talawas blog

Chuyên mục:

Trần Văn Tích – Góp ý với Dương Danh Huy: khái niệm “tử năng thừa phụ nghiệp”

27/07/2009 | 12:00 chiều | 38 Comments

Tác giả: Trần Văn Tích

Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ: >

Thoạt tiên tôi không có ý định đưa công khai những ý kiến thuộc nội dung bài này lên talawas mà định nhờ talawas chuyển đến ông Dương Danh Huy dưới hình thức thư riêng, bởi lẽ nếu gửi cho talawas theo dạng phản hồi nhân bài viết của tác giả Trịnh Hữu Tuệ về giáo sư Trần Hữu Dũng thì sẽ đi quá xa trọng điểm. Nhưng rồi nghĩ lại, tôi quyết định viết thành bài nhằm trình bày một đề tài mới.

Ngày 24.07.09, lúc 4:13 chiều, ông Dương Danh Huy nêu ý kiến: “Tôi cũng không biết về thân phụ của ông ấy, lại càng không biết phương pháp để suy diễn từ thân phụ của ông ấy để đi tới kết luận về ông ấy.” Hai chữ “ông ấy” là chỉ ông Trần Hữu Dũng.

Đọc ông Huy, tôi có cảm tưởng dường như ông rất coi trọng phương pháp suy diễn. Cụ thể là trả lời hôm 25.07.09 của ông đề cập đến cái hồ bơi tại địa điểm X. Xin thú thật là tôi đọc nhưng không hiểu lập luận của ông. Đương nhiên phần lớn đó là do tư chất bẩm sinh và trình độ nhận thức cá nhân; phần nữa là do lười biếng động não: tôi quan niệm vô talawas là để đọc thoải mái những đề tài mình thích, không phải để hành hạ đám tế bào chất xám đại não.

Có một số người (ít nhiều thực cũng khó biết rõ), trong đó có tôi, suy diễn từ cố bác sĩ Trần Hữu Nghiệp sang ông Trần Hữu Dũng theo phương pháp vô phương pháp. Riêng tôi chỉ biết dựa vào hành động bản thân, kinh nghiệm cá nhân và bối cảnh văn hoá.

Tôi và bà xã là con hai tiểu công chức thời Pháp thuộc và thời quốc gia cộng hoà. Ba tôi không thích cộng sản, ông nhạc thì ghét hẳn cộng sản. Kết quả tôi chống cộng mút mùa còn bà xã thì chống cộng hơn mút mùa.

Khi người cộng sản chuẩn bị tập kết ra Bắc sau Hiệp định Genève, họ cho tổ chức hàng loạt đám cưới cấp tốc nhằm cấy mầm mống cách mạng để lại miền Nam. Ngay một người o (bà con xa bên nội) của tôi cũng ở vào trường hợp đó. O Em lấy chồng có một hai đêm để sinh ra con Lan. Sau này hai mẹ con cùng ở với chúng tôi ở Sài Gòn, o Em phụ giúp công việc trong nhà (vì bà xã tôi đi dạy cả trường công lẫn trường tư) còn con Lan thì đi học. Năm 1975, chồng o Em có vào thăm nhưng rồi cũng lại đi luôn. Nói của đáng tội, hai mẹ con o Em không có chất cộng sản chút nào cả, nhưng tôi xin kể ra vì đây chính là thành quả nhãn tiền (đối với bản thân) của mối liên hệ tình cảm mà người cộng sản lợi dụng trong âm mưu dùng liên hệ huyết tộc để đào tạo cảm tình viên.

Sau tháng Tư 1975, Thành ủy tổ chức một khoá Nga văn ở Hội Trí thức Yêu nước. Tham gia khoá học có năm người, trong số có chị Bùi Thị Lạng thuộc ban giảng huấn Đại học Khoa học Sài Gòn. Chị Lạng là con liệt sĩ. Quả nhiên chị tiến bộ hơn hẳn hai thầy trò chúng tôi cùng khoá với chị, Phạm Biểu Tâm và Trần Văn Tích. Tôi có người đàn em trong nghề tên Nguyễn Tấn Trung. Tuy là sĩ quan quân y ngụy nhưng bạn Trung không phải đi học tập cải tạo và tiếp tục làm việc ở một bệnh viện trong Chợ Lớn, sau đó bạn được điều về T6 (Trung tâm Thông tin Tuyên truyền Y học) thuộc Sở Y tế Thành phố. Bạn Nguyễn Tấn Trung lấy tên khác là Trần Bồng Sơn, theo lời di huấn của bậc sinh thành trước khi nhân vật này tập kết ra Bắc. Bác sĩ Trần Bồng Sơn alias Nguyễn Tấn Trung mất ở Việt Nam, không di tản, không vượt biên như hầu hết anh chị em chúng tôi. Viên phi công Nguyễn Thành Trung thuộc không quân Việt Nam Cộng hoà ném bom Dinh Độc Lập hôm 08.04.75 và chỉ huy oanh kích phi trường Tân Sơn Nhứt hôm 28.04.75 là “một thanh niên yêu nước, con một đồng chí ta ở Bến Tre” (Trần Văn Trà, Kết thúc chiến tranh 30 năm, Nhà Xuất bản Văn Nghệ, TP HCM, 1982, tr.245; dẫn theo Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, Cuốn 6, Nhà Xuất bản Nam Á, Paris 2002, tr. 3692).

Trong lịch sử dân tộc, chúng ta có Tôn Thất Thuyết-Tôn Thất Đạm & Tôn Thất Thiệp, Hoàng Cao Khải-Hoàng Trọng Phu, Ngô Đình Khả-Ngô Đình Khôi & Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Tâm-Nguyễn Văn Hinh. Tất nhiên chúng ta cũng có cả Phan Đình Phùng-Phan Bá Ngọc, nhưng trường hợp này ít hơn, hiếm hơn hẳn. Ngay cả lãnh tụ cộng sản cũng cần có một đấng sinh thành “bị ép ra làm quan” (!) để cho Nguyễn Sinh Sắc-Nguyễn Tất Thành có mối liên hệ huyết tộc tốt đẹp.

Liên hệ huyết tộc vừa trình bày đưa đến – hay dựa vào – những thành ngữ, tục ngữ quen thuộc: cha nào con nấy, cha làm sao sinh con hao làm vậy; đời cha ăn mặn đời con khát nước; cha hiền con thảo; con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Tổ tiên ký thác suy tư tương tự qua Hán ngữ: phụ vi tử cương, phụ tử hữu thân, phụ trái tử hoàn, phụ từ tử hiếu. Cụ thể hơn nữa, chư vị tiền bối khuyên nhủ: tử năng thừa phụ nghiệp (con khá theo nghiệp cha), phụ tại quan kỳ hành, phụ một quan kỳ chí… (cha sống thì xem hành động của cha, cha mất thì xem chí hướng của cha…).

Cho nên ông/bà 1mitee ngày 23.07.09 lúc 11:19 giờ chiều mới viết rõ ràng dứt khoát : “(…)ông cũng đã khoe cha ông là cố BS Trần Hữu Nghiệp, đi tập kết ra Bắc (…)! Làm sao mà ông có thể chỉ trích chế độ này…”.

Còn phần tôi thì nghĩ rằng đấng sinh thành ra ông Trần Hữu Dũng đã tập kết bao nhiêu lâu rồi mới trở về miền Nam thì nếu đến đời mình, ông Trần Hữu Dũng tin rằng chế độ cộng sản có thể tự cải thiện thì đó là điều dễ hiểu. Trường hợp ngược lại – như trường hợp nhà văn Phan Nhật Nam – mới là ngoại lệ hiếm hoi. Chứ tôi chẳng có “phương pháp để suy diễn” nào nhằm bắc nhịp cầu từ cố bác sĩ Trần Hữu Nghiệp sang đương giáo sư Trần Hữu Dũng cả.

Trong thực tế có thể do vận nước truân chuyên, do gia cảnh riêng tây, ông Trần Hữu Dũng đã không có cơ hội “quan kỳ hành, quan kỳ chí” của đấng sinh thành. Nhưng điều đó chắc không hoàn toàn phủ định mối ràng buộc tuy bàng bạc mà khả hữu giữa vị bác sĩ đã từ trần và người con trai đang tại thế.

Có lẽ cung cách suy nghĩ như thế này là lạc hậu, bảo thủ, hủ nho, thiếu khoa học, không “logic”. Nhưng tôi tin rằng những người chia sẻ cung cách suy nghĩ của tôi không hề có ai nuôi ý định xúc phạm ông Trần Hữu Dũng khi suy nghĩ như vậy; trái lại, tôi ngầm khâm phục ông ấy đã theo được lời gia huấn trên một khía cạnh nào đó và trong một chừng mực nào đó.

Có thể có người chủ trương nhị vị Trần Hữu Nghiệp và Trần Hữu Dũng là hai cá nhân khác nhau, độc lập trong suy nghĩ và trong hành động; cho nên không thể bắc cầu giữa nhị vị. Tôi kính trọng cung cách lập luận thuần lý trí như thế. Nhưng mặt khác, tôi lại nghĩ rằng – trong trường hợp cụ thể chúng ta đang bàn – tình phụ tử chắc không thể hoàn toàn vô hiệu.

Cuối cùng thiết tưởng có cần đặt vấn đề bảo vệ dữ kiện cá nhân, tôn trọng chi tiết đời tư trong các trường hợp tôi từng đề cập không? Tất nhiên vấn đề không đặt ra cho các nhân vật quá khứ vì họ đã trở thành nhân vật lịch sử. Riêng trong trường hợp nhị vị họ Trần, chính người con đã công khai trình bày, minh danh xác nhận thân sinh mình là cán bộ tập kết.

Bình luận

38 Comments (bài “Trần Văn Tích – Góp ý với Dương Danh Huy: khái niệm “tử năng thừa phụ nghiệp””)

  1. Trần Văn Tích viết:

    Tôi thấy chúng ta đã cùng tìm ra những thành ngữ Anh, Pháp, Đức tương đương với bốn chữ “cha nào con nấy” trong Việt ngữ. Thành ngữ vốn thuộc về văn hoá diễn đạt (và biểu đạt), cho nên khi ông Phạm Quang Tuấn cho rằng “người Tây phương không có cái văn hoá ăn nói như vậy” thì tôi e rằng ông đã quá lời. Họ phải sử dụng các thành ngữ thuộc ngôn ngữ của họ chứ.

    Tất cả vấn đề, theo thiển nghĩ, nằm ở cái giới hạn n do ông Dương Danh Huy chỉ ra. Từ chủ nghĩa lý lịch đến buộc tội, định kiến, kỳ thị đều vượt quá n, hẳn chúng ta đều đồng ý như thế. Nhưng trường hợp cụ thể THN-THD có vượt quá n không, khi một số người – nhân đọc ông Trịnh Hữu Tuệ – cho rằng ông THN đã tham gia tập kết thì ông THD có suy nghĩ rằng chế độ hiện nay trong nước có thể cải thiện cũng là điều dễ hiểu? Phải chăng như vậy đã là định kiến, kỳ thị, thậm chí buộc tội? Tôi e rằng không phải vậy mà chỉ là chuyện suy nghĩ theo lẽ thường trong đời thường.

    Xin cám ơn các đóng góp chính xác về những truyện ngắn của nhà văn Võ Phiến. Nếu ở Cali, Đoàn tiên sinh có biết đến chuyện những kẻ hậu sinh hậu học đang nhắc đến những đứa con tinh thần của mình thì chắc ông cũng chỉ cười xoà “thàng hậu”.

    Chuyện kể của ông Trương Nhân Tuấn bi thảm quá, cá nhân tôi không thể nào ngờ kết cục lại như vậy.

  2. “Birds of a feather flock together” có nghĩa là những kẻ (người, ai) có cùng thị hiếu, sớ thích thì kết bè kéo cánh với nhau. Tục ngữ này được dùng trong văn chương Anh ít nhất từ khoảng giữa thế kỷ 16. Năm 1545 William Turner viết:
    “Byrdes of on kynde and color flok and flye allwayes together.”
    (Những con chim cùng loại và màu thì luôn kết thành đàn và bay cùng nhau)

    Tiếng Pháp có câu tục ngữ tương đương là:
    “Qui se ressemble s’assemble.”
    (Những kẻ giống nhau thì tụ họp với nhau)

    Tục ngữ tương đương gần nhất trong tiếng Việt (hay Hán – Việt) theo tôi là:
    “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”
    (Trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa).

  3. Dương Danh Huy viết:

    Bác 1mitee,


    Do đó câu “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” (Birds of a feather flock together) hay “Cha nào con nấy” (Like father, like son) rất đúng trong thực tế. Dĩ nhiên có thể có một vài ngoại lệ nhưng không thể viện vào các ngoại lệ đó để nói những câu châm ngôn đó là không đúng sự đời.

    V/d ở đây không phải là câu đó đúng hay không đúng mà là nó chỉ đúng một cách giới hạn. Dùng câu đó để suy diễn về 1 cá nhân là dùng câu đó quá giới hạn của n là một sự lạm dụng, dẫn tới định kiến, kỳ thị, như những chính sách lý lịch mà chính bác có vẻ phê phán.

    Thí dụ như giả sử câu đó đúng 80% về 1 v/d nào thì có lẽ cũng không nên dùng nó để suy diễn buộc tội 1 cá nhân.

  4. Dương Danh Huy viết:

    Bác Trần Văn Tích,

    Những quan niệm như “Cha nào con nấy”, mà đúng là nhiều dân tộc có (nhưng câu “Birds of a feathers flock togethers” không có nghĩa đó), chỉ đúng một cách giới hạn thôi.

    Vừa giới hạn bởi ý nghĩa thống kê, vừa giới hạn bởi, hoàn cảnh, trường hợp, tùy theo phạm trù, cho nên nếu áp dụng cho cá nhân thì dễ bị rơi vào kỳ thị, định kiến.

    Thí dụ như trong phạm trù chính trị, có thiếu gì trường hợp trong 1 gia đình có anh em cha con theo 2 phe khác nhau.

    Ngay cả chuyện tập kết, có không ít trường hợp chính người tập kết thay đổi quan điểm hay đổi “phe”, huống hồ gì con có thể có quan điểm khác cha.

    Vì vậy tôi cho là không nên suy diễn kiểu “Cha thế này thì không ngạc nhiên là con thế nọ”, nhất là khi bản thân mình không tán thành cái “thế này”, “thế nọ” mà mình đang nói tới – tức là mình dùng “Cha nào con nấy” để chê chứ không phải để khen.

    Khi hàng xóm nói “Cha nào con nấy” thì thường là miệt thị hơn là nói với tính cách positive, xây dựng, khoa học.

  5. Phạm Quang Tuấn viết:

    Trần Văn Tích nói: “Tôi trộm nghĩ quan niệm “cha nào con nấy” có lẽ là một quan niệm thuộc văn hoá nhân loại chứ chẳng phải riêng của văn hoá Việt Nam.”

    Rất có thể, nhưng réo tên bố người khác vì bất đồng ý kiến chính trị với người đó là một cái rất đặc thù của văn hóa của một thành phần xã hội nào đó VN. Văn hóa này tôi thấy rất nhiều ở giới mà ông Tích gọi là “chống cộng mút mùa”, chẳng hạn trên tờ Saigon Times Úc châu, như trong ngữ cảnh “Bố hắn là sĩ quan (công chức cao cấp, tỵ nạn…) VNCH mà con thì …” hay “Bố hắn là tập kết, hèn chi…”. Dù là gọi hành động đó bằng một mỹ từ như “tử năng thừa phụ nghiệp” thì tôi thấy cũng chẳng có gì đẹp, và khá thất vọng khi thấy hành động đó từ một bác sĩ đào tạo ở miền Nam thời xưa. Người Tây phương không có cái văn hóa ăn nói như vậy.

    Thưa 1mitee : “Birds of a feather flock together” không phải là “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” mà là “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu” – tức là ý nghĩa nó ngược lại với ông nghĩ.

  6. Trương Nhân Tuấn viết:

    Cũng xin góp với bác Trần Văn Tích và quí bạn câu chuyện riêng của gia đình tôi.

    Bên ngoại tôi họ Trương, phú nông khá lớn ở Bạc Liêu, có 4 người con: 3 gái và 1 trai út. Má tôi là con gái kế út. Má tôi kể lại, cậu tôi tên là Trương Hữu Vịnh, học hành rất khá. Ông ngoại tôi, do nhà khá giả, nên giao thiệp rộng, thường tiếp cận với giới Tây học. Cậu tôi được gởi đi học ở Sài Gòn, ông ngoại tôi cho cả người theo để giúp việc cơm nước. Vào thời điểm tập kết, cậu tôi đúng 14 tuổi. Má tôi kể lại, không biết cậu nghe lời kêu gọi của ai, một hôm nhà nhận được lá thư của cậu, cho biết là cậu đã đi tập kết rồi. Ông ngoại tôi rất buồn, trong khi đó vùng thôn quê không yên ổn, ruộng vườn bỏ hoang lần hồi, gia đình lâm vào sa sút, ông ngoại tôi mất trong cảnh túng thiếu.

    Má tôi gặp ba tôi, lúc đó là «thanh niên tiền phong» đi công tác ngang qua. Anh em chúng tôi sinh ra ở nhà quê, lúc đó vào thời ông Diệm. Do «lý lịch» không được minh bạch và có «quan hệ» không lành mạnh, ba tôi bị bắt về tội chính trị năm 1960.

    Tôi không biết dịp nào ba tôi được thả về, ba tôi không bao giờ kể lại. Chỉ biết năm tôi 4 tuổi, tôi theo ba tôi lên Pleiku «lập nghiệp» với hai bàn tay trắng. Má tôi, anh tôi và các em thì ở lại, sau này thì lên theo.

    Về phần hai bà dì lớn, dì Ba và dì Tư (dì Hai mất sớm), cũng lấy chồng và đi tứ tán.

    Đến năm 1975, sau nhiều năm (làm việc cực nhọc), ba chị em đều thành công. Dì Ba là hiệu trưởng một trường dạy học khá nổi tiếng ở Sai Gòn. Dì Tư có chồng, trở thành một cự phú ở Pleiku. Ba má tôi cũng vậy, trở thành khá giả.

    Sau 30-4 vài ngày, cậu tôi trở về và tìm gặp lại (dễ dàng vì thường xuyên liên lạc qua ngả nước Pháp). Cậu tôi rất mừng vì thấy mọi người bình an và khá giả, nhất là không có ai «theo lính ngụy» (thực ra không có ai vì chưa đứa nào đến tuổi lính). Cậu tôi lúc đó được bổ làm giám đốc một xưởng phân bón ở gần Sai Gòn. Khi ra bắc, cậu tôi do nhỏ tuổi, đi học và tốt nghiệp kỹ sư hóa học.

    Nhưng niềm vui đoàn tụ không được bao lâu.

    Trong trận đánh tư sản mại bản ba chị em má tôi đều là nạn nhân. Dì tư tôi, giàu nhất, bị phá sản, phải về quê Bạc Liêu sinh sống.

    Dì ba tôi thì trường học bị tịch thu, cũng bị phá sản, nhưng giữ được cái nhà.

    Ba má tôi cùng bị đánh nặng, mất cả gia sản. Má tôi và anh em tôi phải về trú tạm với dì ba tại Sài Gòn, tôi thì ở đó từ lâu vì đi học, trong khi ba tôi về quê tìm phương sinh sống.

    Cậu tôi lúc đó ở nhà dì Ba. Đây là một ngôi nhà lớn, 4 tầng, chúng tôi ở chung đó cũng khá rộng rãi.

    Thảm cảnh chỉ đến sau khi nhà không còn gì để bán mà ăn. Đồng lương của cậu tôi không thể nuôi chừng đó miệng người. Mười mấy miệng ăn chỉ trông ngóng «viện trợ» gạo, mắm của dì Tư từ dưới quê đem lên.

    Một hôm xe đò bị chặn, gạo mắm bị tịch thu. Cả nhà thế là đói.

    Cậu tôi rất buồn, hôm đó uống rượu say, nói với má tôi rằng: Chị năm ơi, em hối hận quá. Em không thể giúp gì được cho mấy chị và các cháu.

    Sau đó cậu lên lầu 3, leo lan can và nhảy xuống đất tự tử.

    Cậu tôi chết trên tay má tôi. Máu trong miệng chảy ra mà vẫn thều thào: em hối hận quá!

    Thế là dòng họ Trương của ông ngoại tôi tuyệt tự. Tôi lấy bút danh họ Trương một phần là do vậy.

    Trở lại câu chuyện của bác Tích, câu chuyện của tôi rõ là… đi ra ngoài. Nhưng cũng kể lại cho mọi người nghe vì đó cũng là một thảm cảnh của việc đổi đời.

  7. Phùng Tường Vân viết:

    Kính thưa ông Trần Văn Tích,

    Khi chúng tôi đến Qui Nhơn vào năm đó thì ông VP đang là một viên chức ở đây, những tài liệu mà tôi để trong hai ngoặc kép trong PH trước đều do ông cung cấp, tôi thực tình không muốn thấy tên ông bị “kéo” vào câu chuyện này nên không nêu rõ hơn và cũng là do lòng tôn trọng của chúng tôi đối với nhà văn ấy nữa.

    Cũng xin được phép có chút chút đính chính: “Bắt trẻ đồng xanh” chứ không phải “Bắt trẻ đồng quê” và Bồng Sơn là một địa danh thuộc Bình Định chứ không phải thuộc xứ Quảng ạ.

  8. USing viết:

    Đúng ra tựa đề truyện ngắn “Bắt trẻ đồng quê” cũa nhà văn Võ Phiến là bài tạp bút “Bắt trẻ đồng xanh”. Tác giả mượn tựa sách này từ hai dịch giả Phùng Khánh và Phùng Thăng cũa cuốn sách The Catcher In The Ryes của J. D. Salinger. Bài tạp bút này lần đầu tiên được đăng trên tạp chí Bách Khoa ở Saigon vào tháng 4 năm 1968 và sau đó được in trong tập sách Tạp Bút của Võ Phiến do nhà xuất bản Trí Đăng ấn hành năm 71 tại Saigon.

  9. 1mitee viết:

    Tôi học bậc trung học tại Quảng Ngãi từ 1964-1971, trong lớp 12 của tôi có gần 40 học sinh thì khoảng một nữa học sinh có “cha chết,” mẹ tảo tần nuôi con ăn học. Thời đó, chúng tôi chơi với nhau thân thiết, mùa hè thường đến nhà nhau ở lại vui chơi, tắm sông, phá phách … Sau đó, khi lên đại học thì mỗi người đi một hướng.

    Sau tháng 4 năm 1975, nhiều người “cha chết” của bạn tôi đều trở về sau chuyến tập kết hơn 20 năm của họ; họ đều là cán bộ cao cấp, và qua bảo lãnh lý lịch, những người bạn thời trung học của tôi đều trở thành quan to cả. Phải nói là trong số đó có những người học giỏi. Một ví dụ là Võ Dũng, trước đây là giám đốc Sở Giao Thông Công Chánh Saigon và bị chết bất ngờ tại văn phòng khoảng năm 2005. Võ Dũng khi học xong trung học năm 1971 vì nhà nghèo nên lúc đó được tỉnh trưởng Quảng Ngãi là đại tá N.V.L. giúp đỡ nơi ăn chốn ở khi vào Saigon và sau đó đậu vào trường kỹ sư Phú Thọ ngành công chánh.

    Võ Dũng trở thành giám đốc sở cũng là nhờ ô dù của cha mình mà trước đây khai là chết. Trong số các quan chức hiện nay ở Saigon tôi biết gần 10 người cũng thuộc diện này. Hiện nay họ đều làm lớn và là đảng viên đảng cộng sản cả.

    Và những người bạn tôi không ai chối bỏ cha mình hay phản đối chế độ mới cả.

    Sau 4/1975, chính sách lý lịch ở miền Nam rất khắc nghiệt. Nếu không có người bảo lãnh thì rất khó kiếm việc, và rồi cũng lần lượt bị sa thải nếu không có “ô dù”. Ở miền Bắc, thân nhân của những nạn nhân cải cách ruộng đất hay có dính líu vào vụ Nhân Văn Giai Phẩm thì suốt đời cũng khó ngóc đầu lên được! Miền Nam trước 1975 coi vậy mà phóng khóang hơn nhiều và GS THD chính là một ví dụ của sự bao dung và tính nhân bản của xã hội thời đó.

    Do đó câu “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” (Birds of a feather flock together) hay “Cha nào con nấy” (Like father, like son) rất đúng trong thực tế. Dĩ nhiên có thể có một vài ngoại lệ nhưng không thể viện vào các ngoại lệ đó để nói những câu châm ngôn đó là không đúng sự đời. Tôi không biết GS THD có phải là một ngoại lệ hay không và chúng ta không ai biết trong đầu ông nghĩ gì; chúng ta chỉ có thể có những nhận xét qua việc ông làm, bài ông viết, lời ông phát biểu. Và chín người thì mười ý.

    Ngoài ra phương Tây cũng có câu, “All that is necessary for the triumph of evil is that good men do nothing.” Edmund Burke, Irish orator, philosopher, & politician (1729 – 1797).

  10. Đỗ Xuân Tê viết:

    Chủ nghĩa lý lịch, liên hệ cha con làm rất nhiều người điêu đứng tại miền Nam sau ngày giải phóng. Tuy nhiên huyết thống là một chuyện, tư duy lại là chuyện khác khi thế giới, con người và cuộc sống đưa đến nhiều thay đổi. Ta hãy lấy trường hợp Phạm Quỳnh – Phạm Tuyên. Cha làm quan thượng thư thời Bảo Đại bị Việt Minh thủ tiêu, con lại là nhạc sĩ, tác giả bài ‘Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng’. Mới đây, dư luận quận Cam ì xèo vụ Brian Đoàn trưng bày nhiếp ảnh có hình nhân vật HCM và lá cờ đỏ sao vàng, trong khi bố của anh lại là trung tá chế độ cũ ở tù trên 10 năm. Cha xin con rút lại tấm hình, con vẫn chịu tiếng bất hiếu vẫn làm theo ý mình. Cho nên không nhất thiết ‘cha nào con nấy’ mà cũng có ‘mẹ cú đẻ con tiên’. Nói miên man, tôi vẫn thích câu ‘vô Talawas là để đọc thoải mái những đề tài mình thích…’ và quả thật riêng tôi thấy phần tâm thức của mình có nâng cao và hứng khởi trong phản hồi là động thái cụ thể.

  11. Trần Văn Tích viết:

    Kính thưa ông Dương Danh Huy,

    Tôi trộm nghĩ quan niệm “cha nào con nấy” có lẽ là một quan niệm thuộc văn hoá nhân loại chứ chẳng phải riêng của văn hoá Việt Nam. Người Pháp có câu giống câu của chúng ta như hai giọt nước : tel père tel fils. Người Đức nói năng có vẻ bóng bẩy hơn : Der Apfel fällt nicht weit vom Stamm (tạm dịch : táo rụng không xa gốc). Áp dụng vào trường hợp bác sĩ Trần Hữu Nghiệp-giáo sư Trần Hữu Dũng, tôi vô hình trung cũng đã làm theo lời khuyên nhủ của ông : dùng khái niệm “cha nào con nấy” để khen (kính xin ông vui lòng đọc lại đoạn cuối bài góp ý). Tuy nhiên trong thực tế, câu “cha nào con nấy” có khi được dùng để chê. Ví dụ gặp trường hợp có người cha xử sự thiếu đàng hoàng lại có mấy đứa con phá làng phá xóm thì có lẽ người ngoài sẽ chắt lưỡi than thầm : “thật là cha nào con nấy”. Dầu sao xin cám ơn ông đã rộng lượng không phản đối cung cách suy nghĩ của tôi.

    Kính thưa ông Phùng Tường Vân,

    Thật rất đáng tiếc là cuốn phim lấy phông là Qui Nhơn đã không thành hình. Nhưng nếu điện ảnh mất dịp tốt thì văn học có vẻ gặp may hơn. Tôi nhớ nhà văn Võ Phiến có truyện ngắn nhan đề “Bắt trẻ đồng quê” dường như lấy nội dung ông kể để làm cốt truyện. Truyện ngắn này rất nổi tiếng, bên cạnh các truyện “Mưa đêm cuối năm”, “Thác đổ sau nhà” của Võ Phiến, khiến ông trở thành tên biệt kích văn nghệ đầu sỏ.

    Kính thưa ông Bùi Văn Phú,

    Tôi nghĩ chắc hai nhân vật Nguyễn Tấn Trung và Nguyễn Thành Trung không có bà con họ hàng gì với nhau, chẳng qua ngẫu nhiên mà họ và tên cùng giống nhau, chỉ khác chữ lót. Bạn Nguyễn Tấn Trung khi cải danh thành Trần Bồng Sơn có lẽ đã gián tiếp minh định sinh quán của mình: vùng dừa xanh xứ Quảng. Còn viên sĩ quan gốc ngụy theo cách mạng thì, theo ông Trần Văn Trà, vốn gốc gác Bến Tre. Viên sĩ quan này, theo tôi biết, sau này được phong trung tá hay đại tá thì phải.

    Nhân nhắc đến Nguyễn Tấn Trung và để quí vị xả hơi đôi chút (vì các tuần lễ qua tôi thấy bà con trao đổi ý kiến nhiều khi căng quá), tôi xin lạc đề thiệt xa và kể lại chuyện đi Berlin khi thủ đô nước Đức còn chia đôi. Số là đang học tiếng Đức do Sở Lao động chịu học phí thì Nhà Thờ Thiên Chúa giáo gửi một phái đoàn linh mục đến học cùng trường với tôi. Các ngài đến từ tứ xứ : Mỹ, Á, Phi, Úc và đã học tiếng Đức vào hạng vững, nay đến ngay nuớc Đức để theo một intensive course. Ban giám đốc nhà trường cho tôi học chung cùng các ngài buổi chiều còn buổi sáng tiếp tục theo lớp cũ. Tất nhiên tôi hân hoan nhận lời. Khoá học có phương tiện tài chánh dồi dào nên hay tổ chức du ngoạn, tôi cũng được đi ké cùng các linh mục. Đó là dịp tôi biết Aachen là Aix-la-Chapelle, Karl der Größte là Charlemagne v.v..

    Thú vị nhất là chuyến đi Berlin. Sáng qua Đông Berlin, chiều quay về Tây Berlin. Ở cả hai nơi tôi mua vài ba tấm bưu phiếu gửi về Việt Nam, trong số có hai tấm cùng gửi cho bạn Nguyễn Tấn Trung ở T6, Sở Y Tế. Để chọc quê anh bạn đồng nghiệp, tôi đã viết y như một chuyên viên được Bác Đảng cho đi du học nước bạn xã hội chủ nghĩa Cộng hoà Dân chủ Đức, nay có dịp “tham quan” hai phần thành phố chia đôi. Cũng mở đầu bằng “Nhờ công ơn của Bác vĩ đại và Đảng quang vinh”, cũng kết thúc bằng “chúc đồng chí công tác tốt, đạt nhiều thắng lợi”. Kết quả : các bưu thiếp gửi cùng ngày ở Đông Berlin và Tây Berlin (thực ra gửi ở Đông Berlin trước mấy giờ đồng hồ) đã đến địa chỉ người nhận cách nhau cả tháng trường. Hẳn khỏi cần nói loạt bưu thiếp nào đến trước. Tuy nhiên cũng có một số chi tiết khác đáng nói. Bưu thiếp Đông Đức bán rẻ hơn, chỉ có 30 Pfg, bưu thiếp Tây Đức đắt gấp đôi (nhưng phẩm chất cao hơn : giấy in dày hơn, màu sắc đẹp hơn). Bưu phí bên kia bức tường cũng hạ hơn: 50 Pfg, còn ở Tây Berlin phải dán tem 1 DM (1DM = 100 Pfg).

    Xin trân trọng tạm biệt quí vị. Hẹn tái hồi trên talawas.

  12. Nguyễn Mai Sơn viết:

    “Cha nào con nấy”: Quan hệ huyết thống, quan hệ tính cách, quan hệ tư tưởng, quan hệ thứ bậc, quan hệ nhân quả, quan hệ giữa nội dung và hình thức… vân vân và vân vân…

    Cha tập kết ở Bắc (“Cộng sản”) >> con khó có thể nói xấu “cộng sản” (tốt có xấu có).
    Cha sống ở miền Nam (“Ngụy”) >> con khó có thể nói xấu “ngụy” (tốt có xấu có).
    Và còn có thể có những liên hệ ngược lại khác…

    Nhưng con “nhận giặc làm cha”, thì cha đẻ uất lắm, trừ khi xưa kia ông ta cũng từng “nhận giặc làm cha”…

    Cũng có những suy diễn: sống trong vùng “địch” lâu thì sẽ bị “địch hóa”, dù có chứng minh được sự trung thành cỡ nào thì cũng không thể tiến xa hơn được…

    Ông Dương Danh Duy góp ý với ông Trần Văn Tích: “Lý luận bác đưa ra không hoàn toàn không đúng, nhưng cũng không hoàn toàn đúng”.

    >> suy diễn: A không phải là A nhưng cũng không phải là không A.

    Còn trong bài thì ông Trần Văn Tích luận lập cho phương pháp suy diễn của mình là “phương pháp vô phương pháp”.

    >> Suy diễn: Có khi nào “phương pháp vô phương pháp” mới gọi là “phương pháp”?.

    Từ đó tiếp tục suy diễn: “Ngụy” không phải là “ngụy”, nhưng cũng không phải không là “ngụy”; “Cộng sản” không “cộng sản” mới gọi là “cộng sản”…

    Có vẻ như đây là câu chuyện của “Thiền học”, đáng tiếc đặt nó trong những hoàn cảnh như những bài viết kiểu này thì lại trật lất.

    Nói chung nên theo “quan niệm” của ông Trần Văn Tích, đến với Talawas là để “thoải mái những đề tài mình thích, không phải để hành hạ đám tế bào chất xám đại não”.

    Phe, nhóm, bạn-thù, chống cộng, không chống cộng, lề phải, lề trái… có lẽ nào chỉ là thứ yếu?

    Phức tạp nhất là những suy diễn (vừa có vừa không có căn cứ) nhưng lại cứ đi đến những kết luận rất cụ thể và khắc nghiệt. Vấn đề này xưa nay hình như lại hành hạ đám tế bào chất xám đại não nhiều hơn cả.

  13. Dương Danh Huy viết:

    Cảm ơn bác Trần Văn Tích đã góp ý.

    Lý luận bác đưa ra không hoàn toàn không đúng, nhưng cũng không hoàn toàn đúng. V/d là mỗi người chúng ta đánh giá và xử dụng cái đúng của lý luận như bác đã đưa ra thế nào thôi.

    Thí dụ như có cả cách đánh giá và xử dụng kiểu “tru di tam tộc”, và “Bố mày là Nguỵ, tao kỳ thị mày trong việc vào đại học”.

    Và có cả tư tưởng là mỗi con người tự lựa chọn cho mình.

    Tôi nghĩ cha mẹ cũng có ảnh hưởng tới quan điểm chính trị của con cái phần nào. Tôi đoán là nếu có ai làm thống kê thì sẽ thấy 1 association nào đó. Nhưng cho cho rằng association thống kê đó sẽ không đủ để kết luận một cách deterministic.

    Ngoài ra, còn phải tính cả sự khác biệt giữa hoàn cảnh của cha và hoàn cảnh của con.

    Thí dụ như nếu A buộc tội B là ủng hộ Nazi (nhưng thật sự là chưa chứng minh được), và C nhảy vào nói “Tôi không ngạc nhiên là B ủng hộ Nazi, vì bố của B ủng hộ Nazi” thì có thể không công bằng, vì hoàn cảnh Đức vào thập niên 30 khác với bây giờ.

    Tóm lại, tôi cảm ơn bác đã góp ý, nhưng quan điểm của tôi là chỉ nên dùng khái niệm “Cha nào con nấy” để khen, không nên dùng để đả kích, kết tội.

  14. Phùng Tường Vân viết:

    “Lấy nhau vừa được mười hôm chẵn,
    “Và chỉ mười hôm e thế thôi”

    Đây là hai câu thơ tôi đọc đã từ lâu nay đã quên mất xuất xứ, nay nhân đọc bài của ông Trần Văn Tích, nó vụt trở lại trong trí nhớ: nó là một bài thơ của một tác giả viết về những cuộc tình duyên ấy.

    Năm 1958, cùng với nhiếp-ảnh-gia quá cố Nguyễn Mạnh Đan, chúng tôi có một hợp đồng ra Qui Nhơn để thu thập tài liệu dựng lại một phim ngắn về những cảnh tập kết:
    “Tầu ai biển khơi nắng chói
    Mây chiều che phủ lòng em”

    tầu ai ở đây là những tầu chuyên chở của Ba Lan đậu ở Vịnh Qui Nhơn (khu tập kết 300 ngày) để chuẩn bị chở những thành phần tập kết ra Bắc, mỗi buổi chiều, trên bãi biển thường có những “Lễ Tống Hoan”, có ôm nhau nhảy múa ca hát, nó nằm trong một chính sách được hoạch định tỉ mỉ:

    “Tập kết theo nguyên tắc: Đưa ra Bắc hạng trai trẻ có thể làm việc đắc lực và sản xuất giỏi cùng hạng có uy tín và có khả năng, bỏ lại trong Nam hạng lão nhược… cố ý gây phân ly, chia cách, làm thế nào để càng có nhiều càng tốt những gia đình bị chia rẽ, kẻ đi, người ở…

    “Gấp rút tạo thêm liên hệ giữa thành phần tập kết ra Bắc và dân chúng miền Nam: đặc biệt là tổ chức những đám cưới cấp tốc khiến cho hàng chục vạn binh sĩ và cán bộ CS ra đi bỏ lại trong Nam bấy nhiêu cô vợ trẻ, có những cô chỉ ăn ở với chồng được đôi ba hôm.” (Lấy nhau vừa được mười hôm chẵn, là vậy).

    Đó là tóm tắt những gì tôi còn nhớ được, cuốn phim ngắn dự định không bao giờ được thực hiện, nhưng về sau được đọc thêm một bài viết có những phẩm bình như sau, cũng xin ghi lại:

    “Có thể nói rằng cuộc “chiến tranh giải phóng “không hề khởi đầu từ những bất mãn chống một chế độ độc tài gia đình trị, không hề khởi đầu từ việc chính quyền Sài Gòn từ chối cuộc tổng tuyển cử năm 1956… mà nó thực sự được gieo mầm, gây hạt từ những cuộc liên hoan chia tay giữa kẻ ở người đi trong thời hạn 300 ngày tập kết, những cuộc liên hoan có hát, có múa, có bánh trái tiệc tùng… Nó có cỗi nguồn ngay từ những đám cưới vội vã sau ngày đình chiến (1954), những đám cưới nhiều khi tổ chức tập thể, do trưởng cơ quan, trưởng đơn vị chủ toạ. Nạn nhân đầu tiên của cuộc chiến này không phải là những ai đã ngã gục vào 1958, 1959 mà là những cô gái tức khắc biến thành góa bụa ngay từ năm 1954 vậy”.

  15. Bùi Văn Phú viết:

    Ông Trần Văn Tích trong bài viết nhắc đến hai người: bác sĩ Trần Bồng Sơn là alias của Nguyễn Tấn Trung và phi công Nguyễn Thành Trung. Quan hệ giữa hai người này như thế nào? Cha nào con nấy hay đời cha ăn mặn đời con khát nước. Hay họ có những ràng buộc quan điểm chính trị ra sao?

    Mong được ông Tích giải thích rõ hơn.

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...