talawas blog

Chuyên mục:

Phạm Hải Vũ – Mâu thuẫn và xung đột đất đai trong con mắt người phương Tây

26/07/2009 | 12:08 chiều | 3 phản hồi

Tác giả: Phạm Hải Vũ

Chuyên mục: Bauxite Tây Nguyên, Chính trị - Xã hội, Pháp luật
Thẻ:

«Minh triết phương Đông thường coi trọng cái hài hoà, nhưng để cái hài hoà nó che lấp cái mâu thuẫn thì vẫn còn mâu thuẫn. Vấn đề là dung hoà mâu thuẫn và hài hoà, bởi vì hài hoà là giải quyết mâu thuẫn, nhưng tránh mâu thuẫn để tạo ra sự hài hoà nào đó thì hài hoà giả tạo.»

Giáo sư François Julien trong buổi nói chuyện tại Trung tâm Minh triết Việt 08 tháng 9 năm 2008. Nguồn: talawas

Nhập đề

Xung đột và mâu thuẫn luôn là những đề tài mà người Việt Nam khá dị ứng. Tục ngữ bảo «Chín bỏ làm mười», «Một điều nhịn là chín điều lành» v.v…, chính vì thế mà đề cập đến mâu thuẫn như một động lực phát triển của xã hội có lẽ sẽ vẫn là một câu chuyện lạ tai với nhiều người Việt nam. Nhưng trong bối cảnh mà toàn cầu hóa là xu thế tất yếu, kinh tế và văn hóa Việt Nam buộc phải mở cửa đón nhận các giá trị phương Tây, có lẽ không là quá sớm để chúng ta bắt đầu một cái nhìn khác về các mâu thuẫn. Bài viết này tập trung vào một hình thức mâu thuẫn mà có lẽ không cộng đồng người nào không gặp phải trong quá trình phát triển: mâu thuẫn liên quan đến quy hoạch lãnh thổ. Đặc biệt, nó tập trung vào một vấn đề cụ thể: mâu thuẫn đất đai trong việc xây dựng các công trình có ảnh hưởng cộng đồng. Thông qua các quan sát cụ thể, bài viết mong muốn đem lại cho độc giả một cái nhìn mới lên các mâu thuẫn và xung đột thường gặp trong cuộc sống.

1. Con người và lãnh thổ

Lãnh thổ là nơi thể hiện một cách rõ nét nhất mối tương quan quyền lực giữa người và người. Hay nói khác đi, không một đối tượng nào có thể giúp vật thể hóa mối quan hệ xã hội một cách dễ quan sát và dễ cảm nhận hơn lãnh thổ, với tư cách là không gian sống, không gian sản xuất, không gian làm việc, không gian giải trí… Chỉ cần nhìn những công viên xanh sạch giữa lòng thành phố, những cách rừng bát ngát ngút ngàn, những khu bảo tồn sinh thái khắp nơi, người ta có thể khẳng định mà không sợ nhầm rằng lãnh thổ đó đặt phát triển bền vững lên hàng đầu. Ngược lại một lãnh thổ mà các khách sạn mọc nhan nhản bất chấp sự tàn phá cảnh quan biển, các sân golf và khu resort chiếm hết đất nông nghiệp và lâm nghiệp, khu công nghiệp xẻ thịt núi rừng hoang sơ, chỉ cho thấy một bộ mặt của xã hội chạy theo lợi ích của thiểu số, những thiểu số tự gom góp quyền lực bằng nhiều cách, và hiện thực hóa quyền lực của mình lên đất đai.

Trong bài viết này, lãnh thổ mang một nghĩa khá hẹp. Quy mô của lãnh thổ chỉ được gói gọn trong một vùng, một tỉnh, chứ không phải là lãnh thổ gắn liền với chủ quyền quốc gia trong các mối quan hệ quốc tế. Tuy nhiên như bạn đọc sẽ được thấy, một số lớn thuộc tính của lãnh thổ với quy mô tỉnh, có thể được áp dụng lên các quy mô khác ở tầm lớn hơn hoặc nhỏ hơn, mà không mất đi ý nghĩa. Lãnh thổ tồn tại với nghĩa cụ thể nhất là đất đai, là mặt nền trên đó con người duy trì cuộc sống. Ở nghĩa này, nó là một tài nguyên hiếm, trữ lượng có hạn, do đó con người luôn phải đối mặt với bài toán kinh tế làm sao tối đa hóa lợi ích. Giá của đất đai luôn là một thông số đầu vào (input) quan trọng trong hàm số sản xuất của bất kỳ doanh nghiệp, hay thậm chí cá nhân nào nào. Thế nhưng khác với các tài nguyên kinh tế khác, đất đai là một tài nguyên không cạn kiệt. Đất nông nghiệp về mặt hình thái là không cạn kiệt nếu con người biết cách tái tạo độ màu mỡ. Đất rừng là không cạn kiệt nếu con người biết duy trì sự sống của rừng. Đất nông nghiệp và đất rừng do đó chỉ cạn kiệt khi con người thay đổi mục đích sử dụng của chúng, xây nhà ở thay vì trồng cây, đô thị hóa thay vì bảo tồn sinh thái[1].

Bởi vì đất không cạn kiệt, cho nên việc chiếm hữu và sử dụng đất là một trong những hoạt động kinh tế và xã hội quan trọng nhất của loài người. Tư bản khi được đổ vào bất kỳ một hoạt động nào khác ngoài đất đai thì đều chỉ thể hiện một sự chiếm hữu tạm thời. Tư bản sẽ chuyển từ dạng vật chất này qua dạng vật chất khác và/hoặc trung chuyển qua tiền, nhưng hình thái vật chất chứa tư bản sẽ chỉ là tạm thời. Tư bản, ngược lại nếu đổ vào đất đai thì về mặt lý thuyết, sẽ có thể ở lại đó vĩnh viễn đến tận ngày mà thể chế chính trị, luật pháp công nhận sự sở hữu đó bị hoàn toàn phá bỏ. Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều nhà nước trên thế giới luôn công nhận các hình thức sở hữu đất đai của nhà nước tiền nhiệm, bởi vì động đến đất đai là động đến gốc rễ của xã hội, có thể gây nên những cuộc xáo trộn khổng lồ cả về mặt an toàn lẫn ổn định xã hội. Sự chiếm hữu đất đai bằng bất cứ hình thức nào, đều thể hiện sự mong muốn hiện diện của quyền lực, một cách tương đối hoặc tuyệt đối. Có thể nói rằng, sự phân bổ sở hữu và sử dụng tài nguyên đất đai dù ở tầm vi mô hay vĩ mô, chỉ là một cách cụ thể hóa các mối quan hệ xã hội «vô hình».

Phần dẫn dắt có lẽ hơi dài dòng này là cần thiết, để hiểu tính chính đáng của các mâu thuẫn và xung đột liên quan đến đất đai. Nói chung, một con người bình thường sẽ phải chấp nhận sự phân bổ đất đai như một thực tế ép buộc, nói như Marx là chấp nhận các quan hệ xã hội đơn giản vì chúng được lịch sử để lại. Do đó khi anh ta đến lượt mình đòi hỏi sự hiện diện, mâu thuẫn sẽ xuất hiện và không thể tránh khỏi. Mâu thuẫn trước hết vì anh ta sẽ nghi ngờ tính chính đáng của hệ thống phân bổ có trước anh ta. Anh ta tìm cách minh chứng sự hiện hữu của mình bằng cách cho rằng sự phân bổ được lịch sử để lại là chưa ổn thỏa. Thật vậy, sở hữu tư nhân về đất không phải là một hệ thống lý tưởng không thể thay thế. Các hình thức sở hữu biến động theo xã hội, và thường xuyên bị nghi ngờ là… không thích đáng. Để chứng minh không hệ thống sở hữu nào có thể đúng mãi với thời gian, Guigou (1980) khi nghiên cứu địa tô đã chỉ ra rằng chính những nhà kinh tế học tân cổ điển lại ủng hộ một hệ thống công hữu đất sản xuất. Trong khi đấy, các nhà kinh tế học theo trường phái Marxist lại ủng hộ việc tư hữu đất đai trên cở sở bình đẳng và có quản lý nhà nước chặt chẽ. Đây quả là một nghịch lý, vì như chúng ta biết kinh tế học tân cổ điển là xuất phát điểm của kinh tế học tự do (liberalism), còn trường phái Marxist luôn ủng hộ việc công hữu công cụ sản xuất. Nghịch lý này bị kinh tế học chính thống bỏ qua với lý do rằng đất đai không phải là một tài nguyên bình thường như các tài nguyên khác. Sự tồn tại của nó tuy nhiên khẳng định rằng sở hữu đất chính là dương bản của các mối quan hệ xã hội. Sở hữu đất vận động cùng với sự vận động của xã hội, và có thể bị sửa đổi mỗi khi sự biến chuyển của xã hội yêu cầu nó phải được sửa đổi.

Trong các dự án công cộng, các mâu thuẫn liên quan đến sở hữu đất thể hiện rõ nét qua sự đối kháng giữa lợi ích chung và lợi ích riêng. Thật ra hai logic này có thể chạm mặt với nhau trong bất kỳ quá trình phân bổ đất đai nào. Nhưng trong các dự án có tính cộng đồng, sự phân cực giữa hai luồng lợi ích công tư là quá hiển nhiên. Các dự án cộng đồng thường xuyên chiếm các mặt nền tư nhân, hoặc có ảnh hưởng đến các mặt nền tư nhân. Lấy ví dụ nhà nước muốn xây một ngôi trường tại một khu dân cư. Địa điểm xây dựng không thể là bất cứ nơi nào mà thường được chọn ở giữa trung tâm, nhằm giảm thiểu quãng đường và tính bình đẳng cho mỗi gia đình có trẻ con đi học. Nếu xây ở ngoại biên, một số gia đình sẽ được lợi do ở cạnh trường, nhưng một số gia đình khác sẽ bị thiệt thòi nếu sống ở phía bên kia của khu vực. Tuy nhiên, trung tâm của khu dân cư thường xuyên là các không gian thuộc về tư nhân do thích hợp để phát triển thương mại. Hy sinh quyền lợi tư nhân để xây ngôi trường ở đây hay không, đó chính là câu hỏi đại diện cho sự va chạm giữa lợi ích công và lợi ích tư. Để cân đối mối quan hệ giữa hai luồng lợi ích này, cần thiết phải có bên thứ ba – nhà nước – đứng ra làm một trọng tài trung lập và công bằng để phán xét[2].

Tuy nhiên khi nhìn từ góc độ kinh tế học, mâu thuẫn đất đai còn có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác ngoài vấn đề sở hữu. Một nguyên nhân thường gặp nhất là ảnh hưởng ngoại sinh (external effect, externality). Ảnh hưởng ngoại sinh là các ảnh hưởng phát sinh từ phía ngoài không gian được định nghĩa bởi quyền sở hữu. Hãy lấy một ví dụ mới: chính quyền xây một vườn hoa trước đường vào một khu chung cư. Những người dân trong khu chung cư không phải đóng góp gì – do vườn hoa tồn tại độc lập với khu nhà – nhưng vẫn được thưởng thức hoa miễn phí. Các cặp tình nhân có thể ngắt hoa chơi trò yêu – không yêu; người lớn tuổi có không gian đi dạo để khuây khỏa. Vườn hoa do đó đã để lại ảnh hưởng ngoại sinh có lợi. Thử tưởng tượng bây giờ thay vì vườn hoa, nhà nước quyết định xây một bãi rác công cộng. Trong trường hợp này, ảnh hưởng ngoại sinh là có hại không cần bàn cãi, và nếu người dân chung cư quyết định xuống đường chăng khẩu hiệu phản đối dự án bãi rác thì cũng là một chuyện khá dễ hiểu. Mâu thuẫn phát sinh ở đây từ một ảnh hưởng ngoại sinh có hại nằm ngoài không gian sở hữu của chủ thể kinh tế (vườn hoa không thuộc về khu chung cư).

Ảnh hưởng ngoại sinh không nhất thiết phải ở ngay cận kề như trong trường hợp vườn hoa và khu nhà. Nó có thể phát sinh từ một khoảng cách địa lý rất xa. Nếu Trung Quốc ngăn sông Mekong để xây đập thủy điện trên phần lãnh thổ Trung Quốc, thì toàn bộ các quốc gia hạ nguồn sẽ đều phải gánh chịu ảnh hưởng ngoại sinh có hại. Nếu Trung Quốc kiểm soát toàn bộ vùng biển Đông Nam Á, ảnh hưởng ngoại sinh sẽ phủ lên toàn bộ các quốc gia đang muốn kiểm soát vùng biển này, cụ thể qua việc giảm sản lượng đánh bắt cá, giảm lợi thế kinh tế thu được từ giao thông đường biển, ảnh hưởng du lịch, quốc phòng v.v… (ở đây không tính đến các nguồn thu nhập trực tiếp từ việc sở hữu vùng biển). Ảnh hưởng ngoại sinh có thể nằm ở xa, nhưng trong những trường hợp này cũng sẽ vô cùng lớn.

Ảnh hưởng ngoại sinh lại càng luôn không nhất thiết phải bị trừng phạt, ngay cả khi có thể. Trừng phạt hay không trừng phạt phụ thuộc lớn vào cái nhìn của xã hội lên trách nhiệm của người gây ảnh hưởng ngoại sinh. Xuất phát từ quan điểm cho rằng đất đai thể hiện mối tương quan quyền lực giữa người và người, cần nhìn nhận ảnh hưởng ngoại sinh một cách khách quan. Bởi vì mỗi con người đều có một phần «quyền» trong không gian sống mà cộng đồng của anh ta đã chiếm hữu, việc xử lý mâu thuẫn từ ảnh hưởng ngoại sinh không được phép phủ nhận phần «quyền» đó. Ronald Coase, trong một bài báo nổi tiếng đem lại cho ông Giải Nobel Kinh tế sau này, đã dẫn chứng một mâu thuẫn đất đai điển hình. Tại nước Anh thời kỳ công nghiệp hóa, xe lửa chạy bằng than và các phương tiện an toàn còn thiếu. Vụn than hồng khi xe lửa chạy qua các ruộng lúa mỳ bắn ra ngoài và làm cháy lúa của người dân. Ngành đường sắt gây ra một ảnh hưởng ngoại sinh có hại cho người trồng lúa. Cái nhìn luật pháp thời đó cho rằng công ty đường sắt là thủ phạm của vụ cháy và quyết định: trước mắt công ty phải bồi thường, sau đó, phải mua lại đất đủ rộng làm hành lang hai bên đường sắt, tránh để đường sắt chạy sát ruộng lúa gây thiệt hại. Coase đã phê phán giải pháp này, cho rằng đây là một giải pháp hoàn toàn phụ thuộc vào việc ai đã xác định quyền (hay quyền lực) trên đất đai trước. Bằng chứng là nếu bây giờ nhà nước coi phát triển đường sắt là lợi ích quốc gia, phải được đặt lên cao nhất, thì kết quả xử lý sẽ hoàn toàn bị đảo ngược. Thay vì được bồi thường, nông dân sẽ phải đối mặt với việc bị trưng thu đất đai để xây hành lang đường sắt. Việc xử theo chiều nào sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào việc nông dân hay ngành đường sắt có một sự hiện diện quyền lực mạnh hơn trong xã hội.

Toàn bộ phần trên đây cho thấy chúng ta cần phải nhìn nhận các mâu thuẫn đất đai một cách khách quan và trung lập nhất có thể. Cho dù bắt nguồn từ vấn đề sở hữu, hay ảnh hưởng ngoại sinh, việc các mâu thuẫn tồn tại không phải do «lỗi» của bất kỳ một bên nào. Mỗi chủ thể kinh tế tồn tại đều nghĩ đến việc chiếm hữu đất đai, đến việc thể hiện «quyền lực» của mình trên đất đai, do đó đi đến mâu thuẫn là chuyện không thể tránh khỏi. Mâu thuẫn xuất phát từ quá trình vận động của các mối quan hệ xã hội và là bằng chứng của việc xã hội đang vận động. Việc nhìn nhận và xử lý các mâu thuẫn như thế nào, chính là thước đo sự tiến bộ của xã hội một cách tương đối với sự vận động của chính mình.

2. Mâu thuẫn đất đai, thước đo dân chủ

Chúng ta đã thấy sự hiện diện của các mâu thuẫn liên quan đến đất đai là hoàn toàn bình thường và chính đáng. Cách xử lý các mâu thuẫn này do đó thể hiện mức độ dân chủ của một xã hội. Đặc biệt trong các trường hợp xây dựng công trình có tính cộng đồng, nhà nước chính là chủ thể xây dựng, cần phải càng cho phép các mâu thuẫn được thể hiện một cách dân chủ. Bóp bẹp phản đối từ khi nó vừa nhú mầm, phớt lờ các quan ngại về công trình, giải trình thiếu mình bạch nhưng vấn tiến hành thi công, là những giải pháp không thể được biện hộ trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Phần dưới đây của bài viết phác họa cách nhìn nhận và giải quyết các mâu thuẫn đất đai tại Pháp. Ba ví dụ cụ thể được đưa ra nhằm giúp độc giả quan sát tiến trình phát triển và xử lý mâu thuẫn đất đai trong lòng một xã hội dân chủ.

Ví dụ thứ nhất lấy từ một mâu thuẫn liên quan đến dự án mở rộng Sân bay Charles de Gaulle của tỉnh Ile-de-France (Paris mở rộng). Sân bay cũ không đáp ứng được lưu lượng giao thông đường không và việc xây thêm các terminal và đường piste mới là không thể tránh khỏi. Dự án này được đích thân Thủ tướng Pháp phê duyệt vì lợi ích của quốc gia. Nó đã vấp phải sự phản kháng nặng nề của cư dân sống xung quanh sân bay. Những người thuộc diện đền bù phản đối dự án, và họ nhận được sự hỗ trợ của rất nhiều cư dân khác là nạn nhân của của tiếng ồn khi máy bay cất cánh và hạ cánh. Đây là một trường hợp mà sự phân cực giữa lợi ích chung và lợi ích riêng là điển hình. Lợi ích của sân bay, cũng là lợi ích của nước Pháp sẽ được xây dựng bằng cách bắt người dân địa phương phải gánh chịu thiệt thòi. Những thiệt thòi này không phải chỉ dành riêng cho những người thuộc diện giải tỏa. Tất cả những người chịu ảnh hưởng ngoại sinh có hại từ tiếng ồn, sẽ phải chấp nhận mức phúc lợi của mình sụt giảm, «vì lợi ích của nước Pháp». Mâu thuẫn trong trường hợp này bắt nguồn từ việc phân phối bất cân đối thiệt hại và lợi ích của công trình lên người dân địa phương. Lợi ích của công trình được chia đều cho tất cả những hành khách đặt chân đến sân bay. Trong khi đó, thiệt hại lại chỉ do người dân địa phương gánh chịu.

Những người phản đối bắt đầu quá trình vận động bằng việc cho ra đời các hiệp hội bảo vệ quyền lợi của mình (association des riverains) nhằm khai sinh từ đó một tư cách pháp lý. Trong các đơn kiện chính phủ được đưa lên Hội đồng Nhà nước (Conseil d’Etat) về vụ Sân bay Charles de Gaulle, có thể ghi nhận được sự hiện diện của hơn một chục hiệp hội pháp nhân, mà mục đích tồn tại duy nhất chỉ là đề phản đối dự án chính phủ. Cần nhấn mạnh rằng, HĐNN tại Pháp đóng kiêm vai trò tương đương với tòa Thượng thẩm tại Việt Nam. Trình tự kháng kiện để đi tới HĐNN như sau: người phản đối đưa đơn kiện tại tòa án sơ thẩm (Tribunal administratif), phán quyết của tòa sơ thẩm nếu bị kháng cáo sẽ được đưa lên tòa Phúc thẩm (Cours admininistrative d’appel). Nếu vẫn còn kháng cáo thì HĐNN mới can thiệp. Quyết định này là cuối cùng và chung cuộc với vụ việc. Để đi lên tới Thượng thẩm, trung bình phải mất 5 – 7 năm theo kiện, trong trường hợp này là 10 năm «chiến tranh» chống chính phủ để đòi lại công lý. Có thể thấy điều kiện tiên quyết để tiến hành chiến tranh pháp lý là phải có sự ra đời của các hiệp hội với tư cách pháp nhân. Không có tư cách này, những người phản đối sẽ không thể có cách gì tổ chức và huy động các nguồn tài nguyên cần thiết giữa họ, nhằm hủy bỏ dự án chính phủ.

Nếu như trong trường hợp Sân bay Charles de Gaulle, lợi ích công và lợi ích riêng tương phản với nhau cực kỳ rõ nét, thì trong ví dụ thứ hai dưới đây, dự án Sân bay Notre-Dame-des-Landes, sự đối đầu này lại không rành mạch như thế.

Notre-Dame-des-Landes là một thành phố nằm tại Loire-Atlantique, gần Nantes. Tỉnh Pays-de-la-Loire muốn xây tại đây một sân bay mới nhằm tránh sự quá tải của Sân bay Nantes. Dự án này bắt đầu từ cách đây hơn 30 năm nhưng vẫn chưa bao giờ thành hiện thực. Lý do là vì nó gặp phải sự chống đối mạnh mẽ từ phía người dân địa phương. Không dưới một lần những người phản đối đã xuống đường biểu tình để chống lại dự án. Điều đáng thú vị là nếu một nửa số người liên quan phản đối, thì một nửa số còn lại lại ủng hộ dự án. Bên «Ủng hộ» cho rằng sân bay sẽ giúp phát triển kinh tế vùng, tạo công ăn việc làm, phát triển du lịch. Bên «Chống» phản đối việc biến 2000 ha đất nông nghiệp thành bêtông, và 10 lần diện tích này xung quanh sân bay tương lai, thành các khu cho phép xây dựng dịch vụ liên quan (chứa hàng, nhà ở, nhà máy…). Cả hai bên đều cho rằng quan điểm của mình đại diện lợi ích chung, và quan điểm phía bên kia mới là cục bộ. Sự đối đầu không còn là lợi ích chung vs. lợi ích riêng, mà là cuộc quyết đấu để được đại diện cho lợi ích chung. Bức ảnh sau được chụp tại một cuộc tranh luận dân chủ (Débat public) tại đó người dân được trưng cầu ý kiến xem có nên tiến hành dự án.

Tranh luận dân chủ về dự án Sân bay Notre Dame des Landes. Một bên nói «Không», bên kia nói «Có». Nguồn: Lecourt (2003)

Tranh luận dân chủ về dự án Sân bay Notre Dame des Landes. Một bên nói «Không», bên kia nói «Có». Nguồn: Lecourt (2003)

Ví dụ thứ 3 về dự án quy hoạch lại khu sinh thái Saclay, cho thấy rõ hơn sự vận động xã hội đằng sau các mâu thuẫn đất đai. Khu Saclay là một khu vực còn rất ít được đô thị hóa, nằm tại phía nam của Paris. Đây là nơi tọa lạc của một số trường đại học mà có lẽ nhiều người Việt Nam không mấy xa lạ. Nổi bật nhất là Trường Polytechnique danh tiếng, nhưng cũng còn có Đại học Paris 11, Trung tâm Năng lượng Nguyên tử CEA, Trường Điện Supelec, v.v… Chính sách của vùng Ile-de-France là biến nơi đây thành một khu công nghệ cao theo mô hình Silicon Valley của Mỹ nơi mà các doanh nghiệp có được kho chất xám từ các viện nghiên cứu và trường đại học lân cận. Dự án này vấp phải sự phản đối mạnh mẽ không những của người dân địa phương mà ngay cả các trí thức làm việc tại đây. Ngoài các hình thức phản đối thông thường, không ít trí thức đã mua lại một khoảnh đất nông nghiệp tại Saclay để có thể «cùng nhau làm nông dân», nếu chính quyền thật sự muốn triệt phá rừng và đất nông nghiệp để phát triển kinh tế. Đây có lẽ là một sáng tạo «độc đáo» của các giáo sư Pháp, nhưng nó thể hiện một cách rõ ràng quan điểm và sự dấn thân xã hội của những người phản đối.

Ba ví dụ trên chỉ là những trường hợp điển hình cho hàng trăm, hàng nghìn mâu thuẫn có liên quan đến quy hoạch lãnh thổ diễn ra tại Pháp. Trong một dự án nghiên cứu các mâu thuẫn sử dụng các đơn kiện và các công cụ luật pháp, Melot và nhiều nhà nghiên cứu khác (Melot and al. 2008) đã ghi nhận mỗi năm các tòa án hành chính tại Pháp thụ lý khoảng 700 mâu thuẫn liên quan đến các vấn đề bảo vệ môi trường, 1500 mâu thuẫn liên quan đến hồ sơ quy hoạch. Trong tất cả các trường hợp, chính quyền đều là bên bị tấn công trước tòa án. Đừng quên rằng đưa đơn kiện tại tòa chỉ là một trong số nhiều hình thức thể hiện khác của mâu thuẫn. Con số mâu thuẫn giữa người dân và chính phủ do đó vượt xa con số hàng ngàn mỗi năm. Không có ai phàn nàn rằng nhiều mâu thuẫn như thế sẽ dẫn đến chia cắt xã hội.

Torre và nhiều nhà nghiên cứu khác (Torre and al., 2006) đã tổng kết các hình thức thể hiện mâu thuẫn đất đai như sau:

a. Thành lập hiệp hội những người phản đối dự án: khai sinh một tư cách pháp lý được luật pháp công nhận. Hiệp hội có người đại diện và ngân quỹ độc lập để nhận tài trợ.

b. Chiến tranh pháp lý : Đưa đơn kiện chính phủ trước tòa án hành chính.

c. Tuyên truyền, quảng bá đại chúng: ký tên vào các bản kiến nghị, đưa tin trên báo chí, trên đài, trên Internet, sử dụng các tờ rơi, in logo và phù hiệu trên áo, khẩu hiệu.

d. Xuống đường biểu tình

e. Sử dụng các biển hiệu…

Hai hình thức cuối cùng (d và e) có lẽ dễ được công luận để mắt nhất, bằng chứng là các tấm ảnh mà một người bình thường có thể chụp được trên đường đi của mình.

Biển cấm (tượng trưng) nói Không với dự án sân bay tại một cánh đồng

Biển cấm (tượng trưng) nói Không với dự án sân bay tại một cánh đồng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khẩu hiệu Không với sân bay, Có với chất lượng cuộc sống trên đường đi. Nguồn: Lecourt 2003

Khẩu hiệu Không với sân bay, Có với chất lượng cuộc sống trên đường đi. Nguồn: Lecourt 2003

 

Torre và các đồng nghiệp (2006), sau khi nghiên cứu vô số mâu thuẫn diễn ra tại Pháp đã tổng kết lại ba đặc điểm của các mâu thuẫn.

Thứ nhất, các mâu thuẫn không phải là sự bất đồng. Mâu thuẫn là sự bất đồng biểu hiện thành hành động cụ thể. Không có hành động cụ thể thì bất đồng chỉ vĩnh viễn là bất đồng, và không có khả năng thay đổi quan hệ xã hội. Sở dĩ như vậy là vì các hành động cụ thể hàm ý một sự đầu tư (investment), và có tính không thể đảo ngược (irreversible). Không có đầu tư thì không thể có kết quả, có thể đảo ngược được thì không khả tín. Một mâu thuẫn hiểu theo nghĩa hiện đại do đó luôn hàm ý có sự đầu tư và không thể đảo ngược. Sự đầu tư ở đây hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là có thể quy ra tiền. Trong trường hợp một hiệp hội chống dự án được thành lập, đầu tư thể hiện trước hết là tiền hội phí mà các hội viên đóng góp để duy trì sự sống cho hiệp hội. Đầu tư cũng thể hiện ở việc trả tiền các luật sư để tấn công pháp lý, tạo thông tin và phát tán thông tin trên các kênh trả tiền (đài phát thanh, báo, in tờ rơi). Đầu tư còn được thể hiện ở thời gian mà các thành viên hy sinh đóng góp, vì có thể quy ra giờ lao động tính bằng lương. Tính không thể đảo ngược thể hiện ở các hành động công khai. Một đơn kiện tại tòa án là không thể đảo ngược trừ khi chính phủ có thỏa thuận nhượng bộ để đánh đổi việc rút đơn kiện. Một thông tin viết trên báo chính thống là không thể đảo ngược, trừ khi có ai chịu đi thu hồi tất cả các số báo trên đó bài viết đã được phát hành. Một bản kiến nghị là không thể đào ngược trừ khi tất cả những người ký tên cùng lên tiếng rút lại kiến nghị của mình. Đầu tư và tính không thể đảo ngược là hai yếu tố sống còn cấu thành tính khả tín của một mâu thuẫn. Thiếu tính khả tín, mâu thuẫn không còn mang nhiều giá trị, vì phe đối lập sẽ cho rằng sự phản đối sẽ tự xẹp đi cùng với thời gian.

Thứ hai, các mâu thuẫn cho phép tổ chức xã hội. Đặc tính này có lẽ đã được phương Tây nghiên cứu từ rất lâu. Đứng trước một mâu thuẫn với bên ngoài, tổ chức bên trong một cộng đồng được củng cố lại chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn. Alain Touraine, nhà xã hội học nổi tiếng của Pháp, nhận định: «vô số các hình thức tổ chức của xã hội thực ra chỉ tồn tại nhờ mâu thuẫn». Không có mâu thuẫn, con người không nhất thiết phải luôn đứng lại gần nhau. Vì có mâu thuẫn, con người buộc phải tìm cách tổ chức cộng đồng một cách hiệu quả, và từ sự nhích lại với nhau này mà các quan hệ khác có thể ra đời. Hai ông hàng xóm thường xuyên hục hặc nhau rất có thể một ngày trở thành những người bạn, khi cùng chung cảnh nhìn thấy ngôi nhà của mình có nguy cơ bị giải tỏa cho một dự án X nào đó, mà họ cùng coi là vô lý. Không có sự nhượng bộ để chung sống này, mỗi ông sẽ chỉ là một hạt cát trước lệnh giải tỏa. Nhưng nếu 100 người thuộc diện giải tỏa cùng nhau đứng trước trụ sở chính quyền đòi giải quyết, thì khó lòng có thể hồ đồ kết luận ngay là họ vô lý, mà không nhìn vào nội vụ. Đương nhiên không phải cứ vì «đoàn kết» ra đứng cùng nhau, mà mọi chuyện sẽ được tự giải quyết. Việc giải quyết vấn đề còn phụ thuộc vào cách làm việc của một chính quyền dân chủ với công dân của mình. Nhưng nếu mỗi người chỉ biết khư khư phản đối bằng tiếng nói cá nhân của mình thì kết quả không cần nói cũng có thể biết trước.

Lecourt khi nghiên cứu các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng tại Pháp đã mô tả hai giai đoạn của một mâu thuẫn như sau. Giai đoạn một: Hành xử theo kiểu động vật[3]. Người phản đối dự án thể hiện sự bất đồng quan điểm của mình ở mức cá nhân. Anh ta bực mình, bức bối, kêu gào, thậm chí phá hoại, sử dụng ngay cả các biện pháp tiêu cực như hành hung người thi hành công vụ, bằng lửa, bằng vũ khí… Thế nếu chỉ dừng lại ở đây, anh ta mới chỉ có các hành vi «động vật», tự bảo vệ mình bằng răng nanh và móng vuốt. Đặc trưng của mâu thuẫn đất đai theo Lecourt là giai đoạn hai «Bước chân của con người động vật vào thế giới văn minh[4]» Người phản đối dự án tìm đồng minh và tiếng nói tập thể. Anh ta tự mình gia nhập các hiệp hội có tiềm năng bảo vệ quyền lợi anh ta. Và nếu như những hiệp hội như thế chưa được thành lập thì anh ta sẽ cùng những người đồng cảnh thành lập nó. Không có sự tồn tại của một tổ chức mang tính xã hội nâng đỡ mâu thuẫn, mâu thuẫn sẽ không bao giờ được giải quyết.

Biểu tình chống việc xây dựng các trạm xử lý chất thải phóng xạ. Nguồn: Collectif Anti déchets radioactifs

Biểu tình chống việc xây dựng các trạm xử lý chất thải phóng xạ. Nguồn: Collectif Anti déchets radioactifs

Cuối cùng, theo Torre and al. (2006), mâu thuẫn là tiền đề của thay đổi. Mâu thuẫn là nơi mà các quan hệ xã hội mới được hình thành trên cơ sở đối đầu lẫn nhau. Không có mâu thuẫn thì sẽ không bao giờ có thay đổi. Trong ví dụ Sân bay Charles de Gaulle ở trên, tòa án đã bác đơn của các hiệp hội kiện Thủ tướng chính phủ về việc mở rộng sân bay. Tuy nhiên những người phản đối không dừng lại tại đó. Họ tiếp tục theo đuổi cuộc chiến bằng các chiến thuật khác như vận động hành lang, và tấn công pháp lý các hãng hàng không vì gây ồn, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Không có một sự xích lại gần nhau bắt nguồn từ việc phản đối dự án sân bay, những phương án tác chiến phụ trợ sẽ không bao giờ ra đời. Kết quả của những mâu thuẫn này, là việc chính phủ chấp nhận đặt 2 việc lên bàn cân cùng lúc : mở rộng sân bay và xem xét tiếng ồn. Một ủy ban xem xét ảnh hưởng của dự án mở rộng sân bay được thành lập trên cơ sở các thành viên ủng hộ/phản đối và các cơ quan trung lập. Một bản nội quy quy tắc hoạt động mới của sân bay ra đời : sân bay được mở rộng nhưng giờ bay và lưu lượng không lưu được kiểm soát nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của tiếng ồn lên những người dân. Các dự án xây dựng có tính đền bù khác cũng được tiến hành tại các khu dân cư trong dự án. Một mối quan hệ xã hội mới được thiết lập tại đây.

Trong ví dụ về Sân bay Notre Dame des Landes, như đã nói 30 năm đã trôi qua nhưng sân bay vẫn chưa được xây dựng. Điều này không có nghĩa là cả hai phe Ủng hộ và Phản đối đều án binh bất động. Ngược lại, cả hai đều chiến đấu liên tục để xây dựng dự án của mình, nhất là phe phản đối sân bay. Bắt đầu bằng việc nêu lên những điểm phi lý trong dự án sân bay, họ cùng nhau đi đến việc xây dựng một dự án thay thế nhằm phát triển nông nghiệp với những hiệu quả kinh tế & xã hội không kém hơn dự án mà họ phản đối. Nông nghiệp không chỉ giải quyết vấn đề lương thực mà còn đảm bảo cảnh quan, không khí trong lành, sự yên tĩnh, chất lượng cuộc sống. Đây là một trường hợp quan sát được, của một xu thế vận động khổng lồ trong lòng các xã hội phương Tây. Chính sự chiến đấu không ngừng của những người chống các dự án đô thị hóa, chống các khẩu hiệu hy sinh môi trường sống thanh bình vì lợi ích kinh tế (mà đa phần trong thực tế chỉ là lợi ích của các tập đoàn kinh tế tư bản) đã đưa các xã hội phương Tây tiến về khái niệm phát triển bền vững. Luật Môi trường và nhiều định chế pháp lý bảo vệ môi trường của châu Âu đã ra đời trong hoàn cảnh đó. Các điều luật này là kết tinh, và là đại diện của một xã hội dân sự biết lắng nghe và biết chấp nhận tiếng nói của số đông. Không có mâu thuẫn đủ mạnh, xã hội dân sự sẽ không thể nào tự mình điều chỉnh được các vấn đề trong lòng mình.

Trong ví dụ cuối cùng, dự án Saclay đã được phê duyệt nhưng chưa được triển khai và có lẽ cũng sẽ còn lâu mới đi đến đoạn kết. Sự năng động của những người phản đối dự án đô thị đã cho ra đời tại Saclay một chương trình phát triển nông nghiệp bền vững. Nhiệm vụ của chương trình này là phát triển nông nghiệp với hiệu quả kinh tế cao tại đây. Những người phản đối dự án đô thị không nghi ngờ gì về thành công của họ. Việc xây dựng một dự án hoàn chỉnh và có tính khoa học sẽ thêm rất nhiều điểm cho quá trình tranh đấu. Các mâu thuẫn thật sự không cần người giải quyết. Chúng sẽ tự giải quyết lấy, vì từ các mối quan hệ đối đầu sẽ nảy sinh một không gian đối thoại, và một mối tương quan quyền lực mới sẽ được tái thiết trên lãnh thổ. Nếu mâu thuẫn không đủ mạnh, sẽ không bao giờ có đối thoại. Không có đối thoại, sẽ không có thay đổi. Việc các bên đối đầu cùng nhau chấp nhận đối thoại, chính nó đã là giải pháp cho mâu thuẫn. Khi một quan hệ xã hội mới ra đời, mâu thuẫn sẽ tự chấm dứt.

Lời kết

Nói tóm lại, phương Tây nhìn nhận mâu thuẫn như là một phần tất yếu của xã hội, không nên tránh mâu thuẫn, và không thể tránh mâu thuẫn. Cụ thể trước vấn đề quy hoạch lãnh thổ, phải nhìn nhận rằng không có mâu thuẫn đất đai nào là không «chính đáng». Sự xuất hiện của mâu thuẫn đất đai chỉ là một biểu hiện hết sức bình thường của dân chủ. Việc người dân phản đối chính phủ vì một quy hoạch «vô lý» cũng là một biểu hiện hết sức bình thường của dân chủ. Muốn nhìn một xã hội dân chủ đến đâu, hãy nhìn cách mà xã hội đó giải quyết các mâu thuẫn đất đai của mình. Mâu thuẫn đất đai và xử lý mâu thuẫn đất đai, chính là những thước đo dân chủ trực quan nhất. Ngược lại, phủ nhận quyền người dân được có tiếng nói lên quy hoạch lãnh thổ, chính là phủ nhận quyền dân chủ và quyền làm chủ của họ một cách triệt để nhất.

Tuy nhiên để mâu thuẫn thực sự được xảy ra, cần thiết phải có một sự tổ chức các nguồn lực một cách thích đáng. Không có sự tổ chức và các hình thức đảm bảo một sự hiện diện xã hội đủ mạnh, không thể có mâu thuẫn, đơn giản vì không gian đối thoại chỉ tồn tại khi cả hai bên của mâu thuẫn đều thấy rằng đây là giải pháp tối ưu. Nếu một bên bị yếu thế trông thấy so với bên kia, không gian đối thoại sẽ không thể được thiết lập. Việc tổ chức các nguồn lực xã hội chính là sự thể hiện các nguyên tắc dân chủ một cách rõ ràng nhất.

Để kết thúc bài viết xin được trích lời Lewis Coser (1913-2003), nhà xã hội học nổi tiếng người Mỹ gốc Đức: «Một xã hội dân chủ là một xã hội mà trật tự có thể cùng chung sống với nổi loạn». Câu nói đó không thể đúng hơn khi chúng ta quan sát sự vận động của xã hội dân sự trước các dự án có tính cộng đồng tại các nước phát triển. Mọi trật tự xã hội đều chỉ là tương đối, bởi trật tự tuyệt đối không thể có nghĩa nào khác ngoài nghĩa độc tài. Một xã hội thật sự dân chủ phải cho phép người dân được tự do tổ chức về mặt xã hội, và được lên tiếng bảo vệ quan điểm và quyền lợi của mình.

Cần nói thêm rằng, Coser chính là một trong những người phản đối mạnh mẽ quan điểm của xã hội Mỹ vào thời ông – quan điểm cho rằng một xã hội lý tưởng là một xã hội hài hòa, cho phép mỗi người có một vai trò định trước, giống như các bộ phận của một cỗ máy: mỗi bộ phận có một chức năng chạy trơn tru và hiệu quả[5]. Xã hội lý tưởng của Coser phủ nhận tất cả những xã hội vận hành trơn tru không mâu thuẫn. Bởi vì với ông, không mâu thuẫn là không bình thường, là bóp nghẹt tự do và dân chủ. Tư tưởng của ông cuối cùng sát lại rất gần với tư tưởng châu Âu của Weber, của Marx, của Touraine và nhiều nhà xã hội học khác: xây dựng một xã hội mà trật tự tồn tại nhưng vẫn cho phép những sự «nổi loạn » cần thiết, minh chứng cho sự hiện hữu của tự do.

23, tháng 6, 2009

*

Lời cuối: Bài viết này còn khá giản lược để có thể trình bày thuyết phục một khái niệm phức tạp và đã được nghiên cứu kỹ càng tại phương Tây như mâu thuẫn. Nó chỉ nhằm đặt viên gạch đầu tiên để thay đổi một quan niệm có tính văn hóa của người Việt trước các xung đột và mâu thuẫn. Người viết xin được lắng nghe tất cả những lời bình luận và chỉ dẫn để có thể phát triển xa hơn chủ đề này.

Tài liệu tham khảo

Bàn về minh triết: http://www.viet-studies.info/Jullien_BanVeMinhTriet.htm

Coser, L. (1982), The Functions of Social Conflict, Glencoe, Ill: Free Press, 1956, 188p

Coase, R. (1960): “The problem of social cost,” Journal of Law and Economics, Vol.3, No.1, pp 1-44.

Guigou, J. L. (1982): La rente foncière – les théories et leur évolution depuis 1650. Ed. Economica. 954 pages

Lecourt, A. (2003): “Les conflits d’aménagement – Analyse théorique et pratique à partir du cas de Breton” Thèse universitaire en Géographie, Université de Rennes II, Rennes

Melot, R., Cadoret, A., Jeanneaux, P., Kirat, T., Pham, H. V., et Sabau, C. (2008): “Conflits environnementaux et gestion des espaces, Modalités de recours au tribunal, pratiques administratives et logiques d’acteurs entre environnement et aménagement,” Paris: INRA & Ministre de la Justice – Mission de recherche Droit et Justice, 133 pages.

Torre, A., Aznar, O., Bonin, M., Caron, A., Chia, E., Galman, M., Lefranc, C., Melot, R., Guérin, M., Jeanneaux, P., Kirat, T., Paoli, J.-C., Salazart, M.-I., et Thinon, P. (2006): “Conflits et tensions autour des usages de l’espace dans les territoires ruraux et périurbains. Le cas de six zones géographiques françaises,” Revue d’Economie Rurale et Urbaine, Vol.3, pp411-450.

Touraine, A. (1998): “Les conflits sociaux,” Encyclopédie Universalis – version DVD 1998

Touraine, A. (1993): La voix et le regard – Sociologie des mouvements sociaux. Paris, Seuil. 309 pages

 

© 2009 Phạm Hải Vũ

© 2009 talawas blog


[1] Các sự kiện thiên nhiên đương nhiên cũng thay đổi quỹ đất nhưng nhìn một cách tổng quan, nhưng thay đổi này là vô cùng nhỏ bé so với thay đổi do bàn tay con người.

[2] Nhà nước với danh nghĩa là người duy trì công lý chỉ có thể ủng hộ một bên nếu đưa được ra những lý do chính đáng. Trong trường hợp xây dựng công trình công cộng, nhà nước lại chính là một bên của mâu thuẫn, đại diện của lợi ích chung. Để có thể làm trọng tài cho chính mình, nhà nước cần phải biết «phân thân» bằng cách tách rời bộ phận bảo vệ công lý ra khỏi phần còn lại. Nếu không có khả năng phân quyền tuyệt đối, đảm bảo một tư cách trọng tài trung lập, nhà nước sẽ không thể đảm bảo công bằng trong việc phân bổ tài nguyên.

[3] Nguyên văn : comportement animal

[4] Nguyên văn : entrée dans le monde civique

[5] Society of functionalism

Phản hồi

3 phản hồi (bài “Phạm Hải Vũ – Mâu thuẫn và xung đột đất đai trong con mắt người phương Tây”)

  1. Phạm Hải Vũ nói:

    - Để đi xa hơn thế, tôi cho rằng chúng ta hiếm khi có các mâu thuẫn xã hội. Các mâu thuẫn đều dừng lại ở mức độ cá nhân, chưa kịp xảy ra thì đã bị dung hòa. (Xin bác lưu ý là với tôi, mâu thuẫn là sự bất đồng biểu hiện thành hành động cụ thể quan sát được, ngay trong ví dụ anh thương binh lấn chiếm đất của bác, thật ra chưa có mâu thuẫn mà mới chỉ có tiềm năng của mâu thuẫn) Chính vì không có nhiều mâu thuẫn mang tính xã hội, mà xã hội thiếu sự năng động cần thiết để biến chuyển về hướng đem lại lợi ích chung cho mọi người. Lối sống phương Tây du nhập vào Việt nam với sự xuất hiện của kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa đã đem lại một sự năng động đáng kể, nhưng chừng đấy liệu đã là đáng kể chưa khi so sánh với sự năng động của người phương Tây ? Luật pháp và các giá trị của xã hội phải được xây dựng trên chính yêu cầu của xã hội, biểu hiện qua các luồng vận động, mà mâu thuẫn là bằng chứng của sự đối đầu giữa các luồng vận động đó. Luật pháp của Việt nam chưa nghiêm minh phải chăng là vì có một độ lệch giữa luật pháp và mong muốn của xã hội ? Nếu xã hội Việt nam chưa coi chuyện cơi nới đất đai là đáng lên án, vì còn sợ mâu thuẫn cá nhân ? liệu có nên đổ lỗi cho luật pháp là thiếu nghiêm minh ? hay là vì các luồng vận động chưa đủ mạnh để người ta có hậu thuẫn mà dám đương đầu với bất công và những gì người ta chưa vừa ý ?

    Cuối cùng, khi đọc các dòng này mong bác đừng nghĩ rằng tôi cổ súy mọi người đi gây hấn cho mâu thuẫn cá nhân bùng phát. Mục đích của tôi là để các độc giả có thể đọc và suy ngẫm về lý do tại sao xã hội Việt nam lại có quá nhiều thứ « đi lệch luật pháp » đến vậy. Nếu như tôi lấy ví dụ về mâu thuẫn đất đai thì là vì đây là một thứ hiện hữu cụ thể nhất. Và vì đây là các mâu thuẫn liên quan nhiều đến quyền lợi, ít bị phủ sóng bởi cảm tính nhất. Còn vô số các mâu thuẫn liên quan đến cảm tính như quan hệ bạn bè, gia đình, đồng nghiệp …tôi hầu như không biết gì. Hy vọng bác cũng đồng ý với tôi là việc phân bố và sử dụng đất đai tại Việt nam có quá nhiều bất cập. Từ đó cá nhân tôi nghĩ rằng hình thức phân bổ đất đai công bằng nhất phải là hình thức tương xứng với đòi hỏi của xã hội. Mà để làm được việc đấy cần phải để cho các mâu thuẫn đất đai hiện hữu một cách cụ thể, nếu không sẽ khó lòng mà biết được xã hội thật sự muốn gì ? Muốn Tây Nguyên được gìn giữ nhưng cứ nói đến hai chữ bauxite thì lại thì thào sợ sệt không dám nói to, thì liệu chúng ta có thể suy luận logic rằng chính phủ sẽ phải điều chỉnh mọi chuyện cho hợp tình hợp lý hay không ?

  2. Phạm Hải Vũ nói:

    Thưa bác Bình Nguyên, tôi xin phép được trả lời các vấn đề được bác đặt ra như sau.

    Ở điểm thứ nhất bác cho rằng tôi gượng ép khi đưa vấn đề mâu thuẫn xung đột đất đai ở phương Tây lên xã hội Việt nam. Tôi xin trả lời với hai ý sau:

    - Thứ nhất, tôi đồng ý với bác rằng không thể đem áp một mô hình nghiên cứu và giải quyết mâu thuẫn theo kiểu phương Tây để nhìn nhận Việt nam. Nói rộng ra, không có mô hình mâu thuẫn nào có thể được áp dụng mọi nơi mọi chỗ như nhau. Lý do vì mâu thuẫn là một hiện tượng xã hội nên nó phụ thuộc hoàn toàn vào các đặc tính của xã hội đã sinh ra nó. Châu Âu có mâu thuẫn kiểu châu Âu, Việt nam có mâu thuẫn của Việt nam. Ngay trong châu Âu, người Anh đối mặt với mâu thuẫn một kiểu, người Đức, người Pháp lại đối mặt một kiểu khác. Nhìn nhận và giải quyết mâu thuẫn như thế nào ẩn chứa trong đó một phần rất lớn yếu tố văn hóa. Nếu như bài viết của tôi có thiên ý mô hình hóa cách nhìn nhận các mâu thuẫn, thì như bác cũng thấy, tôi ghi rõ ở tiêu đề là bài viết nói về Mâu thuẫn trong con mắt người phương Tây. Muốn áp dụng vào Việt nam còn phải cân nhắc, đắn đo, điều chỉnh, cân đối với rất nhiều yếu tố khác.

    - Tuy nhiên điều đấy không có nghĩa là tôi ủng hộ ai giữ nguyên cách nhìn nhận của người đấy. Tôi không nói là ở Việt nam không biết thế nào là mâu thuẫn, không biết thế nào là giải quyết mâu thuẫn. Chúng ta biết, nhưng xã hội của chúng ta giải quyết mâu thuẫn theo nhiều cách rất tiêu cực. Nói cho rõ hơn, tôi nghĩ rằng chúng ta muốn du nhập các giá trị của xã hội văn minh phương Tây, như dân chủ, như công bằng, bình đẳng và tôn trọng luật pháp, thì cũng phải hiểu và điều chỉnh xã hội Việt nam, trong đó có việc nhìn nhận mâu thuẫn, theo hướng mà phương Tây đã làm. Mâu thuẫn là một trong số các động cơ giúp cho cỗ máy xã hội phương Tây tự vận hành. Không thể bắt chước sản xuất một cỗ máy giống họ, mà lại không hiểu động cơ của nó được làm thế nào. Không thể làm một chiếc ôtô với hình dáng bên ngoài giống hệt xe phương Tây, nhưng động cơ lại là xích xe đạp Việt nam, rồi mong nó chạy.

    Ở điểm thứ hai, có lẽ tranh luận sẽ có nhiều ý nghĩa hơn, là về việc bác nói rằng xã hội Việt nam có xu hướng thỏa hiệp trước mâu thuẫn. Nếu như tôi hiểu không nhầm thì như ý bác là chúng ta đã kịp dung hòa trước khi mâu thuẫn xảy ra, vì thế mà không còn mâu thuẫn. Nếu đúng thế thì bác đang ủng hộ quan điểm của tôi rất công khai, chỉ khác nhau một chỗ là hình như với bác chuyện này không hề tiêu cực, nó còn tích cực là đằng khác. Tôi thì cho đây là một vấn đề lớn, và mục đích của bài viết chính là nhằm để thay đổi quan điểm xã hội về chuyện này.

    - Trước hết tôi cho rằng các hình thức thỏa hiệp trước mâu thuẫn, thường có lợi trên bình diện cá nhân, nhưng là có hại trên bình diện cộng đồng. Điều này có thể thấy rất rõ ngay trong ví dụ của bác. Anh thương binh có giá trị về mặt ảnh hưởng chính trị nên người ta nhượng bộ để anh ta lấn chiếm và cơi nới đất đai. Chuyện nhượng bộ này là có lợi trong mỗi một quan hệ giữa anh thương binh và một người lambda bất kỳ nào ở trong xóm: họ cần đến nhau trong các mối quan hệ lợi ích, họ né tránh đối đầu. Tuy nhiên trên bình diện cộng đồng, tự nhiên có người xé rào vi phạm luật pháp, lấn chiếm đất công mà lại không bị ai phản đối. Kết quả cũng như bác đã chỉ ra là luật pháp không được tôn trọng, mọi người cư xử nhố nhăng, ai cũng cơi nới, ai cũng lấn chiếm. Vậy là từ bắt đầu một chuyện né tránh những mâu thuẫn cá nhân nhỏ, sẽ dẫn đến kết quả là trật tự tổng thể bị lộn tùng beng chẳng đâu ra đâu. Bác bảo rằng phải thắt chặt luật pháp, thế nhưng thặt chặt thế nào khi người ta quen sống với văn hóa nới luật để né tránh mâu thuẫn cá nhân ? Chính giáo sư François Julien cũng nói, chúng ta (phương Đông) chú trọng hài hòa đến nỗi để hài hòa che lấn mâu thuẫn, kết quả là hài hòa giả tạo. Chấp nhận để cho người khác cơi nới, mọi người bằng mặt mà chẳng bằng lòng, còn trật tự thì bị đảo lộn.

  3. Binh Nguyen nói:

    Về mặt lý luận, dùng thực tế và cách nhìn phương Tây để gợi ý người Việt thay đổi văn hóa nhìn về xung đột và mâu thuẫn liệu có hợp lý không? Chưa kể mọi mâu thuẫn đều khác nhau, một vài ví dụ không bao giờ phản ánh được “kinh nghiệm xử lý mâu thuẫn của Tây Phương”.

    Trong mọi mâu thuẫn xã hội, các bên tham gia luôn tận dụng tối đa khả năng họ có được để đạt được mục đích. Luôn có những nguyên tắc để xử lý mâu thuẫn trong một xã hội. Nếu mục đích bài này nhằm thay đổi văn hóa nhìn nhận mâu thuẫn XH của người Việt, điều đầu tiên tác giả cần phải hiểu sâu sắc người Việt đang xử lý mâu thuẫn XH, hay về đất đai như thế nào!

    Thay vì cách nhìn rất hời hợt có phần gượng ép của bài cho rằng ở VN chính phủ đang dùng sức mạnh của mình để giải quyết mâu thuẫn đất đai, triệt tiêu chống đối, và người VN, không giống phương Tây (coi mâu thuẫn là điều tất yếu), tôi nhận thấy:

    - Một, người Việt Nam là bậc thầy trong việc giải quyết mâu thuẫn xã hội. Với một xã hội thuần nông, tài nguyên hạn chế, giải quyết mâu thuẫn là vấn đề người VN phải đối mặt thường xuyên từ ngàn năm nay – hãy xem lại văn hóa VN, xem điều gì là cốt lõi: chẳng phải là thứ bậc, trật tự, lễ nghĩa,… những thứ đó không phải để kiềm chế mâu thuẫn (đất đai không ngọai lệ) thì là gì? rồi những câu ca dao tục ngữ nữa…

    - Hai, rất nhiều bằng chứng tôi có được đều chỉ ra rằng thỏa hiệp trước các mâu thuẫn là cách phát triển chủ yếu của Việt Nam trong thời kỳ cận đại. Như vậy, mọi sự bất hợp lý, bức xúc đất đai hiện nay đều có nguồn gốc từ cách thức điều hành đất nước theo kiểu thỏa hiệp, thương lượng!

    VD: một anh thương binh có thể chiếm được 1 lô đất cạnh hàng rào cơ quan để làm quán, sau đó xây nhà, nhưng chính quyền không can thiệp được dù nhà đó chóan gần hết lối đi; vì anh ta là thương binh, có năng lực chính trị để yêu cầu sự thỏa hiệp; cuối cùng, sau nhiều năm, nhà nước lại phải đền bù nếu muốn mở rộng con đường – mà phải đền bù theo giá anh thương binh kia chấp nhận cơ; dù dự án chậm cũng phải làm như vậy, nếu chính quyền e ngại không dám cử công an đến dỡ nhà anh kia…

    Tương tự, nhà nước có thể phân đất, ra nhiều quyết định đầu tư sai, và giới chuyên môn phải hợp lý hóa những cái sai đó bằng chỉnh sửa lại quy họach – đó là những sự thỏa hiệp cấp chính quyền. Còn giới chuyên môn khi ra các tiêu chí định hướng sai lầm cũng ít khi bị kiểm điểm, mất chức – đó cũng là một sự thỏa hiệp nữa.

    Đó mới là một số nét của những thỏa hiệp ở Việt Nam.

    Chính nhờ nhiều sự thỏa hiệp, điều đình này, mà xã hội VN có thể sống sót duy trì khá ổn định dù phải trải qua rất nhiều biến cố, khó khăn – vì mọi người đều có thể thương lượng để cùng sống ở trong bất cứ hòan cảnh nào.

    Tuy nhiên mặt trái của nó là sự phát triển hỗn lọan, không theo nguyên tắc nào cả, mà chỉ theo sự phân chia nhu cầu của xã hội. Thế nên khi không ai cần QH thì không làm QH, khi đường còn xài được thì không làm đường, khi cần xây nhà máy thì xây nhà máy, khi Nhà Nước còn đất để cấp cho chủ đầu tư thì cứ cấp….

    Hậu quả chung thế nào, giờ nhìn HN và Tp HCM là đủ thấy.

    Vì thế, kết luận cuối cùng của bài này là VN cần học cách làm luật và thực thi luật nghiêm khắc như phương Tây. VN không cần học cách xử lý mâu thuẫn XH. Xử lý mâu thuẫn, thương lượng quyền lợi là họat động mang tính bản chất của người Việt rồi. Không chỉ người Việt thấu hiểu nó mà còn đang rất lạm dụng nó trong công cuộc phát triển đất nước.

    Thay vì làm êm các mâu thuẫn, chúng ta giờ phải biết cách chấp nhận các mâu thuẫn ồn ào, biết cách dùng luật để xử lý các mâu thuẫn, hạn chế các mâu thuẫn có cơ hội được dịp cường địêu hóa, lấn áp các nguyên tắc cơ bản của xã hội và nhu cầu phát triển chung.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả