talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn-Võ Thu-Hương – Nghịch lý của Tự do – Tình dục, Văn hóa, và sự cai trị Tân Tự do tại Việt Nam – phần Kết luận (2)

24/06/2009 | 7:02 chiều | Comments Off on Nguyễn-Võ Thu-Hương – Nghịch lý của Tự do – Tình dục, Văn hóa, và sự cai trị Tân Tự do tại Việt Nam – phần Kết luận (2)

Tác giả: Cao Hùng Lynh

Chuyên mục: Chính trị - Xã hội, Điểm sách, Tư tưởng
Thẻ: > >

Cao Hùng Lynh dịch

Khi viết trong khoảng trống được để lại bởi một phái Tả gần như phá sản vào cuối cuộc Chiến tranh Lạnh, một cuộc chiến mà lịch sử của nó chồng chất những xác chết và con người tàn phế từ trại tập trung Gulag của chế độ Xô-viết cho đến cuộc Đại Cách mạng Văn hóa Trung Quốc, những người theo phái Tân Foucault nhận thấy mình không thể quay lưng lại với sự an toàn ở những khoảng hở của quyền lực trong phạm vi hệ thống tự do chấp thuận những quyền tự do có giới hạn để đi đến một lý giải nào đó nằm ngoài những kỹ pháp quyền lực (technologies of power). Rose, như các lý thuyết gia khác theo phái Tân Foucault, đã tìm cách nhìn ra khả năng chính trị mang tính sáng tạo từ các khoảng hở của những ma trận quyền lực trong chủ thuyết tự do, sử dụng chính những vùng tự do phát sinh trong ma trận ấy để khéo léo đề ra cái nhìn về mỗi đời sống cá nhân như một công trình với cái đích riêng của nó. Đây là một điều có thể hiểu được, vì luận đề này là đường vòng quay lại tiền đề nhân văn cơ bản về mỗi đời sống cá nhân đều đã là cái đích của chính nó, khi mà chủ thuyết nhân văn phổ quát đang bị xói mòn bởi chủ nghĩa Tân Tự do / Tân Bảo thủ đi kèm theo công trình xây dựng đế quốc Mỹ.

Trong lúc các lý thuyết gia như Rose thừa nhận con số quá đông con người phải chịu cảnh giam cầm, thì lại không có lời biện giải nào về lý do tại sao hiện nay việc áp chế như thế lại là một thành tố của lối cai trị Tân Tự do. Đây là lúc chúng ta cần làm sống lại một lối phân tích chánh trị của phái duy vật, một lối phân tích chiếu cố đến việc phê phán cai trị trong chính những nét đặc thù của nó.

Dẫu nợ Foucault và những người theo thuyết Foucault về những ý tưởng xuất phát từ sự lưu tâm đến kỹ pháp cai trị, tôi vẫn phải chỉ rõ nguồn gốc của vấn nạn nằm ở Foucault, nhằm mở rộng các khả năng của phương pháp này. Ngay cả nhà tù của thế kỷ 19 mà Foucault đã khảo cứu trong Discipline and Punish cũng không thể coi như là một phần trong định chế giam cầm mang tính liên tục giữa các thể chế cai quản con người từ bệnh viện, trường học, xưởng thợ, v.v., cho đến nhà tù, giúp sản sinh và khôi phục cá nhân trở về với ý nguyện đã được bình thường hóa như đã nói trên. Foucault thừa nhận tỷ lệ tái phạm pháp cao của tù nhân.[i] Nhưng ông lý giải việc này như là một đặc tính của chính hệ thống nhà tù mà ông mô tả. Foucault lập luận sự thất bại của nhà tù trong việc cải huấn và đưa phạm nhân quay về với xã hội như là những cá nhân đã được khôi phục ý chí kỷ luật thường không đưa đến việc bãi bỏ nhà tù, mà đưa đến việc duy trì và mở rộng hệ thống trừng phạt này.[ii] Nhưng hiện tượng này lại phá vỡ logic của tính liên tục trong định chế giam cầm. Sẽ có lý hơn nhiều nếu nhìn nhận rằng mặc dầu nhà tù có một số đặc điểm giống với trường học hoặc bệnh viện, nhưng nó không phải là phiên bản đen tối hơn của những thứ này. Nói cách khác, nhà tù thường không đưa những phạm nhân đã được cải huấn quay trở lại với các định chế khác của xã hội. Nhà tù dùng một kiểu quyền lực khác biệt, xét về mặt bản chất, một loại quyền lực huấn luyện cá nhân tuân phục sự áp chế, đồng thời không tạo nên khả năng chọn lựa cho chính họ. Và chính vì thế, kiểu quyền lực áp chế trong nhà tù không thể nào được coi như là phù hợp với sự cai trị tự do, cái được tổ chức xoay quanh việc sản sinh chủ thể của sự tự do chọn lựa. Có thể có lý hơn khi nói rằng nhà tù núp đằng sau “nghệ thuật cai trị tự do” vì các dự tính chánh trị nào đó.

Trường hợp Việt Nam đã minh họa cho các kiểu quyền lực khác biệt hiện đang tồn tại song hành với nhau. Trường hợp này khiến chúng ta cân nhắc đến việc tách bạch các kiểu giám sát khác nhau hơn là gộp chúng vào một ý niệm dễ hiểu nào đó. Có như vậy mới dễ dàng hơn trong việc nhận ra cách thức vô số yếu tố chánh trị ngẫu nhiên thâm nhập vào bài toán cần phải giải. Foucault và những người theo thuyết Foucault thường nói tới sự quan tâm của họ đến chủ nghĩa thực nghiệm, một dạng ngẫu nhiên của biến cố hơn là một cấu trúc. Đúng là lối biện giải truyền thống về kinh tế chính trị đã từ chối nhìn ra các yếu tố ngẫu nhiên, đồng thời đã gắn bó quá mức với đủ loại thuyết tiền định, cái đã sản sinh các chân lý giáo điều tạo ra những hậu quả tàn khốc ở khắp nơi trong suốt thế kỷ 20, kể cả những nơi như Việt Nam. Đây chính là điều đã khiến những người theo thuyết Foucault tước bỏ một cách rốt ráo các lý giải mang tính cấu trúc.

Tuy nhiên, khuynh hướng của những người theo thuyết Foucault trong việc minh định các ý niệm “cơ sở nhận thức” (episteme), “ngữ cảnh biện luận” (discursive formation), “tính hợp lý” (rationality), “não trạng” (mentality) nảy sinh từ sự tranh biện và sáng kiến xã hội, thường che mờ sự có mặt của nhiều cái khung cho phép ta hình dung ra xã hội chứ không phải một; sự chắp vá, và đôi khi, sự chiếm đoạt đầy tính vụ lợi liên hệ trực tiếp với các thế lực vật chất. Có lẽ ta không thể đặt tất cả các kiểu giám sát trong toàn bộ một logic cai trị nào đó ở cấp độ chánh quyền. Có lẽ không chỉ mô hình kinh tế là cái được chánh quyền Tân Tự do áp dụng, mà ngoài ra, một nền kinh tế cụ thể cũng được cho phép đòi hỏi nhiều cách thức cai trị khác nhau để qua đó chánh phủ kiểm soát tư cách và hành vi của nhiều thành phần khác nhau trong toàn bộ công dân của nó. Lý giải chủ nghĩa Tân Tự do như là sự bành trướng của tính hợp lý kinh tế sang địa hạt cai trị có thể dùng giải thích cho những việc như tư nhân hóa nhà tù bằng hợp đồng phụ (một hình thức kinh khiếp hơn của hành động này đã phơi bày ở nhà tù Abu Ghraib, khi việc thẩm vấn tù nhân được giao thầu), hoặc việc công ty tư nhân sử dụng lao động tù nhân để bù đắp chi phí điều hành nhà tù cho chánh phủ. Nhưng lối giải thích kinh-tế-như-là-một-mô-thức (the-economy-as-model) như vậy không thể giải thích cho chúng ta biết tại sao và thành phần dân số nào cần phải bị giám sát bằng kiểu áp chế một cách toàn diện như trong nhà tù. Sự toàn cầu hóa kinh tế, việc đẩy ra bên lề một thành phần dân số nào đó, sự chủng tộc hóa (tạo ra những lối nhìn về những tính cách riêng biệt của một giống dân) trong lực lượng lao động, hoặc thậm chí những mưu đồ đế quốc có thể được dùng làm những biện giải ngoại tại và cơ sở  hữu lý hơn cho việc phê phán xã hội. David Harvey, chẳng hạn, từng lập luận rằng mô thức hiện nay trong việc tích lũy tư bản của chủ nghĩa tư bản toàn cầu là một mô thức tích lũy bằng cách truất hữu, trong đó một số người, một số nơi hoặc một số khu vực kinh tế nào đó sẽ bị đẩy khỏi dòng chảy kinh tế để đối phó với sự khủng hoảng của sự tích lũy tư bản quá mức.[iii] Tuy nhiên, dường như không phải toàn bộ dân số sẽ bị truất hữu theo một cách thức giống nhau. Mặc dầu Harvey không khai triển trọn vẹn mối tương quan này, nhưng ta có thể nối kết luận điểm của ông với những hình thức chủng tộc hóa các thành phần dân số khác nhau vì nhu cầu phân biệt lao động trong nền kinh tế liên quốc gia, và vì nó phải tạo ra sự phân biệt trong cơ hội tiêu thụ của nhiều thành phần dân chúng khác nhau (thí dụ, nền kinh tế này cần lao động rẻ, nên không thể tăng lương cho công nhân để họ có khả năng tiêu thụ gần mức độ với giai cấp trung lưu như trong nền kinh tế tư bản theo lối sản xuất Ford ở tiền bán thế kỷ hai mươi). Ngoài ra, ta cũng có thể liên kết lối cai trị đàn áp trên với việc quân sự hóa và chủng tộc hóa trong sự giám sát và trừng phạt (nghĩa là các nhà tù dành cho người nhập cư bất hợp pháp, và sự hiện diện trên tỷ lệ trong dân số của các sắc tộc thiểu số trong các nhà tù thường phạm của Mỹ). Jonathan Simon, chẳng hạn, đã thiết lập mối liên hệ giữa sự toàn cầu hóa với nhà tù dành cho người nhập cư bất hợp pháp ở nước Mỹ.[iv] Hoặc chúng ta có thể nhìn thấy cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ trên toàn cầu cần phải có nhiều tiêu chuẩn mới về câu lưu và giam cầm từ các nhà tù nhập cư cho đến vịnh Guantanamo, nơi tù nhân bị giam không theo bất cứ tiêu chuẩn hiện hành nào, nếu căn cứ theo luật quốc nội và quốc tế. Bây giờ thì chúng ta đã quen thuộc với việc nền kinh tế Tân Tự do liên quốc gia cần đến những khu vực dân số không có cơ hội đồng đều trong sự thịnh vượng để có thể tích lũy tư bản uyển chuyển (flexible accumulation) bằng cách lợi dụng những dị biệt về không gian và thời gian thông qua sự gia công sản xuất ở ngoại quốc (off-shore out-sourcing). Nhưng cái đang trở nên rất dễ thấy trong trường hợp Việt Nam là việc cai trị bằng sự tự do theo kiểu Tân Tự do chủ nghĩa lại rất khác biệt trong cách áp dụng vào những thành phần dân chúng khác nhau trong một nước, cũng như tại các quốc gia khác nhau. Có nghĩa là kinh tế Tân Tự do đòi hỏi một lối phân biệt cai trị đối với các thành phần dân chúng. Song hành với lối cai trị thông qua tính thuyết phục của sự tự do chọn lựa là một hình thức đàn áp mạnh mẽ.

Nhiều luận điểm của những người theo thuyết Foucault đã bác bỏ lập luận Mác-xít cho rằng ý thức hệ là ý thức ngộ nhận, bằng cách tuyên bố lối cai trị theo chủ nghĩa tự do thực sự đã lấy quyền tự do chọn lựa của chủ thể làm cơ sở của nó. Nhưng những phân tích ở đây về Việt Nam cho thấy nếu chúng ta hiện chịu nhiều mức độ đàn áp khác nhau tùy thuộc vào việc chúng ta đứng vào địa vị của người tiêu thụ hay lao động lương thấp trong nền kinh tế toàn cầu hóa, thì có lẽ chúng ta phải đặt lại vấn đề về việc mường tượng ra cái thế giới xã hội của chúng ta và địa vị của chúng ta trong đó là gì; nói cách khác là phải đặt lại vấn đề về ý thức hệ. Nếu nhà tù không phải là sự thật xấu xa của tự do như Rose từng tuyên bố,[v] thì trường hợp Việt Nam cho chúng ta thấy rằng ít nhất đó cũng là một phần của sự thật. Chúng ta có thể tìm kiếm những hành động mang tính ý thức hệ trong lề thói hành xử của chánh quyền. Chánh quyền Việt Nam đã sử dụng những kiến thức mang tính thực nghiệm (empiricist) để hướng dẫn phụ nữ thuộc giai tầng khác nhau cách thức hưởng dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, cũng như tiêu thụ mỹ phẩm và sản phẩm y tế. Đó chính là việc chỉ ra cho các phụ nữ này cái địa vị của họ trong xã hội, đồng thời hướng dẫn họ cách hành xử tương ứng. Tương tự như vậy, xét về phương diện ý thức hệ, chánh phủ ấy đã kêu gọi những phụ nữ thuộc tầng lớp thấp nhận diện ra chính mình khi cải huấn họ bằng cách rao giảng về truyền thống đích thực của phụ nữ Việt Nam, đồng thời buộc những người phụ nữ này phải mường tượng ra địa vị cố hữu của họ trong nền kinh tế toàn cầu.

Những mường tượng có tính chất ý thức hệ đòi hỏi những biểu hiện mang tính biểu tượng. Trong hệ thống thị trường, sự biểu tượng hóa không chỉ nằm trong tay chánh quyền. Vì Việt Nam đã được thị trường hóa, nên chánh quyền không còn có thể độc quyền về ý thức hệ. Điều này đã trở nên rõ ràng khi chúng ta khảo sát nền văn hóa đại chúng có tính thương mại đang xuất hiện tại Việt Nam. Khi chánh quyền tập trung vào nạn mại dâm để có thể quản lý sự tự do thị trường như là thành tố hiển nhiên của một thực trạng xã hội, thì các bộ phim thành công nhất về mặt thương mại, tính đến nay, đều đề cập đến thực trạng xã hội trong một phương pháp tự xưng là tả chân trong một thứ chủ nghĩa hiện thực được đánh dấu bằng sinh hoạt mua bán tình dục và thân phận của người phụ nữ. Những mô tả của nền văn hóa đại chúng về hiện thực, giờ đây, đã xảy ra trong vùng tác động của tượng (symbolic field) được hình thành bởi tự do thị trường và những phản ứng của chánh quyền trong việc sử dụng cả kiến thức mang tính thực nghiệm lẫn các giá trị truyền thống mang tính áp chế. Cuộc khảo sát chi tiết các hình ảnh thực tế được đánh dấu bằng thân phận của những phụ nữ lao động tình dục trong văn hóa đại chúng cho ta hiểu thêm về những hình thức biểu hiện tự do thị trường như là một thực tế trước mắt, và về sự điều tiết quyền tự do mua bán này bên ngoài tầm với  của chánh phủ.

Cuộc khảo sát như thế cho thấy sự tự do theo thuyết Tân Tự do đã hoạt động trên sự tái sắp xếp nền kinh tế theo một hệ thống dục lạc trong tương quan với hàng hóa. Những khao khát về một thế giới hàng hóa thừa mứa chính là cái tiền đề của câu chuyện mà cuộc triển lãm Hà Nội kể lại, theo đó, sự thiếu thốn ở quá khứ đồng nghĩa với sự mất tự do. Các bộ phim nổi tiếng nói trên của Việt Nam cho thấy các khát khao như vậy làm nên lực đẩy cho tự do thị trường. Lực đẩy của sự khao khát này là cái còn lại, ngoài sự tự do chọn lựa những món hàng nhất định nào đó. Đó là cái còn lại, hoặc “cái Thực,” nếu chúng ta mượn khái niệm của Lacan để gọi tên nó. Sự dư ra của cái còn lại này được biểu hiệu hóa qua sự nuông chiều những ham muốn cụ thể như trong việc mua bán tình dục.

Ngoài ra, các bộ phim được ưa chuộng này còn cho thấy ngôn ngữ của hàng hóa – những mật ngữ của hiện tượng sùng bái hàng hóa như trong phân tích của Mác – có thể được dùng để giải trừ những hiểm nguy của sự tự do thị trường, đồng thời để tránh né mâu thuẫn trong lối phân biệt cai trị kể trên. Sự bế tắc trong việc kiểm soát tình dục thương mại, cái được coi như là triệu chứng của tự do thị trường trong bộ phim thương mại Gái nhảy, đã được giải quyết bằng cách chuyển tính xác thực trong cả hai ý nghĩa cái thực (the real) và cái chân (the true) thành những sản phẩm có thể tiêu thụ, kể cả sản phẩm điện ảnh.

Cuộc khảo sát về tự do thị trường, sự chi phối cũng như biểu hiện có tính cách văn hóa đại chúng của nó, cho chúng ta thấy tại sao cần đến một phương pháp Foucault được cải cách để tiếp cận các lối tưởng tượng về cung cách cai trị, một phương pháp cần mang vào yếu tố kinh tế và chánh trị, cùng với mối quan tâm đặc biệt đối với vấn đề ý thức hệ. Nói cách khác, chỉ bằng cách tách bạch các mô thức cai trị này, chúng ta mới có thể nhìn thấy sự lai ghép đang diễn ra trong những đòi hỏi chánh trị hoặc kinh tế của nền kinh tế Tân Tự do toàn cầu và chánh quyền. Chúng ta phải có khả năng nhận ra các cơ sở nhận thức (epistemes), tính hợp lý (rationalities) và não trạng (mentalities) của Foucault trong tính đa số và tính đồng thời của chúng, thay vì giải thích các mâu thuẫn này bằng cách đặt chúng trong thời kỳ chuyển tiếp. Chúng ta phải tự để cho mình nhìn thấy các hình thức logic bị lai ghép trong những hoàn cảnh và thời điểm đặc thù, những thứ phù hợp với các yếu tố ngoại tại của kinh tế và chánh trị. Tại Việt Nam, sự phản ứng đối với việc đưa sự chọn lựa vào thị trường đã dẫn đến sự triển khai của ít nhất hai mô thức cai trị với những lý lẽ biện minh khác nhau: một mô thức mang tính kỷ luật phụ thuộc vào kiến thức chuyên môn về thực tiễn xã hội, một mô thức mang tính áp chế được biện hộ bởi tính chính thống của văn hóa – cái thực và cái chân. Cả hai mô thức này đều được vận dụng một cách phân biệt dựa trên giới tính và giai cấp. Do đó, chúng ta không thể cho rằng sự kết hợp này, trong chừng mực nào đó, là một phản ứng cần thiết mang tính cấu trúc hoặc tiền định. Đây là một phản ứng mang tính chánh trị, vì nó dính dấp đến những dự mưu của chánh phủ đương quyền và của các thế lực trong một thị trường liên quốc gia.

Phương pháp tiếp cận vấn đề như thế cho phép chúng ta suy nghĩ về cung cách cai trị tại một quốc gia như Hoa Kỳ. Đồng thời chúng ta cũng không nên nhanh nhảu nghĩ rằng tự do là nguyên lý thiết lập quan yếu của việc cai trị tại Tây phương. Không thể phủ nhận tự do rất quan trọng trong nền cai trị hiện đại. Nhưng tại sao, và bằng cách nào, nó lại quan trọng trong mỗi trường hợp đặc thù? Những câu hỏi như thế phải được trả lời bằng những công trình khảo sát có tính cách thực nghiệm. Tự do trong thương trường theo trường phái Tân Tự do đã được bảo đảm về mặt chánh trị bằng sự áp chế mạnh mẽ hơn đối với các thành phần dân số khác nhau, những thành phần dân số bị định vị thông qua các tiến trình chủng tộc hóa và bị đẩy ra bên lề cuộc sống bởi một thị trường không hề bị ngăn trở tại Anh quốc và Hoa Kỳ trong ba thập kỷ qua. Sự mở rộng việc thảo luận về cai trị và tự do theo cách này, ngoài ra, còn có thể ngăn ngừa một lời kết luận theo não trạng Chiến tranh Lạnh hoặc lời chúc mừng theo kiểu Đông phương học về việc chúng ta có tự do, còn kẻ khác thì không.

Nguồn: Nguyễn-Võ Thu-Hương, The Ironies of Freedom – Sex, Culture, and Neoliberal Governance in Vietnam, University of Washington xuất bản, Seattle và London, 2008.


[i] Foucault, Discipline and Punish, 265-272

[ii] Sách đã dẫn, 272

[iii] Harvey, New Imperialism

[iv] Simon, “Refugees in a Caceral Age”

[v] Rose, Power of Freedom, 68

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Nguyễn-Võ Thu-Hương – Nghịch lý của Tự do – Tình dục, Văn hóa, và sự cai trị Tân Tự do tại Việt Nam – phần Kết luận (2)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả