talawas blog

Chuyên mục:

Mai Thái Lĩnh – Ải Nam Quan trong lịch sử (2)

07/08/2009 | 9:05 sáng | 25 Comments

Tác giả: Mai Thái Lĩnh

Category: Lịch sử, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ:

(Xem phần 1)

II. BIÊN GIỚI LỊCH SỬ VÀ BIÊN GIỚI PHÁP LÝ

1) Đường biên giới tại ải Nam Quan dưới thời nhà Nguyễn

Vào lúc thực dân Pháp bắt đầu quá trình xâm lược nước ta, nhà Nguyễn vẫn chưa đạt tới trình độ vẽ bản đồ ngang với phương Tây. Giữa nhà Nguyễn với nhà Thanh cũng chưa ký kết các hiệp định về biên giới theo quan niệm của thời hiện đại. Tuy vậy, giữa nước ta và Trung Quốc đã hình thành một đường biên giới rõ rệt, một đường biên giới hiện thực được cả hai bên công nhận. Dọc theo biên giới, một hệ thống các ải đã hình thành từ tỉnh Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay) cho đến tận Lào Kay. Và giữa các ải đó, người ta đã dùng nhiều biện pháp để xác định đường biên giới, mặc dù vẫn còn khá thô sơ.

Như phần trên đã trình y, chỉ riêng trong tỉnh Lạng Sơn thời đó đã có đến 12 ải mà trung tâm là ải Nam Quan. Trong quyển XXIV của bộ Đại Nam nhất thống chí (nói về tỉnh Lạng Sơn), có cả một phụ lục về “địa giới” giúp chúng ta hiểu được người xưa đã dùng cách nào để phân định đường biên giới. Qua phụ lục này, chúng ta được biết: ở những nơi là “núi rừng”, người ta lấy sống núi (tức đường phân thủy) làm ranh giới; ở những nơi là “núi đất”, người ta lấy sống núi hoặc bia đá, bờ tre làm giới mốc. Ngoài ra, người ta còn dùng các biện pháp khác như: rào gỗ, đường đất hoặc đắp tường đất, trồng tre, đóng vào gỗ, v.v…[i]

Trong bài bút ký công bố năm 1888, bác sĩ P. Neis có kể rằng ngoài ải Nam Quan, phần lớn các ải ở vùng Lạng Sơn đều không xây cửa quan mà nhiều khi chỉ là một hàng giậu (palissade). Trong ĐNNTC cũng có kể tên ải Quì Ma, một cửa ải ở tỉnh Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay) “không đặt nơi phòng thủ sở”, nghĩa là không canh gác. Mặc dù vậy, tất cả các ải đó đều được tôn trọng, đều được coi là mốc biên giới. Một hệ thống các đồnbảo[ii] được thiết lập để canh giữ các ải. Chính điều đó giải thích tại sao người Pháp và nhà Thanh lại có thể xác định được đường biên giới Việt-Trung. Trong tác phẩm của P. Neis, có đoạn văn sau đây:

“Sau hơn hai tháng rưỡi tranh cãi không dứt, sau hai lần cắt đứt các cuộc hội nghị và hỏi ý kiến các chính phủ liên quan, sau cùng người ta thỏa thuận những cơ sở sau đây: người ta sẽ bắt đầu bằng việc thừa nhận đường biên giới cũ, mà đối với chúng tôi là đường biên giới duy nhất đang hiện hữu, rồi sau đó người ta sẽ thỏa thuận với nhau về những sửa đổi chi tiết có thể thực hiện, và người ta chỉ đặt ra những đường phân giới sau khi đã hoàn thành hai động tác nói trên.[iii]

Đường biên giới cũ (l’ancienne frontière) mà P. Neis nói đến chính là đường biên giới mà nhà Nguyễn và nhà Thanh đã công nhận trong thực tế.

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là: đường biên giới tại khu vực Ải Nam Quan có từ lúc nào? Và đường biên giới đã thay đổi bao nhiêu lần kể từ đó đến nay?

Một số tài liệu sử học nêu tên ải Nam Quan trong những giai đoạn rất sớm. Trong bộ sử rất thông dụng có tên là Việt Nam sử lược, học giả Trần Trọng Kim nêu tên Ải Nam Quan ngay từ đời nhà Trần, trong thời kỳ quân Mông Cổ (nhà Nguyên) âm mưu xâm lược nước ta. Như trong đoạn văn sau đây:

“Sài Thung đưa bọn Trần Di Ái đến gần ải Nam Quan, có tin  phi báo về Kinh đô. Nhân Tông liền sai tướng dẫn một đội quân lên đón đường đánh lũ nghịch thần. Sài Thung bị tên bắn mù một mắt, trốn chạy về Tàu, còn lũ Trần Di Ái bị bắt, phải tội đồ làm lính.[iv]

Nếu đọc trực tiếp bộ Đại Việt sử toàn thư, ở đoạn liên quan đến sự kiện này, chúng ta không hề tìm thấy tên “Nam Quan”. Ngay cả câu chuyện rất nổi tiếng liên quan đến cuộc đời Nguyễn Trãi, Trần Trọng Kim cũng nêu tên ải Nam Quan:

“Ông Nguyễn Trãi là con ông Bảng nhãn Nguyễn Phi Khanh. Đời nhà Hồ, ông đã thi đỗ tiến sĩ (1400). Khi ông Nguyễn Phi Khanh bị nhà Minh bắt về Kim Lăng, ông theo khóc, lên đến cửa Nam Quan không chịu trở lại. Ông Phi Khanh bảo rằng: ‘Con phải trở về mà lo trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì?’ Từ đó ông trở lại, ngày đêm lo phục thù. Nay ra giúp Bình Định Vương bày mưu định kế để lo sự bình định.[v]

Thật ra, căn cứ vào các bộ sử cổ, chúng ta không tìm thấy cái tên “ải Nam Quan” trong giai đoạn này mà chỉ thấy cái tên “ải Pha Lũy”. Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục (thường gọi tắt là Cương mục) được biên soạn vào đời vua Tự Đức và công bố vào đời vua Kiến Phúc (1884), có lời chua (chú) ở quyển XII, tờ 14 như sau: “Pha y quan: ở xã Đồng Đăng, huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn, nay là Nam Quan”[vi]. Điều đáng ngạc nhiên trong khi các nhà sử học – tác giả của bộ Cương mục, kết luận Pha Lũy là tên cũ của ải Nam Quan thì trong bộ sách địa lý quan trọng nhất của thời nhà Nguyễn (tức bộ Đại Nam nhất thống chí, ĐNNTC), cũng được soạn vào thời Tự Đức, lại không thấy ghi điều này. Như vậy, ải Pha Lũy có phải là ải Nam Quan hay lại là một cửa ải hoàn toàn khác, vẫn còn là một vấn đề cần tiếp tục làm rõ.

Theo ĐNNTC, hai chữ “Nam Quan” được nhắc đến lần đầu tiên là vào đời nhà Mạc:

“Sử chép: ‘năm Nguyên Hòa thứ 8, Mạc Đăng Dung cùng với bầy tôi là bọn Nguyễn Như Khuê qua Trấn Nam Quan, đến mạc phủ nhà Minh dâng biểu xin hàng’. Đến đây mới thấy Sử chép tên Trấn Nam Quan.[vii]

Đây là một thời kỳ mà nội bộ của nước ta bị phân hóa trầm trọng. Vào năm 1522, Mạc Đăng Dung làm đảo chính lật đổ vua Lê Chiêu Tông, đưa hoàng đệ (em vua) tên là Xuân lên làm vua. Mùa đông năm Bính Tuất (1526), Mạc Đăng Dung cho người giết Lê Chiêu Tông và năm sau (1527), lật đổ hoàng đệ Xuân, chính thức cướp ngôi vua của nhà Lê, tự xưng là hoàng đế. Những người ủng hộ nhà Lê tìm con cháu của nhà Lê để tái lập ngôi vua, dựng ngọn cờ chống lại nhà Mạc. Nguyễn Kim (cha của Nguyễn Hoàng – người sau này xây dựng nên cơ nghiệp của nhà Nguyễn ở phía Nam) trốn sang Lào, lập căn cứ ở châu Sầm Nưa, lập con trai của Chiêu Tông lên làm vua vào năm 1533, đặt niên hiệu là Nguyên Hòa (tức là vua Lê Trang Tông). Vua Lê cho người sang Trung Quốc cầu cứu nhà Minh. Nhà Minh cử Mao Bá Ôn và Cừu Loan tập trung hơn 20 vạn quân kéo sang đánh nước ta. Sợ hãi trước đạo quân của nhà Minh, Mạc Đăng Dung đầu hàng vào năm 1540 (tức năm Nguyên Hòa thứ 8). Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại sự kiện này như sau:

“Mùa đông, tháng 11, Mạc Đăng Dung cùng với cháu là Văn Minh và bề tôi là bọn Nguyễn Như Quế, Đỗ Chế Khanh, Đặng Văn Tri, Lê Thuyên, Nguyễn Tổng, Tô Văn Tốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy Nhất, Bùi Trí Vĩnh, qua Trấn Nam Quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây ở cổ, đi chân không đến phủ phục trước mạc phủ của quân Minh quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước để chờ phân xử, dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu. Lại xin ban cho chính sóc, cho ấn chương, để kính cẩn coi giữ việc nước và chờ lệnh thay đổi hay quyết định khác. Lại sai bọn Văn Minh và Nguyễn Văn Thái, Hứa Tam Tỉnh mang biểu đầu hàng sang Yên Kinh.[viii]

Qua đoạn văn trên, chúng ta biết mạc phủ (tức bộ tư lệnh) của nhà Minh do Mao Bá Ôn chỉ huy đóng gần ải Nam Quan. Như các tác giả của ĐNNTC đã nhấn mạnh, đây là lần đầu tiên tên của ải Nam Quan được nhắc đến trong sử ký của nước ta.

Theo ước đoán của đốc trấn Nguyễn Trọng Đang, ải Nam Quan “hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia Tĩnh nhà Minh (ngang với khoảng niên hiệu Nguyên Hòa nhà Lê nước ta)”[ix]. Niên hiệu Gia Tĩnh kéo dài từ 1522 đến 1566, trong khi niên hiệu Nguyên Hòa nhà Lê (đời Lê Trang Tông) ở nước ta kéo dài từ 1533 đến 1548. Mặt khác, tên của ải Nam Quan xuất hiện lần đầu trong sử ký vào năm 1540. Do đó, chúng ta có thể phỏng đoán thời gian xây dựng ải Nam Quan là từ 1533 đến trước năm 1540.

Việc nhà Minh xây dựng cửa ải ở Nam Quan vào thời điểm đó chứng tỏ phía Trung Quốc mặc nhiên thừa nhận vị trí của cửa ải chính là đường biên giới giữa hai nước. Trước đó, có thể hai bên (nhất là phía Trung Quốc) chưa đồng ý với nhau về đường biên giới tại khu vực này. Mặc dù sử ký của nước ta không nói đến, nhưng Minh sử (Sử ký của nhà Minh) có ghi rõ: vào năm Hồng Vũ thứ 29 (tức năm 1396), Hoàng Quảng Thành, thổ quan tri phủ Tư Minh – một phủ giáp giới với Lạng Sơn, đã tâu với vua Minh rằng người Giao Chỉ (tức người Việt Nam) đã nhân cơ hội Trung Quốc loạn lạc vào cuối đời nhà Nguyên, đem quân cướp 5 huyện thuộc phủ Tư Minh. Ông này cho rằng đất Đồng Đăng thực ra là đất của phủ Tư Minh và đề nghị vua nhà Minh đòi lại vùng đất ấy. Minh Thái Tổ đã sai hai viên quan sang để đòi đất, nhưng “bàn luận qua lại mãi không quyết, việc bèn thôi”[x]. Như vậy là suốt thế kỷ 15, phía Trung Quốc vẫn còn chưa hoàn toàn từ bỏ tham vọng giành lấy vùng Đồng Đăng và mãi đến thập niên 30 của thế kỷ 16, họ mới chấp nhận đường biên giới dừng lại ở ải Nam Quan.

Có thể nói từ khi nhà Minh cho xây dựng ải Nam Quan, một thứ hiệp định không thành văn về đường biên giới tại khu vực này đã được ký kết. Người Mãn Châu sau khi chiếm Trung Nguyên, thành lập nên nhà Thanh, cũng mặc nhiên thừa nhận điều đó. Theo ĐNNTC, vào năm Ung Chính thứ 3 nhà Thanh (1725), án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai đã cho tu bổ lại cửa quan này. Vào năm Ung Chính thứ 6 (1728), nhà Thanh đã cho treo một tấm biển ở cửa ải, đề ba chữ “Trấn Nam Quan”. Đến năm Tân Sửu (1781) đời vua Càn Long nhà Thanh, lại cho treo một tấm biển trên trùng đài, đề 4 chữ “Trung ngoại nhất gia”, có nghĩa là “trong ngoài một nhà”[xi].

Vào năm 1813, đại thi hào Nguyễn Du có dịp đi sứ sang Trung Hoa. Nhân đi qua ải Nam Quan, ông có làm bài thơ trong Bắc hành tạp lục trong đó có hai câu như sau:

Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện
Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm…

Nghĩa là:

Hai nước chia đều nhau bởi mặt chiếc lũy lẻ loi
Một cửa quan oai hùng trấn giữa muôn quả núi…

“Mặt chiếc lũy lẻ loi chia đều hai nước” mà Nguyễn Du nói đến chính là bức tường xây hai bên sườn núi (người Pháp gọi là la Muraille de Chine, bức Trường thành của Trung Hoa), có cửa quan (tức ải Nam Quan) nằm ở giữa. Như vậy, có thể nói từ thập niên 30 của thế kỷ 16 cho đến khi thực dân Pháp xâm lược Bắc Kỳ, trong khoảng 3 thế kỷ rưỡi, đường biên giới ở vùng này được xác định ngay tại vị trí của ải Nam Quan. Nó được đánh dấu bằng cửa ải và bức tường xây ở hai bên cửa ải. Không hề có “vùng đệm” hoặc “hai cửa khẩu” như người thời nay thêu dệt.

Ảnh 9

Ảnh 9

Nếu nhìn vào tấm ảnh trên đây (ảnh 9) và xóa đi cái cửa nhỏ và bức tường gắn liền với nó, chúng ta có thể hình dung ra cảnh tượng mà Nguyễn Du đã miêu tả trong bài thơ nói trên.

Trong một bài trả lời phỏng vấn vào đầu năm 2008, ông Vũ Dũng – lúc đó là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, tuyên bố một cách chắc nịch:

“Tại khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, theo các văn bản pháp lý lịch sử, đường biên giới luôn nằm phía nam Ải Nam Quan. Trấn Nam Quan do Trung Quốc xây dựng vẫn thuộc Trung Quốc, chứ không phải đường biên giới đi qua Ải Nam Quan như một số người vẫn hiểu.”[xii]

Nếu dựa trên văn bản pháp lý (tức là văn bản ký kết giữa nước Pháp và nhà Thanh) thì có thể nói đường biên giới nằm ở phía nam ải Nam Quan. Nhưng nếu dựa trên những văn bản lịch sử như trên vừa trình bày thì đường biên giới “đi ngang qua ải Nam Quan” chứ không nằm ở phía nam của cửa ải. Chỉ những người tin vào sử Tàu mà không tin vào sử Việt mới cho rằng đường biên giới lịch sử nằm ở phía nam ải Nam Quan. Đảng Cộng sản Trung Quốc sau khi đã xác lập quyền thống trị trên toàn bộ lục địa Trung Hoa vào năm 1949 đã “bê nguyên xi” luận điệu của nhà Thanh vào quan niệm sử học và địa lý học của họ. Trong khi đó, những người cộng sản Việt Nam không hiểu do đâu mà trở nên mơ hồ, mù mờ, thay vì dựa vào sử liệu của tổ tiên lại thừa nhận luận điểm của phía Trung Quốc, thậm chí coi đó là luận điểm chính thống của mình?

2) Đường biên giới pháp lý theo Hiệp ước Pháp-Thanh

Vậy thì tại sao đường biên giới từ giữa thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 18 vẫn chạy ngang ải Nam Quan, bỗng dưng lại bị đẩy lùi xuống phía Nam ải Nam Quan? Điều này có liên quan đến hoàn cảnh lịch sử của nước ta vào thập niên 80 của thế kỷ 19.

Vào ngày 25.8.1883, nhà Nguyễn phải ký Hiệp ước Harmand (còn gọi là Hòa ước Quý Mùi) chấp nhận chế độ bảo hộ (protectorat) của nước Pháp đối với Trung Kỳ và Bắc Kỳ[xiii]. Ngày 11.5.1884, tại Thiên Tân, nhà Thanh ký hòa ước công nhận quyền bảo hộ của nước Pháp đối với Việt Nam và đồng ý rút quân khỏi Bắc Kỳ. Nhưng do quân Pháp bị phục kích bất ngờ tại Bắc Lệ, một cuộc chiến tranh không tuyên bố lại bùng nổ giữa quân đội hai nước Pháp và Trung Hoa, kéo dài mãi đến giữa năm 1885. Mặc dù đạt được thắng lợi trên mặt biển (như phá hủy hạm đội đóng tại quân cảng Phúc Châu, gây thiệt hại nghiêm trọng cho hạm đội Nam Dương) cũng như đạt được một số thắng lợi trên chiến trường ở miền Bắc Việt Nam, nhưng do cuộc rút quân đột ngột tại Lạng Sơn vào cuối tháng 3 năm 1885, chính phủ Jules Ferry bị phe đối lập (đứng đầu là Georges Clémenceau) công kích kịch liệt, dẫn đến sự sụp đổ của chính phủ này vào ngày 30.3.1885. Do đó, nước Pháp không muốn kéo dài cuộc chiến và đồng ý ký Hiệp ước Thiên Tân (ngày 9.6.1885) chấm dứt cuộc chiến tranh Pháp-Thanh. Để thực hiện hiệp ước này, hai phái đoàn đã được thành lập để tiến hành công tác phân định đường biên giới, bắt đầu bằng việc xác định ranh giới ở ải Nam Quan và vùng lân cận.

Như bác sĩ Paul Neis đã kể lại, công tác này đã gặp trắc trở ngay từ đầu, không phải do phía Pháp mà do phía nhà Thanh cố tình gây rắc rối và tìm cách lấn chiếm. Có thể kể ra hai ví dụ. Một là ngay khi phái đoàn Pháp đến ải Nam Quan để dự phiên họp chính thức đầu tiên, phía nhà Thanh đã cho quân chính quy mang cờ tràn đến chiếm các vị trí thuộc lãnh thổ Việt Nam và cho dù có sự phản đối, họ cũng không chịu rút, có lẽ muốn uy hiếp phái đoàn Pháp về mặt tâm lý. Về sau, khi phái đoàn Pháp chính thức phản đối, các nhà ngoại giao của nhà Thanh thanh minh rằng họ hoàn toàn không biết về hành động của giới chỉ huy quân sự, và hành động vừa qua có lẽ cũng chỉ nhằm để thể hiện nhiệt tình chào đón phái đoàn Pháp. Ví dụ thứ hai là việc phía nhà Thanh tìm cách dời vị trí của ải Bosa (Bochaï) để lấn chiếm bốn làng của người Việt; nếu không có sự phản đối của đại diện các làng này thì có lẽ phái đoàn Pháp cũng không biết gì về sự thực này.

Về phía Pháp, vì họ đàm phán mà không có mặt của triều đình nhà Nguyễn nên sự am hiểu về vấn đề biên giới cũng có phần hạn chế; hơn nữa chính phủ Pháp cũng không muốn kéo dài cuộc đàm phán để có thể rảnh tay trong việc ổn định tình hình ở Việt Nam. Phía Trung Quốc biết chuyện đó, nên họ cố tình dây dưa và cố tìm phần lợi về cho mình. Bác sĩ Neis đã kể như sau về đường biên giới ở cửa Trung Hoa (tức ải Nam Quan):

“Cửa Trung Hoa nằm ở đáy một khe núi (gorge) không sâu lắm, những ngọn đồi dốc đứng nghiêng bóng trên cửa ải chỉ có độ cao từ 50 đến 60m. Từ khi có hòa bình, người Hoa đã tái thiết lại cổng bằng đá chẻ và nó được nối liền với một bức tường có lỗ châu mai với những doanh trại phòng ngự bao quanh các ngọn đồi. Các ủy viên người Hoa giữ vững đòi hỏi rằng cái cổng và bức tường có lỗ châu mai không phải là đường biên giới; họ muốn có ít nhất là vài thước đất hoang nằm trước đó. Người ta đến tận nơi, và như một sự nhượng bộ lớn lao về phía chúng ta mà sau đó chúng ta không ngừng khoe khoang, chúng ta đã thỏa thuận rằng biên giới sẽ dựa theo dòng suối chảy dưới chân những  ngọn đồi của cửa Trung Hoa, cách khoảng 150 m trước cửa ấy. Đó là cái mà tôi gọi là phiên họp đầu tiên để xác định biên giới, sáu tháng sau khi chúng tôi khởi hành từ Pháp, ba tháng sau khi chúng tôi đến Đồng Đăng.”[xiv]

Trong thực tế, đường biên giới được xác định cách ải Nam Quan không phải là 150 m, mà là 100 m. Tác giả Trương Nhân Tuấn đã tìm thấy trong các thư khố ở Pháp một biên bản (procès-verbal) ký ngày 7 tháng 4 năm 1886 Đồng Đăng giữa hai phái đoàn Pháp và nhà Thanh với nội dung như sau:

Ủy ban Phân định biên giới Pháp -Hoa thừa nhận, vào ngày 7.4.1886, rằng: tính từ một điểm cách 100m phía trước Cổng Nam Quan, trên con đường từ Nam Quan đến Đồng Đăng, đường biên giới đi về phía tây lên đến đỉnh của núi đá trên đó trên đó có một cái đồn đánh dấu bằng chữ A trên tấm phác đồ kèm theo, từ cái đồn đó chạy theo đường đỉnh của dãy núi đá nhìn xuống con đường Đồng Đăng cho đến tận điểm B trên bản vẽ. Điểm B này nằm ở nơi giao nhau giữa con đường mòn với dãy núi đá, con đường mòn này tách ra khỏi đường lớn chạy từ Đồng Đăng đến Nam Quan dẫn đến cửa làng Lũng Nghiêu (Lung-Ngieu). Sau đó đường biên giới sẽ theo cùng con đường đó chạy đến cửa làng Lũng Nghiêu. Từ cửa làng đó nó chạy theo đường đỉnh của núi đá bọc quanh lòng chảo của làng Lũng Nghiêu để đi đến một điểm được đánh dấu bằng chữ C. Từ điểm C này nó chạy đến ải Kida [xv].

Ải Kida là ải nào? Để có thể hiểu rõ hơn, chúng ta có thể xem lại tấm bản đồ của đại úy Chapès năm 1894 (ảnh 10) do tác giả Trương Nhân Tuấn công bố[xvi], mà tôi xin mạn phép trích đoạn và phóng lớn như sau:

Ảnh 10: Bản đồ Chapès (trích)

Ảnh 10: Bản đồ Chapès (trích)

Chúng ta thấy đường biên giới đáng lẽ chạy ngang cửa quan (porte) đã phải lùi một quãng (100 m) về phía Việt Nam. Đường biên giới này chạy về phía tây đến đỉnh của núi đá, sau đó chạy dọc theo đường đỉnh của dãy núi đá vôi, vòng xung quanh làng Lũng Nghiêu (trong ảnh ghi là Lung-Ngau) thuộc địa phận Trung Quốc, rồi lại chạy theo đường đỉnh để đến ải Kida. Trong ảnh, ải này được ghi là Khua Da Aï (Neis phiên âm là Ki-da)[xvii]. Ngoài ải Ki-da, trong bản đồ ta còn thấy Bo Sa Aï (ải Bo Sa, chính là Bo-chaï đã kể trong bài bút ký). Hai ải này thuộc loại không cho phép thông thương, vì ĐNNTC cho biết tất cả các ải ở phía tây của ải Nam Quan đều không được phép thông thương.

Cũng trên tấm bản đồ của Chapès, chúng ta thấy đường biên giới ở phía đông chạy theo một đường gần như thẳng góc với con đường đi Đồng Đăng, nối từ cột mốc số 18 với đường phân thủy của dãy núi ở phía đông. Ở phía đông-nam của ải Nam Quan, trên một ngọn đồi nối liền với dãy núi đất, có một vị trí của phía quân Pháp có ghi chữ “Blockhaus Francais en construction” (lô-cốt của Pháp đang xây dựng). Chính nhờ ngọn đồi có lô – cốt này và những vị trí cao hơn ở hướng đông-nam mà các sĩ quan và nhà nhiếp ảnh người Pháp đã chụp được những tấm ảnh toàn cảnh về ải Nam Quan mà chúng ta thấy trên đây.

Như vậy là do Việt Nam bị mất chủ quyền, không có mặt trong đàm phán cho nên đã mất một phần đất tại ải Nam Quan do sự nhượng bộ của người Pháp đối với nhà Thanh. Đường biên giới vì thế lùi sâu vào lãnh thổ Việt Nam 100 m trước ải Nam Quan. Điều này giải thích rõ nghi vấn mà chúng ta đã nêu trên đây: tại sao ĐNNTC mô tả ải Nam Quan “có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở”, trong khi trên một số tấm bưu ảnh chụp vào thời Pháp thuộc, chúng ta thấy có đến hai cửa và hai lớp tường gạch chạy song song – ít nhất là ở phần dưới thấp, tiêu biểu là tấm ảnh sau đây do Chân Mây sưu tầm (ảnh 11):

Ảnh 11: Ngõ vào Cửa Trung Hoa và bức trường thành

Ảnh 11: Ngõ vào Cửa Trung Hoa và bức trường thành

Vào năm 1908, cuộc nổi dậy của những người thuộc phái Tôn Trung Sơn đã bắn phá và làm thiệt hại cho hai bức tường cũng như hai cửa ải ở Nam Quan. Dòng chữ in bằng tiếng Pháp và dòng chữ viết thêm trên tấm bưu ảnh này có nghĩa là: “Lối vào cổng Trung Hoa (tức ải Nam Quan) và bức trường thành: cách Lạng Sơn 15 km. Các thành lũy và trạm gác bị bắn phá bởi những người cải cách (réformistes) vào năm 1908 và đã có nhiều thiệt hại về vật chất.”

Việc đẩy lùi đường biên giới 100 m về phía Việt Nam rõ ràng là một hành động xâm phạm lãnh thổ Việt Nam. Nếu coi đó là một căn cứ pháp lý thì đó cũng chỉ là sự hợp pháp hóa một hành vi bất hợp pháp, do chỗ Việt Nam bị mất chủ quyền ở Bắc Kỳ vào tay người Pháp kể từ Hiệp ước Patenôtre (1884). Nếu như ở cả hai nước Việt Nam và Trung Quốc đều có những chính quyền thật sự đại diện cho nhân dân hai nước, và nếu hai quốc gia đều thực hiện đúng đắn chính sách về một đường biên giới hữu nghị thì phía Trung Quốc phải xóa bỏ văn bản ký kết bất bình đẳng đó và trả lại cho Việt Nam 100 m mà nhà Thanh đã lấn chiếm bất hợp pháp, chứ không thể lợi dụng điều đó để tiếp tục lấn chiếm thêm đất đai nhằm xóa bỏ hình tượng “ải Nam Quan” trong lòng người dân Việt.

Tóm lại, đường biên giới lịch sử tại Ải Nam Quan và đường biên giới pháp lý do Hiệp ước Pháp-Thanh quy định vào cuối thế kỷ 19 là hai đường biên giới hoàn toàn khác nhau. Đường biên giới lịch sử hình thành vào khoảng thập niên 30 của thế kỷ 16 nằm ngay tại vị trí của ải Nam Quan và được xác định bằng cửa ải cũng như hai bức tường xây hai bên cửa ải, đúng như ĐNNTC mô tả. Đường biên giới lịch sử đó đã tồn tại ba thế kỷ rưỡi và tạo ra hình tượng “ải Nam Quan” trong văn học và sử học Việt Nam. Nhiều thế hệ người Việt – như thế hệ chúng tôi và nhiều thế hệ trước đó, mỗi khi nhắc đến cái tên “ải Nam Quan”, đều hình dung đó là điểm khởi đầu của Tổ quốc. Còn đường biên giới pháp lý hình thành vào cuối thế kỷ 19 thật ra là hậu quả của một thứ hiệp ước bất bình đẳng được ký giữa nhà Thanh với nước Pháp, trong hoàn cảnh dân tộc ta bị mất chủ quyền.

Bất cứ người Việt yêu nước nào cũng không thể chấp nhận luận điểm “đường biên giới luôn nằm phía nam ải Nam Quan” và coi đó là chân lý, bởi vì luận điểm đó là do nhà Thanh ngụy tạo nhằm lấn chiếm biên giới. Những người cộng sản Trung Quốc tiếp tục nêu luận điểm đó là do ý đồ tiếp tục lấn chiếm biên giới theo gương các tiền nhân của họ. Về phía người Việt Nam, bất cứ ai tự nhận mình là người Việt đều phải có nghĩa vụ tìm hiểu cặn kẽ lịch sử của đất nước thông qua các tư liệu lịch sử do cha ông để lại, đối chiếu chúng với thực tế và các tư liệu khách quan khác (ví dụ: các tư liệu của người Pháp), chứ không thể vội vàng tin vào các chứng cứ ngụy tạo mà phía Trung Quốc trao cho và nhiệt tình làm người phát ngôn hay người bảo vệ luận điểm cho phía họ.

Lịch sử bao giờ cũng công bằng. Cho dù người ta cố tìm cách xuyên tạc, bóp méo lịch sử vì ý đồ cá nhân hay phe phái, lịch sử bao giờ cũng căn cứ vào sự thật, mà che giấu sự thật là điều bất khả thi; bởi vì người ta có thể lừa dối một người nào đó suốt đời hay lừa dối nhiều người trong một quãng thời gian nào đó, nhưng không ai có thể lừa dối mãi mãi cả một dân tộc!

Nhân kỷ niệm 64 m ngày ch mạng Tháng m 19.8.1945 – 19.8.2009

Đà Lạt, 4.8.2009,

© 2009 Mai Thái Lĩnh

© 2009 talawas blog

__________

Tài liệu tham khảo

1) Đào Duy Anh, Hán-Việt từ điển, Trường Thi, In lần thứ 3, Sài Gòn 1957

2) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, bản cũ (đời Tự Đức), bản dịch của Phạm Trọng Điềm do Đào Duy Anh hiệu đính, Viện Sử học, Nxb Thuận Hóa, 1997, 6 tập

3) Docteur P. Neis, “Sur les frontières du Tonkin”, in Tour du monde, Vol LIV: 1888 – 1er semestre, pp. 312-416. Bản điện tử đăng ở địa chỉ:

http://collin.francois.free.fr/Le_tour_du_monde/textes/Tonkin/Neis.htm

4) Đại Việt sử ký toàn thư, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1679), Hoàng Văn Lâu và Ngô Thế Long dịch và chú thích, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, 4 tập

5) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Viện Sử học, Nxb Giáo dục tái bản, 2001-2007, 10 tập

6) Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Viện Sử học, Nxb Giáo dục tái bản, 2007, 2 tập

7) Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Trung tâm Học liệu – Bộ Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1971, 2 tập

8)  Trương Nhân Tuấn, “Tìm hiểu về Ải Nam Quan qua một vài tài liệu”, talawas 10.10.2008,

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14450&rb=0302

9) Trương Nhân Tuấn, “Trao đổi với ông Lê Công Phụng về lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam và hai hiệp ước biên giới Việt – Trung”, talawas 21.20.2008,

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14530&rb=0302

10) Trương Nhân Tuấn, “Tìm hiểu Đại Nam Quan và giới thiệu sách Biên giới Việt-Trung 1885-2000 – Lịch sử thành hình và những tranhchấp, Đàn Chim Việt Online, 22.8.2005:

http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=493

11) Trần Gia Phụng, “Vài sử liệu về Ải Nam Quan”, Thư viện Tiếu Lùn, 2003-06-21

http://tieulun.hopto.org:25000/download.php?file=VaiSuLieuVeAiNamQuan

12) Trần Gia Phụng, “Ải Nam Quan trong lịch sử”, Thư viện Tiếu Lùn, 2006-12-25:

http://tieulun.hopto.org:25000/download.php?file=AiNamQuanTrongLichSu

13) Institut Franco-Asiatique (IFA), Bản điều trần của các sĩ Trần Đại Sỹ, 10.11.2001,

http://www.mevietnam.org/lanhtho-lanhhai/tds/tds-dieutran-a.html

14) Hà Mai Phương – Lưu Chu Thanh Tao, “Từ Cửa Nam Quan đến Ải Chi Lăng, Châu Ôn và núi Phân Mao”, Thư viện Tiếu Lùn, 2002-06-18:

http://tieulun.hopto.org:25000/download.php?file=CuaNamQuanDenAiChiLang

15) Từ Mai, “Một số sử liệu liên quan tới biên giới Việt Hoa”, Mạng Ý kiến: http://www.ykien.net/tl_tm_sulieu.html

Do trang “Mạng Ý kiến” bị phá hoại, hiện nay không thể tìm được bài này ở địa chỉ nói trên.

16) Nguyễn Đình Sài, “Biên giới Việt-Trung: Đi tìm sự thật sau những che giấu”; Sự thật về Ải Nam Quan (phần 2), Hội chuyên gia Việt Nam, 11.12.2002: http://www.vps.org

17) Chân Mây, “Tài liệu hình ảnh hiếm quý chứng minh Ải Nam Quan là của Việt Nam”, Diễn đàn Một góc phố, 18.6.2009:

http://motgocpho.com/forums/showthread.php?t=11258&goto=nextoldest


[i] ĐNNTC, sđd, tập 4, tr. 390-391

[ii] Bảo là trại lính lớn hơn đồn. Đồn là một chỗ đóng quân không có thành lũy, bảo là chỗ có đắp đất làm thành nhỏ đóng quân. Xem ĐNNTC, sđd, tập 4, tr. 406, chú thích 1.

[iii] P. Neis, sđd, ch. 3

[iv] Trần Trọng Kim, Việt Nam slược, sđd, tập I, tr. 134-137

[v] Trần Trọng Kim, sđd, tập I, tr. 220

[vi] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử  thông giám cương mục, Chính biên, XII, 14; sđd, tập 1, tr. 705

[vii] ĐNNTC, sđd, tập 4, tr. 385-386

[viii] Đại Việt Sử ký toàn thư, sđd, tập III, trang 121

[ix] Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình dư địa c , NXB Tự Do Sài Gòn, 1959, trang 451. Trích theo Nguyễn Đình Sài, bđd, http://www.vps.org

[x] ĐNNTC, sđd, tr. 366

[xi] ĐNNTC, sđd, tr. 384-385

[xii] “Hoàn thành phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc là nguyện vọng chung và lợi ích lớn của nhân dân hai nước”, báo Nhân dân 2.1.2008.

Ngày 26.2.2009, ông Vũ Dũng được Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì vì những thành tích xuất sắc trong công tác biên giới lãnh thổ và ngày hôm sau, lên đường nhận nhiệm vụ Đại sứ, Trưởng phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc ở Geneva, Thụy Sỹ (tin Vietnam Net).

[xiii] Hiệp ước này đã không được Quốc hội Pháp thông qua, và được thay thế bằng Hiệp ước Patenôtre ngày 6.6.1884, được ký tại Huế giữa Jules Patenôtre với Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật. Hiệp ước Patenôtre (còn gọi là Hòa ước Giáp Thân) lặp lại những nội dung chính của Hiệp ước Harmand, nhưng có sửa đổi một số điều khoản cho nhẹ hơn.

[xiv] Docteur P. Neis, bđd, chap. VI

[xv] Tác giả Trương Nhân Tuấn cho rằng ải Kida (Khua Da) là ải Du. Thật ra, ải Du hay ải Du Thôn là Ai Ro, nằm ở hướng đông-bắc của ải Nam Quan, còn ải Kida (Khua Da) nằm ở phía tây – tây-bắc của ải Nam Quan. Ải Du là ải được phép qua lại, trong khi ải Kida là ải cấm qua lại.

[xvi] Trương Nhân Tuấn, “Tìm hiểu về Ải Nam Quan qua một vài tài liệu”, bđd,

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14450&rb=0302

[xvii] Trong ĐNNTC có tên núi Khiếu Đá, có thể đó chính là tên mà người Pháp phiên âm thành Kida hay Khua Da. ĐNNTC, sđd, t.4, tr. 390.

Bình luận

25 Comments (bài “Mai Thái Lĩnh – Ải Nam Quan trong lịch sử (2)”)

  1. Hoàng Trường Sa viết:

    Hậu quả và trách nhiệm

    (trích phần kết luận trong bài Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc ngày 30-12-1999 – Tiến trình và nội dung các cuộc đàm phán của tác giả Nguyễn Văn Huy đăng trên Web Thông Luận, hiện không còn lưu trữ)

    Kết quả sau cùng của hiệp ước này là Việt Nam bị thiệt thòi rất nhiều. Không kể tới hậu quả thương tổn tinh thần một mọi công dân Việt Nam đếu phải gánh chịu, đất nước chúng ta đang teo hẹp lại. Giới đối lập nói Việt Nam mất từ 720 đến 769 km2, trong khi chính quyền Hà Nội nói chỉ mất 2,3 km2. Sự thật như thế nào, đến nay chưa rõ nhưng nếu quan sát kỹ mọi người sẽ thấy một số mờ ám như sau:

    – Những phần đất phía Tây Bắc trước kia nằm trong lãnh thổ Việt Nam trên hai bờ sông Nậm Là (xã Pa Nậm Cúm, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu), tả ngạn sông Chảy (từ xã Phạ Long đến chân núi Kiều Liên Tì, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai), hai bờ sông Lam (xã Thanh Thủy, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang) và tả ngạn sông Nho Quế (từ xã Chắn Pùng đến xã Cóc Pàng, tỉnh Hà Giang) nếu được xác định theo nguyên tắc 2 và 3 thì đều thuộc về Trung Quốc từ 1954 và 1979.

    – Trong tỉnh Cao Bằng, phần đất quanh khu vực thôn Pắc Bó và sông Cam (xã Trung Hòa, huyện Hà Quảng), tả ngạn sông Hắc Giang (Lo Chong) từ Pắc Mường đến Bàn Thắng), hai bờ sông Bằng Giang từ Phục Hóa đến Tà Lủng (huyện Thạch An) có lẽ đã mất về tay Trung Quốc. Trước kia Pắc Bó cách biên giới Trung Quốc từ 8 đến 10 km đường chim bay, nay thì đứng nơi này có thể nhìn sang Trung Quốc rất dễ dàng, tức chỉ còn cách từ một đến hai km. Trung Quốc xác nhận cư dân tại đây đã sinh sống từ lâu đời và là công dân Trung Quốc. Những phần đất nằm trên tả ngạn hai sông Hắc Giang và Bằng Giang theo hai công ước 1887 và 1895 thuộc về Việt Nam, nếu theo nguyên tắc 2 của bản thỏa thuận ngày 19-10-1993 thì biên giới phân chia hai nước nằm ở giữa các dòng sông.

    – Ải Nam Quan trong tỉnh Lạng Sơn, theo hai công ước Pháp – Thanh, trước kia nằm sâu trong nội địa Việt Nam hơn 50 mét, nay thì ngược lại nằm sâu trong lãnh thổ Trung Quốc 200 mét. Phần đất hẹp nằm trên tả ngạn nhánh sông Kỳ Cùng thuộc xã Chi Ma cũng thế.

    – Trong tỉnh Quảng Ninh, phần đất tranh cãi nhiều nhất là phía tả ngạn sông Tiên Yên, từ xã Hoành Mô đến Bắc Phóng Sình, có lẽ cũng đã mất nếu bị phân chia theo nguyên tắc 2 của bản thỏa thuận, là theo đường chạy giữa tuyến sông. Đó cũng là trường hợp của phần đất nằm trên tả ngạn sông Móng Cái (Đông Mô) từ thị xã Móng Cái tới xã Thắn Pùn, đối diện với thị xã Đông Hưng của Trung Quốc.

    Việc mất đất là có thật. Mất bao nhiêu và mất chỗ nào, chưa ai có thể xác định rõ. Phải xem bản đồ đính kèm hiệp ước 1999 và đến tận nơi quan sát mới có thể đưa ra số liệu chính xác. Con số 720 hay 769 km2 đất đai bị mất không xa sự thật là bao nhiêu, và cũng có thể bị mất nhiều hơn nữa nếu tính những làng xã biên giới đã bị sát nhập vào lãnh thổ Trung Quốc từ 1954 đến 1957.

    Trách nhiệm thuộc về ai ? Chắc chắn là thuộc về Đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ khi nắm quyền lãnh đạo đất nước đến nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chiếm hữu đất nước này làm của riêng cho nên đã muốn làm gì thì làm. Năm 1957 họ đã tự quyền liên lạc với Đảng Cộng Sản Trung Quốc để thảo luận về các vấn đề biên giới mà không cần thông qua Quốc Hội, trên nguyên tắc là cơ quan quyền lực cao nhất như chính hiến pháp của họ đã qui định. Năm 1992 họ đã ra chỉ thị cho các phái đoàn đàm phán nhường nhịn Trung Quốc để kịp hoàn tất hiệp ước biên giới trên đất liền trước cuối năm 1999 và hiệp định phân chia Vịnh Bắc Bộ trước cuối năm 2000.

    Chỉ vì lợi lộc riêng tư mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bán đứng quyền lợi của tổ quốc, nhượng đất và nhượng biển cho ngoại bang. Từ 1954 đến 1957, họ đã để mất nhiều vùng đất địa đầu tổ quốc ; nam 1958 nhắm mắt xác nhận lãnh hải và chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo ở Biển Đông; từ 1960 đến 1965 để mất Ải Nam Quan, địa danh lịch sử của dân tộc Việt Nam. Năm 1954 họ im lặng trước vụ chiếm đóng nhóm Đông (Amphitrite) quần đảo Hoàng Sa ; năm 1958 còn nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc trên toàn biển Đông; năm 1974 làm thinh trước vụ chiếm đóng nhóm Tây (Crescent) quần đảo Hoàng Sa và từ 1982 đã để mất phân nửa quần đảo Trường Sa về tay Trung Quốc.

    Thái độ và những hành động này của Đảng Cộng Sản Việt Nam vi phạm ngay chính Điều Một, điều đầu tiên, của bản hiến pháp mà họ đã ban hành năm 1992: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng trời và vùng biển”. Lãnh thổ Việt Nam đã không còn toàn vẹn nữa.

    Nguyễn Văn Huy

  2. Hoàng Trường Sa viết:

    Kính mời quý vị đọc bài sau đây của tác giả Nguyễn Gia Kiểng : Hận Nam Quan ngày xưa, hận Nam Quan bây giờ (Nguyễn Gia Kiểng)

  3. Dương Danh Huy viết:

    Bác Hoàng Trường Sa,

    Nhận thấy bài này viết rất hay, tôi xin mạo muội post lại bài này qua một trang Blog khác để quý bạn đọc có thể tham khảo, nhất là về mấy lời nói thêm của ông Từ Mai dưới đây mà tôi hoàn toàn ủng hộ (như khi tôi tranh biện với Bác Dương Danh Huy về lời tôi lên án ông Hồ và CĐSVN đã LÀM ẤT Ải Nam Quan)

    Để tôi nói cho rõ, kiểu kẻo Chinese whispers, mỗi lời chệch đi một chút, có ngày thành, “Bác Huy biện minh cho HCM và CSVN là không làm mất ANQ”.

    Sự thật là tôi không biết gì về ANQ, có ai nói “HCM + CSVN làm mất” hay “HCM + CSVN không làm mất” thì tôi cũng chỉ biết dựa cột mà nghe như vịt nghe sấm thôi.

    Điều tôi nói là điều bác nói có vẻ khác với điều bác Mai Thái Lĩnh nói. Tôi hiểu lõm bõm là bác MTL nói Pháp làm mất, NNVN không đòi lại, và bác nói là HCM + CSVN làm mất.

    Tôi không có tranh biện mà cũng không có gì để tranh biện.

    Nếu bác hay bác MTL nói rằng 2 bác nói cùng một điều thì tôi cũng chỉ biết dựa cột mà nghe như vịt nghe sấm thôi.

  4. Hoàng Trường Sa viết:

    Trong bài Một số sử liệu liên quan tới biên giới Việt Hoa của tác giả Từ Mai mà tôi post lại link trong ý kiến trước có đề cập đến một trí thức trong nước tên Nông Bản Nhân, người tinh thông Hán tự đã giải thích hợp lý về nghĩa của chữ “ải” trong địa danh Ải Nam Quan.
    Qua tâm thư về biên cương lãnh hải viết từ VN gửi ra hải ngoại (đăng ngày 19-4-2002 trên Web Diễn Đàn Dân Chủ) mà tôi có trích một đoạn trước đây, sau khi giải thích ý nghĩa của chữ “ải” và lên án ĐCSVN đã làm mất đất ở Ải Nam Quan, ông Nông Bản Nhân viết nguyên văn như sau, tôi xin chép lại để quý vị tham khảo:

    “Ðồng bào ở hải ngoại có lẽ không tường tận về việc việc đảng CSVN đã chuẩn bị tư tưởng trong nước vài năm trước đây cho kế hoạch phản quốc hiện nay qua nỗ lực cưỡng hiếp lịch sử. Sau khi thay đổi Hiến Pháp vào năm 1992 để xóa tên kẻ thù là ‘bá quyền Trung quốc’ và nhằm chuẩn bị cho việc bán nước, các kiện tướng sử gia được đảng ra lệnh phán xét lại sử liệu để cầu Tàu. Giáo sư sử học Trường Ðại Học Tổng Hợp Hà Nội Phan Huy Lê khai bút trong phần giới thiệu Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư do nxb Văn Hóa Thông Tin ở Hà Nội phát hành vào năm 2000 bằng cách phê bình là sử gia Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư đã sai lầm khi xem Triệu Ðà và nước Nam Việt bao gồm Bắc phần, bắc Trung phần, Quảng Ðông và Quảng Tây như một triều đại chính thống của Việt Nam. Ngoài Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, Việt Sử Tổng Luận của Lê Tung cũng xác nhận sự chính thống và biên cương của Nam Việt bao gồm cả Quảng Ðông và Quảng Tây [Lưỡng Quảng] với ước mơ chinh phục lại vùng đất đó của vua Quang Trung; tuy vậy, Phan Huy Lê vẫn phủ nhận việc này trong chiều hướng Việt Nam chưa từng có chủ quyền ở Lưỡng Quảng vốn đang nằm trong tay Trung quốc.
    Trong khi đó Trung Tâm Nghiên Cứu Hán Nôm của Viện Khoa Học Xã Hội dưới sự chỉ đạo của đảng CSVN đã tổ chức một hội nghị về nhà Mạc vào năm 2000 để rửa ba trọng tội ‘cướp ngôi, dâng đất, đầu hàng giặc’ mà lịch sử Việt Nam khắc ghi khinh tởm. Mục đích của hội nghị này là để chuẩn bị tư tưởng trong nước trước khi đảng chính thức dâng nhượng biên thổ lãnh hải cho Trung quốc như họ Mạc đã làm cách đây gần 500 năm. Ðảng CSVN lo sợ nhân dân và quân đội phản kháng hành động mãi quốc cầu vinh cho nên cố gắng một cách tuyệt vọng để chạy tội quá khứ của Mạc Ðăng Dung và từ đó rửa đại tội bán nước hiện nay của đảng. Trong hội nghị này Giáo sư Trần Khuê đưa ngòi viết đi quá xa với bút pháp tưởng chừng chặc chẽ trong nhãn quan của độc giả kém hiểu biết nhưng thực sự chứa đựng đầy mâu thuẩn lịch sử như lối lý luận đồng hóa chính sách ngoại giao yển chuyển của Hoàng Ðế Quang Trung sau chiến thắng Ðống Ða với hành động đê hèn mãi quốc cầu vinh của Mạc Ðăng Dung để kết luận ‘tôi có thể khẳng định nhà Mạc không hề mắc tội bán nước’ (Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc, nxb Ðà Nẳng 2000, tr. 44). Làm sao một sử gia khách quan có thể đồng hóa chính sách đối ngoại hòa bình trong uy thế oai hùng song song với thái độ khinh thường nhà Thanh của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ với hành động đốn mạt tự mang gông cùm, mặc đồ tù nhân để dâng đất cho Bắc Kinh của họ Mạc!
    Từ hội nghị rửa tội cho Mạc Ðăng Dung này, đảng CSVN ngụy luận nhập nhoạng rằng đại sĩ phu Nguyễn Bỉnh Khiêm mà còn phục vụ Mạc Ðăng Dung thì thành phần trí thức cũng như nhân dân, quân đội các cấp hôm nay không nên chống lại đảng khi đảng bán nước cho Trung quốc để được Bắc Kinh bảo bọc như họ Mạc ngày xưa. May mắn thay cho tiền đồ dân tộc là nhân dân và quân đội hôm nay không dễ bị đảng lừa cho nên chúng ta mới thấy phong trào phản đối đảng CSVN mãi quốc cầu vinh bùng nổ khắp nơi. Ðặc biệt hơn là chính những người vốn từng bào chữa cho Mặc Ðăng Dung trước đây như Giáo sư Trần Khuê đã nhận thấy bị đảng CSVN gian lận tri thức cho nên nhanh chóng lên tiếng phê bình hành động bán nước của đảng. Họ đã bị đảng đàn áp nhưng nhờ nỗ lực vận động can thiệp của Diễn đàn Dân Chủ và các tổ chức khác mà đảng chưa dám ra tay thủ tiêu họ.
    Ðảng CSVN đã chuẩn bị bán nước của nhân dân cho Trung quốc một cách chu đáo như kể trên và ban đầu tưởng chừng như có thể trốn tránh được vết nhơ trọng tội mãi quốc qua xảo thủ cưỡng ép tư tưởng và giấu giếm thông tin. May mắn là dân tộc có được cộng đồng kiều bào hải ngoại với phương tiện truyền thông đại chúng đã phá thủng lưới chắn thông tin và kết hợp với nhân tố trong nước nhằm lên tiếng phản đối hành động mãi quốc cầu vinh ô nhục của đảng CSVN. Chính sự phản đối toàn thế giới của người Việt hải ngoại bắt buộc đảng phải ra lệnh cho Thứ Trưởng Ngoại Giao Lê Công Phụng lên tiếng trên Internet (chứ không phải trên mặt báo chí trong nước) về vấn đề này. Tôi thực sự cảm ơn Lê Công Phụng vì đã bật mí khá nhiều chi tiết về trọng tội bán nước cũng như bề sâu ngu dốt về lịch sử và công pháp quốc tế của nhóm cầm quyền đảng CSVN. Theo Phụng, ‘cái quan trọng nhất’ của cuộc đàm phán hải thổ Việt-Hoa ‘là xác định mục tiêu của đảng, của chính phủ (CSVN)’ để ‘bám sát mục tiêu’ chứ không phải là để bảo vệ quyền lợi của nhân dân và đất đai của tổ tiên. Do đó vì quyền lợi tồn vong thực tiễn, đảng CSVN đã không ngần ngại dâng hơn 100 thước đất bề ngang ở Ải Nam Quan cũng như một nửa thác Bản Giốc vốn nằm cách biên giới ít nhất 5 cây số theo bản đồ Cao Bằng trong thời thuộc Pháp và trên 10 ngàn cây số vuông của Vịnh Bắc Bộ cho Trung cộng theo lời thố lộ của Lê Công Phụng. Khi bàn về biên giới thì đảng ra vẻ hiểu biết về Hiệp Ước Thiên Tân giữa Pháp và Trung Hoa nhưng khi nói đến lãnh hải thì đảng lý luận rằng hiệp ước này thiếu chính xác và viện dẫn Công Ước Quốc Tế về Luật Biển năm 1982 để nhường thêm cho Bắc Kinh 9% diện tích Vịnh Bắc Bộ nơi có nhiều tiềm năng dầu hoả và khí đốt…” (Nông Bản Nhân)

  5. Hoàng Trường Sa viết:

    Trong phần Tài Liệu Tham Khảo, ở mục 15, tác giả Mai Thái Lĩnh có đề cập tới bài Một số sử liệu liên quan tới biên giới Việt Hoa của Từ Mai từ Mạng Ý Kiến, và ghi thêm rằng “Do trang “Mạng Ý kiến” bị phá hoại, hiện nay không thể tìm được bài này ở địa chỉ nói trên”.
    Nhận thấy bài này viết rất hay, tôi xin mạo muội post lại bài này qua một trang Blog khác để quý bạn đọc có thể tham khảo, nhất là về mấy lời nói thêm của ông Từ Mai dưới đây mà tôi hoàn toàn ủng hộ (như khi tôi tranh biện với Bác Dương Danh Huy về lời tôi lên án ông Hồ và CĐSVN đã LÀM ẤT Ải Nam Quan):
    Một số sử liệu liên quan tới biên giới Việt Hoa
    “Mấy lời nói thêm của người viết:
    1) Khi đưa ra một dẫn chứng cho thấy chiếc cổng “Trấn Nam quan” của Trung Hoa, người viết những dòng này tuyệt không có ý phủ nhận quan niệm “đất nước chúng ta từ ải Nam quan đến mũi Cà mâu.” Quan niệm ấy chính xác: vùng “ải” Nam quan thuộc lãnh thổ nước ta.
    Theo tất cả các tự điển, “ải” có nghĩa là “chỗ đất hẹp, hiểm trở, dễ phòng thủ” (tương đương với “défilé” trong tiếng Pháp hoặc “defile,” “narrow valley or mountain pass” trong tiếng Anh). Theo chữ Hán, “ải” được viết với bộ “phụ” (núi đất, gò đống), một bộ gồm những chữ liên quan tới hình thế thiên nhiên của đất chứ không nhất thiết phải có công trình kiến trúc nhân tạo. “Ải Nam quan” là vùng đất hẹp, hiểm trở, dễ phòng thủ của Việt Nam, tiếp cận chiếc cổng Trấn Nam quan của Trung Hoa. Năm 1886, tuy người Pháp có nhường cho Trung Hoa 100 thước đất trước cổng, nhưng vùng đất hiểm trở ở phía nam Trấn Nam quan dài hơn thế rất nhiều. Việc mất trọn vùng này tới độ “đứng ở đồn canh biên giới, không còn trông thấy Nam quan đâu nữa” như hiện nay là trách nhiệm trước lịch sử của những người cầm đầu đảng Cộng sản. Ngày 19 tháng 4-2002 vừa qua, một trí thức am tường Hán tự là ông Nông Bản Nhân đã lên tiếng qua một điện thư gửi tới nhiều nhóm trao đổi ý kiến tại quốc ngoại về vấn đề này. Người viết những dòng này hoàn toàn đồng ý với ông.
    2) Trong thời Pháp thuộc, tuy biên giới trên lý thuyết cách Nam quan 100 thước, biên giới trên thực tế vẫn ngay tại Nam quan. Khoảng cách 100 thước không lớn. Liên hệ giữa Pháp với Trung Hoa trước 1945 không xấu nên người Pháp và người Việt bên này biên giới vẫn có thể tới sát Nam quan. Nhiều vị cao niên, nhất là các vị cư ngụ quanh khu vực Lạng sơn, Đồng đăng đã cho biết điều này. Ở miền Bắc trước 1979, trước khi những thế lực “vừa là đồng chí, vừa là anh em” lăn xả vào đánh giết nhau, dân ta vẫn có thể tới sát Nam quan. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cho biết: khoảng 1977, sau khi được trả tự do lần thứ nhất, chính ông đã có dịp cùng nhiều người khác đến cạnh chiếc cổng. Tình trạng dân Việt bên này biên giới không còn có thể tới Nam quan chỉ mới xảy ra gần đây, do tội của những người cầm đầu đảng Cộng sản.” (Từ Mai)

  6. Hoàng Trường Sa viết:

    Kính mời quý vị đọc bài :TRẦN KHUÊ Đối thoại về ải Nam Quan

  7. Phùng Tường Vân viết:

    “Nam là nam đông là đông
    phải chăng”ăn ốc” nên ông”nói mò”!
    Thưa bạn Hoàng Trường Sa,
    Hai câu vè trên là tôi “tự vẽ” tôi về vụ cho Đông Quan cũng có thể là Nam Quan đấy ạ. Bạn nói đúng và tôi đã hoàn toàn tầm bậy khi cho nội dung hai vở kịch Hận Nam Quan của Hoàng Cầm và Nguyễn Trãi ở Đông Quan của Nguyễn Đình Thi là có cùng một khung lịch sử, chắc chắn đã có nhiều bạn nhận ra rồi và chưa kịp chỉ giáo đó thôi.

  8. Hoàng Trường Sa viết:

    Chào bạn Phùng Tường Vân,

    Cám ơn ý kiến của bạn về tên Đông Quan và Nam Quan trong vở kịch Hận Nam Quan của Nguyễn Đình Thi. Tôi chưa được xem vở kịch này nên không rõ nội dung. Tuy nhiên về địa danh ĐÔNG QUAN, thì theo chỗ tôi được biết, nó chính là tên cũ của Thăng Long (tức Hà Nội ngày nay) chứ có lẽ không phải là tên khác của Nam Quan (tức Ải Nam Quan).

    Trong cuốn Việt sử đại cương (Lập Quốc – 1426), Nxb Non Nước, Toronto, 2004 của sử gia Trần Gia Phụng, trên trang 327 ông TGP viết về việc nghĩa quân Lam Sơn Bắc tiến có đoạn nguyên văn như sau: “Lê Lợi cho rằng quân Minh tăng viện để giữ Thanh Hoa, Nghệ An, nên chắc chắn quân Minh yếu thế ở vùng Đông Quan (Thăng Long). Tháng 8 năm bính ngọ (1426), nghĩa quân quyết định mở đường bắc tiến, …”. Như vậy, Đông Quan chính là tên cũ của Thăng Long. Tôi cũng có check và thấy bài Hội thề Đông Quan trong đó cũng có ghi Đông Quan là một tên khác của Hà Nội.

  9. Phùng Tường Vân viết:

    VỀ SỰ TRONG SÁNG

    Tôi còn nhớ có lần phê bình bản dịch Mỹ học của một học giả trong nước, Phạm Thị Hoài có kết luận đại khái rằng: chẳng thà đi học Đức ngữ rồi đọc thẳng Hégel còn đỡ khốn khổ hơn phải vừa đọc vừa “đoán điềm giải mộng” bản Việt dịch của dịch giả nọ. Ông Dương Danh Huy hình như có lần nói rằng ông viết tiếng Anh dễ dàng hơn là sử dụng Việt ngữ tôi nghĩ là ông nói đúng, đọc câu văn tiếng Việt của ông thật khốn khổ, cũng đã có lần tôi nói các bài viết của ông có thể có đủ các tính chất của một nhà chuyên môn trình bầy về những vấn đề học thuật nhưng chỉ thiếu tính chất trong sáng. Ông Trần Văn Tích cũng đã có lần phàn nàn rằng đọc ông Huy phải động não hơi nhiều không phải vì sự khó khăn của vấn đề mà chính là vì phải đánh vật với cấu trúc cú pháp tiếng Việt của tác giả. Nhắc đến trường hợp bà Hoài ở trên là ý tôi cũng muốn nói phải chi cùng những vấn đề ấy giá ông viết tiếng Anh cho mình đọc thì “chẳng cũng sướng sao!”

    Cũng xin được phép thưa thêm rằng tôi vốn được học và huấn luyện để làm một nghề mà ngay khi vào nghề tổ đã dậy rằng “nói bay viết còn”, viết sai một chữ là khốn khổ với đối phương cho nên cũng không dám nói rằng mình không có chút chút méo mó nghề nghiệp chăng.

  10. Dương Danh Huy viết:

    Bác Hoàng Trường Sa,

    Do đó, khi tôi chỉ trích ông HCM và ĐCSVN đã làm mất Ải Nam Quan là tôi đã nói y chang như Bác Huy rằng “Ông HCM và ĐCSVN phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử là đã LÀM MẤT Ải Nam Quan”

    Câu trên cũng hơi có vấn đề nếu chúng ta tôn trọng sự thật và sự trong sáng.

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...