trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 135 bài
  1 - 20 / 135 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Dịch thuật
9.9.2008
Lê Hùng
Liều lĩnh song ngữ
 
Tôi tình cờ vào thư viện mượn được cuốn Truyện ngắn Úc (Australian Short Stories), Trịnh Lữ dịch, Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Công ty Nhã Nam liên kết xuất bản năm 2005 với sự hỗ trợ của Sứ quán Úc và có cả lời đề tựa của Đại sứ Úc tại Việt Nam. Thấy có truyện “Thằng Joe” (Joe) trang 131-141, của Peter Carey là nhà văn Úc nổi tiếng thế giới, bèn giở ra xem. Sách song ngữ, trang nguyên tác in ngay bên cạnh trang dịch tiếng Việt, nên dễ thấy những chỗ dịch sai hoặc sót, ví dụ như sau đây:


1. Trang 132-133 (nguyên tác ở trang 132, bản dịch ở trang 133)

Nguyên tác:

“Jack, for instance, is good at getting information from books...

To give one example, he learned about playing golf from a book Doreen gave him. This gave him a head start when he played for the first time.”

Dịch:

“Chẳng hạn, Jack rất giỏi trong việc tự học hỏi ở sách báo...

Một ví dụ: nó học đánh gôn nhờ một cuốn sách Doreen đưa cho nó. Và ngay trận gôn đầu tiên nó đã chơi thành thạo.”

“This gave him a head start when he played for the first time” không thể là “Và ngay trận gôn đầu tiên nó đã chơi thành thạo” như Trịnh Lữ dịch được. Trên thực tế, làm thế nào chỉ đọc sách mà ngay lần đầu tiên đã chơi gôn “thành thạo” được?

“This gave him a head start when he played for the first time” có thể dịch là “Nhờ vậy, nó có được lợi thế từ đầu khi chơi gôn lần đầu tiên.” thì đúng hơn.


2. Trang 134-135

Nguyên tác:

“Harry Bush brought her panties round before tea and shoved them in my father's face. Later on, my father said they were none too clean anyway and it was hard to tell.”

Dịch:

“Ông Harry Bush đem cái quần lót của con bé sang nhà chúng tôi khoảng trước giờ uống trà và gí vào mặt bố tôi. Về sau, bố tôi bảo cái xilíp ấy đúng là không được sạch lắm nhưng cũng khó mà biết được.”

Nhân vật Joe là đứa em trai còn khờ khạo của người kể chuyện xưng “tôi” trong tác phẩm. Joe bị cáo buộc là đã cưỡng hiếp cô bé hàng xóm, con của ông Harry Bush.

Từ “tea” trong nguyên tác không có nghĩa là “giờ uống trà”, mà là “bữa ăn tối” theo ngôn ngữ và tập quán của người Úc từ ảnh hưởng của mẫu quốc Anh. “Harry Bush brought her panties round before tea...” đúng ra là “Ông Harry Bush đem cái quần lót của con bé sang nhà chúng tôi khoảng trước bữa ăn tối...” Từ “tea” này xuất hiện nhiều chỗ trong tác phẩm, và đều bị dịch sai là “giờ, buổi uống trà”.

“Later on, my father said they were none too clean anyway and it was hard to tell” dịch là “Về sau, bố tôi bảo cái xilíp ấy đúng là không được sạch lắm nhưng cũng khó mà biết được” thì nghe như là “bố tôi” đồng ý với ông Bush rằng “cái xilíp ấy đúng là không được sạch lắm”, là điều không hề có trong nguyên tác. Câu này có thể dịch là “Về sau, bố tôi bảo cái quần lót ấy dù sao thì vốn cũng chẳng sạch sẽ gì nên khó mà phán đoán được. (là Joe có thật đã cưỡng hiếp con bé ấy hay không)thì đúng hơn.


3. Trang 134-135

Nguyên tác:

“He was sixteen yesterday and went off to the pictures by himself after the early birthday tea. We always have an early tea on birthday nights.”

Dịch:

“Hôm qua là ngày sinh nhật thứ mười sáu của nó, và nó đi xem phim một mình sau khi uống trà sớm hơn mọi ngày. Kỳ sinh nhật nào chúng tôi cũng uống trà sớm hơn thường lệ.”

Đúng ra là:

“Hôm qua là ngày sinh nhật thứ mười sáu của nó, và nó đi xem phim một mình sau bữa ăn tối sớm hơn mọi ngày để mừng sinh nhật nó. Kỳ sinh nhật nào chúng tôi cũng ăn tối sớm hơn thường lệ”.


4. Trang 134-135

Nguyên tác:

“However, Joe excused himself after his birthday tea...”

Dịch:

“Nhưng hôm qua, Joe xin lỗi sau khi uống trà...”

“excused himself” có nghĩa là “rút khỏi (bàn ăn)”, “cáo từ”, hơn là “xin lỗi”. Câu này có thể dịch là: “Nhưng hôm qua, Joe cáo từ sau bữa ăn tối mừng sinh nhật nó...” thì đúng hơn.


5. Trang 134-135

Nguyên tác:

“Then he went out. It was his birthday tea and no one was too upset, although of course we were.”

Dịch:

“Rồi nó đi. Đó là buổi uống trà sinh nhật của nó, cả nhà đều bực, tất nhiên rồi nhưng không đến nỗi quá.”

Dịch là “buổi uống trà sinh nhật” thì không đúng, và “cả nhà đều bực, tất nhiên rồi nhưng không đến nỗi quá.” nghe có phần trúc trắc. Câu này có thể dịch như sau thì đúng với nguyên tác hơn: “Rồi nó đi. Đó là bữa ăn tối mừng sinh nhật nó, và chẳng ai tức giận gì lắm, mặc dù tất nhiên chúng tôi có giận tức.


6. Trang 136-137

Nguyên tác:

“We finished up the cake just the same. Mother said it would have gone stale if we'd left it.”

Dịch:

“Chúng tôi ăn nốt bánh như thường lệ. Mẹ bảo bánh ấy không để dành được.”

“just the same” không có nghĩa là “như thường lệ”. Và “would have gone stale” không có nghĩa là “không để dành được.” Câu này có thể dịch như sau thì đúng với nguyên tác hơn: “Mặc nó, chúng tôi vẫn ăn hết chiếc bánh. Mẹ bảo chừa lại thì bánh ấy thiu mất.”


7. Trang 140-141

Nguyên tác:

“He says, I don't think it was.

Dad says, how do you mean?

Joe looks sort of embarrassed. He begins to pick at the scab again. He bends his head to look at it closer, so all we can see is the top of his head. He says something we can't hear.
Dad says, what?

Joe says, is it rape...”

Dịch:

“Nó bảo, có lẽ không ạ.

Bố nói, cái gì?

Joe nói, có phải thế là hiếp không...”

Dịch ngắn quá, bởi nguyên phần này đã bị cắt bỏ không dịch, chẳng hiểu vì lý do gì:

Dad says, how do you mean?
Joe looks sort of embarrassed. He begins to pick at the scab again. He bends his head to look at it closer, so all we can see is the top of his head. He says something we can't hear.”


8. Trang 132-133

Nguyên tác:

“Joe has the ears, but not the nose. That is perhaps his one characteristic.”

bị bỏ sót, không thấy câu dịch ở đâu cả.


9. Trang 136-137

Nguyên tác:

“You can see the mark where his head touches the wall.”

bị bỏ sót, không thấy câu dịch ở đâu cả.


10. Trang 130-131

Không nằm trong truyện ngắn, nhưng phần giới thiệu tác giả ở đầu truyện có hàng chữ “Winner NSW Premier's Literary Award”, dịch là: “được giải thưởng văn học của Thủ tướng”.

“Premier” dịch là “Thủ tướng” thì không đúng. “Premier” lâu nay vẫn được dịch là “Thủ hiến”. Nước Úc chỉ có một Thủ tướng, Prime Minister, trong khi Premier thì tiểu bang nào cũng có, kể cả tiểu bang NSW (New South Wales) trong câu đó.

Khá ngạc nhiên vì số lỗi sai sót có hơi nhiều trong một truyện ngắn chỉ có 6 trang, tôi đọc truyện tiếp theo xem sao, đó là truyện “Chào thân ái, Leo” (“From Leo - With Love”) của Iris Milutinovic, ở các trang 142-153, thì cũng thấy có nhiều chỗ dịch sai sót, ví dụ như sau đây:


11. Trang 144-145

“Don fought for his dream, eventually managing to persuade an initially reluctant Government that here, less than an hour's helicopter flight from the desert rocket range, sufficient fresh foods might be grown to supply the base.”

nguyên câu bị bỏ sót, không thấy câu dịch ở đâu cả.


12. Trang 144-145

Nguyên tác:

“The children were educated by the School of the Air”

Dịch:

“Tụi trẻ con đi học ở trường của con em trong căn cứ không quân”

Các nhân vật trong truyện này sống ở một thí điểm hẻo lánh chỉ có thể thỉnh thoảng được tiếp tế bằng phi cơ trực thăng bay khoảng một giờ từ căn cứ phóng tên lửa trong sa mạc, vậy thì “Tụi trẻ con đi học ở trường của con em trong căn cứ không quân” bằng cách gì? và “căn cứ không quân” nào? Thật ra “School of the Air” là “hệ thống lớp học truyền qua sóng điện” cho trẻ em ở các vùng hẻo lánh không có phương tiện giao thông, để các em ở nhà mở đài ra nghe mà học theo được.


13. Trang 146-147

Nguyên tác:

“Rather bitter but not unlike eating walnuts with the skins on.”

Dịch:

“Hơi đắng nhưng không đến nỗi như ăn hạt dẻ cả vỏ.”

Trịnh Lữ đã dịch ngược hẳn ý nghĩa “not unlike” trong nguyên tác. Và “walnuts” không phải là “hạt dẻ” (chestnut) mà là “hạt óc chó ” vỏ có các đường lõm, trông như não chó, vỏ cứng làm sao mà ăn “cả vỏ” được? Đúng ra, câu này có thể dịch là “Hơi đắng nhưng không khác ăn hạt óc chó cả màng bao.”


14. Trang 150-151

Nguyên tác:

“When we first came to the valley, shooting and trapping the big bluish-grey rabbits was a daily chore.”

Dịch:

“Lúc mới dọn đến đây, bắn và bẫy những con thỏ to tướng màu xanh xám là trò chơi hàng ngày.”

“daily chore” không phải là “trò chơi hàng ngày” mà là “việc vặt, việc phiền toái hàng ngày” chẳng thích thú gì mà chơi.


15. Trang 150-151

Nguyên tác: “no matter how tender and savoury. Now my mouth watered at the extravagant idea of meat”

bị bỏ sót, không thấy câu dịch ở đâu cả.


16. Trang 150-151

Nguyên tác:

“My husband brought the rabbit in ready for the pot.”

Dịch:

“Chồng tôi đem con thỏ đã được làm sạch sẽ và để sẵn trong nồi.”

“ready for the pot” không phải là “để sẵn trong nồi” mà là “sẵn sàng để cho vào nồi (nấu)”.


17. Trang 150-151

Nguyên tác:

“On his plate I put one of the large hind legs and a lot of the thick mushy gravy. I felt so hungry that I could have eaten the lot, but gave myself a shoulder and a little gravy. Ah, but it was delicious.”

nguyên đoạn này bị bỏ sót, không thấy câu dịch ở đâu cả.


18. Trang 152-153

Nguyên tác:

“don't I get anymore? I'm not fussy, you know.”

Dịch:

“cho anh ít nữa chứ? Em biết anh không hay làm bộ mà.”

“not fussy” không phải là “không hay làm bộ” mà trong truyện này có nghĩa là “không kén ăn”.

Đọc qua các truyện khác, cũng thấy nhiều chỗ dịch sai sót, chỉ xin nêu vài ví dụ như sau:


19. Trang 190-191

Nguyên tác:

“The tall, grey paling fence.”

Dịch:

“dãy hàng rào cao màu xám nhợt.”

“paling” không phải từ chữ “pale” là “nhợt nhạt”. “paling” là “loại thanh gỗ dẹp làm hàng rào”, “paling fence” là “hàng rào làm bằng các thanh gỗ dẹp”.


20. Trang 198-199

Nguyên tác:

“Am I such a prize?”

Dịch:

“Tôi phải là người trả giá ư?”

“prize” chứ không phải “price” là “giá”. “prize” là “phần thưởng, thứ quý báu”, trong truyện này có nghĩa là (người học trò) “quý báu” cho một người di dân đang cần có học trò để được dạy học ở đất mới là Úc. Nguyên tác chẳng có ý “phải là” hay “người trả giá” gì cả.

Ngoài ra, bản tiếng Anh in lại có nhiều lỗi chính tả, ví dụ như:

“pfojecl” (đúng ra là “project”, trang 146), tire (đúng ra là “fire”, trang 210), nut (đúng ra là “out”, trang 210), cravpots (đúng ra là “craypots”, trang 214), eves (đúng ra là “eyes”, trang 216), “rook” (đúng ra là “took”, trang 236),...

Trên đây là những chỗ sai sót dễ nhận thấy từ một cuốn sách dịch song ngữ có ngay nguyên tác cho độc giả đối chiếu. Cuốn sách song ngữ quảng cáo là: “Một cuốn sách không thể bỏ qua với những độc giả muốn hiểu thêm về đất nước, con người Úc qua những truyện ngắn đặc sắc. Với hình thức song ngữ, tập truyện còn là một tài liệu bổ ích với những ai muốn nâng cao trình độ ngoại ngữ hay khả năng dịch thuật của mình.” [1] mà lại dịch, biên tập, xuất bản như thế này thì liều lĩnh thật.

Úc châu 6/9/2008

© 2008 talawas



[1]http://www.nhanam.vn/?page=book_view_content&cat_id=35&item_id=91