20 thường dân, được canh gác cẩn thận. Loan nghiêng người. Viên sĩ quan cảnh sát chỉ huy cuộc vây bắt ghé tai ông nói gì đó bằng tiếng Việt và chỉ vào một người đàn ông đặc biệt đẹp trai – cao, mắt sáng, da màu đồng – mặc quần áo vải trắng, rất sạch. Loan ra hiệu đưa anh ta lại gần. Ông lật đi lật lại tấm chứng minh thư của anh ta trong tay mà không nhìn đến nó. Ông hỏi, giọng điềm tĩnh, như thể đang nghĩ gì khác. Người đàn ông kia cũng trả lời với một giọng điềm tĩnh không kém.

Sau đó, Loan lùi lại. Ông thò tay vào túi quần, rút ra một khẩu súng tự động nhỏ. Ông gí nó vào đầu người đàn ông. Tôi cảm thấy – biết nói thế nào nhỉ – một khoảnh khắc thời gian chạy vùn vụt, một sức nặng khủng khiếp. Mặt người đàn ông không hề thay đổi. Loan siết cò. Một tia lửa phụt ra. Loan rút một điếu thuốc đưa lên miệng, quay cái nòng của chiếc bật lửa hài hước kia lên để châm. Ông rít một hơi, ngả đầu ra phía sau và cười. Ông ho một lúc vì khói thuốc, rồi tiếp tục cười. Cười ré lên, cười ằng ặc. Thuộc hạ của ông cười, viên cảnh sát cũng cười, còn người đàn ông kia vẫn đứng yên lặng và bất động.

***

“Hồi tôi ở Washington, người chụp bức ảnh có đến gặp tôi,” Loan nói, ngồi trong căn phòng nhỏ không đồ đạc của ông, với một chai bia trên bàn làm việc. “Ông ta bảo ông ta rất tiếc vì đã phải chụp tấm ảnh. Ông ta đã gửi tiền giải thưởng đến một tổ chức nào đó, hình như là Chữ Thập Đỏ. Tôi bảo ông ta, ‘Sự nghiệp tôi coi như đã chấm dứt, nhưng không sao. Cái gì đã xảy ra rồi thì thôi. Sống hay chết, được người ta thích hay bị người ta ghét, cũng thế cả thôi. Tất cả là do Phật, do Chúa, do cái gì đó cao hơn tôi.”

Nguồn: Tom Buckley, “Portrait of an Agina Despot”, Harper’s Magazine, April 1972.

Phản hồi

2 phản hồi (bài “Tom Buckley – Chân dung một bạo chúa về hưu”)

  1. Trần Huy Bách nói:

    Đề tài này rất xưa cũ, đã có bao nhiêu người viết. Bài viết này của Tom Buckley cũng chẳng có điều gì mới mẻ, thậm chí có đôi chỗ cường điệu đến lố bịch: “Hình như ông đang nói tới một chủ đề quen thuộc: những gia đình Việt Nam phải trả rất nhiều tiền để con cái họ được làm cảnh sát, vì làm cảnh sát vừa an toàn hơn làm bộ binh vừa có nhiều cơ hội ăn hối lộ, nhất là từ những kẻ trốn lính”.
    Một ông tướng, dù là “một bạo chúa”, lại ở trong ngành tình báo, chắc không có ngu muội đến nỗi tự khai những điều này trước một ông nhà báo Mỹ?

    Theo tôi, bản dịch của dịch giả Trịnh Hữu Tuệ không có “lỗi lầm nào trong việc chuyển ngữ các khái niệm kỹ thuật”, nhưng về nhận định: “Buckley chuyển tải một cách khá tinh tế cái nhìn của ông – một người Mỹ” thì dường như hơi nặng cảm tính có nhiều chủ quan.

  2. vietdieu nói:

    Trước khi đọc bài tôi nhìn tên tác giả là Trịnh Hữu Tuệ, càng đọc tôi càng cảm thấy khâm phục người viết bài này thật công tâm, tôi không ngờ có một người Việt, nói chính xác là một nhà báo Việt có một văn phong chững chạc, hiểu biết, lại công tâm, không chèn ép áp đặt những suy nghĩ cá nhân của mình như trong phần nhiều các bài viết của cánh nhà báo người Việt. Nhưng đến cuối thì đọc thấy nguồn: Tom Buckley, thì ra bài báo này không phải của người Việt, ông Tuệ chỉ là người dịch… thế là đang vui lại thành ra buồn.
    Nếu tôi sai thì xin lỗi (tôi rất mong là tôi sai) nhưng nếu đúng như vậy thì xin góp ý với talawas phải đề tên là người dịch chứ không phải đề là tác giả bài viết. Rất cảm ơn đã đăng bài viết rất hay này.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả