talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn-Võ Thu-Hương – Nghịch lý của Tự do – Tình dục, Văn hóa, và sự cai trị Tân Tự do tại Việt Nam – phần Kết luận (1)

24/06/2009 | 7:00 chiều | Comments Off on Nguyễn-Võ Thu-Hương – Nghịch lý của Tự do – Tình dục, Văn hóa, và sự cai trị Tân Tự do tại Việt Nam – phần Kết luận (1)

Tác giả: Cao Hùng Lynh

Chuyên mục: Chính trị - Xã hội, Điểm sách, Tư tưởng
Thẻ: > >

Cao Hùng Lynh dịch

Bìa cuốn Ironies of Freedom

Bìa cuốn Ironies of Freedom

Nửa cuối năm 2006, trong khi Hà Nội đang chuẩn bị hàng loạt các cuộc hội nghị thượng đỉnh Hợp tác Kinh tế Á châu Thái Bình dương (APEC), viện Bảo tàng Dân tộc học và viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã mở một cuộc triển lãm, kéo dài từ ngày 16 tháng Bảy đến 17 tháng Mười Hai, mang tên “Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp: 1975 – 1986.” APEC là hình thức khu vực của một thỏa ước tự do mậu dịch, đặt các quốc gia Á châu – Thái Bình dương vào bản đồ thương mại toàn cầu. Tổng thống George W. Bush  đến tham dự hội nghị APEC tại Hà Nội vào tháng Mười Một nhằm dọn đường cho Việt Nam gia nhậpTổ chức Thương mại Thế giới; nghĩa là đặt chân vào một nền kinh tế Tân Tự do đã được định chế hóa. Việt Nam chưa bao giờ hướng về một viễn tượng thịnh vượng và tự do một cách tự tin như thế. Kim Ninh, giám đốc văn phòng đại diện tại Việt Nam của Asia Foundation, đã viết trên tờ Wall Street Journal như sau: “Cả thủ đô của Việt Nam chợt xôn xao về một màn trình diễn bất thường: một cuộc triển lãm được tổ chức nhằm chỉ trích mạnh mẽ quá khứ xã hội chủ nghĩa của đất nước này.”[i] Quả thực, cái dĩ vãng ấy, cả về phương diện thời gian lẫn tinh thần, đã được cuộc triển lãm phơi bày như là giai đoạn tăm tối của nền kinh tế chỉ huy xã hội chủ nghĩa, một nền kinh tế đã tước đoạt mọi ước vọng của người dân đối với các sản phẩm vật chất và tinh thần.

Bước vào nơi triển lãm, người xem được đón chào bằng một tấm panô gọi “thời kỳ bao cấp” là “một thời bi tráng, đồng thời cũng là một bài học đắt giá về quy luật phát triển xã hội.”[ii] Khi mở đường cho một cuộc nhìn lại từ địa vị hiện tại của Việt Nam, một địa vị dựa trên  sinh hoạt thực tiễn cùng với sự thức ngộ, tấm panô đã nhấn mạnh đến sự thiếu hiểu biết trong quá khứ về các động lực xã hội có tính chất khoa học và kiểm nghiệm. Cái cảm giác đi vào khoảng không gian dưới lòng đất có ánh sáng lờ mờ được vây quanh bằng những bức tường đá ở nơi triển lãm thúc giục một cuộc hành trình mang hơi hướm khảo cổ vào miền trầm tích của ký ức. Việc thẩm mỹ hóa các vật trưng bày đã gợi nên một tâm cảm bi hùng mà tấm panô của viện bảo tàng đã nhắc đến. Cái bi thảm của sự dốt nát được làm cho xứng hợp với tính anh hùng của nhân dân, những kẻ đã đương cự với tình trạng khan hiếm hàng hóa.

Toàn bộ một thời kỳ đã hiển hiện qua các vật dụng hoặc các nơi trao đổi hàng hóa được tạo dựng lại, từ kho gạo, cửa hàng bách hóa cho đến nơi ăn chốn ở – tất cả hàng hóa đều được cấp phát theo một hệ thống phân phối dựa trên những phẩm hạng công dân do nhà nước đặt ra. Các tấm panô viết bằng hai thứ tiếng đã kể lại cho du khách nội địa lẫn ngoại quốc về cảnh tượng người Hà Nội xếp hàng nhiều giờ từ tờ mờ sáng để mua “gạo mốc, hôi, mọt”, hoặc về nỗi khát khao hàng hóa, những thứ vốn khan hiếm đến nỗi đã chiếm một địa vị gần như là thiêng thánh. Việc treo và xếp đặt một cách thẩm mỹ các mặt hàng tiêu dùng này lên đã khơi gợi lại cái địa vị thiêng thánh như thế trong đời sống thiếu thốn của người dân. Người xem nhìn thấy một chiếc xe đạp quý giá được treo lơ lửng trong không trung, hoặc chứng kiến một quả trứng, một cục xà-bông, một lọ thủy tinh penicillin đựng mì chính (bột ngọt) được sắp xếp trang nhã dưới ánh đèn pha. Một bài vè nổi tiếng nói về thời kỳ này, được viết bằng chữ lớn trên các bức tường, đã minh họa cho một hệ thống dục lạc xoay quanh sự khan hiếm hàng hóa:

Một yêu anh có may ô

Hai yêu anh có cá khô để dành

Ba yêu anh rửa mặt bằng khăn

Bốn yêu anh có cái quần đùi hoa.

Việc không có sự chọn lựa trong tiêu thụ hàng hóa được cuộc triển lãm thuật lại như là sự không có lựa chọn trong lãnh vực sáng tác văn nghệ. Lời giới thiệu về đời sống văn nghệ cho biết: “Thời gian đầu sau đất nước thống nhất, nhiều tác giả đã nhận ra sự bức bối và các vấn đề của đời sống lúc đó”, nhưng “những thử nghiệm ban đầu của nhiều văn nghệ sĩ đã gặp không ít khó khăn bởi cung cách quản lý mang tính ‘trói buộc,’ ‘khuôn phép’ của cơ chế”[iii]. Panô dẫn chuyện đã liên kết tình trạng thiếu tự do nghệ thuật của các nhà sáng tác văn nghệ với tình trạng thiếu tự do trong tiêu thụ hàng hóa: “Với cơ chế quản lý khắc nghiệt và ấu trĩ, đông đảo công chúng không tiếp xúc được với nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật và nhân văn”[iv]. Panô dẫn chuyện, một cách chắc nịch, đã định nghĩa tự do như là sự chọn lựa trong việc tiêu thụ các hàng hóa vật chất và sản phẩm văn hóa: “Thời bao cấp được biết đến như thời kỳ gian khổ với cơ chế quản lý kinh tế – xã hội không thích hợp, gây ra sự thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần, sức sản xuất bị kìm hãm và xã hội trì trệ, con người bị hạn chế trong sáng tạo, và không có sự lựa chọn trong thụ hưởng”.[v]

Việc xem sự thiếu vắng chọn lựa trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm vật chất và văn hóa như là sự mất tự do đã khiến cho tình trạng hiện thời hiển nhiên trở thành một tình trạng có tự do – một sự tự do được cho là hiện hữu nhờ vào sự dồi dào hiện thời của hàng hóa. Thừa nhận một quá khứ mất tự do bằng tâm cảm hoài niệm và bi hùng đã khơi dậy tình cảm yêu nước, như đã được nhiều người Việt Nam biểu lộ qua những dòng bình luận trong nhật ký triển lãm. Một thiếu niên gào lên: “Tôi yêu Việt Nam”. Điều cuộc triển lãm không nói ra chính là kiểu lập luận mà dựa vào đó vấn đề sau đây có lẽ đã được ngầm hiểu: tái tổ chức nền kinh tế với những thèm khát dục lạc xoay quanh một hệ thống phân phối hàng hóa mới. Đồng thời, cuộc triển lãm đã thực hiện hành động chối bỏ một cách tập thể, che đậy sự pha trộn giữa quyền lực cai trị có tính chất vừa đàn áp, vừa kỷ luật được duy trì bởi các điều kiện của nền kinh tế Tân Tự do toàn cầu.

Sự khẳng định quyền tự do sản xuất, buôn bán và tiêu thụ đã xuất hiện đúng vào thời gian diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh APEC và trùng với các giai đoạn chung cuộc của việc Việt Nam xin gia nhập tổ chức WTO, một hành động có tính biểu tượng về sự hội nhập hoàn toàn của Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu, một nền kinh tế đặt nền tảng trên học thuyết kinh tế Tân Tự do. Bộ mặt Việt Nam mà cuộc triển lãm đã trình ra cho thế giới đã xác nhận một khoảng cách thời gian giữa sự không có tự do của quá khứ và sự có tự do của hiện tại, giữa sự khan hiếm hàng hóa của quá khứ và sự thịnh vượng của hiện tại, hay nói một cách ngắn gọn, giữa sự không thích hợp của quá khứ đối với nền kinh tế Tân Tự do toàn cầu và sự xứng đáng của Việt Nam đối với việc hội nhập trong hiện tại và tương lai.

Điều không được trình diễn cho thế giới thấy chính là hành động bắt bớ tràn lan xảy ra cùng thời gian này, vào tháng Mười Một năm 2006 và tháng Một năm 2007, đối với những người vận động tổ chức nghiệp đoàn, những người đang tìm cách thành lập một công đoàn độc lập có tên là Hiệp hội Đoàn kết Công Nông Việt Nam. Tiếp theo đó là việc tống giam gây chấn động dư luận linh mục đối kháng Nguyễn Văn Lý cùng với hai luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân vào tháng Hai  năm 2007. Tất cả các nhân vật này đều bị ghép vào tội tuyên truyền chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trong thời đại thông tin hiện nay, những hình ảnh về sự mất tự do đã nhanh chóng xuất hiện để cạnh tranh với thông điệp mà cuộc triển lãm ở Hà Nội muốn gởi gắm: những hành động như thế đã lùi vào dĩ vãng. Đọan video phiên tòa linh mục Nguyễn Văn Lý hồi tháng Ba 2007 cho thấy công an đã bịt miệng và lôi ông ra khỏi phòng xử án vì ông đã hô vang một khẩu hiệu chống Đảng. Hình ảnh này đã lan truyền khắp thế giới, đồng thời được sao chép bằng nhiều hình thức khác nhau trên trang mạng đa truyền thông Youtube.[vi] Sau phiên tòa xử hai luật sư kể trên hồi tháng Năm, nhiều bình luận gia đã nói về “thông điệp không khoan nhượng của Hà Nội” gửi đến những người cổ võ một chế độ đa đảng có ích hơn cho việc thực thi dân chủ và tự do chánh trị.[vii] Xem chừng như Việt Nam đang mang hai bộ mặt khi ta nói đến vấn đề tự do; và tôi cho rằng không bộ mặt nào có tính chất lừa mị.

Trường hợp này của Việt Nam cho thấy rằng việc cai trị trong hoàn cảnh toàn cầu hóa Tân Tự do hiện nay đang khoác nhiều hình thức nghịch lý, không phải được duy trì bằng tàn tích của một giai đọan quá khứ nào đó, mà bằng những điều kiện đương thời. Tận dụng tự do chọn lựa của giới doanh nhân và người tiêu thụ trong các thành phần dân số khác nhau mang đến lợi ích hỗ tương cho cả nền kinh tế Tân Tự do toàn cầu lẫn đảng cai trị ở Việt Nam. Nhưng đồng thời, sự đàn áp do đảng cai trị gây ra, bằng tất cả các bộ máy đàn áp lành nghề vốn có trong suốt chiều dài lịch sử áp bức của nó, cũng nằm trong lợi ích hỗ tương của cả hai thực thể nói trên. Cặp phạm trù tự do – mất tự do đã bộc lộ tính lưỡng phân của đảng cai trị trong việc hội nhập nền kinh tế tân tự do toàn cầu.

Sự bùng phát của việc buôn bán tình dục, cùng với những can thiệp của nhà nước, và cách biểu hiện của nó trong nền văn hóa đại chúng, đã minh họa rõ nét cho điều đang diễn ra vừa nói. Thị trường toàn cầu đã mang đến nhiều động lực mới xoay quanh quyền tự do mua bán. Các nghề lâu đời như mãi dâm giờ đây đã có những mối quan hệ chằng chịt với các động lực mới này. Hiện nay, mại dâm phải dính liền với giới doanh nhân khi họ muốn tạo dựng các mối quan hệ cá nhân nhằm tiếp cận các phương tiện sản xuất và trao đổi trong một nền kinh tế mới. Việc tiêu thụ tình dục, ngoài ra, còn liên quan đến sự phân tầng xã hội, sự xuất hiện của một tầng lớp doanh nhân mới, cùng với việc khẳng định giai tầng và bản sắc dân tộc của họ.

Bởi vì các động lực thị trường xảy ra bên ngoài sự hoạch định trung ương của một nhà nước kiểu Lê-nin, cho nên các nhà cai trị bắt đầu cảm nhận chúng là một phần của các quy luật kinh tế – xã hội tự hành ngoài sự chi phối của nhà nước. Các viên chức nhà nước khởi sự tái định nghĩa khái niệm cai trị như là một sự can thiệp để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong lãnh vực kinh tế – xã hội này, một lãnh vực chỉ có thể am tường bằng sự hiểu biết của một nhà chuyên môn. Các nhà hoạch định kinh tế nhà nước và các nhà quản trị doanh nghiệp là những người đầu tiên đón nhận khái niệm mới về lãnh vực kinh tế – xã hội tự hành, thừa nhận việc can thiệp có tính cách chuyên môn của các cơ quan hữu trách của chánh quyền. Thế là những người khác cũng đã bước theo. Để bảo vệ tính thích ứng của mình, các bè phái trong Đảng đã tham gia các cơ quan hữu trách này của chánh phủ, nhằm thúc đẩy quyền xét đoán thông qua việc can dự vào hành động giải quyết các “vấn đề” nảy sinh trong lãnh vực xã hội.

Các nhà cai trị thuộc nhiều cơ quan khác nhau của chánh phủ đã tái mã hóa mãi dâm thành một vấn đề xã hội đang diễn ra, một vấn đề có nhiều khía cạnh phải đối phó, tùy theo thẩm quyền phán xét tương ứng của họ. Các viên chức y tế cộng đồng tuyên bố rằng họ cần can thiệp vào vấn đề mãi dâm để bảo vệ sức khỏe và hạnh phúc của dân chúng. Họ tập trung sự chú ý của công luận vào gái điếm và các mối đe dọa bệnh tật nhằm đưa việc điều trị và giáo dục y tế đến với nhiều người hơn. Những viên chức trong ngành công an thì tuyên bố rằng họ cần phải khống chế nạn mãi dâm để chống lại tội ác và gìn giữ trật tự xã hội. Họ sử dụng sự can thiệp vào mãi dâm để mở rộng các họat động giám sát của mình. Các viên chức xã hội, bên cạnh đó, nói rõ họ cần phải bắt giữ gái mãi dâm để phục hồi nhân phẩm. Họ dùng các trại phục hồi nhân phẩm để đề cao mẫu phụ nữ đoan chính, “bảo vệ truyền thống Việt Nam”.

Các cơ quan y tế cộng đồng của chánh phủ, khi được ngành y khoa cung cấp thông tin, đã kiểm soát hành vi của các cá nhân bằng cách biến họ trở thành những chủ thể có trách nhiệm với sự chọn lựa liên quan đến sức khỏe và hạnh phúc của chính mình. Dẫu có sự khác biệt trong cách đối xử giữa những phụ nữ lao động tình dục thuộc giai cấp thấp với phụ nữ thuộc các giai cấp trung và thượng lưu, nhưng các viên chức y tế nhà nước và phi nhà nước đều giáo dục các cá nhân này, đồng thời giám sát sự chọn lựa của họ dựa theo các tiêu chuẩn của ngành y khoa. Việc chăm sóc sức khỏe như thế có thể được đảm nhận bởi các phòng mạch tư nhân và bởi chính những cá nhân có liên can; điều này cho phép chánh quyền cai trị cùng với thị trường. Và y khoa, với tư cách là một bộ phận của tri thức và nghề nghiệp, đã có những giá trị và tiêu chuẩn của chính nó. Trên cơ sở đó, những người hành nghề y có thể phê phán các hành động thực tế của chánh quyền đi ngược lại các giá trị y tế, chẳng hạn như sự can thiệp bằng lực lượng cảnh sát.

Trái lại, cảnh sát làm cho cá nhân phải có tinh thần trách nhiệm thông qua sự đàn áp trực tiếp. Sự việc họ tự cho mình là kẻ có kiến thức chuyên môn đã giải-chánh-trị-hóa hành vi giám sát, đồng thời tập trung tối đa vào công tác chống trả tội ác. Sự tự cho có kiến thức chuyên môn như thế không nằm ở chỗ truyền đạt kiến thức chuyên môn này để, thông qua việc thuyết phục của những chuẩn mực như ngành y khoa từng làm, hướng dẫn sự lựa chọn của người dân. Thay vào đó, kiến thức chuyên môn của cảnh sát sẽ làm cho họ trở nên có hiệu quả hơn trong việc đàn áp để duy tri trật tự. Nhờ vào hối lộ và quyền hạn rộng lớn, cảnh sát làm điều này theo những cách có thể mang lại lợi ích cho họ, nhằm bảo vệ hoặc điều hành các cơ sở du lịch và giải trí trong thị trường. Chẳng những không cản trở các hoạt động thị trường, cảnh sát còn bảo đảm cho sự hoạt động của thương mại mà không phải dung dưỡng những đối tượng tự do chọn lựa trong số những người lao động tình dục thuộc giai cấp thấp mà họ bắt giữ.

Tương tự, trại phục hồi nhân phẩm cũng không tạo ra những đối tượng có khả năng chọn lựa. Trại viên bị đối xử như trẻ con thông qua một chế độ cải huấn toàn triệt. Tống giam là một kiểu quyền lực áp chế và cưỡng bức; tuy nhiên nó thích ứng với nhu cầu lao động của sự toàn cầu hóa Tân Tự do. Giống với hai lãnh vực can thiệp chuyên ngành nói trên, phục hồi nhân phẩm, với tư cách công tác xã hội, cần đến sự hiểu biết về các hoàn cảnh kinh tế – xã hội và những khả năng của chúng trong mối liên hệ với nền kinh tế toàn cầu. Mặc dầu sự hiểu biết xã hội không mang tính cách chuyên biệt như những kỹ pháp giám sát thuộc các lãnh vực kiến thức chuyên môn của cảnh sát, nhưng trại phục hồi nhân phẩm nhà nước dựng lên mẫu phụ nữ đoan chính, được tưởng tượng như là sự phản ứng hợp lý đối với các nhu cầu kinh tế – xã hội, đồng thời tận dụng mọi thứ có vẻ là những cơ hội kinh tế do nền kinh tế toàn cầu mang đến. Việc này đã mở đường cho sự tham gia của các hội đoàn phi nhà nước vào công tác xã hội.

Kỷ cương y tế như là một phương thức thuyết phục bằng kiến thức, cùng với sự giam cầm cưỡng ép như là một phương thức cai trị, cả hai đều hiện đang song song tồn tại ở Việt Nam. Sự can thiệp có tính cách chuyên ngành đã cho phép tình trạng cùng tồn tại này xảy ra bằng cách giữ một khoảng cách tách biệt giữa các thực thể chánh phủ và trách vụ của chúng. Trong cuộc nghiên cứu này, có sự căng thẳng nảy sinh giữa hai cách tiếp cận: một là cách nhìn đưa ra các yếu tố thiết yếu của một kỹ thuật cai trị, và hai là cách tiếp cận bộc lộ tính ngẫu nhiên lịch sử của các cuộc xung đột, thương lượng và dàn xếp giữa những bè phái trong Đảng và các cơ quan chánh quyền. Khía cạnh mang tính thiết yếu liên quan đến sự can thiệp có tính cách chuyên môn dựa trên tri thức và những chọn lựa của thị trường dẫn tới hành động giải-chánh-trị-hóa và sự tư nhân hóa cai trị trong chừng mực nào đó. Sự can thiệp có tính cách chuyên ngành khoanh vùng mà trong phạm vi đó, các phe nhóm nảy sinh những sáng kiến và chiến lược hầu nới rộng thẩm quyền và sức mạnh tự bảo toàn của mình – đây là khía cạnh mang tính ngẫu nhiên trong phân tích này. Sự can thiệp có tính cách chuyên ngành không ngăn trở việc sử dụng sức mạnh đàn áp trong hành động giám sát hoặc sự tống giam để cải huấn; đồng thời, nó cũng không ngăn trở hành động biện minh đi kèm theo đó cho việc phòng chống tội ác hoặc đề cao bản sắc dân tộc. Sự can thiệp có tính cách chuyên ngành cho phép các biện pháp can thiệp được thực hiện cùng với kiến thức chuyên môn, đồng thời giải-chánh-trị-hóa (không còn nhắc đến một cách công khai ý thức hệ Mác-Lê của nhà nước) và mở đường cho việc chánh quyền chuyển giao một số chức năng cai trị cho các thực thể xã hội, cùng lúc bảo đảm rằng cả nhà nước lẫn xã hội có cùng mục tiêu.

Thêm vào đó, từ sự can thiệp liên quan đến vấn đề mãi dâm, tất cả các viên chức trong những cơ quan chánh phủ này đều được hưởng lợi dưới dạng thăng quan tiến chức, công ăn việc làm, tiền thưởng, hoặc tham nhũng. Rõ ràng là các bộ phận khác nhau của chánh phủ đều thủ lợi một cách khác nhau từ phần việc của mình. Cơ quan y tế cộng đồng, chẳng hạn, kiếm lợi từ chính sự nhấn mạnh của nó đến việc giáo dục các lựa chọn của người tiêu thụ, chẳng những dưới hình thức lợi nhuận thu được trong thị trường sức khỏe, mà còn thông qua các ngân khoản viện trợ của những tổ chức quốc tế phi chánh phủ. Cơ quan công an kiếm lợi từ miếng bánh thương mại liên quan đến chính tội ác và những tệ đoan mà nó đàn áp. Cơ quan phục hồi nhân phẩm kiếm lợi chẳng những từ các khoản kinh phí do chánh phủ cấp phát để điều hành các trung tâm cải huấn, mà còn từ việc sử dụng lao động tù nhân vào các đơn đặt hàng xuyên quốc gia.

Bên trên những quyền lợi được quan niệm một cách hẹp hòi này, chánh quyền, như là một tổng thể, đã thi hành các chức năng ý thức hệ giúp nó tận dụng thị trường xuyên quốc gia và tạo ra những loại công dân khác nhau qua lối phân biệt cai trị này. Trong việc tạo ra các loại công dân khác nhau, tầng lớp được hưởng lợi nhiều nhất và, do đó, sẽ ủng hộ đảng thống trị nhất chính là tầng lớp thương gia và người tiêu thụ mà sự thịnh vượng của họ lệ thuộc vào quyền sở hữu phương tiện sản xuất của nhà nước kiểu Lê-nin và vào quyền lực độc quyền nhằm thu lợi tối đa. Nếu cuộc triển lãm Hà Nội đặt sự đàn áp vào thì quá khứ, thì các cuộc bắt bớ gần đây đã cung cấp một bằng chứng ngược lại với lời tiên đoán rằng kiểu cai trị dựa trên sự tự do chọn lựa sẽ chiến thắng sự áp chế trong một tương lai có thể nhìn thấy được. Cả hai vẫn phải cùng tồn tại bên nhau.

Sự phân tích của tôi về Việt Nam có lẽ sẽ đưa chúng ta đến việc xem xét lại chủ thuyết Tân Tự do ở mức độ chi tiết hơn. Tự do là tiếng kêu lanh lảnh của chủ thuyết Tân Tự do. Trong số những người khảo sát vấn đề tự do trong chủ thuyết Tân Tự do, những người theo phái Foucault đã thực hiện sự phân tích có chiều sâu nhất về cách thức quyền lực vận hành trong xã hội tự do. Trước đây, nhất là trong tác phẩm Discipline and Punish, Foucault đã chỉ ra những kỹ pháp quyền lực nhằm hướng đến việc tập cho mỗi cá nhân quan sát chính mình, điều chỉnh hành vi của mình theo những tiêu chuẩn và giá trị được đề ra bởi những định chế từ trong không gian của trường học, đến nhà thương, đến xưởng thợ, đến nhà tù, vân vân. Có nghĩa là những giá trị mang tính chuyên môn. Thí dụ, ngành kiến thức y khoa sẽ ấn định như thế nào là một cơ thể hoạt động bình thường so với sổ đông các cơ thể trong chủng loại, xét đoán bịnh nhân theo tiêu chuẩn của tình trạng bình thường, và đề ra những cách điều trị để bịnh nhân trở về với trạng thái này. Tiến trình này đòi hỏi bịnh nhân tự kiểm soát mình, và tuân thủ các tiêu chuẩn và giá trị của ngành y khoa. Foucault cho là loại quyền lực này mang tính “kỷ luật” (disciplinary power), và cho rằng khái niệm chủ thể cá nhân được hình thành trong cơ chế quyền lực này nối kết một mạng lưới liên tục nhau. Nếu nhà trường và bịnh viện thất bại trong việc kỷ luật một cá nhân trong tính chủ thể cá nhân như đã nói, thì nhà tù sẽ là nơi làm công việc này. Foucault từng bị chỉ trích ở tính liên tục của loại quyền lực này qua các định chế từ trường học đến nhà tù, loại trừ mọi khả năng phản kháng có ý nghĩa. Nó loại trừ khả năng chọn lựa trong chính trị. Nếu trường học, nhà thương, và nhà tù đều sử dụng cùng một loại quyền lực để bình thường hóa mỗi cá nhân qua chính sự tự giác của nó, thì ta dựa vào cơ sở nào để chọn xây trường học và nhà thương thay vì chọn xây nhà tù? Do vậy, công trình sau đó của ông về sự chủ thể hóa (subjectification) – tiến trình hình thành chủ thể nhờ vào tính chủ thể và sự chọn lựa – đã đưa đến một cái nhìn trực tiếp hơn về chánh quyền tự do, một thực thể hoạt động dựa trên, và vì thế sản sinh ra, chủ thể tự do.

Nikolas Rose đã nhìn thấy sự tự do của cá nhân tư lợi này khi nó phát triển thành “đặc tính” của thời kỳ trước đây trong “nghệ thuật cai trị tự do,” một kỹ pháp, vào thế kỷ 19, “cai trị bằng cách làm cho con người có tự do” trong địa hạt thị trường, xã hội dân sự và gia đình.[viii] Tuy nhiên, Rose nhìn thấy sự xuất hiện của một cách tưởng tượng về xã hội[ix] vào cuối thế kỷ 19, cái có thể nhận ra trong các bài viết của nhiều tác giả theo phái tự do sau đó như J.A. Hobson, L.T. Hobhouse, hoặc trong xã hội học của Emile Durkheim.[x] Cá nhân, giờ đây, sẽ hiểu rõ những chọn lựa và khát vọng của họ “trong xã hội.”[xi] Rose dựa vào các nghiên cứu trong chiến lược xã hội mới về bảo hiểm của Jacques Danzelot và Francois Ewald để lập luận rằng nhà nước phúc lợi (welfare state) của giữa thế kỷ 20 đã phát triển đến đỉnh điểm vào buổi hoàng hôn của giai đoạn hai này của sự cai trị tự do, một sự cai trị cố gắng mang lại cho cá nhân những điều kiện để thực thi quyền tự do của họ trong xã hội.[xii] Cuối cùng, Rose gọi “chủ thuyết tự do đã phát triển xa” là lối cai trị Tân Tự do / Tân Bảo thủ, cái mà chúng ta đã nếm trải ở Anh quốc, Hoa Kỳ và Âu châu từ thời Margaret Thatcher và Ronald Reagan đến nay. Kiểu cai trị Tân Tự do này đã tìm cách làm sống lại trách nhiệm cá nhân từ sự lệ thuộc của nó vào nhà nước phúc lợi. Thay vì là sự quay trở lại chính sách không can thiệp của chánh phủ tự do ban đầu của thế kỷ 19, chủ nghĩa cá nhân trách nhiệm đã trở thành một hệ tiêu chuẩn để tái thiết một cách chủ động các mối tương quan chánh trị và xã hội theo khuôn mẫu kinh tế.[xiii] Tinh thần doanh nghiệp đã trở thành một tinh thần kiểu mẫu của các thực thể chánh quyền và xã hội. Chẳng hạn như, học đường hiện nay bị buộc phải hoạt động trong logic cạnh tranh của thị trường, theo đó giáo sư và hiệu trưởng phải tạo ra các kết quả thi cử thích đáng để nhận được nguồn tài trợ của chánh phủ và để giữ chân sinh viên. Thậm chí, một cá nhân cũng là một doanh nghiệp. Bộ máy chánh phủ bị thu nhỏ để tiết giảm giá phí điều hành xã hội và để làm cho cá nhân tự chịu trách nhiệm như là doanh nhân, nếu không phải của một công ty, thì ít nhất cũng là của một xí nghiệp kinh doanh nguồn vốn nhân lực cá nhân. Chúng ta có thể nói rằng cái logic của thị trường, thay vì tự bảo vệ để chống lại sự xâm phạm của chánh quyền trong giai đoạn tự do ban đầu của thế kỷ 19, giờ đây đã thực hiện hành động xâm lấn vào ngay trong chánh quyền. Mục tiêu của chánh quyền là để bảo đảm sự vận hành của doanh nghiệp trong một khung cảnh kinh tế cực đại hóa các điều kiện để cá nhân và công ty có thể thực hiện sự chọn lựa và chịu trách nhiệm về sự thành bại của mình.

Mặc dầu những suy niệm của Foucault về các kiểu cai trị tự do là một phản ứng lại sự xuất hiện của chủ thuyết Tân Tự do và Tân Bảo thủ tại Anh quốc, Hoa Kỳ và Âu châu, và mặc dầu chiều hướng khảo cứu này đã soi rọi nhiều ánh sáng lên sự cai trị ở thời đại chúng ta, nhưng nó không nói được một cách tương xứng cái nhân cách bị phân đôi hiển hiện trong sự khó khăn của chúng ta khi định danh loại chánh quyền đang cai trị chúng ta tại Hoa Kỳ và Anh quốc. Nó là Tân Tự do hay Tân Bảo thủ? Rose đã gộp tất cả lại bằng nhãn hiệu “chủ nghĩa tự do đã phát triển xa.”

Phân tích của Rose đã đi một quãng đường dài trong việc làm cho chúng ta hiểu các ma trận quyền lực mới bằng cái mà ông nghĩ là một biểu đồ cai trị mới cho phép sự phân tích từ những lời kêu gọi trở về với cộng đồng, cho đến những mấu chốt kiểm soát kiểu Deleuze, và từ những những kỹ thuật bao gồm hoặc loại trừ, cho đến lối quản lý nhằm giảm tình trạng thiếu an ninh trong xã hội.[xiv] “Cộng đồng” đã được tạo ra bằng những hoạt đông nghiên cứu cộng đồng, giám sát cộng đồng, phát triển cộng đồng, v.v… như thế, và đã trở thành nơi để chánh quyền xác định ai là kẻ bị cai trị, và nơi thực hiện các mối tương quan giữa kẻ cai trị và người bị trị.[xv] Cộng đồng ban phát hoặc tước đi tính dân sự của người công dân. Deleuze lập luận rằng công trình học thuật của Foucault (về kỷ luật cá nhân như là một kiểu quyền lực) khả dĩ vì đã được thực hiện vào buổi hoàng hôn của một thời đại.[xvi] Thay vào đó, chúng ta đang bước vào các ma trận quyền lực mới, những thứ được đặt nền tảng trên các nút thắt kiểm soát, thông qua những con số được lưu trữ, những xếp loại được chấp nhận, không phải về bản chất của cá nhân, mà về những yếu tố bên ngoài của họ, chẳng hạn như tài sản hoặc khả năng thanh toán dựa trên các chỉ số tín nhiệm. Tất cả những hệ thống mới này sẽ định đoạt con đường thủ đắc tư cách công dân tích cực.[xvii]

Khi bàn luận về việc xử trí tình trạng mất an ninh, điều quan trọng nhất là Rose đã thừa nhận sự loại trừ nhiều thành phần công dân, những kẻ bị ngăn cản tiếp cận với quyền lợi dân sự thông qua cộng đồng hoặc thông qua sự xếp loại chuyên biệt kiểu Deleuze. Nhưng thật lạ lùng, những cách thức mà qua đó người vô gia cư, người thất nghiệp, thanh niên đô thị, kẻ buôn bán ma túy, thành viên băng đảng tội ác, người di cư, người lao động nhập cư, v.v… bị cai trị, đối với Rose, lại không khác với sự cai trị được tổ chức theo các quan niệm về tự do, mặc dầu chỉ là tự do kinh tế. Ông gán tất cả những phương tiện áp bức thiếu tôn trọng tự do này vào nhãn hiệu cai trị bằng sự quản lý những tình trạng mất an ninh, mà không hề chỉ rõ tình trạng mất an ninh này xuất phát từ đâu. Thế cho nên, khi thừa nhận sự gia tăng nhà tù ở Anh quốc và đặc biệt là ở Hoa Kỳ, Rose không coi đây là hiện tượng song hành đầy sáng tạo của lối cai trị theo chủ thuyết Tân Tự do, một sự cai trị đã đẩy mọi thứ tự do vào tầm chi phối của kinh tế vượt ngoài những gì chúng ta đã thấy trước đó. Thay vào đó, ông viết về “sự đề cao tính kỷ luật tự giác của thế kỷ 19 như là một đồng hành của tự do chánh trị” và “sự đề cao hình ảnh tự do cá nhân cuối thế kỷ 20, một hình ảnh được biểu thị bằng các thuật ngữ như quyền tự trị, sự chọn lựa và sự tự phát triển tiềm năng, như là đồng hành của tinh thần doanh nhân, sự cách tân và tính cạnh tranh quốc gia.”[xviii] Ngay cả những người theo phái bảo thủ cũ ở Hoa Kỳ cũng cảm thấy mất tinh thần trước sự thiếu quan tâm hiện nay của phái Tân Bảo thủ đối với các quyền tự do cá nhân. Mickey Edwards, cựu chủ tịch của tổ chức American Conservative Union, chẳng hạn, đã than rằng “Đó là một bước rẽ sai lầm của phái hữu” khi mà những người Tân Bảo thủ “đã không đặt tự do lên địa vị hàng đầu.”[xix] Sự thiếu quan tâm đến các quyền tự do này, kể cả các nhân quyền phổ quát được minh định trong Công ước Geneva, xem chừng như đã lan từ các nhà tù của nước Mỹ sang các nhà tù do người Mỹ điều hành tại Iraq.

(Còn 1 kì)


[i] Kim Ninh, “Home Truths in Hanoi”, The Wall Street Online, 7 July 2006: http://online.wsj.com/article/SB11522229856299979.html

[ii] Trích từ panô dẫn chuyện

[iii] Trích từ panô dẫn chuyện

[iv] Trích từ panô dẫn chuyện

[v] Trích từ panô dẫn chuyện

[vi] Xem, chẳng hạn, đoạn video về phiên tòa Nguyễn Văn Lý trên: http://www.youtube.com/watch?v=k2CfXeoMlsE, truy cập ngày 25 tháng Năm, 2007.

[vii] Grant McCool, “Vietnam Trials Send Zero-Tolerance Message”, Reuters 5 tháng Năm, 2007, trên trang mạng http://www.reuters.com/article/worldNews/idUSHAN9920820070506, truy cập ngày 25 tháng Năm, 2007.

[viii] Nikolas Rose, Powers of Freedom: Reframing Political Thought (Cambridge, UK: Cambridge University Press, 1999), 69

[ix] Sách đã dẫn, trang 78 – 83

[x] Sách đã dẫn, trang 116

[xi] Sách đã dẫn, trang 79

[xii] Sách đã dẫn, trang 81

[xiii] Sách đã dẫn, trang 141

[xiv] Gilles Deleuze, “Postscript on the Society of Control”, October 59 (Winter 1992): 3-7

[xv] Rose, Powers of Freedom, 187-188

[xvi] Deleuze, sách đã dẫn

[xvii] Rose, Powers of Freedom, 246

[xviii] Sách đã dẫn, 282

[xix] Mickey Edwards, “Right’s Wrong Turn”, Los Angeles Times, 9 tháng Năm, 2004, Opinion, M1-M2

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Nguyễn-Võ Thu-Hương – Nghịch lý của Tự do – Tình dục, Văn hóa, và sự cai trị Tân Tự do tại Việt Nam – phần Kết luận (1)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả