Nguyễn Mai Sơn – “Cách cho hơn của cho”
03/09/2009 | 1:10 sáng | 52 phản hồi
Chuyên mục: Lịch sử, Ngôn ngữ - Dịch thuật
Thẻ: Chữ Nôm > Chữ Quốc ngữ
Đọc “Một thời mù chữ” của ông Trần Ngọc Cư, đến cuối bài tôi mới rõ hiện trạng “mù chữ” này có “tính lịch sử của đại khối dân tộc”. Và may mắn cho tôi là được đọc bài viết của ông Trần Ngọc Cư bằng chữ Quốc ngữ (Latin hoá), chứ không phải chữ Hán hay chữ Nôm. Vì thế có thể nói rằng những ai đọc được bài viết của ông Trần Ngọc Cư như tôi thì tối thiểu đều không “mù chữ” Quốc ngữ. Có điều dù không “mù chữ” Quốc ngữ thì ai cũng nhận thấy bài viết của ông Trần Ngọc Cư tiếng Hán – Việt vẫn chiếm rất nhiều trong cái vỏ chữ Quốc ngữ kia.
Lạ quá, hiện tại “Hán – Việt – Latin” vẫn “đề huề” trong ngôn ngữ và chữ viết hàng ngày của dân ta. Nếu chỉ đề cao một trong ba cái sự “đề huề” này thì sẽ không công bằng. Nhưng nó đã có “tính lịch sử” rồi thì còn biết làm sao được nữa, nhất là khi dân tộc ta ngay từ đầu đã không có một thứ chữ viết ổn định đủ khả năng để đề kháng ngoại lai. Ngay cả khi mượn vào hình thức chữ Hán để sáng chế ra chữ Nôm (khiến người Trung Hoa đọc cũng không hiểu) thì cũng vẫn bị mang tiếng là vay mượn. Ai chê trách người nghèo mang công mắc nợ nhỉ?
Nhưng áo rách còn giữ được lề, người Việt đã không đánh mất luôn tiếng nói của mình. Không có chữ viết thì đi vay mượn, mất chữ viết thì có thể học chữ viết khác, nhưng mất tiếng mà học tiếng khác thì trở thành người ngoại quốc mất rồi. Dân tộc ta tiếp thu nguồn Hán học cả hàng nghìn năm, và chính vì cái tiếng nói không mất nên không bị đồng hoá. Nhưng cái “tính lịch sử” nó cứ lặp lại như thế thì biết làm sao, bởi cả chữ Nôm và chữ Quốc ngữ đều là vay mượn để ký âm tiếng Việt cả.
Cụ Hoàng Xuân Hãn đã viết về Hội Truyền bá Quốc ngữ như sau: “Lần đầu nghe nói đến tên hội này, tôi lấy làm ngạc nhiên, rồi đáp: ‘Không ai mời tôi cả. Vả chăng ngày nay ai mà chẳng học Quốc ngữ; thì lập hội làm gì? Hoặc Quốc ngữ đây nghĩa là tiếng ta. Tiếng và văn Việt ngữ? Lập hội với mục đích ấy cũng tốt, vì ngày nay ai cũng muốn nói tiếng Tây cho thoáng, chứ không hiểu đúng tiếng ta, đến đỗi hạng lầm hiểu rằng ‘yếu điểm’ là điểm yếu, ngày càng nhiều’. Cụ để tôi nói dài mới ngắt lời, rồi đáp: ‘Truyền bá Quốc ngữ là truyền bá cách viết tiếng ta bằng những chữ la-tinh A, B, C” (“Nhớ lại hội Truyền bá Quốc ngữ…” – Báo Đoàn Kết tháng 9-10-1988).
Mục đích sử dụng chữ Quốc ngữ của những người Việt Nam yêu nước và mục đích của chính quyền Pháp là không giống nhau. Giám mục Puginier, từng nói: “Sau khi đạo Thiên Chúa được thiết lập, tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và thay thế dần dần, ban đầu bằng tiếng An Nam, rồi bằng tiếng Pháp, như là phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông” (Thư giám mục Purinier gửi Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa, 6-5-1887, Thư khố Pháp quốc Hải ngoại A00 (30) hay N.F 541). Còn ở Nam Kỳ, ngày 6/4/1878, Đô đốc Hải quân – Thống soái Nam kỳ Louis Lafont ra nghị định số 82 bắt buộc các công văn, thư từ hành chính phải viết bằng chữ Quốc ngữ thay vì chữ Hán hay chữ Nôm. Rất may các cụ nhận ra cái việc “nói tiếng Tây cho thoáng” mà “không hiểu đúng tiếng ta” là việc đồng hoá nguy hại, nên truyền bá chữ Quốc ngữ như một đòn “gậy ông đập lưng ông” đánh vào mưu đồ đó.
Trong lá thư đề ngày 12/01/1882, từ Chợ Quán “Kính gởi các vị trong Hội đồng Thuộc địa”, Trương Vĩnh Ký viết rõ hơn về mục đích các tác phẩm của ông:
“Thưa quí vị,
Tôi hân hạnh gởi đến quí vị một bản trình bày từng tác phẩm xuất bản mà tôi đã biên soạn. Làm như vậy, ý định của tôi là để chứng tỏ với quý vị rằng trong 13 cuốn sách tôi đã xuất bản cho đến nay do tiền tôi bỏ ra, tôi chưa bao giờ đi lệch mục tiêu chính và trực tiếp mà tôi đã trình bày trước đây trong các thư tôi viết vừa cho nhà cầm quyền, vừa cho Ủy ban Phụ trách Cứu xét những tác phẩm của tôi. Mục tiêu đó là sự biến đổi và đồng hóa dân tộc An Nam” (Nguyễn Sinh Duy, Cuốn sổ bình sinh của Trương Vĩnh Ký, NXB Nam Sơn, Sài Gòn, tháng 3,1975).
Khi tôi đề cập việc cần nhìn nhận vấn đề “mù chữ” trong hiện tượng “đồng văn” ở phương Đông cũng như phương Tây, thì ông Trần Ngọc Cư đã phản hồi rằng: “Ngữ hệ Hán có cánh cửa cơ hội là ngàn năm lịch sử để hình thành một loại chữ viết kí âm tiếng nói của người Việt, nhưng cao điểm cũng chỉ tạo ra được chữ Nôm, một thứ chữ viết rối rắm. Vua Quang Trung với ‘Sùng Chính viện’ chỉ là một loé chớp trong đêm dài nô lệ chữ Hán”.
Ông Trần Ngọc Cư đã nói như thánh phán khi một sự việc mà nguyên nhân và kết quả đã bày ra trước mặt mọi người để có thể so sánh sự tiện lợi giữa việc viết bằng chữ Nôm và viết bằng chữ Quốc ngữ (trong một ý thức, tâm lý và quán tính sử dụng đã trở nên nhuần nhuyễn). Nhưng nếu người Trung Quốc, Nhật Bản (trừ Hàn Quốc ra vì chữ viết có vẻ giản tiện hơn) cũng có “tinh thần so sánh” như trên thì chắc họ cũng sẽ bỏ quách cái chữ họ đang dùng đi cho khoẻ vì đỡ “rối rắm” hơn chăng? Vâng, nếu có thể so sánh (dù rất buồn cười) thì một đứa trẻ ở Việt Nam có thể học chữ Quốc ngữ trong một thời gian ngắn (loại trừ một số học sinh lên lớp 5 rồi mà vẫn chưa biết đọc như báo chí từng đưa tin), nhưng với một đứa trẻ Trung Quốc, cũng không phải vì ít thuận tiện hơn trong việc viết chữ Hán (thay bằng Latin) mà bảo rằng nó sẽ học không đúng cấp (tức mất nhiều thời gian để học lớp 1. lớp 2…), ít kiến thức hay ít thông minh hơn…
Khi chữ Nôm được đưa vào trong thi cử, chắc chắn đó không phải là một “thách đố” mà chứng tỏ việc học chữ Nôm đã trở nên phổ biến trong xã hội, có tác động nhiều đến tầng lớp bình dân. Năm 1791 vua Quang Trung cho lập “Sùng Chính viện” để dịch kinh sách từ Hán sang Nôm. Dĩ nhiên dịch sang Nôm là diễn đạt bằng ngữ pháp của người Việt. Còn thì chữ Nôm cũng chỉ chiếm khoảng 20% trong cái kho từ vựng chữ Hán. Vì thế việc viết khoảng 20% chữ Nôm cũng không phải công việc khó tới mức không làm được khi lịch sử phát triển của nó đã trải dài trước đó cả vài trăm năm. Điều đáng tiếc là năm 1791 vua Quang Trung cho lập Sùng Chính viện thì năm 1792 ông qua đời.
Nếu nói về thành công của văn xuôi chữ Nôm, trước đó phải kể đến những tác phẩm kinh sách của Minh Châu Hương Hải (1628-1715) với lối hành văn tiếng Việt không khác với chúng ta ngày nay. Trong Giải tâm kinh ngũ chỉ, Minh Châu Hương Hải viết bằng chữ Nôm: “Nương lời trong kinh, dịch rằng Thích Ca Thế tôn thuở trú trong non Linh Thứu, vào toạ thiền, nhập quang minh đại định. Khi ấy, Xá Lợi Tử bạch Quán Tự Tại Bồ tát rằng: ‘Dầu có chúng sinh tu hành, muốn học cửa pháp Bát nhã thần thông vi diệu, rằng làm sao cho hiểu thấu được’. Quán Tự Tại Bồ tát bèn dạy bảo Xá Lợi Tử rằng: ‘Thích Ca Thế tôn diễn thuyết đại bộ Bát nhã sáu trăm quyển. Một Bát nhã tâm kinh này lấy làm chí tinh, chí yếu, là mẹ đại bộ chư kinh, truyền sang Đông độ, đã năm lần dịch. Đến đời Đường, Huyền Tráng pháp sư lại vâng chiếu dịch truyền để Đông độ lấy làm chính giáo thịnh hành…”. Xin tìm đọc cuốn Toàn tập Minh Châu Hương Hải, NXB TPHCM, 2000 của Lê Mạnh Thát.
Như vậy, cái “loé chớp trong đêm dài nô lệ chữ Hán” mà ông Trần Ngọc Cư hùng hồn nói chẳng qua khi chúng ta đã không còn cơ hội để đặt giả thiết nếu vua Quang Trung không mất sớm và nếu người Pháp không xâm lược Việt Nam thì… nữa. Và khi chúng ta vẫn đang sử dụng “Hán – Việt – Latin” một cách “đề huề” trong ngôn ngữ và chữ viết (vỏ ngữ âm) như vậy mà ông Trần Ngọc Cư sử dụng từ “nô lệ” cho riêng chữ Hán thì thật thiếu công bằng. Khoảng gần 80% từ Hán – Việt mà chúng ta đang sử dụng để ít nhiều có thể hiểu nhau qua diễn đạt tư tưởng, tình cảm (bằng cái vỏ ngữ âm Latin) có nguồn gốc từ đâu? Không biết hơn 1000 năm sau, thời thế đổi thay (dĩ nhiên không ai mong dân tộc ta bị thế lực nào đó đồng hóa), con cháu chúng ta có bảo chúng ta “nô lệ chữ Quốc ngữ” hay không?
Sự vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn của chữ Nôm chắc không phải để “mua vui” như Nguyễn Du nói ở cuối Truyện Kiều. Vì rõ ràng cái chữ Nôm đó đã diễn tả được tiếng nói của dân tộc trong một giai đoạn phát triển ngôn ngữ mà chữ Hán không thể thay thế được. Vì thế từ Trần Nhân Tông đến Lê Thánh Tông, Quang Trung, cùng với hàng loạt các danh dân, trí thức mà chúng ta tự hào nói đến, họ đều là những người thông Hán và giỏi Nôm cả. Các vị ấy đều đã mất công mất sức thâm nhập vào chữ Nôm (“rối rắm”) để mang đến cho dân tộc những ngôn ngữ gần với đời sống hơn.
Không ai phủ nhận lợi ích của chữ Quốc ngữ trong việc dùng nó để chống lại Pháp và sự thuận tiện của nó hiện nay. Nhưng cần có một cái nhìn công bằng hơn với chữ Hán – Nôm, đặc biệt là chữ Nôm. Vì muốn hiểu tư tưởng của tiền nhân không chỉ có sự nỗ lực học tập mà còn rất cần có tấm lòng nữa. Trong sự “lựa chọn” mà không thể còn lựa chọn nào khác (“thông minh”) hơn thì đó chính là “tính lịch sử” (đã rồi) như ông Trần Ngọc Cư đã nói về sự “lựa chọn”. Còn dĩ nhiên, chữ Quốc ngữ (kể cả trước đó là chữ Hán) làm sao có thể lấy đi cơ hội thành công của chữ Nôm được. Chỉ có điều cái chính quyền áp đặt việc thủ tiêu nó mới lấy đi cơ hội thành công của nó mà thôi. Tháng 5/1906, dụ của vua Thành Thái về tổ chức giáo dục hệ 3 cấp cho bản xứ được một nghị định của Paul Beau phê chuẩn: ở cấp I, học sinh học cả chữ Hán và chữ Quốc ngữ; lên cấp II học chữ Hán, chữ Quốc ngữ và một phần tiếng Pháp không bắt buộc; đến cấp III thì cả 3 thứ chữ đều bắt buộc học như nhau. Một “chính sách” xuyên suốt và có hệ thống như thế thì làm gì còn cơ hội cho chữ Nôm (Nôm na là cha mách qué) thành công.
Trong ý kiến trước, tôi nói: “khi “mù” đã có tính “lịch sử” rồi thì… trách ai, ai trách bây giờ trách ai?”. Nhưng qua ý kiến ngắn phản hồi của ông Trần Ngọc Cư thì tôi đã hiểu một vài phần về cái sự “mù chữ” ấy. Tôi cũng xin nói thêm rằng, trong cái hiện tượng “đồng văn”, dân tộc ta đã từng được “ban cho” chữ viết (nói như ai đó), nhưng sự tỉnh táo của người Việt là đã biết vận dụng sự tiện ích của nó nhằm bảo vệ tiếng nói, non sông của mình. Nên dù có phải nói lời cảm ơn (hay gượng ép phải cảm ơn vì từng bị “đấm đá”) thì trước khi nhận một “món quà” người Việt cũng hiểu được thế nào là “cách cho hơn của cho”.
© 2009 Nguyễn Mai Sơn
© 2009 talawas blog


Về việc ai bán Phan Bội Châu, kính mời quý vị tham khảo bài sau của tác giả Tú Gàn:
Chuyện bán Phan Bội Châu (Tú Gàn)
*PHAN BỘI CHÂU, NẠN NHÂN GIỮA HAI THẾ LỰC:
(Trích bài HCM Bán Đứng Phan Bội Châu Cho Thực Dân Pháp Trên Đất Trung Hoa Năm 1925 của tác giả Mường Giang)
“Trong tác phẩm tự phán (PBCNB), cụ Phan cho rằng mình đã bị Nguyễn thượng Huyền bán đứng cho Pháp vào ngày 1-7-1925, vì chỉ có y mới biết rõ lộ trình của Ông mà thôi. Nhưng sự thật thì không phải vậy, năm 1928 lần đầu tiên Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân, trong tài liệu ‘ai bán đứng cụ Phan bội Châu?’ đã chỉ đích danh Lý Thụy (Hồ Chí Minh) đã bán Cụ Phan cho Pháp. Năm 1948 Đào trinh Nhất, trong loạt bài đăng trên báo Cải Tạo, cũng viết rằng, chính Lý Thụy là thủ phạm bán đứng cụ Phan. Ngoài ra Bùi Đình trong vụ án PBC và Bùi văn Hội (ba nhà chí sĩ họ Phan) đã chứng minh chính Lý Thụy và Lâm Đức Thụ đã bán Cụ Phan cho Pháp.
Mới đây vào năm 1972, Sử gia kiêm học giả Đài Loan là Tưởng Vĩnh Kính, qua tác phẩm ‘Hồ chí Minh tại Trung quốc’ cũng xác nhận chính Lâm đức Thụ (đại diện của Phan bội Châu tại Hương Cảng) và Nguyễn Ái Quốc (Lý Thụy-Hồ chí Minh), đã bán cụ Phan cho Pháp, rồi cả hai chia đôi số tiền thưởng là 100.000 quan bây giờ. Sau đó, Thụ và Quốc còn hợp tác nhiều năm nữa để bán những đồng chí của cụ Phan cho Pháp.
Theo các học giả trong cũng như ngoài nước, thì việc Phan bội Châu bị bán đứng, một phần do số tiền thưởng cao, nhưng trọng điểm chính là chính trị, nên Lý Thụy, một cán bộ đệ tam cọng sản quốc tế từ Liên Xô mới tới Trung Hoa, đã ra tay nhanh chóng loại trừ Cụ Phan, một lãnh tụ Quốc Gia uy tín nhất lúc bấy giờ trong cuộc chống Pháp tại hải ngoại, hầu đoạt vị trí lãnh đạo cũng như tổ chức, bổ sung cho lực lượng cọng sản mới phôi thai tại VN.
Còn một sự kiện quan trọng khác, do chính Cụ Phan viết trong tự phán, đó là việc Ông đã tiếp xúc với hai nhân viên cao cấp của Liên Xô tại Tòa đại sứ nước này ở Bắc Kinh là Grigorij và Voitinsky, nhờ giúp đỡ đưa du học sinh VN sang du học tại LX. Cuối cùng mọi sự không thành vì Phan Bội Châu không chấp nhận điều kiện theo cọng sản. Và cũng do việc này mà Ông đã phải gánh lấy hậu quả với Liên Xô, là xài không được thì phải gạt bỏ không để cho kẻ khác xài, và Lý Thụy được giao trọng trách thi hành bản án trên. Ở đây, thực dân Pháp và cộng sản quốc tế đã gặp nhau trong cùng mục đích triệt hạ Phan Bội Châu. Sau năm 1954, Nguyễn thượng Huyền trở lại VN và di cư vào nam, đã viết bài minh oan cho mình trên tờ bách khoa số 73, xuất bản tại Sài Gòn năm 1960.” (Mường Giang)
Ai Bán Ðứng Phan Bội Châu ?
Thanh Tùng
(TudoVIS 3/9/2005)
Trong quyển “Victory at Any Cost – The Genius of Viet Nam’s Gen. Vo Nguyen Giap” của Cecil B. Currey (xb. năm 1997), tác giả có tiết lộ :
“Tháng Sáu năm 1925, vì 100.000 đồng bạc Ðông Dương, Hồ giao nộp Châu cho các mật viên của Phòng Nhì Pháp, tên gọi chính thức đầy đủ là ‘Phòng Công An Trung Ương của Toàn Quyền Ðông Dương’ – vắn tắt là cảnh sát Pháp – , thế là Châu bị bắt trong khi ông đang đi ngang qua Tô Giới Anh ở Thượng Hải. Sau đó, Lý Thụy (bí danh của HCM) biện minh cho rằng hành động của mình là đúng. Hành động đó là để khơi dậy mối căm thù Pháp của nhân dân Việt Nam, điều cần thiết cho công cuộc cách mạng và số tiền đó đã giúp Hồ tài trợ những hoạt động của ông ở Quảng Ðông”.
Cũng xin nhắc lại là vào năm 1925, nghe theo lời của Lý Thụy và Lâm Ðức Thụ, Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức “Toàn Thế Giới Bị Áp Bức Nhược Tiểu Dân Tộc”. Ấy thế mà, vì số tiền chẳng là bao và vì quyền lợi chính trị cá nhân, Hồ Chí Minh đã nhẫn tâm bán rẻ đồng chí của mình cho công an Pháp.
Thế là, cảnh sát Tây bắt Phan Bội Châu tại Thượng Hải rồi giải về Hương Cảng và về Hải Phòng, sau cùng tống giam Phan Bội Châu vào nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội. Muốn cho dư luận khỏi xôn xao quá nhiều về tin nhà cách mạng Phan Bội Châu bị bắt, thực dân Pháp áp đặt cho ông cái tên tù quốc phạm Trần Văn Ðức.
Hội Ðồng Ðề Hình nhóm xử ngày 23 tháng Mười Một năm 1925, dưới quyền chủ tọa của Giám Ðốc Bride, Ðốc Lý Hà Nội là Dupuy và Ðại Úy Bellie làm phụ thẩm, Boyer làm bồi thẩm và Arnoux Patrich làm lục sự. Hội Ðồng Ðề Hình cử luật sư Bona ở Hà Nội và luật sư Larre ở Hải Phòng biện hộ cho Phan Bội Châu.
Trước những lời lẽ buộc tội gắt gao của Hội Ðồng Ðề Hình, chẳng cần sự biện luận của các luật sư do nhà nước Tây chỉ định, Phan Bội Châu cứ bình tỉnh và mạnh dạn trả lời, ung dung và chậm rãi đối đáp một cách rõ ràng khúc chiết. Ðể binh vực cho hành động hợp lý và quang minh chính đại của mình, ông đã trình bày như sau :
“Nếu tôi có tội thì chỉ có bốn tội như sau :
1.- Chính phủ sang bảo hộ nước Nam, không có ai phản đối mà mình tôi phản đối, muốn cho nước nhà độc lập.
2.- Nước Nam xưa nay là chính thể chuyên chế mà tôi muốn nước Nam thành một dân quốc.
3.- Nhà nước cấm không cho người đi du học ngoại quốc mà tôi trốn đi và rủ người đi ngoại quốc.
4.- Tôi trước thư lập ngôn để cổ động dân Nam thức dậy, yêu cầu chính phủ cải lương chính trị làm hết cái thiên chức khai hóa của mình.”
Thật là chẳng khác nào một gáo nước lạnh tạt vào mặt những quan Tây ngồi trên ghế xử tội và vào lương tri của bọn thực dân đang mê ngủ, miệng nói nào là công lý, nào là công trình khai hóa và truyền bá văn minh, nhưng cứ thẳng tay dùng bạo lực. Thế nhưng, lời lẽ và lý luận của kẻ có tội thì cũng chỉ là đàn gẩy tai trâu nên Hội Ðồng Ðề Hình cũng lên án xử tử bị can. Những lời “biện hộ và bênh vực” của các quan trạng “quốc doanh” cũng chỉ là hình thức.
Sau khi được tin Phan Bội Châu bị án tử hình, phong trào vận động ân xá cho ông nổi lên rầm rộ. Hội Thanh Niên Việt Nam in ra hàng nghìn lá đơn gửi đến các cơ quan của chính phủ Pháp, các tòa đại sứ những nước lớn tại Paris, các tổ chức để yêu cầu can thiệp cho ông Phan Bội Châu. Việt kiều ở Pháp họp đại hội bênh vực Phan Bội Châu, gởi điện tín đến những cơ quan có liên hệ đến vụ án Phan Bội Châu để kháng nghị hoặc yêu cầu ngăn chận bàn tay độc ác của thực dân Pháp.
Hơn một trăm bà lão quỳ mọp ở Phố Hàng Ðường khi Toàn Quyền Varenne đi qua để xin tha Phan Bội Châu. Sinh viên trường Cao Ðẳng Hà Nội, học sinh Trường Bưởi và các trường tiểu học cũng như nữ sinh Trường Ðồng Khánh ở Huế, báo chí và các cơ quan ngôn luận trong nước đều đồng thanh tranh đấu quyết liệt để xin ân xá cho Phan Bội Châu.
Trước phong trào phản kháng mạnh mẽ và trước niềm công phẩn của nhân dân Việt Nam, giới cai trị ở Ðông Dương đâm ra bối rối, không biết phải xử sự như thế nào đành phải thỉnh thị ý kiến của mẫu quốc. Ngày 24 tháng Chạp năm 1925, được Paris bật đèn xanh, Toàn Quyền Varenne ra lệnh ân xá cho nhà chí sĩ yêu nước.
Với âm mưu mua chuộc Phan Bội Châu nên ngay sau khi phóng thích, Varenne mời nhà cách mạng nghỉ đêm tại phủ toàn quyền. Varenne đề nghị Phan Bội Châu giữ chức học bộ thượng thư hoặc làm cố vấn riêng cho toàn quyền. Nhưng Phan Bội Châu đều từ chối cả hai chức vụ mà chỉ xin nhận cây gậy mà Toàn Quyền Varenne tặng. Sau đó nhà nước thuộc địa đưa Phan Bội Châu về an trí ở miền sông Hương núi Ngự, gọi là để di dưỡng tuổi già, nhưng trên thực tế là bị giam lỏng.
Ngay khi nhà cách mạng Phan Bội Châu được ân xá, phong trào thanh niên trong nước hăng hái hoạt động. Việt Nam Quốc Dân Ðảng (VNQDÐ) tích cực hoạt động kháng Pháp ở miền Bắc, gây nên những cuộc khởi nghĩa đẫm máu ở Yên Báy, Lâm Thảo, Vĩnh Bảo.
Bị giam lỏng, Phan Bội Châu rất bực bội nhưng không vì hoàn cảnh mà ông chịu ngồi yên. Ông âm thầm nhận lãnh chức vụ cố vấn cho VNQDÐ. Ðã có lần VNQDÐ định đưa ông trốn thoát ra ngoại quốc, nhưng không thành vì bị Tây canh chừng quá kỹ.
Với tinh thần cách mạng vì dân vì nước nên Phan Bội Châu có một quan niệm sống khác thường :
Sống tủi làm chi đứng chật trời,
Sống nhìn thế giới, hổ chăng ai ?
Sống làm nô lệ cho người khiến,
Sống chịu ngu si để chúng cười.
Thậm chí khi ngồi tù, ông vẫn bình tĩnh với quan niệm làm cách mạng dưới thời Tây thì phải chấp nhận cảnh tù tội. Lao lý là một lò đào tạo và rèn đúc tinh thần cho những ai biết nắm lấy thời cơ để làm việc lớn.
Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu,
Chạy mõi chân thì hãy ở tù,
Ðã khách không nhà trong bốn cõi,
Lại người có tội giữa năm châu.
Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế,
Mở miệng cười tan cuộc oán thù.
Thân nọ vẫn còn, còn sự nghiệp,
Dù bao nguy hiểm sá gì đâu.
(Ngồi tù Quảng Châu)
Một nhà cách mạng có ý chí to tác và quyết liệt như vậy, Hồ Chí Minh sợ là lẽ đương nhiên. Cho nên, họ Hồ không ngần ngại gì mà không triệt tiêu để rộng đường và rảnh tay đem cộng sản chủ nghĩa áp đặt lên nhân dân Việt Nam. Ðối với họ Hồ, cứ không phải cộng sản là thù địch. Nhưng đạp lên thân xác và sự nghiệp cách mạng của một “đồng chí” để mà tiến thân – với số bạc 100.000 tiền Ðông Dương – như thế là quá tầm thường. Ðó là chưa kể tội thông đồng với giặc Tây, làm tên điềm chỉ viên để thực dân bắt nhốt một con người cũng vì dân vì nước như mình. Hành động của một tên chỉ điểm như vậy thì nên coi là có công hay có tội ? Có thể là cả hai. Công đối với thực dân Pháp mà Hồ Chí Minh chủ trương đánh đuổi ra khỏi đất nước Việt Nam. Tội đối với công cuộc đấu tranh giành độc lập giải phóng quê hương.
Một chuyện đáng để làm gương cho những ai còn có tham vọng hòa hợp hòa giải hay đem tri thức về hợp tác với cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, con đẻ ngoài hôn thú của Hồ Chí Minh.
Thanh Tùng
(Theo Web TudoVIS)
Xin mời các bạn đọc bài nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký do tiến sĩ sử học Nguyên Vũ Vũ Ngự Chiêu chấp bút. Bài này được in trong cuốn Ngàn Năm Soi Mặt do nhà xuất bản Văn Hóa tại Houston đưa đến tay độc giả năm 2002 và dài trên một trăm trang.
Trong đó, Vũ Ngự Chiêu có đề cập đến tài liệu văn khố chứng minh Trương Vĩnh Ký còn có cái tên là Petrus Key trước khi được đổi thành Petrus Ký. Tài liệu này đã được in lại trong cuốn Hồ Chí Minh: Con người và huyền thoại 1892-1924, cũng do Vũ Ngự Chiêu, dưới bút danh Chính Đạo, viết và được xuất bản năm 1997. Vậy nên xin đưa luôn bức phóng ảnh của tài liệu này lên mạng để bạn đọc bốn phương khỏi phải tìm kiếm mất công.
Các bạn chỉ cần bấm vào cái tên “Trần Lâm” hiển thị ở trên thì có thể đọc được những sử liệu vừa được nhắc đến.
Bác Hòa Nguyễn chỉ lo đoán già đoán non, còn bằng chứng tài liệu cụ thể tôi đã đưa ra thì không chịu đọc. Miễn cãi tiếp vô ích.
Ông PQT cho lời đồn đãi Lý Thụy giúp Pháp bắt Phan Bội Châu “hoàn toàn không có bằng chứng”, thử phản biện.
Thời đó họ hoạt động bí mật, số người biết chuyện (âm mưu) này rất ít, vì có thể là chủ định của một hoặc chỉ hai người trong cuộc. Ngày nay, tại Sài Gòn một tai nạn gây chết người có thể bị nghi là do chủ mưu ám sát, nhưng rất khó có chứng cớ. “Ném đá giấu tay”, hay “mượn gió bẻ măng”…, là trò trẻ trong các thủ thuật chính trị âm mưu, nhất là vào thời đó. Thử hỏi: ai biết rõ PBC sẽ tới nơi bị bắt, và ai có lợi nhất trong vụ Phan Bội Châu bị bắt. Có hai người:
1/ Lâm Đức Thụ: mời PBC đền, và có thể vì tiền thưởng của Pháp.
2/ Lý Thụy: biết chuyện PBC đến, và sau đó nắm hết hết người của tổ chức Tâm Tâm xã do PBC tổ chức.
Tiền thưởng của Pháp là tiền dấy máu, dơ bẩn, nhưng nếu sử dụng đúng chỗ (vào lúc cần, như cho hoạt động CM, hay cho chính trị nói chung) thì cũng có lợi.
Chuyện PBC bị bắt tháng 7 năm 1925 dễ nghi là do nội gián. Nhưng sau đó 4 năm, đến năm 1929, Lâm Đức Thụ vẫn hoạt động chung với Hồ Tùng Mậu, tức vẫn được tin dùng (cả hai ngã theo Lý Thụy từ 1925), hay ít ra LĐT không bị ai nghi ngờ. Tài liệu cho biết cũng trong năm 1925, Lâm Đức Thụ làm mai mối cho Lý Thụy với Tăng Tuyết Minh, và nếu là đúng, chứng tỏ hai người rất thân thiết, rất tin cậy nhau.
Về sau, mãi đến năm 1947 khi về nước, Lâm Đức Thụ bị giết vì bị nghi làm gián điệp cho Pháp, điều này vẫn có thể đúng, nhưng tại sao những người giết LĐT không cho biết rõ thêm bằng chứng, và chi tiết hơn (như có thể nhắc lại vụ PBC nếu biết, và chắc phải có nhiều vụ khác nếu LĐT làm việc cho Pháp); ngay tới ngày nay hình như ngoài Bắc, trong nước cũng không có ai nói LĐT bán PBC cho Pháp. Bây giờ có vẻ như ông PQT (và họ), muốn đưa Lâm Đức Thụ ra gánh hết tội hay trách nhiệm trong việc loại trừ một nhân vật chính trị rất sáng, được nhiều người ngưỡng mộ lúc đó và sau này, như Phan Bội Châu . Lý luận của ông PQT thường lỏng lẻo (không nói là thích gán chụp) thành khó thuyết phục.
Trên chỉ là giả thuyết dùng phản biện lý lẽ ông PQT ở đây.
@ Nam Phan
Chúng ta không cần phải “nhất trí” với chính quyền CSVN hoặc gọi hồn TVK về để hỏi việc, vì hiện giờ chúng ta còn có thể dựa vào công trình nghiên cứu của các sử gia độc lập và có thẩm quyền để tìm hiểu thêm về nhân vật này.
Trong cuốn “Monarchie et Fait Colonial Au Việt Nam (1875-19250” GS Nguyễn Thế Anh có nhận định như sau về thành phần trung gian bản xứ Nam Kỳ, trong đó có Trương Vĩnh Ký:
“[D]es individus évoluant auprès des milieux proches de certains types de commerçants et de militaires étrangers s’enhardirent jusqu’à s’ériger en porte-parole d’une communauté nationale dont ils s’étaient d’ailleurs coupés, pour préconiser une étroite collaboration avec les Français. Parmi eux, des ressortissants de la Cochinchine, venus en qualité d’employés ou d’interprètes, osèrent prêcher même, au nom des intérêts supérieurs du développement économique et technique, la soumission aux maîtres étrangers. Le savant Petrus Trương Vĩnh Ký, professeur au Collège des Stagiaires nouvellement établi à Saigon en vue de la formation des administrateurs civils des Affaires indigènes, ne fit qu’exprimer ces sentiments quand il exposa, au retour de son voyage au Tonkin en 1876, les différents avantages qui résulteraient, selon lui, de l’extension de la domination française sur la région.”
Như thế thì theo Nguyễn Thế Anh, sau chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi TVK đã khuyến khích người Pháp xâm chiếm xứ này. Đây, nói theo cách nói của ĐG Hòa Nguyễn, không phải là một nhận định “vô tham chiếu”: nền tảng của nó là bức mật thư mà TVK đã gửi cho Đô Đốc Duperré sau khi ở ngoài Bắc trở về. Các bạn chỉ cần bấm vào cái tên “Trần Lâm” hiển thị ở trên thì có thể đọc được toàn bộ nhận định của NTA về TVK cùng với bức mật thư của TVK.
Trung gian bản xứ là một thuật ngữ được Vũ Ngự Chiêu dùng để thay thế chữ Việt gian đã bị lạm dụng quá nhiều. Vì thấy bài nghiên cứu về TVK của họ Vũ bị một ĐG đặt vấn đề, nên tôi đã thận trọng đưa nhận định của NTA về TVK và bức mật thư của chính TVK lên mạng trước để “dọn sân”.
Tuần này tôi sẽ phóng ảnh và đưa lên mạng toàn bộ bài nghiên cứu nói trên của vị cựu đại úy nhảy dù này để ĐG bốn phương cùng đọc. ĐG nên đọc bản phóng ảnh này thay vì đọc bài viết được đăng đó đây trên internet, vì bản phóng ảnh sẽ chứa đựng đầy đủ các sự kiện quan trọng như việc bài đó được in trong sách nào, do ai xuất bản, xuất bản năm nào, ở đâu v.v. Như vậy, ĐG không những có thể đọc cho biết, mà còn có tài liệu để làm reference khi cần. Tôi bây giờ đang bận, thứ Tư tuần này bản phóng ảnh nói trên sẽ được đưa lên mạng.