Franz Liszt – Cái chết của thiên tài
04/08/2009 | 10:43 sáng | 13 phản hồi
Chuyên mục: Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: Âm nhạc > Chopin > Liszt
Nguyễn Đình Đăng dịch từ Franz Liszt, “Cuộc đời Chopin”
Nhà soạn nhạc và nghệ sĩ piano thiên tài người Ba Lan Frédéric Chopin qua đời ngày 17 tháng 10 năm 1849 tại Paris, khi ông mới 39 tuổi. Năm nay là lần tưởng niệm thứ 160 ngày mất của ông. Còn trong năm tới, toàn thế giới âm nhạc sẽ kỷ niệm 200 năm ngày sinh Chopin. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình ông đã viết hơn 230 tác phẩm, toàn bộ cho piano. Ông được coi là một trong các nhạc sĩ vĩ đại nhất của trào lưu Lãng mạn. Sau khi ông mất, Franz Liszt (1811 – 1886) – một trong những người bạn gần gũi của Chopin, đồng thời là nghệ sĩ piano và nhà soạn nhạc thiên tài người Hungary – đã viết cuốn sách “Cuộc đời Chopin” bằng tiếng Pháp. Cuốn sách sau đó đã được dịch ra tiếng Anh xuất bản lần đầu tiên năm 1863 và được tái bản nhiều lần. Dưới đây là đoạn trích dịch phần cuối của tái bản tiếng Anh lần thứ tư (1880), thuật lại những giờ phút lâm chung của Chopin. Người dịch thêm phần chú giải về các nhân vật được nói đến trong phần này cùng các sự kiện và các đường links liên quan.
N.D.
__________________
Cuối cùng căn bệnh đã trở nên trầm trọng rõ rệt khiến nỗi lo âu của các thân hữu của ông nhuốm màu tuyệt vọng. Hầu như ông không rời mình khỏi giường, và chỉ thảng hoặc mới cất tiếng. Chị ông [1], sau khi nhận được tin, đã từ Warsaw tới để túc trực cạnh giường ông, và từ đó không rời ông nửa bước. Ông không biểu lộ ấn tượng trước sự khổ não, linh cảm về cái chết, nỗi đau buồn ngày càng tăng lên đang vây quanh ông. Ông nghĩ về cái chết với sự bình thản và cam chịu của người theo đạo Cơ Đốc, tuy rằng ông vẫn chưa ngừng chuẩn bị kế hoạch cho tương lai. Với sở thích luôn muốn thay đổi chỗ ở, ông đã tìm một ngôi nhà mới, kêu người cho chuyển đồ đạc tới đó, và bận bịu thu xếp mọi tiểu tiết cho chỗ ở mới. Ông không rút lại sự xếp đặt của mình, vì thế, cho tới ngày cuối cùng của đời ông, người ta vẫn vận chuyển đồ đạc tới ngôi nhà mà số mệnh đã không bao giờ cho phép ông được ở.
Phải chăng ông sợ cái chết sẽ không đáp ứng lời thề hẹn của mình? Phải chăng ông lo rằng, sau khi đã chạm vào bàn tay giá băng của thần chết, ông vẫn phải khổ sở sống lần lữa trên cõi đỡi này mà chưa được ra đi? Liệu ông có cảm thấy rằng cuộc sống sẽ trở nên hầu như không chịu đựng nổi một khi mọi ràng buộc trìu mến đã bị cắt đứt, mọi liên hệ gần gũi nhất đã bị chia lìa? Những khí chất trời sinh thường cảm thấy một ảnh hưởng to lớn nào đó trước một sự kiện có ý nghĩa quyết định của số phận. Con tim đau đáu, bị thôi thúc bởi ham muốn làm sáng tỏ những bí mật của Tương lai chưa được biết, bỗng phủ nhận trí tuệ lạnh lùng và nhút nhát sợ phải lao xuống vực thẳm của cái chết đang tới gần. Nhu cầu về sự hài hòa giữa những tiên đoán đồng thời của cả lý trí và con tim thường khiến các đầu óc kiên định nhất đưa ra những khẳng định mâu thuẫn với các hành động của họ, cho dù cả khẳng định và hành động đều bắt nguồn từ cùng một niềm tin. Có phải Chopin đã phải đau đớn bởi sự không tương xứng giữa những tiên tri thì thầm của con tim và những nỗi nghi ngờ đang choán hết tinh thần?
Tuần nối tuần, và chẳng mấy chốc, ngày lại ngày, bóng đen lạnh lẽo của cái chết bao phủ lên ông. Hồi kết thúc nhanh chóng tới gần, đau đớn của ông ngày càng tăng. Các cơn đau kéo đến mỗi lúc một thêm dồn dập, và ngày càng gần với cơn hấp hối. Song, giữa những cơn đau, ông vẫn giữ được tỉnh táo và ý chí mạnh mẽ đến phút cuối, không khi nào mất đi sự chính xác của tư duy, hay sự trong sáng của nhận thức về các ý định của mình. Những nguyện vọng ông bộc lộ trong những giây phút ngắn ngủi này cho thấy sự trang nghiêm của ông khi chờ đợi cái chết. Ông muốn được mai táng bên cạnh Bellini [2], người mà ông đã quen thân trong thời gian Bellini sống tại Paris. Mộ của Bellini toạ lạc tại nghĩa địa Père La Chaise, cạnh mộ Cherubini [3]. Chính nguyện vọng muốn làm quen với bậc thầy vĩ đại mà ông hằng ngưỡng mộ đã là một trong những lý do xui khiến ông, trong hành trình năm 1831 từ Vienna sang London, dừng chân tại Paris mà không hề đoán trước được rằng số phận sẽ gắn chặt ông với thành phố này. Chopin nay yên giấc giữa Bellini và Cherubini, hai thiên tài rất khác nhau, song với cả hai vị ông có mối liên hệ cùng tầm cỡ, bởi ông kính trọng giá trị tri thức của một vị ngang với mối đồng cảm tới sáng tạo của vị kia. Cũng như tác giả của Norma, ông tràn trề các xúc cảm về giai điệu, song ông cũng đầy tham vọng đạt tới chiều sâu hoà âm của các bậc thầy cổ điển, muốn thống nhất, trong một phong cách kỳ vĩ và tao nhã, tính du dương mơ hồ của các xúc động ngẫu hứng với sự uyên bác của những bậc thầy tuyệt vời nhất.
Tiếp tục giữ phong thái của mình cho đến phút chót, ông không yêu cầu cần gặp lại bất kỳ ai lần cuối. Song, ông bày tỏ lòng biết ơn xúc động nhất với những ai đến bên ông. Những ngày đầu của tháng Mười không còn để lại bất cứ nghi ngờ hay hy vọng nào nữa. Phút định mệnh đã tới gần. Không còn trông đợi vào ngày tới, rồi giờ tới được nữa. Ngài Gutman [4] và chị của Chopin liên tục túc trực bên giường ông, không rời một khoảnh khắc. Nữ bá tước Delphine Potocka [5], trước đó vắng mặt, đã lập tức quay về Paris ngay sau khi nhận được hung tin về ông. Không ai trong số những khách tới thăm người nghệ sĩ hấp hối lại có thể cầm lòng khi chứng kiến quang cảnh cái chết đau đớn đang hành hạ linh hồn vĩ đại và thiên tài ấy.
Bất kể với một cảm xúc mãnh liệt hay hời hợt trong tim, bất kể một mãnh lực hay sự dửng dưng được bộc lộ khi đón nhận những tai ương bất ngờ, cũng không thể tránh khỏi ấn tượng gây bởi vẻ uy nghiêm hùng vĩ của một cái chết đẹp và kéo dài, khiến cho cả những tâm hồn ít sẵn sàng nhất đối với những cảm xúc linh thiêng và siêu phàm cũng trở thành mềm yếu, mủi lòng, bị mê hoặc, và cảm thấy siêu thoát. Sự khởi hành chầm chậm từng bước một tới những bến bờ xa lạ, sự trang nghiêm kỳ bí của các giấc mơ bí ẩn của ông, hồi ức của ông về các sự kiện và ý tưởng đã qua, thoi thóp thở trên ranh giới mong manh giữa thời gian và sự vĩnh hằng, làm chúng ta xúc động hơn tất cả những gì khác trên thế gian này. Các thảm hoạ bất ngờ gieo xuống con tàu mỏng manh run rẩy, bị trận cuồng phong quăng như một thứ đồ chơi; máu của bãi chiến trường mịt mù khói súng đại bác; những nhà xác ghê sợ khi ta bị đẩy tới trong những đại dịch lây lan, các trận đại hoả hoạn bao trùm những lưỡi lửa sáng chói lên các thành phố, những vực thẳm không đáy mở ra dưới chân ta, tất cả những cái đó cũng không khiến ta rung động bằng khi ta nhìn một tâm hồn đang ý thức rõ ràng tình trạng của mình, im lặng chiêm ngưỡng những diện mạo phong phú của thời gian và cánh cửa lặng câm của vĩnh hằng! Lòng can đảm, sức chịu đựng, sự thanh cao, cảm xúc hoà hợp với sự phân hủy tất yếu mà mọi bản năng của chúng ta đều cảm thấy ghê tởm, chắc chắn gây ấn tượng mạnh cho người xung quanh còn sâu sắc hơn cả những thảm họa đáng sợ nhất, bởi những tai hoạ này, trong cảnh hỗn loạn do chúng gây ra, đã làm mất đi nỗi đau trong yên lặng, mất đi sự trầm mặc uy nghi.

Felix Joseph Barrias - Cái chết của Chopin
Các bạn của Chopin thường xuyên có mặt tại phòng khách tiếp giáp phòng ngủ của ông. Họ lần lượt vào gặp ông để đón nhận cái nhìn trìu mến của ông khi ông không còn khả năng nói chuyện với họ nữa. Tới Chủ Nhật, 15 tháng 10, các cơn đau trở nên dữ dội và dồn dập hơn, kéo dài tới vài giờ. Ông chịu đựng chúng với một sự nhẫn nại và sức mạnh tinh thần ghê gớm. Nữ bá tước Delphine Potocka, có mặt lúc đó, đã tỏ ra rất đau khổ. Đứng gần chân giường ông, khuôn mặt đẫm lệ, dáng thon cao trong y phục trắng, nàng trông giống như một thiên thần tuyệt đẹp được tạo nên bởi trí tưởng tượng của người chân thành nhất trong các hoạ sĩ. Chắc ông đã coi nàng như một tiên nữ giáng trần, và khi cơn đau tạm lắng, ông yêu cầu nàng hát. Lúc đầu người ta tưởng ông mê sảng, song ông khẩn khoản nhắc lại yêu cầu của mình. Ai dám từ chối yêu cầu của ông? Chiếc đàn piano được đẩy từ phòng khách sang trước cửa phòng ngủ, và trong khi nước mắt lăn xuống gò má, người nữ đồng hương tài năng của ông cất tiếng hát lẫn trong tiếng nấc. Chất giọng vốn rất quyến rũ tới mê mẩn của nàng chắc chắn chưa bao giờ sâu lắng và thống thiết như thế. Hình như khi lắng nghe nàng hát, ông cảm thấy bớt đau hơn. Nàng hát bài thánh ca nổi tiếng về Đức Mẹ Đồng Trinh, bài hát nghe đồn đã có lần cứu Stradella thoát chết [6]. “Thật đẹp làm sao!” – ông thốt lên – “Lạy Chúa tôi! Thật là quá hay! Nữa đi! ” Mặc dù đang run rẩy tràn đầy xúc động, nữ bá tước đã tỏ ra can đảm một cách rất quý phái, chiều theo mong muốn cuối cùng của người bạn. Bà lại ngồi xuống bên đàn piano và cất tiếng hát một bài thánh ca của Marcello [7]. Mọi người đều cảm thấy sợ trước tình trạng đang xấu dần đi của Chopin. Như bị một thôi thúc bất ngờ, không ai nói một câu, tất cả những người có mặt đều quỳ xuống. Trong sự yên lặng thiêng liêng chỉ vang lên tiếng ca của nữ bá tước, bồng bềnh như một giai điệu từ chốn Thiên Đàng trôi trên những tiếng thở dài và tiếng nấc tạo thành bè đệm nặng nề và tang tóc của Trần Thế. Buổi hoàng hôn ma quái đang dần đến. Ánh sáng leo lét chết chóc kéo theo những bóng đen bí mật bao trùm lên quang cảnh buồn thảm: chị của Chopin phủ phục bên giường ông, vừa khóc vừa cầu nguyện như van lơn trong khi cuộc đời của người em mà bà rất mực yêu thương đang dần dần kết thúc.
Đêm đó bệnh tình của Chopin trở nên tồi tệ, nhưng tới sáng Thứ Hai ông cảm thấy nhẹ nhõm hơn, và dường như tự ông đã sắp đặt trước, trong lúc thích hợp nhất, ông yêu cầu được làm lễ rửa tội. Vì cha cố * * * vắng mặt, người rất thân với Chopin vì đã cùng nhau đi di tản [8], nên Chopin đã cho mời cha cố Jelowicki, một trong những nhân vật ưu tú của Cộng đồng người Ba Lan Hải ngoại. Khi bánh thánh được đưa tới, ông đón nhận rất thành tâm giữa vòng bạn bè yêu mến đang vây quanh giường ông. Sau đó ông gọi các bạn ông lần lượt tới gần để ông ban phước, nhiệt thành cầu mong Chúa Trời ban ân huệ cho họ, cho tình cảm và những mong ước của họ. Tất cả đều quỳ gối, cúi đầu. Mọi cặp mắt đều đẫm lệ. Mỗi con tim đều nặng trĩu sầu đau. Mỗi tâm hồn đều trở nên cao thượng.
Các cơn đau lại đến nhiều hơn, dồn dập hơn, và tiếp diễn cả ngày. Từ đêm Thứ Hai tới ngày Thứ Ba ông không hề cất tiếng. Ông có vẻ như cũng không nhận ra những người quanh ông nữa. Khoảng 11 giờ đêm Thứ Ba, ông có vẻ như hơi hồi lại một chút. Cha cố Jelowicki luôn ở bên cạnh ông. Khi khả năng nói vừa phục hồi, ông yêu cầu cha cố cùng xướng theo ông kinh nguyện cầu cho người hấp hối. Ông đã đọc được theo cha cố bằng giọng rõ ràng rành mạch. Từ lúc đó đến khi chết, ông luôn tựa đầu mình vào vai ngài Gutman, người đã dành toàn bộ thời gian để ngày đêm túc trực bên ông.
Giấc ngủ co giật kéo dài tới ngày 17 tháng Mười 1849. Cơn hấp hối bắt đầu hồi 2 giờ. Mồ hôi lạnh vã ra trên trán ông. Sau một thoáng mê man, ông cất giọng yếu ớt hỏi: “Ai đang ở bên tôi?” Sau khi nghe thấy câu trả lời, ông nghiêng đầu hôn tay ngài Gutman, người vẫn đang đỡ ông. Trong khi bày tỏ bằng chứng cuối cùng ấy của tình yêu và lòng biết ơn, linh hồn của người nghệ sĩ giã từ thể xác mỏng manh. Ông đã chết như ông từng sống – trong tình yêu.
Khi cửa phòng khách được mở ra, bạn bè của ông lao tới vây quanh thi thể yêu mến của ông, không ai cầm được nước mắt.

Teofil Kwiatkowski - Chopin sau khi vừa qua đời (1849)
Sinh thời ông có tiếng yêu hoa. Hoa được mang đến trong ngày hôm sau nhiều tới mức chiếc giường và toàn bộ căn phòng hầu như biến mất trong các sắc màu phong phú và rực rỡ của nhiều loại hoa. Ông như đang yên nghỉ trong khu vườn đầy hoa hồng. Trên khuôn mặt ông hiện lại vẻ kiều diễm trước kia, vẻ tinh khiết của biểu cảm, vẻ thanh thản hiếm có. Với vẻ yêu kiều trẻ trung, bấy lâu bị đắng cay đau khổ làm lu mờ, nay được phục hồi bởi cái chết, ông ngủ êm đềm giữa những loài hoa ông từng yêu quý một giấc ngủ triền miên không mộng mị!

Mộ Chopin tại nghĩa địa Père La Chaise ở Paris (N.D. chụp 5/2008)
Ngài Clésinger [9] đã phác hoạ lại những nét thanh tú, mà cái chết đã trả lại vẻ đẹp thanh xuân, và ngay sau đó đã dùng bức ký hoạ để tạo khuôn làm nên bức phù điêu bằng cẩm thạch gắn trên mộ ông.
Lòng ngưỡng mộ thành kính của Chopin đối với thiên tài Mozart đã khiến ông từng yêu cầu chơi bản Cầu hồn (Requiem) của Mozart tại đám tang của mình. Và yêu cầu này đã được đáp ứng. Tang lễ được cử hành tại Nhà Thờ Madeleine vào ngày 30 tháng Mười 1849. Người ta đã lùi đến ngày đó để sự kiện trọng đại này phải được tố chức xứng đáng với bậc thầy và các học trò của ông. Các nghệ sĩ hàng đầu của Paris đều khao khát được tham dự đám tang này. Bản Hành khúc tang lễ (Marche funèbre) của Chopin, do ngài Reber [10] phối khí cho dàn nhạc, đã được chơi trong phần khai lễ. Trong phần dâng bánh thánh, ngài Lefébure Wély [11] đã trình diễn các Khúc dạo đầu (Préludes) cung Si Thứ và Mi Thứ tuyệt vời của Chopin trên đại phong cầm. Phần độc tấu của bản Cầu hồn do bà Viardot [12] và bà Castellan đảm nhiệm. Ngài Lablache [13], người từng ca Tuba Mirum của bản Cầu hồn tại đám tang Beethoven năm 1827, đã trình diễn lại Tuba Mirum trong dịp này. Ngài Meyerbeer [14] và Hoàng thân Adam Czartoryski [15] dẫn đầu đoàn đưa tang. Các ngài Delacroix [16], Franchomme [17], Gutman, và Hoàng thân Alexander Czartoryski khiêng linh cữu.

Trái tim của Chopin được bảo quản tại Giáo đường Thánh Giá ở Warsaw (phiá dưới bia kỷ niệm, nơi đặt lọ hoa ở bên trái)
Cho dù những trang viết này chưa thể hiện hết những gì chúng ta muốn nói về Chopin đến thế nào đi chăng nữa, chúng tôi hy vọng rằng sức lôi cuốn của danh tiếng ông sẽ bù đắp cho những gì còn thiếu (…) Chopin đã ra đi một cách chậm rãi, tự đốt cháy trong ngọn lửa của thiên tài của chính mình. Cuộc đời của ông, khi được tách ra khỏi các sự kiện chung, trở nên giống như một thực tế không thể hoà nhập trong bất cứ một thể xác nào. Những dấu vết về sự tồn tại của ông chỉ có thể được tìm thấy trong các tác phẩm ông để lại. Ông đã từ giã cõi đời trên một mảnh đất xa lạ, mà ông chưa bao giờ coi là đất nước của mình, chân thành dâng hiến tình cảm cho sự goá bụa vĩnh viễn của chính mình [18]. Ông là Thi Sĩ của một linh hồn tang tóc đầy bí ẩn tiềm tàng – linh hồn gần gũi với khuôn mặt nghiêm khắc của đau khổ.
(dịch xong ngày 31/7/2009)
____________
Chú giải của người dịch
[1] Ludwika Jędrzejewicz (họ khai sinh: Chopin) (1807 – 1855) – chị của Chopin, người từng dạy ông những bài học piano đầu tiên. Lo sợ bị chôn mà vẫn chưa chết hẳn, Chopin đã di chúc lại rằng, sau khi ông chết, trái tim của ông phải được lấy ra khỏi xác. Để chứng thực cho tình yêu quê hương, ông đã di chúc đem trái tim mình về mai táng tại Ba Lan. Ngày 8 tháng 1 năm 1850 chị của Chopin đã bí mật đem trái tim của ông về nước. Trái tim của Chopin hiện được bảo quản trong một bình pha lê đựng rượu cognac chôn trong tường Giáo đường Thánh Giá tại Warsaw.
[2] Vincenzo Bellini (1801 – 1835) – nhà soạn nhạc Ý, sinh tại thành phố Catania trên đảo Sicily (Trong thời gian làm việc tại Catania cách đây 17 năm, N.D. đã có may mắn được sống ngay cạnh Nhà hát Bellini, cách nhà Bellini từng sống không xa, nay là bảo tàng Bellini). Cùng với Rossini và Donizetti, Bellini là nhà soạn nhạc tinh hoa của phong cách bel canto trong opera (nhạc kịch) Ý. Phong cách hát này xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ 17. Sang thế kỷ 18 – 19 bel canto được dùng để chỉ kiểu hát legato (luyến) hoàn hảo, với những khoảng âm cao, được hát nhẹ, mềm mại và nhanh. Vở opera 2 hồi Norma (1831) của Bellini được coi là đỉnh cao của phong cách bel canto. Bellini và bel canto có ảnh hưởnh lớn tới cách thể hiện âm nhạc của Chopin, đặc biệt trong cách dùng các gam bán cung (chromaticism) và các làn giai điệu. Chopin mong muốn khôi phục lại sự thanh cao của giọng hát bằng tiếng đàn piano. Ông thường khuyên học trò phải biết hát trước khi chơi piano, và rằng hát thầm trong khi chơi piano sẽ giúp chơi hay hơn.
[3] Luigi Cherubini (1760 – 1842) – nhà soạn nhạc Ý, được Beethoven coi là nhạc sĩ cùng thời vĩ đại nhất.
[4] Adolphe Gutman (1819 – 1882) – học trò yêu quý và xuất sắc nhất của Chopin, theo học Chopin 5 năm. Ông là trò nam duy nhất được Chopin đề tặng tác phẩm (bản Scherzo cung Đô thăng thứ Op. 39 No. 3). Các học trò khác của Chopin đã không thể hiểu được vì sao, với phong cách chơi mạnh mẽ, khác xa thầy mình, Gutman lại được Chopin coi là người thể hiện các tác phẩm của ông một cách xuất sắc nhất. Có lẽ cũng tương tự như vậy, một bất đồng lớn đã xảy ra giữa các thành viên hội đồng giám khảo Cuộc thi Quốc tế Piano Chopin lần thứ 10 (1980). Số đông thiên về các thí sinh trình bày “đúng tinh thần” Chopin. Một số ít, gồm các bậc thầy như Martha Argerich, Paul Bradura-Skoda, Nikita Margaloff, ủng hộ các thí sinh có cá tính độc đáo, phong cách khác thường. Pianist Ivo Pogorelich (Nam Tư) được Martha Argerich tuyên bố là thiên tài, nhưng lại bị hội đồng loại tại vòng 3 của cuộc thi. Bà Argerich đã bỏ hội đồng giám khảo để phản đối quyết định này. Có ý kiến (chưa được kiểm chứng) cho rằng một trong những tác nhân gây nên chia rẽ là do Sergei Dorensky – phó chủ tịch hội đồng giám khảo cuộc thi Chopin đồng thời là giáo sư nhạc viện Tchaikovsky - muốn “lobby” cho pianist người Nga sinh viên nhạc viện Tchaikovsky Tatyana Shebanova đoạt giải nhất, và vì thế tìm cách gây áp lực để loại Ivo Pogorelich (cũng là sinh viên nhạc viện Tchaikovsky, nhưng là người Nam Tư). Kết quả năm đó thật bất ngờ với giải nhất về tay Đặng Thái Sơn (Việt Nam). Tatyana Shebanova đoạt giải nhì. Song, scandal này lại khiến Ivo Pogorelich trở nên rất nổi tiếng. [Có thể theo dõi Bradura-Skoda, Argerich, và Margaloff trả lời phỏng vấn (bằng tiếng Pháp) ngay sau Cuộc thi Chopin 1980 tại đây: phần 1, phần 2, phần 3]
[5] Delphine Potocka (1807 – 1877) – nữ bá tước Ba Lan, nổi tiếng vì nhan sắc, học vấn và tài năng âm nhạc nghệ thuật, từng là học trò, bạn và nàng thơ của Chopin. Nàng đã được Chopin viết tặng bản valse cung Ré giáng trưởng Op. 64 No. 1, còn có tên “Valse một phút” hay “Con chó nhỏ”.
[6] Alessandro Stradella (1645 – 1681) – nhà soạn nhạc Ý giai đoạn trung kỳ Baroque, sinh tại Rome, người đầu tiên sáng tạo ra thể loại concerto grosso, sau này được phát triến bởi các nhà soạn nhạc lừng danh như Corelli and Antonio Vivaldi. Stradella là người háo sắc, dính vào nhiều affairs yêu đương. Tương truyền có lần một quý tộc Venice mời Stradella dạy nhạc cho vợ mình. Trong khi dạy, Stradella quyến rũ luôn bà quý tộc phu nhân, và cả hai người đã rủ nhau trốn đi Rome. Vị quý tộc bị phản bội thuê hai tay anh chị tìm giết Stradella. Hai tên này đi đến nhà thờ với âm mưu sẽ giết chết nhạc sĩ ngay sau khi dàn đồng ca trình diễn xong ca khúc của ông. Tại đây hai tên giết người đã bị rung động bởi vẻ đẹp thống thiết cuả bài ca đến nỗi mà, thay vì giết ông, chúng đã báo cho ông ý đồ của chúng để ông trốn thoát đi Torino. Tuy nhiên gã quý tộc vẫn không buông tha Stradella. Cuối cùng, một buổi sáng người ta thấy Stradella bị giết ngay trên giường tại nhà mình ở Genova (1681) (Theo S. Suzuki, “Anthology of Italian songs of the 17th and 18th centuries”, Book II, Alfred Publishing, 1985)
[7] Benedetto Marcello (1686 – 1739) – nhà soạn nhạc, kiêm nhà văn, luật sư và quan toà Ý (cùng thời với Antonio Vivaldi), tác giả của nhiều nhạc phẩm cho nhà thờ, thánh ca, song tấu, sonata, concerto, và sinfonia.
[8] Chopin rời Ba Lan sang Áo ngày 2/11/1830, khi ông 20 tuổi. Sau đó một tuần nổ ra cuộc nổi dậy Tháng Mười Một (còn có tên là Cách mạng học viên sĩ quan) tại Warsaw do các sĩ quan Ba Lan khởi xướng chống lại chế độ của Đế quốc Nga tại Ba Lan và Lituania. Sau khi nhanh chóng lan rộng ra các tầng lớp khác trong xã hội Ba Lan và thành công lúc đầu, cuộc cách mạng đã bị quân đội Nga, vượt trội hẳn về số lượng, đàn áp. Sự thất bại của cuộc nổi dậy đã đẩy Chopin cũng như nhiều chính khách ưu tú của Ba Lan vào con đường lưu vong trong cuộc Di tản Vĩ đại của Ba Lan năm 1831 – 1870. Phần lớn họ di tản sang Pháp. Trong vòng gần 40 năm đó, ngoài Chopin, Cộng Đồng Người Ba Lan Hải Ngoại tại Pháp còn có những tên tuổi như thi hào Adam Mickiewicz, văn hào Joseph Conrad, thi hào Guillaume Apollinaire, nhà vật lý và hoá học Marie Curie (Maria Skłodowska), v.v. Nỗi đau sau khi nghe tin cuộc nổi dậy bị quân Nga đàn áp đã khiến Chopin viết nên bản Étude cung Đô thứ Op. 10 No. 12 còn có tên là “Cách mạng”. Bè tay phải của bản étude này vang lên như những tiếng kêu thống thiết, tuyệt vọng, trên nền gam hoà âm sôi sục của bè tay trái như tiếng gầm rú của đại bác.
[9] Auguste Clésinger (1814 – 1883) – hoạ sĩ và nhà điêu khắc Pháp, con rể của nữ văn sĩ George Sand (1804 – 1876), người tình cuối đời của Chopin. Chopin và Sand chia tay nhau sau khi Sand nghi ngờ quan hệ yêu đương giữa Chopin và Solange, con gái bà. Năm 1847, khi Sand phản đối Solange kết hôn với Clésinger thì Chopin lại đứng về phe họ. Sand đã từ con gái mình và cắt đứt với Chopin. Kết quả là, mặc dù Chopin vẫn nặng tình với Sand và vần giữ các bức thư kèm một lọn tóc của bà cho đến khi ông chết, người ở bên ông vào phút lâm chung lại là Solange và chồng cô.
[10] Napoléon Henri Reber (1807 – 1880) – nhà soạn nhạc Pháp, giáo sư Nhạc viện Paris từ năm 1851, viện sĩ Hàn lâm Pháp năm 1853, lãnh huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh hạng chevalier năm 1855 và hạng officier năm 1870.
[11] Louis James Alfred Lefébure-Wély (1817 – 1869) – nghệ sĩ đại phong cầm (organ) và nhà soạn nhạc Pháp.
[12] Pauline Viardot (11821 – 1910) – nữ ca sĩ giọng mezzo-soprano (nữ trung-cao), đồng thời là nhà soạn nhạc và nghệ sĩ piano Pháp gốc Tây Ban Nha, từng là học trò piano của Franz Liszt. Nàng thường hòa tấu piano với Chopin. Chopin giảng giải cho nàng về kỹ thuật chơi piano, và thậm chí còn giúp đỡ khi nàng sáng tác loạt bài hát dựa trên giai điệu các bản mazurkas của Chopin. Về phía mình, Chopin được nàng truyền cho các kiến thức về âm nhạc Tây Ban Nha.
[13] Luigi Lablache (1794 – 1858) – danh ca giọng nam trầm (bass) người Ý, từng hát Tuba Mirum trong bản Cầu hồn (Requiem) của Mozart tại đám tang Beethoven (1827), Chopin (1849), và Bellini (1835).
[14] Giacomo Meyerbeer (1791 – 1864) – nhà soạn opera gốc Đức, nổi tiếng nhất châu Âu trong những năm 1830 – 1840.
[15] Adam Jerzy Czartoivyski (1770 – 1861) – quý tộc Ba Lan, từng là chủ tịch Chính phủ Quốc gia Ba Lan trong cuộc nổi dậy chống Đế quốc Nga tháng Mười Một 1830.
[16] Eugène Delacroix (1798 – 1863) – đại danh hoạ Pháp trào lưu Lãng mạn, tác giả bức tranh nổi tiếng “Tự do lãnh đạo nhân dân”. George Sand đã mô tả Delacroix khích lệ Chopin sáng tác như thế nào trong một đêm tại Nohant vào khoảng 1839 – 1843:
Chopin ngồi trước piano, như hoàn toàn quên hẳn mọi người đang lắng nghe. Ông đắm mình vào một khúc tùy hứng ngẫu nhiên rồi bỗng dưng dừng lại. “Chơi tiếp đi, chơi tiếp đi!”, Delacroix kêu lên, “Đó chưa phải là phần kết.” “Đó cũng chẳng phải là phần mở đầu. Chẳng là gì cả… Chẳng có gì ngoài những phản quang, bóng đen, và hình hài bất định. Tôi đang cố tìm ra màu sắc thích hợp, song ngay cả hình tôi cũng không thể tạo ra được.” “Cậu sẽ không tìm ra màu mà lại không có hình”, Delacroix nói, “Cả hai sẽ cùng hiện ra.” “Nếu tôi không tìm thấy gì ngoài ánh trăng thì sao?” “Thế thì cậu sẽ tìm ra phản quang của phản quang.” Ý tưởng này có vẻ làm người nghệ sĩ siêu phàm thích thú. Ông có vẻ nửa như bắt đầu lại, nửa như không phải vậy, hình hài thật không rõ ràng. Màu sắc hiện ra dần dần cùng với những âm thanh trầm bổng ngọt ngào vang trong tai chúng tôi. Bỗng một nốt nhạc buồn màu lam cất lên trong đêm tối bao trùm quanh chúng tôi, xanh biếc và trong vắt. Những đám mây nhẹ hình thù kỳ dị phủ kín bầu trời, vây lấy mặt trăng, và hứng từ trăng những đĩa ánh sáng lớn trắng đục như sữa, đánh thức những màu sắc còn đang say ngủ. Chúng tôi mơ về một đêm hè, và ngồi đó đợi tiếng ca của chim hoạ mi.
[17] Auguste Franchomme (1808 – 1884) – nhà soạn nhạc Pháp, đồng thời là nghệ sĩ cello xuất sắc nhất trong thời đại của mình. Franchomme đã tạo ra kỹ thuật tay phải (kéo vĩ) một cách tinh tế, nhẹ nhàng và ngọt ngào, đặc trưng cho trường phái chơi cello của Pháp sau này. Tay trái của ông nối tiếng vì ngón bấm đặc biệt chuẩn xác, cách rung sâu, và đầy sức biểu cảm. Ông được tặng Bắc Đẩu Bội Tinh năm 1884 vì những cống hiến cho âm nhạc.
[18] Theo Tad Szulc trong cuốn “Chopin ở Paris”, nước Pháp đã không trục xuất Chopin khi ông hết hạn cư trú vào năm 1831, tuy ông không phải là người tị nạn chính trị. Ngược lại, triều đình vua Louis-Philippe I đã cho phép Chopin ở lại Pháp vô thời hạn để “hoàn hảo nghệ thuật của mình”. Không muốn phụ thuộc vào giấy tờ của Đế quốc Nga, khi đó đang cai trị Ba Lan, 4 năm sau Chopin đã gia nhập quốc tịch Pháp, và được cấp hộ chiếu Pháp ngày 1/8/1835.
© 2009 Nguyễn Đình Đăng
© 2009 talawas blog
Phản hồi
13 phản hồi (bài “Franz Liszt – Cái chết của thiên tài”)


@Cô gái ở Piano showroom Hà nội
Đất nước ta quý ghế vô cùng
Còn đâu nhân cách với khiêm, cung
Trách cô thiếu nữ kia tội nghiệp
Cái miệng nhiều khi khổ cái lưng.
Anh Sacroyant Nguyen,
Không hề gì. Như vậy là anh sinh năm 1980, bằng tuổi nghiên cứu sinh Việt Nam làm PhD (tiến sĩ) về lý thuyết vật lý hạt nhân của tôi, và tháng Giêng vừa rồi anh ta đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại viện Vật lý Hà Nội. Nói thế để thấy rằng thanh niên VN có những người rất thông minh, cần cù, có năng lực nghiên cứu không thua kém, thậm chí còn vượt những người cùng lứa tuổi tại các nước phát triển. Nếu rơi vào mảnh đất tốt những hạt giống đó sẽ nhanh chóng nảy mầm, đơm hoa thơm kết trái ngọt, rất hữu ích cho nơi nào mà ở đó người ta biết thưởng thức và trân trọng hương thơm của hoa, vị ngọt của quả.
Sáng nay tôi vừa đi thăm showroom của piano Fazioli ở Tokyo – một hiệu đàn piano của Italia, mới ra đời cách đây chỉ có 31 năm (1978). Vậy làm sao mà nó có thể cạnh tranh được với những gã khổng lồ như Steinway & Sons, hay Yamaha – hãng đàn lớn nhất thế gìới, vừa mua đứt Bösendorfer năm ngoái? Song, đến nơi mới thấy Fazioli thực sự là grand piano “xịn”, được làm hoàn toàn bằng tay, có soundboard làm từ gỗ vân sam đỏ (red spruce) – một lại cây họ thông mọc tại vùng Val di Femme (trên dãy Alpes ở đông bắc nước Ý). Hơn thế, Fazioli còn áp dụng hệ thống gối kép (duplex) có thể xê dịch được để tạo nên âm bội (overtone) hoàn hảo cho các nốt cao. Ý tưởng này do Theodore Steinway – cụ tổ của hãng Steinway – đề xuất năm 1872 (song hãng Steinway sau này đã ngừng áp dụng vì quá phức tạp cho việc lên dây đàn. Hệ thống gối kép của Steinway vì thế được đúc cứng vào khung gang). Ngoài ra Fazioli còn nghĩ ra pedal thứ tư: Khi đạp pedal này, toàn bộ hệ thống búa của grand piano sẽ dịch vào gần dây hơn, và toàn bộ phím đàn tụt thấp xuống một chút. Hiệu quả: có thể chơi tiếng rất khẽ (tới ppp) mà âm sắc vẫn không thay đổi. (Pedal trái của piano thông thường, khi được đạp xuống, sẽ khiến hệ thống búa dịch sang một bên, chỉ gõ lên 2 dây thay vì 3 dây, làm tiếng khẽ đi, song âm sắc cũng thay đổi). Phím thụt xuống một chút còn làm cho ngón tay chạy dễ hơn.
Tại đây tôi được chơi thử chiếc Fazioli F308, dài nhất thế giới (3 m 08), và vài chiếc grand pianos Fazioli khác, cỡ nhỏ hơn.
Pianists Stanislav Bunin (giải nhất concours Chopin năm 1985, hiện sống tại Tokyo) và Herbie Hancock từng chơi chiếc Fazioli F308 này. Trên khung đàn có chữ ký của họ. Nhiều pianists trứ danh như Vladimir Ashkenazy, Alfred Brendel, Martha Argerich, Nikita Margaloff, Lazar Berman từng chọn Fazioli piano làm đàn biểu diễn của họ.
Chủ của Tokyo Fazioli showroom là một người Mỹ 57 tuổi, tốt nghiệp business tại đại học Chicago, song chơi piano giỏi, từng đoạt giải tại vài cuộc thi cho các pianists nghiệp dư tại Nhật. Ông ta rất lịch sự, niềm nở, lại còn pha cả cafe expresso mời tôi uống. Trời tháng 8 ở Tokyo rất nóng bức, mà sao sau khi ra khỏi Fazioli showroom tôi cứ thấy mát lòng mát dạ.
Lại nhớ cách đây vài năm tôi có ghé thăm một Yamaha showroom tại Hà Nội. Cô bán hàng nhất định không cho tôi chơi thử. Lý do: “Ai cũng đòi chơi thử như anh thì xước hết phím đàn, bán làm sao được nữa!” Rồi ngay trước mặt tôi, cô bê phắt cái ghế cất đi, nói rằng ghế cũng để bán nên không được ngồi! Không biết đến bao giờ Việt Nam mới có những showroom mà khách tới thăm được đối xử lịch sự tử tế như tại các piano showrooms ở Tokyo (bất kể đó là Yamaha, Kawai, Steinway, Bösendorfer, hay Fazioli).
Xin lỗi chú vì cháu đã không tìm hiểu rõ tuổi tác của chú trước khi trò chuyện nên xưng hô một cách bất nhã trong các comments trước. Blog của chú (http://nguyendinhdang.blogspot.com/) chỉ nói về hội họa và không cho biết năm sinh, người trong hình giới thiệu nhìn rất trẻ nên cháu nghĩ tuổi chú chưa quá 40.
Khi nói về các bản nhạc cho piano, chú có sự phân biệt giữa các phần nhạc cho tay phải và tay trái, điều này một người nghe nhạc đơn thuần hầu như không quan tâm, cho nên cháu đoán chú phải biết chơi piano. Để xác minh, cháu vừa tìm đọc tự thuật của chú mang tựa đề “Tôi đã trở thành họa sĩ như thế nào”, nhờ vậy mới biết chú không những là một họa sĩ, mà còn là một nhà vật lý học biết chơi piano, và khi chú lấy bằng Thạc sĩ ở Đại học Tổng hợp Matxcơva thì cháu mới chỉ là đứa bé 2 tuổi.
Cháu cũng thích nghe nhạc cổ điển và đã sưu tập đủ 21 bản nocturnes của Chopin. Trong số này, cháu thích nhất bản Nocturne Op.9 cung Mi giáng trưởng. Tác phẩm ấy có những nét nhạc tuyệt đẹp, những hợp âm rải trang nhã. (Đây là phiên bản do Rubinstein trình diễn : http://www.youtube.com/watch?v=YGRO05WcNDk).
Hồi nhỏ cháu cũng có dịp tiếp cận với hội họa qua một họa sĩ ít tên tuổi, ông ấy cho rằng cháu có năng khiếu về môn này, nhưng hiện giờ cháu đang là một lập trình viên, hơn 10 năm rồi không chạm đến giá vẽ, dù đôi khi bất chợt rất muốn vẽ ra một cái gì đó. Cháu vốn tin rằng Kỹ thuật và Nghệ thuật khó có thể hòa hợp trong một con người, nhưng sự nghiệp của chú đã chứng tỏ cho cháu thấy điều ngược lại. Cảm ơn chú rất nhiều và một lần nữa mong chú lượng thứ cho sự mạo phạm trước đây trong cách xưng hô.
Anh Sacroyant Nguyen,
Interpretation của anh thật hay!
Trả lời phỏng vấn cuả Tiền Phong hồi tháng 1/2009, tôi có nói:
“Tôi vẫn tin rằng, bức tranh sau khi hoàn thành sẽ tự dưng tồn tại một cách độc lập, như một thực thể sống. Cái bí ẩn và khó bậc nhất của hội hoạ là cái hồn của tác phẩm. Tác phẩm chỉ trở thành kiệt tác khi cái hồn đó toát ra. Đó chính là câu chuyện không kể được bằng lời trong mỗi bức tranh mà người xem, tùy theo trình độ và trải nghiệm của mình có thể cảm nhận được theo cách riêng của họ. Câu chuyện đó không nhất thiết phải giống nhau. Ngôn ngữ hội hoạ chính vì vậy mà rất đa nghĩa.”
Các tác phẩm âm nhạc bất hủ cũng tương tự như vậy: Mỗi cách trình bày, cách tưởng tượng, lại cho thấy một cái hay, cái mới của chúng. Ví dụ: Nocturne (dạ khúc) Đô thăng thứ Op. 27 No. 1 của Chopin.
(Xem bản nhạc tại:
http://www.dartmouth.edu/~music33/Mus33projects/nodes/Chopin/nocturne.html)
Như phần lớn các nocturnes của ông, nocturne này cũng có bố cục A – B – A. Phần A (larghetto)
với tay trái roãng rất rộng, chơi các âm rải (arpeggios) thì thầm, dai dẳng, trong khi tay phải ngân nga giai điệu đầy nghi ngờ, đượm màu sắc cuả bóng đêm và chết chóc. Phần B (piu mosso) bắt đầu bởi các âm bán cung chơi bởi tay trái như sóng cuồn cuộn dâng lên, sôi nổi dần dần, đạt đến cao trào trong những hợp âm rất mạnh (ff) chơi bởi tay phải.
Một cadenza đầy bi kịch kết thúc phần B, để rồi giai điệu A lại rên rỉ cất lên. Bản dạ khúc kết thúc bằng những âm chơi vang nơi tay phải, rồi tắt ngấm, đẹp như bài hát của con thiên nga (trước khi chết).
Đó là một cách tưởng tượng.
Kleczyński – văn sĩ và nhà phê bình Ba Lan – thì lại thấy nocturne này “mô tả một đêm yên tĩnh ở Venice, sau một cảnh giết người, nước biển lại che phủ lên xác chết, và tiếp tục làm tấm gương phản chiếu ánh trăng.”
Quá hay, có phải không?
Cuối cùng mời anh nghe Claudio Arrau chơi nocturne này tại
http://www.youtube.com/watch?v=ZJmcSL8hSys&feature=PlayList&p=F0AE9DF931E811BF&playnext=1&playnext_from=PL&index=27
Cảm ơn anh Nguyễn Đình Đăng,
Nhận xét của người được anh trích dẫn rất thú vị. Về bút pháp ấn tượng của anh thì tôi thấy không có gì đáng phàn nàn. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật vẽ tả thực và khả năng phối cảnh siêu thực trong tranh của anh luôn khiến tôi khâm phục.
Nhưng cách mà tôi hiểu “Ngưỡng cửa” có chút khác biệt so với ông ấy. Tôi cảm nhận về một ngưỡng cửa thanh xuân, cái ranh giới bất cứ cô gái nào cũng phải bước qua để giã từ thủa thơ ngây, trở thành thiếu nữ. Cô gái trong tranh như vừa âu lo, vừa nao nức trước bao điều bí ẩn đầy đe dọa đang trải ra trước mắt. Khoảng cách đều đặn của những bóng ma vận áo choàng trắng cầm phướn tiến về phía thiếu nữ gợi ý niệm về thời gian và tính chu kỳ lạnh lùng vô cảm của nó. Chúng ta đang chết đi trong từng khoảnh khắc. Bởi thế, cảm nhận tiếp theo tôi có khi ngắm bức tranh chính là cái chết. Nhưng không phải cái chết mang màu tang tóc đáng sợ mà là cái chết được thấu hiểu “như chính nó đang là” – theo cách nói của Krishnamurti…
Hình như suy niệm của tôi đã đi quá xa khỏi chủ đề thực của tác phẩm!?
Thân chào anh Sacroyant Nguyen,
Cảm ơn anh đã xem tranh của tôi.
Về bức “Ngưỡng cửa” (The threshold), tôi trích lại dưới đây cảm tưởng của một khán giả sau khi xem bức tranh tại
http://ribf.riken.go.jp/~dang/paintings/threshold.html
để anh đọc chơi.
“(…) Tôi không rõ triết lý hoạ sĩ gửi gắm trong tác phẩm này, song người xem vẫn có thể hiểu bức tranh theo cách riêng của mình.
Theo tôi đây là ngưỡng cửa phân cách thế giới chúng ta đang sống với một thế giới khác, giữa cội rễ sâu thẳm trong tâm hồn chúng ta và cuộc sống thường nhật, cái ngưỡng cửa mà mỗi chúng ta cuối cùng đều phải bước qua để tự lột xác, vứt bỏ cái vỏ cũ kĩ của mình như cái mai cua để có thể tĩnh tâm chiêm ngưỡng toàn bộ chặng đường dài dặc mà mình đã đi qua kể từ buổi ban đầu. Vì thế bức tranh này cũng có thể được đặt tên là “Vòng tái sinh” hay “Phục Sinh”. Tuy nhiên, tôi đồng ý rằng cái tên “Ngưỡng cửa” có lẽ là hay nhất.
Trong bức tranh này ta cảm thấy thế giới thực và ảo cùng tồn tại hoà nhập vào nhau. Tài vẽ thật hoàn hảo, đặc biệt là các nếp áo được vẽ rất siêu.”
Thân chúc anh mọi điều tốt lành.
Anh Nguyễn Đình Đăng,
Tôi có thiện cảm với anh từ khi được chiêm ngưỡng bức họa “Ngưỡng cửa” mà anh vẽ. Tác phẩm đó khiến tôi thích thú đến mức in ra hẳn một bản để treo trong phòng. Rất cảm ơn anh đã sáng tạo nên tác phẩm nghệ thuật đẹp và ý vị như thế.
Hy vọng rằng khi có dịp thuận tiện, anh sẽ dành chút thời gian thư nhàn viết một bài về quá trình sáng tác “Ngưỡng cửa”, cũng như những suy tư anh đã gửi gắm vào tác phẩm. Và người thiếu nữ trong tranh nữa, nếu có thể, xin anh giới thiệu đôi chút như đã viết về những nhân vật trong tác phẩm “Con bọ ngọc” mới đây.
Tôi vốn định gửi lời đề nghị này trong phần phản hồi của bài “Con bọ ngọc”, nhưng vì lý do nào đó mà trang web không hiển thị trường soạn thảo nên đành viết ở đây, thấy không được phù hợp lắm, kính mong anh lượng thứ.
Trả lời Lề Trái:
———————
Chopin viết cho dây (và piano):
1 trio cho violin, cello và piano.
Xem http://www.youtube.com/watch?v=hTZUNv0Gkpo&feature=related
1 sonata cho cello và piano.
Xem http://www.youtube.com/watch?v=IF9fUdoYNNU&feature=related
1 Grand Duo Concertant Mi trưởng B70 cho piano và cello (viết chung với Auguste Franchomme – người sau này khiêng quan tài Chopin).
Ông còn viết 19 bài hát Ba Lan có phần đệm piano.
Chopin là nhà soạn nhạc sáng tác đặc biệt cho piano. Nhạc của ông khai thác tối đa khả năng của piano, làm piano cất tiếng “hát”. Bởi vậy, ông được mệnh danh là Thi Sĩ của Piano. Ngay cả trong 2 concerti cuả Chopin (được hoàn thành khi ông mới 19 – 20 tuổi), đặc biệt là concerto No. 1 Mi thứ Op. 11, phần viết cho dàn nhạc cũng rất giản dị tương phản với hoà âm phức tạp của piano solo. Chopin không hề viết bản nhạc nào mà không có phần piano. Ông cũng không hề viết giao hưởng (symphony).
Bác Đăng quên bản Sonata cho cello & (với phần đệm) piano.
Tạm cho lý trí ngủ yên
Khi bàn về cái chết, một số cá nhân (có thể xem là thiên tài) cảm thấy được nó sẽ đến lúc nào, và Chopin cũng không phải là ngoại lệ. Nghe nhạc của Chopin, tôi không bỏ được nhận thức về sự hiện diện khá rõ nét của một thứ George Crumb gọi là dark sounds. Lấy thí dụ như phần B prelude “giọt mưa”, một thoáng phớt qua của Fantasie-Impromptu, prelude n 2 – có người xem đây là tiền thân của nhạc phi âm chủ (atonal), một đoạn khoảng 20 measures độc một hợp âm dominant trong một bản ballade nói chung khá tươi tắn(không nhớ tên, sẽ kiếm nếu cần), sonata cho cello và một số bản khác. Phải chăng Chopin ít nhất cũng cảm thấy cuộc sống quá ngắn của mình.
Phần kế dành cho tác giả Trịnh Hữu Tuệ:
Một trường hợp ám ảnh tương tự phải kể đến Toru Takemitsu. (Giả thuyết có thể) vì hồi trẻ ông bị bệnh nặng tưởng chết. Trong cuốn Đối mặt với Im lặng (Confronting Silence), Takemitsu viết ông xem sự im lặng là cái chết, vì vậy ông sẽ đối diện với cái chết bằng những âm thanh to, khỏe . Nhưng nếu nghe nhạc của ông, (ít nhất) tôi cảm thấy sự hiện diện rõ rệt nhất của sự im lặng, hay nói đúng hơn, sự im lặng trong âm nhạc của Takemitsu là nền cho âm thanh của ông. Âm thanh từ im lặng đi ra và lại chìm vào im lặng, rõ đến nỗi tôi có cảm tưởng nếu ông có đối mặt với cái chết, ông chấp nhận một thất bại chắc chắn .
Tôi so sánh 2 người nhạc sĩ tài hoa của 2 thế hệ vì so với các nhạc sĩ khác, tôi cảm nhận được sự hiện diện một khoảng lặng từ âm nhạc của 2 người .
Sự thất bại có phải là yếm thế không? Tôi không đồng ý. Âm nhạc của 2 người đủ nói rõ. Tôi chỉ xem như một cuộc thua tất yếu kiểu Anne Sexton đánh bài với Thượng Đế.
Ít ra cũng tồn tại một cái gì mong manh.
Tôi nghĩ “Christ” được phiên âm qua Hán Việt là “Cơ Đốc” và “Ki Tô”, và đạo Cơ Đốc hay Ki Tô giáo đều dịch nghĩa (hay phiên âm) từ tiếng Anh Christianity.
Nhưng Cơ Đốc là từ xưa hơn, được dùng trước không biết từ bao giờ, về sau ở VN đạo Cơ Đốc dùng để chỉ riêng cho đạo Tin Lành, mà từ Tin Lành này là dịch nghĩa của Evangel (có gốc tiếng Hy lạp với nghĩa Good News), và tiếng Anh chỉ nhóm giáo phái này là Evangelism. Protestantism là một nhà thờ (hay nhánh giáo phái) của đạo Tin Lành, và được dịch là Thệ Phản (do nghĩa của Protest).
Đạo Thiên Chúa hay Công giáo là đạo “Cơ Đốc” thuộc quyền lãnh đạo của Toà Thánh La Mã. Nhưng trước 1975, có lẽ từ thời ông Ngô Đình Diệm, một số trí thức công giáo ở miền Nam (như ông Nguyễn Văn Trung) viết trên báo, sách bên ngoài nhà thờ dùng cách phiên âm mới cho từ Christ là “Ki Tô” vốn của Trung quốc (hay Đài Loan). Có thể từ mới này dùng để phân biệt với từ “Cơ Đốc” được phổ biến từ lâu bên Tin Lành, và đạo Tin Lành đã được gọi rộng rãi là đạo Cơ Đốc.
Khi đó, từ “Christian” được dịch theo hai cách: nếu là người Tin Lành, dịch là Cơ Đốc nhân, và nếu người Công giáo với nhau, dịch là Ki Tô hữu (dường như không có từ Ki Tô nhân).
Bây giờ, ở ngoài này tôi nghe mục sư Tin Lành gọi Christ là “Đấng Christ” (không thấy gọi Đấng Cơ Đốc), và bên Công giáo gọi Christ là “Chúa Ki Tô”.
Những điều viết trên là không chắc là đúng , vì tôi chỉ là “lương dân” (người lương).
Cảm ơn bác Đăng. Tôi lại nhầm Cơ Đốc (基督) để chỉ người theo đạo Tin Lành.
Trả lời whoami:
———————–
“Christianity” là “Kitô giáo” theo thuật ngữ phiên âm hay “Cơ Đốc giáo” theo thuật ngữ Hán-Việt.
“Cơ Đốc” (基督) là phiên âm chữ Hán của “Christ” tức Chúa Cứu Thế (Jesus Christ).
Kitô giáo (hay Cơ Đốc giáo) bao gồm:
- Công giáo (公教) hay Thiên Chúa giáo (天主教)
(= Catholicism)
- Chính thống giáo (正教= Orthodoxy)
- Tân giáo (新教) hay đạo Tin Lành (=Protestantism)
Có thể xem thêm chi tiết tại wikipedia:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Kit%C3%B4_gi%C3%A1o
Bác Đăng cho tôi hỏi dường như Chopin theo đạo Thiên Chúa chứ không phải Cơ Đốc? Trong câu tiếng Anh: “He thought of death with Christian calm and resignation, yet he did not cease to prepare for the morrow” thì nghĩa “Christian” là chỉ chung cho những người tin vào Jesus Christ.