talawas blog

Chuyên mục:

Lại chuyện “ông Cù Huy Hà Vũ kiện có đúng không?”

29/06/2009 | 10:27 sáng | 42 phản hồi

Tác giả: Nguyễn Mai Sơn

Chuyên mục: Bauxite Tây Nguyên, Pháp luật
Thẻ:

Đơn khởi kiện của ông tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ được ví von như một “Xô-viết Nghệ Tĩnh” của thời nay, và tạo nên “một kỷ lục khác: Lần đầu tiên có một công dân Việt Nam đã viết đơn khởi kiện một nhân vật lãnh đạo cấp cao nhất của chính phủ: Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam, một việc chưa bao giờ có tiền lệ!” (Bauxite Việt Nam). Tôi không bàn luận nhiều đến những “kết luận hùng hồn” này, bởi cho đến bây giờ trên nhiều diễn đàn vẫn đang tranh luận rằng việc khởi kiện đã đúng luật hay chưa đúng luật.

Trong Đơn khởi kiện Thủ tướng, ông Cù Huy Hà Vũ nêu lý do khởi kiện rằng: “Do đã ban hành trái pháp luật Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 1/11/2007 phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025.”

Trên website của Bộ Công Thương, phần Hệ thống Chiến lược, Kế hoạch, Quy hoạch (http://portal.mot.gov.vn/chienluoc/index.asp?tieuchi=2&ma=2) có đăng tải nhiều Quyết định của Thủ tướng cũng như của Bộ trưởng các bộ, trong đó có Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 1/11/2007 phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác , chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025.

Quyết định trên gồm có 4 điều, 7 Phụ lục với những khoản mục chính như: 1. Quan điểm, 2. Định hướng phát triển, 3. Mục tiêu phát triển, 4. Phân vùng quy hoạch, 5.  Quy hoạch thăm dò và khai thác bauxite, 6. Quy hoạch vận tải ngoài, 7.  Quy hoạch cảng biển, 8.  Quy hoạch xây dựng nhà máy điện phân nhôm, 9. Quy hoạch xây dựng các nhà máy sản xuất nguyên, vật liệu, 10.  Nhu cầu vốn đầu tư. Trong Tổ chức thực hiện có 5 bộ (Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài chính) và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện. Điều 4 ghi rõ: “Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này“.

Quyết định 167 là Quyết định quy hoạch khai thác bauxite với các giai đoạn cụ thể, và giai đoạn xét đến, có nhiều dự án thuộc các lĩnh vực khác nhau, đối tượng thi hành quyết định rộng. Nhưng không hiểu sao Bauxite Việt Nam lại giật tít “Đơn của Luật sư Cù Huy Hà Vũ khiếu kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc đã phê chuẩn QĐ 167/2007/QĐ-TTg để triển khai quy hoạch phân vùng và khai thác bauxite Tây Nguyên, mà theo LS Vũ là trái với các pháp luật hiện hành của Việt Nam“. Việc giới hạn Quyết định Quy hoạch trên vào các dự án bauxite tại Tây Nguyên, theo tôi là không sòng phẳng, vì vốn dĩ “Tây Nguyên” kể từ khi có thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những vấn đề liên quan đến chính sách của Trung Quốc đã trở nên quá sức nhạy cảm.

Có thể nói rằng đã có sự nhầm lẫn nào đó trong cách hiểu về Quyết định này. Tôi cho rằng chúng ta cần lưu ý đến khái niệm “Quy hoạch phân vùng thăm dò”, “khai thác”, “chế biến”, “sử dụng quặng bauxite”, thậm chí cần lưu ý đến những giai đoạn cụ thể và giai đoạn xét đến trong Quyết định này bằng vào việc tham khảo các công trình, dự án trong các phần Phụ lục của Quyết định. Nên hiểu Quyết định này trong Hệ thống Chiến lược, Kế hoạch và Quy hoạch, ở đó có rất nhiều dự án đầu tư đã thực hiện, đang thực hiện, chưa thực hiện và sẽ thực hiện. Vì vậy, Chính phủ đã chọn dự án Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông) để triển khai thí điểm.

Trong mục 5,  Quy hoạch thăm dò và khai thác bauxite ghi: “b) Quy hoạch thăm dò giai đoạn 2007 – 2015: Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam chủ trì thăm dò toàn bộ các mỏ bauxit tại khu vực Tây Nguyên (trừ các mỏ bauxit đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép đơn vị khác thực hiện) để đánh giá trữ lượng làm cơ sơ cho việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư bauxit – alumin – nhôm”. Cụ thể Quyết định này ghi: “Các dự án tại Đắk Nông do Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam chủ trì đầu tư ” ; “Nhà máy alumin Tân Rai – Bảo Lộc: công suất nhà máy alumin dự kiến 0,6 triệu tấn/năm đến năm 2010; dự kiến tăng lên 1,2 triệu tấn/năm vào giai đoạn sau năm 2010. Nguồn quặng bauxit từ mỏ Tây Tân Rai và Tân Rai (Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam làm chủ đầu tư)”.

Về tổng thể, các dự án thăm dò bauxite trong giai đoạn 2007 – 2015 thể hiện ở Phụ lục II. Phụ lục này có cả thảy 7 dự án, trong đó có 2 dự án liên quan đến Tây Nguyên: 1. Thăm dò các mỏ bauxit thuộc tỉnh Đắk Nông (trừ các khu vực đã thăm dò tỷ mỷ) với mục tiêu 2000 – 2100 triệu tấn quặng tinh; 2. Thăm dò các mỏ bauxit thuộc tỉnh Lâm Đồng (trừ các khu vực đã thăm dò tỷ mỷ) với mục tiêu 250 – 300 triệu tấn quặng tinh.

Ngày 24/4/2009, ông Trương Tấn Sang, Thường trực Ban Bí thư đã thay mặt Bộ Chính trị ký Thông báo số 245- TB/TW về kết luận của Bộ Chính trị liên quan đến quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxite giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025. Kết luận có đoạn: “Tiếp tục thực hiện chủ trương triển khai hai dự án ở Tân Rai và Nhân Cơ do Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam làm chủ đầu tư, chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài; sử dụng lao động trong nước, chỉ sử dụng lao động kỹ thuật nước ngoài khi cần thiết, lựa chọn công nghệ hiện đại; thực hiện nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ môi trường. Khẩn trương lập báo cáo môi trường chiến lược và báo cáo đánh giá tác động môi trường của từng dự án để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp…“. Để triển khai thực hiện kết luận của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản chỉ đạo Số: 650/TTg-KTN V/v phát triển ngành công nghiệp khai thác bauxite, sản xuất alumina.

Hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ được Chính phủ cho phép triển khai thực hiện có cần phải trình Quốc hội thông qua hay không?

Đại biểu Nguyễn Đăng Trừng (TP.HCM) chất vấn, quy mô tổng mức đầu tư của dự án từ 20.000 tỷ đồng trở lên phải trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư. Nhưng dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên có quy mô tổng mức đầu tư cao hơn 20.000 tỷ đồng, tại sao Bộ Công Thương không đề nghị Chính phủ trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư?

Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng giải đáp, trong quy hoạch phát triển bauxite được Chính phủ phê duyệt nêu rõ nhiều dự án, từ khai thác, chế biến bauxite, sản xuất alumina thành nhôm nguyên liệu, dự án đường sắt từ Tây Nguyên ra biển, dự án cảng Kê Gà – Bình Thuận. Đây là những dự án độc lập, không phụ thuộc lẫn nhau. Dự án bauxite – alumina ở Tân Rai, Đắk Nông có thể vận hành độc lập, dự án này không phụ thuộc vào dự án kia.

Do đó, có dự án có tổng mức đầu tư vượt 20.000 tỷ đồng, nhưng cũng có những dự án không đến con số đó.

Dự án bauxite Tân Rai và Nhân Cơ có vốn đầu tư khoảng 12.000 tỷ đồng, do đó không thuộc công trình quan trọng phải trình Quốc hội.

Còn các dự án sau như Đắk Nông 2, Đắk Nông 3, Đắk Nông 4 sau này, khi công suất chế biến từ 1,5 – 2 triệu tấn alumina/năm thì lúc đó vốn đầu tư có khả năng đạt hoặc vượt con số 20.000 tỷ đồng và chắc chắn sẽ phải trình Quốc hội.

Chưa hài lòng về vấn đề này, đại biểu Nguyễn Đăng Trừng tiếp tục chất vấn, khai thác bauxite, sản xuất alumine bao gồm 3 giai đoạn với 12 dự án và tất cả dự án này gắn bó với nhau. Nó chỉ độc lập khi Bộ Công Thương tách nhỏ để mức vốn đầu tư dưới 20.000 tỷ đồng“. (Dẫn theo http://www.lamdong.gov.vn)

Đọc đoạn chất vấn và giải trình trên ta thấy ông Bộ trưởng thì “chia ra” (theo Nguyễn Đăng Trừng), trong khi ông Đại biểu Quốc hội thì gộp vào. Ông Nguyễn Đăng Trừng có gộp cũng gộp không hết được vì ông đã nhầm lẫn ngay từ đầu khi không khu biệt được dự án đang được triển khai mang tên Tân Rai và Nhân Cơ chứ không phải mang tên Tây Nguyên. Trong nhu cầu vốn đầu tư (tính theo tỷ đồng Việt Nam), Phụ lục VI mục B (Các dự án khai thác, chế biến) ghi rất rõ: Tổ hợp bauxit- nhôm Lâm Đồng (CS GĐ1: 0,6 triệu tấn alumin/năm; CS GĐ2: 1,2 – 1,8 triệu tấn alumin/năm) – 6.220 tỷ; Dự án alumin Đắk Nông 1 (CS GĐ1: 0,3 triệu tấn alumin/năm; CS GĐ2: 0,6 – 1,2 triệu tấn alumin/năm) – 3.680 tỷ. Dự án alumin ĐắkNông 1 chính là dự án Nhân Cơ. Trong kết luận của Bộ Chính trị và văn bản chỉ đạo của Thủ tướng đều thống nhất rà soát các dự án tại Nhân Cơ (Đắk Nông) để kịp thời điều chỉnh.

Tên gọi của dự án đang được triển khai đã khu biệt rõ là Tân Rai và Nhân Cơ, nếu chúng ta gộp hết các dự án khai thác bauxite vào thì không biết sẽ phải gộp thế nào cho thỏa, vì trong Quyết  định 167 của Thủ tướng nêu rõ : “Nhu cầu vốn đầu tư cho công tác thăm dò, khai thác và chế biến bauxit giai đoạn 2007 – 2025 ước tính khoảng 189.110 – 249.420 tỷ VND (tương đương khoảng 11,8 – 15,6 tỷ USD), bao gồm các dự án khai thác, chế biến bauxit (sản xuất alumin và điện phân nhôm) và hạ tầng cơ sở (đường sắt và cảng) thể hiện trong Phụ lục VI”.

Trong Báo cáo Quốc hội về việc triển khai các dự án bauxite ghi:

1. Dự án Tổ hợp bô-xít – nhôm Tân Rai ( Lâm Đồng)

“Dự án đã được Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư tại công văn số 303/CP-CN ngày 29 tháng 3 năm 2000; Báo cáo nghiên cứu khả thi được Thủ tướng Chính phủ thông qua năm 2005 (công văn số 808/TTg-CN ngày 17 tháng 6 năm 2005). Chủ đầu tư (Tập đoàn TKV) đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu thiết kế-mua sắm-xây dựng và đào tạo (EPC) nhà máy alumin với nhà thầu CHALIECO (Trung Quốc) thông qua đấu thầu quốc tế công khai, gói thầu đã được khởi công ngày 26 tháng 7 năm 2008.”

2. Dự án khai thác bô-xít và sản xuất alumin Nhân Cơ (Đăk Nông 1)

 ”Chủ trương lập dự án bô-xít – alumin Nhân cơ đã được thông qua tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch bô-xít. Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý chủ trương nâng công suất Nhà máy alumin Nhân Cơ lên 600.000 tấn/năm (công văn số 2728/VPCP-HTQT ngày 02 tháng 5 năm 2008). Hiện nay, chủ đầu tư đang hoàn chỉnh và trình duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường và rà soát lại hiệu quả kinh tế của Dự án để trình Bộ Công Thương kiểm tra, đánh giá”.

Nếu xét về dự án đầu tư thì cũng có thể không cần phải gộp hai dự án này vào làm một cho dù nó đều nằm ở Tây Nguyên, vì lẽ dự án đầu tư ở Tân Rai được chấp thuận vào năm 2000 và báo cáo khả thi được Thủ tướng thông qua năm 2005. Phải chăng do dự án có cùng địa bàn và chủ đầu tư nên gộp vào để thuận lợi cho việc triển khai?

Còn Qưyết định phê duyệt quy hoạch chung cho khai thác bauxite trên cả nước không phải trình quốc hội thông qua cũng được nói rõ trong Báo cáo Quốc hội: “Quy hoạch bô-xít cũng như nhiều quy hoạch khác (quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội các vùng, địa phương, quy hoạch các ngành kinh tế – kỹ thuật như ngành Điện, Dầu khí, Khoáng sản, Thép v.v.) không phải là dự án đầu tư, vì vậy không chịu sự điều chỉnh của Nghị quyết 66“.

Giải thích này phù hợp với các quyết định khác của Thủ tướng, chẳng hạn trong Quyết định 145/2007/QĐ-TTg ngày 4/9/2007 Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Thép Việt Nam giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025, trong đó có ghi “Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của ngành Thép Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2025 ước vào khoảng 10 – 12 tỷ USD, trong đó giai đoạn 2007 – 2015 khoảng 8 tỷ USD”. Cụ thể trong phần Phụ lục, chỉ có dự án trọng điểm Liên hợp thép Hà Tĩnh tại Vũng Ang, vốn đầu tư là 3.000 triệu USD là phải trình Quốc hội thông qua. Nhiều dự án đã triển khai trên cả nước từ năm 2006, 2007 nhưng chưa thấy ai kiện nó trái luật cả.

Tôi xin trở lại việc ông Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng Chính phủ với lý do đã ban hành trái pháp luật Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 1/11/2007. Và tôi cũng chỉ xin phân tích trong phạm vi Luật Bảo vệ Môi trường, xem việc khởi kiện của ông Cù Huy Hà Vũ có thuyết phục hay không.

Ông Cù Huy Hà Vũ cho rằng Thủ tướng ra Quyết định 167 trái với Luật Bảo vệ Môi trường và ông trích dẫn Điều 14, Mục 1 (Đánh giá môi trường chiến lược) Chương III, Luật Bảo vệ Môi trường quy định đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược gồm:

1. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cấp quốc gia.

2. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực trên quy mô cả nước.

3. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), vùng…

Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược là hoàn toàn phù hợp dành cho Quyết định 167 của Thủ tướng. Và Thủ tướng cũng đã chỉ đạo các bộ ngành liên quan thực hiện điều này. Tuy nhiên, tôi cho rằng lập báo cáo [thuộc quá trình thực hiện] khác với báo cáo [ấn định cụ thể thời điểm, và phải báo cáo với ai (Thủ tướng, Bộ trưởng hay Quốc hội)?].

Điều 16 (Nội dung báo cáo đánh giá môi trường chiến lược) ghi: “1. Khái quát về mục tiêu, quy mô, đặc điểm của dự án có liên quan đến môi trường; 2. Mô tả tổng quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, môi trường có liên quan đến dự án; 3. Dự báo tác động xấu đối với môi trường có thể xảy ra khi thực hiện dự án; 4. Chỉ dẫn nguồn cung cấp số liệu, dữ liệu và phương pháp đánh giá; 5. Đề ra phương hướng, giải pháp tổng thể giải quyết các vấn đề về môi trường trong quá trình thực hiện dự án“. Có thể thấy điều luật này quá khái quát và sơ lược, nếu đem so sánh với báo cáo đánh giá tác động môi trường.

- Điều 15, Mục 1 (Đánh giá môi trường chiến lược) Chương III Luật Bảo vệ Môi trường quy định: “1. Cơ quan được giao nhiệm vụ lập dự án quy định tại Điều 14 của Luật này có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; 2. Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược là một nội dung của dự án và phải được lập đồng thời với quá trình lập dự án”.

Báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội khẳng định rằng Quy hoạch bô-xít cũng như nhiều quy hoạch khác, không phải là dự án đầu tư. Nên có thể nói cơ quan được giao nhiệm vụ chủ yếu ở đây vẫn là Bộ Tài nguyên và Môi trường. Vì trong Điều 121, Khỏan 2 (Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường), và Điểm g có nói rõ nhiệm vụ: “Quản lý thống nhất hoạt động thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, báo cáo đánh giá tác động môi trường, đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước; tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc thẩm quyền; hướng dẫn việc đăng ký cơ sở, sản phẩm thân thiện với môi trường và cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường…“.

Ngay trong Quyết định 167 cũng đã nêu: “Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì thực hiện việc quy hoạch công tác điều tra cơ bản, quản lý và lưu trữ số liệu địa chất nguồn khoáng sản bauxit của đất nước. Củng cố hoạt động của hệ thống thanh tra mỏ, nâng cao năng lực quản lý và điều hành, tính pháp lý của hệ thống thanh tra từ Trung ương đến địa phương, cấp giấy phép…“.

Và cũng trong Điều 17 (Thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược), Khoản 7 (Trách nhiệm tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược) quy định như sau:

a) Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Có thể thấy, với điều khoản này, việc lập báo cáo, báo cáo, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược đối với các dự án chỉ được thành lập sau khi Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch. Hơn nữa, Thủ tướng cũng không thể nào có ngay toàn bộ đánh giá tác động môi trường chiến lược đối với các dự án Đắk Nông 2, Đắk Nông 3 (không chỉ ở giai đoạn 2007-2015 với vốn đầu tư với 16.800 – 22.400 tỷ đồng cho mỗi dự án, mà còn ở giai đoạn 2016-2025 với vốn đầu tư cho mỗi dự án là 14.280 -  19.040 tỷ đồng) và các dự án khác.

Tôi cho rằng việc Điều 15 viết: “Cơ quan được giao nhiệm vụ lập dự án quy định tại Điều 14 của Luật này có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược” đã mâu thuẫn với điều 121 của chính luật này, và hàng chữ “…quy định tại điều 14” đã làm cho người ta liên hệ đến đối tượng là “Thủ tướng Chính phủ” (tức Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), vùng…).

- Điều 17, Khoản 6, Mục 1 (Đánh giá môi trường chiến lược) Chương III Luật Bảo vệ Môi trường quy định: “Kết quả thẩm định báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án”.

Với những mâu thuẫn, chồng chéo và nhầm lẫn về “đối tượng” kể trên, tôi cho rằng điều khoản này không thể không có cách hiểu khác về mặt từ ngữ, bởi có thể hiểu kết quả thẩm định của bộ và các cơ quan ngang bộ (chỉ) là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án (bởi còn nhiều căn cứ khác, và vốn dĩ không có điều khoản nào nói rằng không có căn cứ này thì nhất định không được phê duyệt dự án). Tuy nhiên, tôi vẫn phải nhắc lại khẳng định của Chính phủ rằng Quyết định Quy hoạch khai thác bauxite của Chính phủ cũng như bao quyết định quy hoạch khác không phải là dự án đầu tư. Và chính cụm từ “phê duyệt dự án” phần nào đã bị hiểu lấn sang cụm từ “phê duyệt quy hoạch“.

Trong khi Điều 22, Khoản 4, Mục 2 (Đánh giá tác động môi trường): “Các dự án quy định tại Điều 18 của Luật này chỉ được phê duyệt, cấp phép đầu tư, xây dựng, khai thác sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt”.

Nếu như đọc kỹ luật này ở Mục 1 (Đánh giá tác động môi trường chiến lược) và Mục 2 (Đánh giá tác động môi trường) người đọc sẽ thấy Mục 1 khái quát nhiều hơn (tầm vĩ mô), trong khi Mục 2 lại cụ thể và chi tiết hơn (tầm vi mô).

Đến đây có thể nói, Quyết định phê duyệt Quy hoạch (tổng thể) của Thủ tướng đã bị hiểu nhầm sang các dự án đầu tư cụ thể trong chính quy hoạch đó.

Phải chăng do những nhầm lẫn này nên ông Cù Huy Hà Vũ đã viết: “Để ban hành quyết định, Thủ tướng Chính phủ nhất thiết phải căn cứ Luật khoáng sản, Luật Bảo vệ Môi trường là hai luật điều chỉnh trực tiếp việc thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản, cũng như phải căn cứ Luật Quốc phòng, Luật Di sản Văn hóa là những luật điều chỉnh gián tiếp Quy hoạch như đã trình bày“.

Xin lưu ý, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ đều được phê duyệt căn cứ trên Luật Tổ chức Chính phủ và xét theo đề nghị cụ thể của các bộ. Cho nên việc ra Quyết định của Thủ tướng cần phải được căn cứ trên luật này vì nó ghi rõ nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ cũng như của Thủ tướng Chính phủ.

Điều 1 Luật Tổ chức Chính phủ ghi: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Điều 20, Khoản 1, Điểm b (Chương III, Nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ) có ghi : “Chỉ đạo việc xây dựng các dự án luật trình Quốc hội, các dự án pháp lệnh trình Ủy ban thường vụ Quốc hội; các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ“. Điều 21 “Thủ tướng Chính phủ ký các nghị quyết, nghị định của Chính phủ, ra quyết định, chỉ thị và hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó đối với tất cả các ngành, các địa phương và cơ sở. Các nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thi hành trong phạm vi cả nước“.

Tôi xin cảm ơn ông Phạm Quang Tuấn đã viết: “Ông Sơn dường như không phân biệt được ‘Đánh giá tác động môi trường’ và ‘Đánh giá môi trường chiến lược’, nên những cái ông viết đi lạc đề ráo trọi”. Vì những lời lẽ đó đã động viên tôi viết tiếp bài này. Và tôi cũng xin mạn phép ông Phạm Quang Tuấn lặp lại câu hỏi: “Ông Cù Huy Hà Vũ kiện có đúng không?”

© 2009 Nguyễn Mai Sơn

© 2009 talawas blog

Phản hồi

42 phản hồi (bài “Lại chuyện “ông Cù Huy Hà Vũ kiện có đúng không?””)

  1. [...] Dũng về vụ bauxite Tây Nguyên (RFI)http://www.rfi.fr/actuvi/articles/114/article_3813.aspLại chuyện “ông Cù Huy Hà Vũ kiện có đúng không?”http://www.talawas.org/?p=6839Luật sư Cù Huy Hà Vũ và Tòa án Nhân dân Hà [...]

  2. Arthur nói:

    “Nếu ông Cù Huy Hà Vũ chắc chắn đã là Bộ trưởng BVHTTVTT thì với vụ bauxite này ông có kiện TT không?” Câu trả lời rất dễ: KHÔNG

    Xin giải thích:

    Lãnh đạo của chính quyền CS Việt Nam, ở đây là một ông bộ trưởng nào đó, phải rất “hồng”, nghĩa là phải trung thành tuyệt đối với Đảng, nghĩa là không bao giờ được phép kiện thủ tướng, lãnh đạo cao cấp của Đảng.

    Quá trình chọn lọc để tìm ra người “hồng” trong các cơ quan, công ty nhà nước, như có người ví, bắt đầu từ cấp tổ phó tổ 3 người. Quá trình “lọc mầu” tiếp tục ở cấp tổ trưởng, phó phòng, trưởng phòng, phó giám đốc, giám đốc, vụ phó, vụ trưởng, thứ trưởng… thứ 4-5, thứ trưởng thứ nhất, sau đó mới tới bộ trưởng.

    Vậy thì làm sao một người TRUNG VỚI NƯỚC có thể lừa Đảng, lọt qua bằng ấy cửa để trở thành bộ trưởng, để khi vì quyền lợi quốc gia, đứng ra kiện thủ tướng được. Nếu có thì tỷ lệ cũng rất nhỏ. Trong chuyện chọn người Đảng khôn lắm, đừng hòng qua mặt.

    Như vậy BỘ TRƯỞNG và KIỆN THỦ TƯỚNG là đối nghịch, không thể cùng tồn tại – có cái này thì không có cái kia.

    Đó là lý do tại sao tôi nói ở trên, câu hỏi rất dễ.

    Thêm: Người như ông Cù Hà Huy Vũ, lại có bằng tiến sỹ luật của Pháp, theo tôi, lên được đến phó phòng trong chính quyền Việt Nam là kịch trần. (Nếu ông Vũ có vô tình đọc những dòng này và không vui thì cho tôi được trình bày rằng: Quý ông lắm tôi mới biếu ông suất phó phòng đấy. Nếu ghét ông tôi đã để ông làm bộ trưởng rồi.)

  3. Phạm Quang Tuấn nói:

    Tôi nghĩ rằng tôi và ô. NMS khác nhau về cách viết chứ không phải về cách hiểu. Ô. Sơn thì viết dài dòng văn vẻ, chắc ông là nhà văn (hay văn công), còn tôi thì viết ngắn gọn nôm na. Mỗi lần viết xong cái gì, dù vớ vẩn đến đâu, tôi đều coi lại, xóa bớt và cô đọng nó lại ít nhất 30%.

    Theo cách viết của tôi, ô. NMS bảo rằng Chính Phủ (cơ quan hành pháp tối cao của nhà nước) làm trái Luật MT nhiều lần vì vô tình (!) chứ không phải tại cố ý (NMS dùng chữ “động cơ”), do đó không phải là phạm luật. Tức là Chính Phủ ta NGÂY THƠ VÔ (số) TỘI. Giống như em học sinh đi thi bị bắt quả tang ăn gian, bèn van xin thưa cô em không biết, cô tha cho em, xưa nay em làm vậy bao nhiêu lần mà có ai nói đâu!

    Vậy xin hỏi ai có bổn phận và trách nhiệm phổ biến, áp dụng luật pháp cho cả nước, để cho mọi người đều biết và tuân thủ? Câu trả lời là… Chính Phủ chứ còn ai nữa!

    Ô. NMS còn đổ cho là CHH Vũ không được làm bộ trưởng nên mới kiện vụ bauxite! Cũng vui.

  4. Nguyễn Mai Sơn nói:

    Cảm ơn bạn Arthur,
    Khi trả lời bạn, tôi phải xin lỗi ông Phạm Quang Tuấn, vì ý kiến này liên quan tới ông ấy.
    Nguyên văn tôi viết như sau: “Cá nhân tôi hiểu Quyết định Quy hoạch đã sai trong trình tự thủ tục phê duyệt nhưng không xuất phát từ một động cơ phạm luật. Nếu tất cả các quyết định quy hoạch trước đó đều có báo cáo SEA trước Chính phủ, Thủ tướng, Quốc hội mà quy hoạch bauxite thì không thì từ dùng “phạm luật” là đích đáng. Đây là một điều mà Chính phủ phải điều chỉnh, bởi vì dưới bất cứ động cơ nào thì đời sống vẫn cần có luật”. [Ý kiến này tôi viết khi hiểu sai đối tượng lập SEA là Quyết định phê duyệt quy hoạch của TT]. Bạn dẫn lại ý kiến của ông Phạm Quang Tuấn là cách hiểu của ông Phạm Quang Tuấn về đoạn tôi viết. Tôi không nghĩ TT phạm luật.
    Luật BVMT “mới” so với ông Nguyễn Tấn Dũng, kể cả ông Bộ trưởng TNVMT, vì nhiệm vụ của BT đã được ghi rõ trong luật nhưng chưa thấy một báo cáo SEA nào trước CP, TT, QH. Việc Chính phủ nói rõ chưa có báo cáo SEA là thành thật.
    Ý kiến trên tôi nhấn mạnh từ “động cơ”, và tôi xem đó là điểm quan trọng. Vì luật không bao giờ bao quát hết được cuộc sống, nên vẫn phải điều chỉnh. Nếu sử dụng pháp luật với động cơ không trong sáng thì dù có đúng luật cũng khiến người ta bất bình. Cá nhân tôi cho rằng ông Cù Huy Hà Vũ viết khiếu nại thì hay hơn.
    Tôi chỉ xin đặt một câu hỏi ngoài lề thôi. Nếu ông Cù Huy Hà Vũ chắc chắn đã là Bộ trưởng BVHTTVTT thì với vụ bauxite này ông có kiện TT không?

  5. Arthur nói:

    Trong ý kiến thứ 32, ông PQT nói:
    “Tức là ông NMS cho rằng: vì CP đã phạm luật nhiều lần mà chưa ai tố cáo, nên làm trái luật lần này thì không phải là phạm luật! Cũng như anh ăn trộm bị bắt quả tang, bèn cãi: “Tại sao tôi ăn trộm cả chục lần trước không bắt mà lần này lại bắt? Như vậy thì tôi đâu có tội?”.”
    Tôi chờ hoài không thấy ông Nguyễn Mai Sơn trả lời ý kiến này của ông PQT.
    Ông PQT nói vậy có đúng không? Mong ông Nguyễn Mai Sơn cho ý kiến. Nếu không trả lời, người đọc có thể hiểu lầm là ông Nguyễn Mai Sơn “im lặng là đồng ý”.
    Xin cảm ơn!

  6. Nguyễn Mai Sơn nói:

    Thưa ông Nghiêm Quang,
    Đúng như ông nói, một số khái niệm “dự án” đề cập trong Điều 10 của NĐ 80 và các Điều 15, 16, 17 của LBVMT như ông đã dẫn: “là quy hoạch, chiến lược…” như đã quy định tại điều 14.
    Điều 9 Nghị định 80/2006/NĐ-CP, về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LBVMT (Hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo SEA) gồm: “a) Văn bản đề nghị thẩm định của chủ dự án; b) Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; c) Dự thảo văn bản chiến lược, quy hoạch, kế hoạch” [Dự thảo quy hoạch này là đối tượng thẩm định SEA – dự thảo này chưa được phê duyệt. Trong khi Điều 14 ghi rõ: “Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch…” chứ không phải “Quyết định phê duyệt quy hoạch…”].
    Bởi có kết quả thẩm định SEA rồi thì mới tiến hành theo Điều 10, khoản 3 của NĐ 80/2006 (Thẩm định báo cáo SEA): “Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ, Quốc hội về kết quả thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của dự án kèm theo bản sao biên bản của Hội đồng thẩm định để làm căn cứ phê duyệt dự án”.
    Và Điều 17, Khoản 6 LBVMT: “Kết quả thẩm định báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ
    để phê duyệt dự án”.
    Như vậy cụm từ “phê duyệt dự án” trong Điều 10 NĐ và Điều 17 LBVMT phải được hiểu là “trình ký” (chính cái Dự thảo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch như trong hồ sơ thẩm định SEA đã viết). Còn “Quyết định phê duyệt quy hoạch 167/2007 không thể là đối tượng của Điều 14.

  7. Nghiêm Quang nói:

    Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Do đó, nghị định này phải được xem xét song song với Luật tương ứng.

    Thưa ông Nguyễn Mai Sơn, khái niệm “dự án” tại điều 10 của Nghị định 80 phải được hiểu là “quy hoạch, chiến lược…” như đã quy định ở điều 14 Luật BVMT 2005.

    Tương tự, khái niệm “dự án” tại điều 11 của Nghị định 80 được quy định ở điều 18 Luật BVMT, tức có thể xem là các “dự án đầu tư”.

    Tóm lại, không có sự mâu thuẫn về khái niệm “dự án” đề cập ở điều 10 Nghị định 80 và ở các điều 15, 16, 17 Luật Bảo vệ Môi trường.

  8. Nguyễn Mai Sơn nói:

    Sau khi đọc kỹ Nghị định 80/2006/NĐ-CP, tôi mới thấy rằng trong bài viết tôi đã hiểu nhầm đối tượng lập báo cáo SEA là Quyết định phê duyệt quy hoạch của Thủ tướng. Thực ra đối tượng của nó chính là dự án đầu tư (cụ thể là Dự thảo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của Bộ Công thương).
    Nếu không có “Dự thảo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch” nằm trong hồ sơ thẩm định SEA thì tôi vẫn cứ nghĩ Quyết định phê duyệt quy hoạch 167/2007 của Thủ tướng là đối tượng phải lập SEA theo Điều 14, Mục 1.
    Bởi nếu thay thế đối tượng lập SEA ở Điều 14 cụ thể bằng Quyết định phê duyệt quy hoạch của Thủ tướng, thì chính Thủ tướng phải lập báo cáo SEA (theo Khoản 1, Điều 15: Cơ quan được giao nhiệm vụ lập dự án quy định tại Điều 14 của Luật này có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược). Nhưng Khoản 6, Điều 17 lại ghi: “Kết quả thẩm định báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án”. Có nghĩa rằng Bộ trưởng BTNVMT sẽ trình kết quả thẩm định (chính cái Quyết định phê duyệt của Thủ tướng) để Thủ tướng Quyết định phê duyệt dự án (quy hoạch). Vậy cái Dự thảo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch kia có cần phải đưa vào hồ sơ thẩm định báo cáo SEA để Bộ trưởng thẩm định sau đó Thủ tướng lấy đó làm căn cứ phê duyệt dự án nữa không?]

  9. Nguyễn Mai Sơn nói:

    Tôi xin thưa thêm với ông Nghiêm Quang,
    Điểm a, khoản 7, điều 17 ghi: “Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt”. Ông cho rằng điều khoản này “ý muốn đề cập đến các dự án (tức quy hoạch, không phải dự án đầu tư) thuộc thẩm quyền Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; để phân biệt với dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của các Bộ, cơ quan ngang Bộ”. Như vậy ý nói là Bộ TNVMT thẩm định báo cáo SEA đối với quy hoạch thuộc thẩm quyền Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
    Trong khi Điều 10, khoản 3 của Nghị định 80/2006/NĐ-CP, về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LBVMT (Thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược) nói rất rõ: “Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ, Quốc hội về kết quả thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của dự án kèm theo bản sao biên bản của Hội đồng thẩm định để làm căn cứ phê duyệt dự án” [Ở đây có 2 khái niệm “dự án” khác nhau. Và kết quả thẩm định SEA trong Điều này là kết quả thẩm định của dự án đầu tư, chứ không phải là “dự án” – quy hoạch thuộc thẩm quyền Thủ tướng Chính phủ phê duyệt]

  10. Nghiêm Quang nói:

    1. Cám ơn ông Sơn đã trả lời. Xin đính chính: định nghĩa cụm từ “đánh giá môi trường chiến lược” thuộc về khoản 19, điều 3 thay vì điều 2 như tôi đã dẫn.

    2. Nên viết rõ là “…tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án quy hoạch như đã quy định tại Điều 14…”.

    Đề nghị này của ông Sơn là đúng nhưng tôi thấy không cần thiết.

    Khoản 1 điều 15 có nhắc tới “dự án quy định tại điều 14 của luật này”, nhưng ngay sau đó, tại khoản 2 điều 15 chỉ còn vỏn vẹn 2 chữ “dự án”. Hiểu một cách logic, các chữ “dự án” trong toàn mục 1 đều do điều đầu tiên của mục này, tức điều 14, quy định. Tương tự, khoản 1 điều 19 có nhắc tới “dự án quy định tại điều 18 của luật này”.

    Ông Sơn có thể không hài lòng về việc phải suy luận logic khi đọc luật, nhưng tôi nghĩ đó là thông lệ.

    (Nếu cần tham khảo, luật Môi trường của Pháp cũng có cách viết tắt như vậy: “projet de plan ou de document élaboré en application du I de l’article L. 122-4″ (điều L122-7), nhưng chỉ còn “projet de plan ou de document” tại điều L122-8.)

    3. Nếu hiểu chữ “do” bằng “thuộc thẩm quyền” thì gần như vẫn không thay đổi gì cả, vì vốn dĩ thẩm quyền phê duyệt là của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng.

    Thẩm quyền phê duyệt của các dự án điều 14 không “vốn dĩ” là của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng. Nếu đọc kỹ điểm b, c khoản 7 điều 17, có những dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ và địa phương nhưng vẫn bắt buộc phải soạn báo cáo SEA.

  11. Phạm Quang Tuấn nói:

    NMS: “Nhưng điều này chưa có tiền lệ đối với các quyết định quy hoạch trước đó (qua danh mục các dự án phải lập báo cáo SEA trong phần Phụ lục của Nghị định 80/2006/NĐ-CP), nên cá nhân tôi hiểu Quyết định Quy hoạch đã sai trong trình tự thủ tục phê duyệt nhưng không xuất phát từ một động cơ phạm luật. Nếu tất cả các quyết định quy hoạch trước đó đều có báo cáo SEA trước Chính phủ, Thủ tướng, Quốc hội mà quy hoạch bauxite thì không thì từ dùng “phạm luật” là đích đáng.”

    Tức là ông NMS cho rằng: vì CP đã phạm luật nhiều lần mà chưa ai tố cáo, nên làm trái luật lần này thì không phải là phạm luật! Cũng như anh ăn trộm bị bắt quả tang, bèn cãi: “Tại sao tôi ăn trộm cả chục lần trước không bắt mà lần này lại bắt? Như vậy thì tôi đâu có tội?”. Cũng vui.

  12. Nguyễn Mai Sơn nói:

    (1)
    Cảm ơn ông Nghiêm Quang đã dẫn rất rõ về Điều 2, Khoản 19, 20. Trong khi các phân tích bị cuốn vào Mục 1 (SEA) của luật này và dựa trên các điều khoản cụ thể mà ông Cù Huy Hà Vũ đã đưa ra trong đơn kiện.
    Điều 17, Khoản 7: “a) Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt”
    (Nên viết rõ là “…tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án quy hoạch như đã quy định tại Điều 14…”. Nếu hiểu chữ “do” bằng “thuộc thẩm quyền” thì gần như vẫn không thay đổi gì cả, vì vốn dĩ thẩm quyền phê duyệt là của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng. Luật thì không thể nói “ý muốn đề cập” được).
    Trong Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LBVMT 2005, gồm 25 Điều, 03 Chương, và 02 Phụ lục, viết:
    Điều 9 (Hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược): “a) Văn bản đề nghị thẩm định của chủ dự án; b) Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; c) Dự thảo văn bản chiến lược, quy hoạch, kế hoạch”.

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả