talawas blog

Chuyên mục:

Leslie H. Gelb – Tính tất yếu, sự lựa chọn, và tri thức thường nghiệm: chính sách cho một thế giới hỗn mang (2)

31/07/2009 | 1:05 sáng | 1 phản hồi

Tác giả: Trần Ngọc Cư

Chuyên mục: Chính trị - Xã hội, Khủng hoảng tài chính thế giới, Lịch sử, Thế giới, Tư tưởng
Thẻ: > > > > >

(Tiếp theo phần I)

Những sự thật đáng buồn

Ba con quỉ chi phối đường lối ngoại giao của Hoa Kì [gồm ý thức hệ, chính trị nội bộ, và tính kiêu ngạo quốc gia] tỏ ra sẵn sàng ám ảnh cường quốc này trong thập niên thứ hai của thế kỉ 21. Người ta gần như cảm nhận được sự háo hức của bầy quỉ, khi nghe những lời tuyên bố của những nhà lãnh đạo Hoa Kì, Dân chủ cũng như Cộng hoà, về tình hình Afghanistan, về việc Nga đưa quân vào Georgia, và về nhiều vấn đề khác. Người ta có thể tiên đoán một số sự thật không mấy lạc quan về tình hình Afghanistan: Cả phe Dân chủ lẫn phe Cộng hoà sẽ tiếp tục hậu thuẫn việc gia tăng quân số Hoa Kì và những cam kết khác tại quốc gia này, vì Afghanistan có khả năng trở thành căn cứ địa trở lại cho một tổ chức al Qaeda nguy hiểm và vì tăng cường quân số tại đây sẽ là một lí do chính đáng khác để rút quân khỏi Iraq. Nhưng thậm chí với những nỗ lực to lớn hơn mà người Mĩ sẽ thực hiện tại Afghanistan, chắc chắn tình hình vẫn tiếp tục trở nên tồi tệ. Cả quân đội Anh lẫn quân đội Xô-viết có thể dạy bảo Hoa Kì một đôi điều về kinh nghiệm theo đuổi chiến tranh tại nước này – và đã thua trận như thế nào. Cuối cùng, chính người Afghanistan vẫn sẽ quyết định lấy số phận của mình.

Cuộc chiến chống Taliban và al Qaeda, thủ phạm vụ 9/11, vẫn còn là một nỗ lực được dân Mĩ ủng hộ rộng rãi. Tính cách được lòng dân này đã khiến các nhà tư tưởng chiến lược Hoa Kì biến chính nghĩa của cuộc chiến đấu thành một giáo điều. Hiện nay, ban đồng ca vẫn miệt mài hát câu đáng nhớ sau đây: không có con đường nào khác hơn là phải thắng cuộc chiến Afghanistan và chặn đứng việc quân khủng bố trở lại nắm quyền. Mặc dù nếu thực hiện được mục tiêu ấy là một điều rất tốt, nhưng những thực tế gai góc ở đây chứng tỏ rằng chính quyền Kabul do phương Tây hậu thuẫn là tham nhũng, không thể điều hành một đất nước, nói chi điều hành một cuộc chiến, và rằng phe Taliban có một hậu thuẫn đáng kể đồng thời họ biết cách chiến đấu.

Dù cho Hoa Kì có chồng chất thêm nhiều cam kết tại Afghanistan, cơ may thành công cũng chỉ là mong manh mà thôi. Sự kiện này đã thúc đẩy các nhà lãnh đạo Mĩ tích cực đi tìm những chính sách thay thế. Người ta đang nói đến một chiến lược mệnh danh là “vươn lên xốc tới và đàm phán hoà bình” (surge and negociate), bao gồm việc tăng cường cú đấm quân sự trước rồi mới đưa ra những nhượng bộ với địch sau. Đường lối này cần được soạn thảo một cách chi tiết và đầy đủ thông tin nhằm tạo cho Washington một cơ may tốt đẹp để đạt được một cuộc dàn xếp chính trị với đối phương, đồng thời triển khai một chiến lược nhằm đối phó với quân khủng bố trong trường hợp những nhượng bộ này không đi đến đâu. Người Anh đã sử dụng sách lược chia-để-trị nhằm chia rẽ các lực lượng đối phương và xúi giục họ đấm đá nhau. Sách lược này đạt một thành tích tốt đẹp: không một phe nhóm nào giữ được sự đoàn kết, và ở một mức độ nào đó tất cả các phe nhóm đều bị phân hoá, nhất là nếu những quyền lợi kinh tế to lớn được dùng để tưởng thưởng những phe nhóm chịu hợp tác.

Nhưng một phương án toàn bộ đòi hỏi nhiều hơn thế, nghĩa là cần có một lá bài quân sự, phòng khi bọn khủng bố quốc tế một lần nữa sử dụng lãnh thổ Afghanistan làm căn cứ. Trong trường hợp này, không thể loại trừ một chiến lược có mục đích chặn đứng bọn khủng bố từ đầu (a strategy of deterrence). Hoa Kì có đủ khả năng quân sự để gây thiệt hại to lớn cho bất cứ ai tại Afghanistan có ý đồ gây tổn thất cho các lực lượng Hoa Kì hay đồng minh. Hoa Kì có khả năng phá hủy các cánh đồng trồng cây thuốc phiện và mở các cuộc hành quân nhắm vào lãnh đạo và căn cứ chỉ huy của bọn khủng bố mà không cần tái chiếm Afghanistan. Thiết tưởng Tổng thống Barack Obama cần phải chứng tỏ từ đầu là Hoa Kì có khả năng trừng trị rất mãnh liệt.

Liền sau khi Nga đưa quân qua chiếm đóng các tỉnh Abkhazia, Nam Ossetia, và nhiều phần khác của Georgia vào mùa hè 2008, các nhà lãnh đạo chính trị Hoa Kì và châu Âu thi đua nhau đưa ra những lời cảnh báo mơ hồ đòi Moscow phải rút quân – nhưng họ không hề đe dọa dùng biện pháp quân sự hay tẩy chay dầu hỏa và khí đốt của Nga. Những đe dọa sau đây chỉ là những cái tát nhẹ trên cườm tay: không cho Nga gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đuổi Nga ra khỏi nhóm G-8, rút lại thẻ hội viên của Nga trong các nhóm hội làm cảnh của NATO. Cuối cùng lãnh đạo Nga đã rút quân khỏi phần lãnh thổ không tranh chấp của Georgia, nhưng giọng điệu của hai bên vẫn đi quá đà và đáng lo lại.

Ba con quỉ nội tại trong chính sách đối ngoại Mĩ thường tạo ra những tất yếu chính trị và ý thức hệ (ideological and political necessities) – mà đã là tất yếu rồi thì không cần phải bàn thảo nghiêm túc. Tính tất yếu đã biến hàng thế kỉ văn hoá và lịch sử Việt Nam thành một ô trên bàn cờ chiến lược mà người ta tưởng dễ dàng kiểm soát; tính tất yếu đã khiến chiến thắng tại Iraq trông dễ dàng như cuộc chinh phục Panama. Tính tất yếu thường khiến nhiều vị Tổng thống và cố vấn của họ đặt ra những mục tiêu bất khả thi đến độ nguy hiểm, những mục tiêu vượt quá sức mạnh của quốc gia, những mục tiêu có lẽ có mà cũng có lẽ không tiêu biểu cho nguyện vọng nhân dân của nước mà các vị muốn giúp đỡ, những mục tiêu biện minh việc Hoa Kì bị sa lầy ở nước ngoài, mà chỉ có tính kiêu căng tạo ảo tưởng là sẽ có lối ra.

Đánh bại Hitler và Hirohito trong Thế chiến II là một tất yếu đích thực, nhưng Hoa Kì đã làm tốt nhiệm vụ này như thế nào thì cần phải tranh luận. Ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản Xô-viết cũng là một tất yếu đích thực, nhưng ngăn chặn ở quốc gia nào và bằng phương tiện nào là vấn đề lẽ ra phải được đem ra tranh luận thì thường bị bỏ qua. Đánh bại bọn khủng bố là một tất yếu đích thực và mới mẻ, nhưng làm thế nào để nhận diện và chiến đấu chống lại chúng là một vấn đề cần nghiên cứu rộng rãi.

Các trường phái tư tưởng ngoại giao

Vấn đề chính yếu không phải là chế độ dân chủ Mĩ hay các lí tưởng của Mĩ hay là quyền lực Mĩ. Vấn đề cốt lõi chính là dân chúng Mĩ. Một phần, những nhà lãnh đạo Dân chủ và Cộng hoà không nắm vững vấn đề chính trị trong chính sách đối ngoại của Hoa Kì. Hầu hết các chính trị gia đảng Dân chủ tuân theo những tín lí tự do cơ bản về giá trị của các cuộc đàm phán và hợp tác với các quốc gia khác. Nhưng đồng thời, họ cũng phỏng đoán rằng thái độ này sẽ tỏ ra quá mềm yếu dưới mắt cuả người Mĩ dòng chính (mainstream Americans). Do đó, họ thường bị phân xé giữa những điều họ tin tưởng và hành động chính trị của họ. Họ tạo ra cảm tưởng là thoạt đầu họ ủng hộ một điều gì đó rồi về sau quay ra chống lại nó và chống nó rồi về sau lại quay ra ủng hộ. Những chính trị gia Dân chủ tỏ ra bất nhất về những gì họ sẽ làm; công chúng cảm nhận được điều này và do đó mất tin tưởng ở đường lối duy trì an ninh quốc gia của đảng Dân chủ.

Trái lại, phe Cộng hòa luôn bày tỏ niềm tin sắt son về những đức tính như là: phải hiếu chiến, phải đứng dậy thách đố với bất cứ đối phương nào, và tô vẽ thế giới bằng hai màu trắng, đen rõ rệt. Họ luôn luôn tuyên bố rằng họ sẽ không bao giờ để cho nước Mĩ bị các nước khác sai khiến. Và mặc dù phe Cộng hoà coi thường việc trình bày các vấn đề và những khó khăn một cách rõ ràng, có hệ thống, và công chúng cũng cảm thấy điều này, nhưng người Mĩ dòng chính vẫn tỏ ra ưa thích niềm tin tưởng của phía Cộng hoà. Như thế, trong các vấn đề quốc tế, công chúng Hoa Kì tin tưởng Đảng Cộng hoà hơn Đảng Dân chủ.

Một phần khác, những chính trị gia ôn hoà (moderates) ngại tranh thủ một lối trình bày hợp lí các vấn đề và phương cách giải quyết những vấn đề ấy. Những người ôn hoà biết rằng một chính sách lành mạnh đòi hỏi một sự duyệt xét công khai và thành thật về các sự kiện. Họ biết rằng muốn sử dụng quyền lực một cách hiệu quả, người nắm quyền phải có khả năng thử bấm một dãy nút cho đến khi nào tìm ra nút nào làm cho hệ thống hoạt động. Tuy vậy, những người ôn hoà không chịu tranh đấu cho quyền lựa chọn.

Hầu hết các chuyên gia về chính sách đối ngoại đang kêu đòi một chiến lược to lớn mới mẻ nhằm thay thế chiến lược ngăn chặn [cộng sản] cũ. Họ có khuynh hướng tìm kiếm những tư tưởng lớn và nhồi nhét tất cả các mảnh nhỏ của một vấn đề gọn vào trong một lí thuyết to lớn, đàng hoàng. Họ không mấy thích những việc dang dở hoặc những hậu quả ngoài ý muốn, những bất cập khiến người khác hoài nghi khả năng chuyên môn của họ. Đa số những chuyên gia này có công đóng góp viễn kiến và tri thức sâu sắc, mặc dù không phải là không có những khiếm khuyết.

Những người tân bảo thủ (neoconservatives) một cách đúng đắn đã nhắc nhở cho dân Mĩ biết rằng trên thế giới này vẫn còn tồn tại những kẻ ác không thể sửa đổi và không thể hoà giải được. Nhưng rồi họ mô tả hầu hết mọi kẻ thù ở nước ngoài (và một số đối thủ ở trong nước) bằng những đường nét tương tự. Họ coi những kẻ thù trong quá khứ, như Trung Quốc và Nga, cũng là kẻ thù tương lai. Ngoài ra, họ mô tả những đồng minh của Mĩ, đặc biệt các quốc gia châu Âu, gần như là vô dụng vì không có đủ sức mạnh quân sự và ngại dùng vũ lực. Thực tế là, những người tân bảo thủ sẽ không bao giờ toại nguyện trừ phi họ đang xiển dương một dạng thức chiến tranh ý thức hệ nào đó. Một vài người trong nhóm này lí giải rằng thay vì cuộc xung đột ý thức hệ giữa chế độ dân chủ và chủ nghĩa cộng sản, hiện đang có một cuộc xung đột mới: giữa dân chủ và độc tài – Hoa Kì chống lại Trung Quốc và Nga. Nhưng các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Nga không đi vòng quanh thế giới để tuyên truyền cho thể chế chính quyền của họ ngày nay theo cách các lãnh tụ cộng sản trước đây đã làm. Nói đúng ra, Moscow đang chơi trò chơi quyền lực cố hữu cuả mình bằng cách o ép các nước láng giềng, nhưng lần này chủ yếu dùng sức mạnh kinh tế hơn là quân sự. Ở thời điểm này, các lãnh tụ Trung Quốc gần như chỉ bận tâm che chắn mình nhằm chống lại những đe dọa do động loạn trong nước. Sự tuyên truyền duy nhất mà hai chế độ độc tài này đang thực hiện là nhằm chống lại “chủ nghĩa đơn phương” (unilateralism) của Hoa Kì. Và sở dĩ họ làm vậy là để rộng đường theo đuổi những lợi ích toàn cầu có giới hạn của chính mình. Nếu có một điều gì gần như một trận chiến ý thức hệ trong thế giới ngày nay, đó chính là sự xung đột giữa cái điều mà các quốc gia khác cho là chủ nghĩa đơn phương của Mĩ và ý thức mới của các quốc gia ấy về quyền lợi đương nhiên của mình.

Những người theo khuynh hướng thực tế (the realists), vốn thích đứng với những ai có quyền lực, rất đúng đắn khi nhắc nhở Washington phải tập chú vào lợi ích quan trọng của Hoa Kì hơn là gánh vác hết mọi vấn đề của thế giới. Nhưng chính bản thân quyền lực (power per se) lại quá dễ gây ấn tượng lên họ. Nhiều người trong phái thực tế này đã quá hăm hở hậu thuẫn Saddam như là một thế lực chống lại Iran, bất chấp cả tội ác và sự trí trá của ông ta. Hiện nay cũng có nhiều người sẵn sàng bỏ qua hành vi thô bạo của Trung Quốc và Nga, coi đó chỉ là hành động bình thường của các nước lớn độc tài. Ngoài ra, phái thực tế không mấy quan tâm đến việc sử dụng quyền lực của Hoa Kì để giúp đỡ các nước “khố rách áo ôm” hay để giải quyết các vấn đề xuyên quốc gia, như vấn đề môi trường. Phái thực tế vẫn tiếp tục coi thường vai trò của các giá trị [như tự do, nhân quyền] trong chính sách ngoại giao và việc Tổng thống cần phải xiển dương những giá trị ấy nhằm củng cố chính sách đối ngoại của ông ta ngay cả đối với nhân dân trong nước. Nhưng chủ nghĩa thực tế của trường phái này lắm khi cũng chưa đủ thực tế cho lắm, và khi trường hợp này xảy ra, những người theo chủ nghĩa thực tế lại bỏ qua những lựa chọn và những lãnh vực chính sách đòi hỏi phải dùng đến quyền lực.

Ngày nay những người theo chủ nghĩa quốc tế phóng khoáng (liberal internationalists) vẫn tồn tại như một thành tố quan trọng trong Đảng Dân chủ. Đóng góp ấn tượng nhất của họ là liên tục nhắc nhở Washington cần phải cộng tác với các đồng minh và thương thuyết với các thế lực thù nghịch trong mọi tình huống. Nhưng kể từ thời Chiến tranh Việt Nam đến nay, họ liên tục kêu gọi thành lập thêm những định chế quốc tế mà không hề đưa ra bài bản rõ ràng hay thực tiễn, chỉ trôi giạt tới những quan niệm yếu ớt và thiếu thực tế về quyền lực. Việc phát biểu minh bạch một chiến lược đối ngoại là điều khó khăn đối với họ bởi vì chiến lược của họ chủ yếu là một lời kêu gọi đòi hỏi nhiều cuộc đàm phán hơn nữa và nhiều hoạt động ngoại giao đa phương hơn nữa đồng thời giảm bớt việc dựa vào sức mạnh quân sự. Phức tạp hơn nữa, khi phải chịu nhiều sức ép chính trị nặng nề, nhiều người trong nhóm quốc tế chủ nghĩa này muốn bỏ luôn những nguyên tắc nói trên và chính họ lại trở thành những kẻ hiếu chiến, như sự thể đã xảy ra khi quyết định xâm chiếm Iraq đang được tranh luận. Điều đáng chú ý là, một số chính khách Dân chủ cởi mở (liberal Democrats) đã liên kết với nhóm tân bảo thủ (neoconservatives) để thành lập một tập hợp mới mẻ, với chủ trương phối hợp các nước dân chủ, hoặc lập ra một loại liên minh có tính định chế nhằm củng cố các chế độ dân chủ có cùng lí tưởng. Việc này nghe ra như một đồ án hữu ích, và có lẽ đã thành một đồ án hữu ích nếu những người chủ trương chịu trình bày minh bạch phương thức họ sẽ đề xuất để tập hợp hơn một trăm quốc gia dân chủ trên toàn thế giới. Ngoài ra, họ gần như không dành một chỗ đứng nào trong tập hợp các nước dân chủ cho Trung Quốc và Nga, là những nước dù không theo thể chế dân chủ nhưng vẫn quan trọng hơn những nước như là Botswana, Costa Rica, Peru, hay Mauritus trong trường hợp Hoa Kì cần đến liên minh hay sức mạnh ngoại giao của những cường quốc này.

Và, đương nhiên, chúng ta phải kể đến những người theo chủ trương toàn cầu hoá (globalizers), tức những người có công chứng minh vai trò trung tâm mới mẻ của khoa kinh tế, điều mà phái chuyên gia đối ngoại theo định hướng an ninh quốc gia (the national-security-oriented foreign policy clan) thường bỏ qua – vì thiếu kiến thức. Nhưng những người chủ trương toàn cầu hoá lại đi quá đà khi cho rằng phát triển kinh tế sẽ mang lại hoà bình và dân chủ. Tệ hại là, họ ít khi điếm xỉa đến những giải pháp ngoại giao và quân sự.

Cứu cánh và phương tiện

Chỉ có một chính sách đối ngoại đặt cơ sở trên tri thức thường nghiệm mới có thể cứu vãn thế đứng của Hoa Kì. Một chính sách như thế sẽ không gây ra xung đột quá đáng giữa các cường quốc hay tạo ra ảo tưởng là không có tranh chấp quyền lực giữa các nước. Một chính sách như vậy mới tận dụng tính đa dạng của thế giới trong thế kỉ 21. Tuy nhiên, một chính sách dựa vào tri thức thường nghiệm không phải là một chính sách tùy tiện hay chỉ nhắm vào nhiệm vụ trước mắt. Nó là đường lối cho phép các nhà lãnh đạo duyệt xét mỗi hoàn cảnh theo đặc tính riêng của nó và liên hệ hoàn cảnh này với các hoàn cảnh khác nếu sự liên hệ như thế được biện minh bằng chứng liệu và lí lẽ. Một chính sách như thế không phải là con tàu không bánh lái; thực vậy, tri thức thường nghiệm đòi hỏi chính sách phải đặt cơ sở trên chiến lược, trên những ưu tiên và phương hướng rõ ràng. Tri thức thường nghiệm cũng cho phép người ta coi chiến lược, những ưu tiên và phương hướng như là những hướng dẫn (guidelines) chứ không phải là những ràng buộc tù túng.

Tương phản với tất cả các chính sách tổng quát chung chung, một chính sách dựa vào tri thức thường nghiệm có thể khá luộm thuộm, nhưng những thuộc tính tích cực của nó là hiển nhiên, không cần phải tranh luận. Nó phù hợp với một thế giới hỗn mang và nó không loại trừ các dữ kiện không phù hợp với lí thuyết chỉ đạo (the guiding theory). Nó sẽ xét đến hầu hết mọi lựa chọn chính sách một cách công bằng. Một chính sách dựa vào tri thức thường nghiệm cũng sẽ đáp ứng những lí tưởng cao đẹp của Mĩ, nhưng nó sẽ nhấn mạnh tính khả thi (achievability) hơn là “lên gân” hay tung ra những lời hù dọa. Tri thức thường nghiệm không loại trừ việc diễu võ dương oai hay sử dụng sức mạnh quân sự; chặn đứng, ngăn chặn, và trừng phạt vẫn là những biện pháp quan trọng. Nhưng trước khi các khẩu đại pháo bắt đầu nhả đạn, tri thức thường nghiệm đòi hỏi một cuộc giải trình nghiêm túc các giải pháp khác nhau và những hậu quả đi kèm. Một chính sách dựa vào tri thức thường nghiệm sẽ tập trung vào sức mạnh kinh tế và ngoại giao nhưng luôn luôn duy trì sức mạnh quân sự ở hậu trường như là phương tiện chủ yếu để tạo sức ép lên các quốc gia khác và để giải quyết vấn đề.

Trong tình thế hiện nay, việc thiết kế một chính sách đối ngoại dựa vào tri thức thường nghiệm chung qui phải tuân theo năm điều sau đây. Một là, phải làm cho Hoa Kì hùng mạnh trở lại bằng cách phục hồi tính năng động kinh tế và tinh thần thực tiễn, dám làm của dân Mĩ. Các nguồn lực của Hoa Kì và thiện chí giúp đỡ thế giới của Hoa Kì là cơ sở lớn nhất của sức mạnh Mĩ trên trường quốc tế. Nếu hai yếu tố này suy giảm, sức mạnh của Hoa Kì ở nước ngoài sẽ suy giảm theo. Muốn ngăn ngừa sự xuống cấp này, Hoa Kì cần phải dành ưu tiên cao hơn nữa cho các yêu cầu: độc lập năng lượng, phát triển cơ sở hạ tầng cả sức người lẫn sức của, và củng cố nội an (homeland security). Trừ phi những nhược điểm trong các lãnh vực này được đảo ngược, thậm chí cả những chính sách khôn ngoan nhất của Hoa Kì cũng sẽ thất bại.

Hai là, phải quán triệt rằng sự tuyệt đối cần thiết đến nhau (mutual indispensability) là nguyên tắc hoạt động cơ bản để có được  sức mạnh trong thế kỉ 21 – nghĩa là Hoa Kì là nước lãnh đạo không thể thiếu, nhưng cũng cần các quốc gia đối tác không thể thiếu để được thành công. Mục đích ở đây không phải là để thể hiện một chủ nghĩa đa phương ngu xuẩn (foolish multilateralism), mà nhằm tạo ra các liên minh quyền lực cỡ nhỏ có tính đặc biệt nhằm giải quyết một số vấn đề.

Ba là, phải tập trung chính sách của Hoa Kì và các liên minh quyền lực cần được thành lập vào việc đối phó những đe dọa lớn nhất – nạn khủng bố, khủng hoảng kinh tế, nạn lan tràn vũ khí hạch nhân, thay đổi khí hậu, và đại dịch toàn cầu — rồi sau đó mới quan tâm các mối đe dọa khác được chừng nào hay chừng đó. Cả chính sách lẫn sức mạnh sẽ không có tác dụng hữu hiệu nếu không biết đặt ra những ưu tiên rõ ràng, đây là điều thường được rao giảng nhưng cũng là điều thường bị bỏ qua.

Bốn là, phải nhớ rằng sức mạnh quốc tế có khả năng đối phó với các vấn đề một cách hữu hiệu nhất trước khi chứ không phải sau khi các vấn đề này đã chín muồi. Điều này có nghĩa là cần phải triển khai các liên minh quyền lực ngay từ đầu nhằm chống lại những mối đe doạ có thể thấy trước và đã được các phe đối tác nhất trí. Một cách nói thời thượng cho rằng sức mạnh có tác dụng hữu hiệu nhất dưới sức ép của các cuộc khủng hoảng. Điều này có lẽ đúng cho các vấn đề trong nước; nhưng trong các vấn đề quốc tế, lịch sử đã chứng minh, vào những lúc tình hình trở nên khó khăn, các nước sẽ trở nên kiên định hơn trong lập trường của mình đến nỗi chiến tranh có nhiều khả năng xảy ra hơn là đạt được hoà bình vào những lúc như thế.

Năm là, phải nhận thức rằng mặc dù thực chất của sức mạnh vẫn là áp lực và sự ép buộc dựa vào nguồn lực và địa vị quốc tế của một quốc gia, nhưng mặt khác, quyền lực không còn được quan niệm như xưa. Những nước mạnh đừng hòng có thể sai khiến các nước yếu như trong quá khứ; ngày nay các nước yếu có thể chống lại, và từng làm như vậy. Sức mạnh theo quan niệm truyền thống là không mấy hữu hiệu khi đem đối phó với các vấn đề ngày nay, bởi vì những vấn đề này gần như hiện hữu trong phạm vi gồm có nhiều nước chứ không phải giữa các nước ấy với nhau. Khó mà giải quyết hoặc cô lập loại vấn đề này bằng sức mạnh thuần túy. Ngày nay các nước phải biết tập trung sức mạnh vào việc tranh thủ các cơ hội kinh tế và ngoại giao hơn là đi gây các cuộc binh đao. Điều này, do đó, có nghĩa là quyền lực của Hoa Kì sẽ tác dụng chậm chạp hơn trước. Phải biết rằng kiên nhẫn là một yếu tố rất quan trọng trong lãnh vực đối ngoại.

Những nguyên tắc thực tế và dựa vào tri thức thường nghiệm này không tự động trở thành hiện thực. Người ta phải phấn đấu giành chỗ đứng cho các nguyên tắc này trên các vũ đài chính sách và chính trị, nơi ba con quỉ [ý thức hệ, chính trị nội bộ và tính kiêu ngạo quốc gia] cùng những tay phù thủy sử dụng chúng vẫn chủ trì lâu nay. Nhưng những nhà lãnh đạo chính trị ôn hoà và các chuyên gia soạn chính sách ôn hoà có thể mạnh dạn cầm chiếc dùi cui tri thức thường nghiệm để ra lệnh và để thành công. Mặc dù một số người Mĩ đã nghiện tính cực đoan, nhưng các nhà lãnh đạo có thể thuyết phục tuyệt đại đa số tránh xa chủ nghĩa cực đoan bằng cách nhấn mạnh tính thực tiễn của tri thức thường nghiệm.

Vâng, những câu hỏi nảy sinh từ ý thức thường nghiệm thường bị chế ngự chỉ vì sợ bị trả thù chính trị và vì cuộc tranh luận công khai tại Hoa Kì bị chìm ngập trong sự ồn ào của những tuyên bố khẳng định các nguyên tắc truyền thống và sức mạnh quân sự của Hoa Kì. Nhưng những câu hỏi dựa trên tri thức thường nghiệm bị đè bẹp cũng chỉ vì những chính trị gia ôn hoà không chịu mạnh dạn tranh đấu. Liệu có cần đến một tai họa long trời lở đất mới thức tỉnh được người Mĩ hay không? Và thậm chí khi đó, liệu phe cởi mở và phe bảo thủ có còn tiếp tục cứa cổ lẫn nhau hay không?

Mọi quốc gia và mọi đế quốc rốt cuộc sẽ bị thối rã từ bên trong. Người ta có thể đã thấy Hoa Kì, thành trì quí giá của tự do và an ninh, bắt đầu tuột dốc trong các lãnh vực như giới lãnh đạo, các cơ chế chính tri-xã hội, cơ sở hạ tầng cả sức người lẫn sức của, đang trên đường trở thành chỉ là một cường quốc như bao nhiêu cường quốc khác, một quốc gia gần như không đáng được cho các nước khác kính sợ hay noi theo. Đã đến lúc phải bắn hoả châu báo động rằng Hoa Kì đang đi lạc đường và mất dần quyền lực, rằng nước Mĩ đang ở trong tình trạng đáng lo. Nhưng còn quan trọng hơn nữa là phải tái khẳng định rằng Hoa Kì rất đáng được bảo vệ cả ở trong nước lẫn ngoài nước. Không ai có thể chối cãi rằng Hoa Kì, quốc gia duy nhất trên thế giới, có khả năng đứng ra lãnh đạo nhằm giải quyết các vấn đề có thể nhận chìm cả thế giới. Không ai có thể chối cãi rằng, dù có sai lầm gì đi nữa, Hoa Kì vẫn cung ứng cơ may tuyệt hảo sau cùng để tạo ra cơ hội đồng đều, hi vọng, và tự do. Nhưng việc phục hồi những gì tốt đẹp và đặc biệt về nước Mĩ, việc phục hồi quyền lực của Mĩ trong khả năng giải quyết các vấn đề thế giới sẽ đòi hỏi một điều đã lâu rồi chưa từng xảy ra, đó là: những nhà chính trị thực tiễn, hiện thực, và ôn hoà phải đoàn kết lại mà tranh đấu cho quốc gia.

Leslie H. Gelb

Nguồn: (Xem bản gốc trong PDF) Foreign Affairs, tháng Năm/ tháng Sáu 2009


Phản hồi

1 phản hồi (bài “Leslie H. Gelb – Tính tất yếu, sự lựa chọn, và tri thức thường nghiệm: chính sách cho một thế giới hỗn mang (2)”)

  1. Huy Tử nói:

    XU THẾ VẬN HÀNH

    Trong lịch sử, đế quốc hùng cường La mã đã sụp đổ bởi ba XU THẾ vận hành không cưỡng nỗi:
    **Giàn trải đội quân La mã quá rộng ở nước ngoài,..
    **Chính quyền La mã thả nổi tiền tệ ,…
    **Giới trí giả bàng quan với thời cuộc,…

    Vấn nạn là liệu các xu thế đó có lập lại trong thời đại chúng ta hay không?

    Note: There are so many US scientists live and work in Europe, etc. cf. Newsweek 2005,…

    “The rest is silence.” William Shakespeare

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả