trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 11 / 11 bài
  1 - 11 / 11 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tư tưởngVăn hoá và phát triển
Loạt bài: Trí thức và thời cuộc
 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12   13   14   15   16   17   18   19   20   21   22   23   24   25   26   27   28   29   30   31   32   33   34 
23.6.2003
Nguyễn Hoàng Văn
Nhân sĩ sinh sâm
 
"Nhân sinh và nhân sâm thì có đó, còn nhân sĩ đâu rồi?", một người bạn trẻ, loay hoay với bộ "Hán-Việt Tự Ðiển" trong tay, hỏi.

Lâu nay tôi vẫn hằng yên tâm rằng "nhân sĩ" là một mẫu người đứng tuổi, có học thức, có uy tín và tư cách, vượt qua hết những tranh chấp bè phái v.v... Tuy nhiên, cách hiểu lơ mơ đại khái này chẳng thể nào đáp ứng nổi những câu hỏi nặng tính duy lý và ngọn ngành của người sinh viên trẻ tuổi. "Nhân sĩ", như một từ ngữ và một thành phần xã hội, đã hình thành như thế nào? Vai trò và tác dụng với xã hội? Với dòng biến thiên của lịch sử? Những tiêu chí ràng buộc, thành văn hay bất thành văn? Vân vân và vân vân... Thú thật, tôi bí. Và tôi hãi hùng khám phá ra rằng những gì mà tôi cùng bao nhiêu người khác nữa hằng yên tâm, thực ra rất không ổn, cần xét lại.

"Nhân sinh", "nhân sâm", rồi "nhân sĩ", người bạn trẻ không mai mỉa chút nào. Trong bộ tự điển xuất bản năm 1931, cả soạn giả Ðào Duy Anh lẫn Phan Bội Châu trong vai trò người hiệu đính, đã bỏ quên lớp người này, ắt hẳn phải có lý do. Mà "nhân sĩ" càng không phải là ý niệm của lớp người xưa. "Tự điển Việt Bồ La" của Alexandre de Rhodes, xuất bản năm 1651 tại Roma, không nhắc nhở gì đến "nhân sĩ" đã đành; Huỳnh Tịnh Paulus Của, trong "Việt Nam Quấc Âm Tự Vị" xuất bản năm 1895, cũng chẳng mảy may đoái hoài gì đến lớp người khả kính này. Quên chăng, đãng trí hay chăng? Thì cứ cho là Alexandre de Rhodes soạn tự điển cho những nhà truyền giáo, nhưng với một Huỳnh Tịnh Của "tham dụng chữ Nho có giải nghĩa có dẫn chứng mượn 24 chữ cái phương Tây làm chữ bộ" thì sao? Với hai tác giả Ðào-Phan biên soạn và hiệu đính "Hán-Việt Tự Ðiển" thì sao? Ðào Duy Anh bỏ quên đã đành nhưng tại sao Phan Bội Châu, trong vai trò người hiệu đính, cũng lơ là nốt hạng người này? Mẫu người đó mới quá, chưa lộ diện với đời nên bị sót tên chăng? Chỉ với vỏn vẹn ba bộ tự điển thì thật là khó để đi đến một kết luận chắc chắn, tuy nhiên, cứ theo lời bạt của cụ Phan trong bộ tự điển nói trên: "Gần đây gặp được người bạn thanh niên là ông Ðào Duy Anh vừa biên thành Hán Việt từ-điển, toan cống-hiến với đồng bào, bỉ nhân được tin mừng khuống, gấp tìm tuyền cảo đọc xem, thấy chú-thích tinh tường, phẫu-giải minh bạch, tóm lặt hết từ-ngữ thuộc về Hán-văn, mà Việt-văn cần phải dùng đến, cộng hơn bốn vạn điều..." thì chắc chắn là, nếu đã có mặt với đời, "nhân sĩ" đã không được tính vào "hơn bốn vạn điều" mà "Việt-văn cần phải dùng đến". Ấy là "hơn bốn vạn". Hơn năm, hơn sáu thì may ra chăng? Trong những bộ tự điển đời sau, "nhân sĩ" vẫn tiếp tục một số phận long đong như thế, cái sự lận đận kéo dài đến độ không thể gọi là sơ suất được. Năm 1960, Nguyễn Văn Khôn chỉ có thể nói về "nhân sĩ" một cách lúng túng, nông cạn: nhân sĩ mà chẳng có gì là nhân sĩ, nên chỉ sáu năm sau lại thẳng tay loại bỏ trong bộ Việt-Anh công phu của mình. [1] Ba năm sau, 1970, "nhân sĩ" cũng bị Lê Văn Ðức và Lê Ngọc Trụ bỏ qua một bên, không cho chường mặt trong "Tự Ðiển Việt Nam". Xuôi ngược "nhân" và "nhơn" cùng một nghĩa như nhau, soạn giả nào cũng sâm, sanh, số, sự hay số, sự, sinh, sâm mà quên đi kẻ sĩ. Nhân sinh" và "nhân sâm" thì có đó nhưng còn "nhân sĩ" đâu rồi? [2]

Nhưng nhất định "nhân sĩ" không phải là chuyện hoang đường. Không hoang đường như thần Kim Quy có phép màu mà khoanh tay để mặc An Dương Vương mất nước hay hoang đường như Thánh Gióng có ngựa sắt phun lửa mà bỏ mặc xứ sở bị giặc Tàu cưỡi cổ suốt một ngàn năm. Cứ nhớ, ngày 2.11.1963, chỉ một ngày sau cái chết của hai anh em ông Diệm và Nhu, phái Khaki cách mạng, tức Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng, đã ưu ái dành cho "nhân sĩ" nguyên một chỗ đứng trong bản tuyên cáo năm điều: "Một Hội Ðồng Nhân Sĩ sẽ được thành lập để cố vấn cho chính phủ trong lúc chuyển đổi."

"Nhân sĩ" như vậy là điều có thực. Có thực theo sắc lệnh ký ngày 6.11.1963. Có thực từ buổi lễ ra mắt ngày 2.1.64 tại Hội trường Diên Hồng với sự góp mặt của đâu 60 nhân vật. Có thực trong màu lụa gấm của mấy bộ khăn đóng áo dài gấm óng ả, nổi bật giữa những sắc áo Khaki võ biền như là hình ảnh của làng, của hương tề kỳ mục ngay giữa một Sài Gòn hoa lệ, giữa một lễ hội cũng tàm tạm tầm cỡ quốc gia. Và "nhân sĩ" còn có thực trong những lời thưa gởi kiểu "Kính mời quý vị thân hào nhân sĩ vui lòng an toạ..." đã quen miệng, đã thành nề thành nếp trong các lễ lạc rình rang. Thế thì tại sao họ lại bị các soạn giả tự điển, từ trẻ đến già, toa rập nhau kỳ thị? Ra đời trịnh trọng vậy mà, chỉ ba năm sau thôi, đã bị lơ là, bảy năm sau nữa, lại bị quên lãng, cái sự quên lãng chẳng thể nào giải thích nổi nếu không vin vào lời cụ Phan năm ấy: "tóm lặt hết những từ ngữ" mà "Việt-văn cần phải dùng đến". "Nhân sĩ" vẫn, ít ra trong con mắt các soạn giả vô tư, chưa thể nào là thứ mà "xã hội cần phải dùng đến"!

Tuy nhiên không phải ai ai cũng phũ phàng thế cả, dù là khá trễ. Trong "Hán Việt Tự Ðiển" của Nguyễn Lân, do Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1989, "nhân sĩ" mới có cơ hội "cần phải dùng đến", và "cần dùng", theo Nguyễn Lân, như những "trí thức thuộc tầng lớp trên tham gia cách mạng, nhưng không phải là đảng viên của đảng vô sản."

Chỉ xuất hiện trong những bộ tự điển thiếu vô tư nên "nhân sĩ" chỉ là nhu cầu của những thế lực thiếu vô tư nào đó, trong một bối cảnh rối ren và... thiếu vô tư nào đó. Phái Khaki cách mạng "cần phải dùng" nhân sĩ, và họ khai sinh "Hội đồng nhân sĩ". Ðảng vô sản "cần phải dùng" nhân sĩ, và họ lôi kéo những "trí thức thuộc tầng lớp trên". Vấn đề chỉ là, dù trễ, đảng vô sản thì có những bộ tự điển đầy đảng tính trong khi phái Khaki không có lấy một bộ Khaki-tính lận lưng. Tuy vậy, dẫu sao thì những nhà Khaki võ biền vẫn có thể yên tâm với cái định nghĩa nặng nề đảng tính này. Thì, "trí thức thuộc tầng lớp trên". Thì, "tham gia cách mạng". Thì, "không phải là đảng viên vô sản". Cứ xem, trong những "nhân sĩ" trịnh trọng và rình rang ra mắt trong buổi lễ năm ấy có ai là đảng viên vô sản đâu? Và, cứ hỏi, họ đến đó để làm cái gì ngoài việc cùng làm cách mạng với mấy nhà võ biền? Như thế, nếu "nhân sĩ" đã có thể đem hai thế lực thù hằn xích lại gần nhau, ít ra là trên khía cạnh ngôn ngữ, nhất định, phải có một mẫu số chung nào đó ở cội rễ văn hoá!

Ðã nói đến cội rễ văn hoá thì, tốt nhất, hãy trở lại với làng. Làng ngày xưa, ít ra là cỡ năm 1931 theo tự vị của Ðào Duy Anh, chưa có "nhân sĩ", may ra thì "hiền sĩ", một mẫu người, theo cụ Ðào, "có đức hạnh, tài năng". Ðấy có thể là một nhà cử nghiệp lấy việc dạy học hay bốc thuốc độ thế làm lẽ sống, đó có thể là một đại quan lánh chốn hồng trần để vui thú điền viên v.v... "Triều đình trọng tước, hương đảng trọng sĩ, gia tộc trọng tôn thống" - giữa cái xã hội nông nghiệp trọng Nho nho nhỏ đó thì đối với từ ông lý trưởng, nhà bá hộ, phú nông cho đến trung nông, tá điền, gã thiến lợn hay anh mõ, "hiền sĩ" hiện diện như một vĩ nhân siêu phàm, một biểu hiện cao cả của trí tuệ và đạo đức, một bộ óc bách khoa am hiểu tất cả và có thể giải quyết tất cả.
Thử tưởng tượng đời sống yên bình trong cái xã hội nho nhỏ đó: cái con người siêu phàm, khả kính kia là mẫu người mà ai cũng ao ước kết giao. Kỵ cưới, hỏi xin: mời cho bằng được vĩ nhân, như một niềm vinh hạnh. Tranh chấp xung đột: mời cho bằng được trọng tài vĩ nhân, chỉ để hé mở túi khôn. Nhà bá hộ thì nôn nao ao ước cái giây phút chung chiếu cọ vai với vĩ nhân để thoát khỏi mặc cảm trọc phú, anh mõ thì ao ước lọt vào con mắt hiền sĩ để thoát khỏi mặc cảm cùng đinh, bị gạt ra lề xã hội. Tuy nhiên, khi cái xã hội thu nhỏ ấy trở nên rối ren và khi con người bắt đầu bùi ngùi hoài niệm, kiểu:
"Ðời nay lắm kẻ trượng tiền
Ít người sở dụng sĩ hiền như xưa..."

thì đó chính là lúc kẻ mang danh "sĩ", vì trượng tiền, hay "trượng" bất cứ thứ gì đó mang bộ "lợi", đã dao động nghiêng ngả, hết còn vô tư giữa những tranh giành, xung đột.

Ðấy là làng, là nơi mà những tranh chấp rối ren chỉ xoay quanh mấy miếng đỉnh chung nho nhỏ: thửa ruộng hương hỏa hay công điền tý tẹo, chút thổ phần bò xéo, cùng lắm là những thứ danh vọng phù phiếm kiểu "một miếng giữa làng" thế thôi. Xa hơn thế, trong phạm vi của nước, khi miếng đỉnh chung to tát hơn nhiều, cái trò lôi kéo kia mới còn phức tạp hơn nữa; và như thế, khi "nhân sĩ" chào đời thì đấy cũng chính là lúc quốc gia đã bị "làng hoá".

Có lẽ trò chính trị nhân sĩ đã khởi sự một cách bài bản từ sau tháng 8.1945, trong tình thế rối ren khi thực dân Pháp lăm le trở lại và những đảng phái quốc gia hay cộng sản toát mồ hôi lạnh rình rập nhau. Như một đòn thế chính trị trong nỗ lực cạnh tranh thực lực, Việt Minh gấp rút thành lập Chính Phủ Liên Hiệp với sự góp mặt của những nho sĩ, những nhà ái quốc nổi tiếng. [3] Mười lăm năm sau, bài bản đó được lập lại lần nữa khi những trí thức miền Nam lục tục tề tựu tại bưng biền Ðồng Tháp để tô điểm cho cái gọi là Mặt trận, một thứ hình nộm do đảng vô sản nặn ra. Và, không thua, phái Khaki, tập trung trong cái Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng, cũng loay hoay lập lại cái màn trình diễn tương tự. Loè hơn, nhưng vụng hơn. Không phải ngẫu nhiên mà trong cách định nghĩa về "nhân sĩ", vô-sản-đảng tính lại có thể tương hợp với Khaki-tính: cách mạng. Nước có lâm vào cảnh rối ren người ta mới hô hào cách mạng. Và cách mạng, đến lượt, cũng là cội nguồn của những rối ren không lường trước: nó đẩy xứ sở đi về phía trước hay kéo lại, thụt về phía sau? Cách mạng, như thế, luôn luôn đặt con người trước những lựa chọn bất an.

Nếu cách mạng ngụ ý những thay đổi bất an thì "nhân sĩ" lại ngụ ý một giá trị thuyết phục. Trước những ẩn số mờ mịt của tương lai, "nhân sĩ", như những biểu hiện cao cả của nhân cách và trí tuệ lại ngụ ý một chọn lựa đúng đắn, hay ít ra, những chọn lựa lương thiện. Ðồng bào nghi ngờ, lưỡng lự ư? Thì, có cụ này, cụ kia tham gia, toàn... "nhân sĩ" cả! Trò lôi kéo "nhân sĩ", như thế, chỉ là một trò quảng cáo chính trị nhằm rao bán những hứa hẹn không bảo chứng, những hứa hẹn mù mờ, những hứa hẹn phiêu lưu và liều mạng.

Tại sao khi cụ Phan Bội Châu, một nhà ái quốc và cách mạng tầm cỡ của dân tộc, bắt tay hiệu đính bộ tự điển của Ðào Duy Anh, "nhân sĩ" chẳng hề xuất hiện? Thì cũng như bao thế hệ trước đó, từ Hoàng Hoa Thám đến Phan Ðình Phùng, Trần Quý Cáp, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, như những "sĩ phu Văn Thân", những nhà cách mạng, những nhà cách mạng duy tân, hết thảy đều có một mục tiêu rõ ràng, minh bạch, và có thể nói, hồn nhiên nữa: đánh đuổi thực dân để giành lại non sông.
Cũng hô hào diệt xâm lăng, cũng dương cao ngọn cờ độc lập nhưng lại lường léo bên trong, với những giáo điều nhập cảng nào đó hay với những mưu đồ cạnh tranh quyền lực nào đó. Vì lường léo nên mới loay hoay đổi tên đổi họ, từ "đảng" cho đến "hội nghiên cứu", hay mơ hồ hơn như cái "hội" gọi là "Ðộc Lập Ðồng Minh" v.v... Và, cũng vì lường léo nên mới có cái kiểu dấn thân thật lạ đời: "tham gia" nhưng "không là đảng viên". Tham gia mà bị loại ra khỏi hàng ngũ thành viên thì tham gia cái gì? Chỉ là đem tên tuổi và danh vị ra để bảo chứng cho những câu trả lời mà cả họ cũng không thể nào đoan chắc. Cứ nhớ lại nỗi niềm chua chát của cụ Huỳnh Thúc Kháng trong cương vị người đứng đầu Bộ Nội Vụ của cái Chính Phủ Liên Hiệp năm đó. Cứ nhớ lại hình ảnh những "nhân sĩ" miền Nam lục tục kéo về bưng biền Ðồng Tháp những năm 60 và rồi vỡ mộng ngay sau đó, hay 15 năm sau đó. Và cứ nhớ hình ảnh loè loẹt của mấy chục nhân sĩ rình rang ra mắt ở Hội Trường Diên Hồng năm ấy, họ đã bị phái Khaki rẻ rúng như thế nào, tuỳ tiện tung hứng như thể trái banh qua những đợt chỉnh lý hay đảo chính như thế nào?

"Nhân sĩ", như thế, nhìn ở tầm vĩ mô, chỉ là một thứ trò làng hoá quốc gia hay hương thôn hóa đô thị, với cái nhìn vi mô thì đấy chỉ là một sự hiện diện chẳng để làm gì, một sự ra tay chẳng biết để làm gì mà chỉ là một sự chường mặt, với một cái danh!

Sydney 5.2002


Trích tiểu luận "Hướng đến một văn hoá phát triển", trong "Văn hoá, giới tính, và văn học", Nguyễn Hoàng Văn, Văn Mới xuất bản, có sửa chữa


© 2003 talawas



[1]Trong "Hán-Việt Tự Ðiển", (1960), của Nguyễn Văn Khôn, soạn giả thường được biết đến với các bộ tự điển Anh-Việt hay Việt Anh, "nhân sĩ" được định nghĩa một cách khá hời hợt như là "người có học giữa đám dân chúng".
[2]Chỉ có "sĩ nhơn", định nghĩa như là "người có học". Nhưng nếu chỉ đơn giản là "người có học" thì "sĩ nhơn" chẳng thể nào được xem là "nhơn sĩ".
[3]Trong bài "Bọn Nhân văn-Giai phẩm" trước toà án và dư luận, Ðoàn Giỏi cho biết: "Phan Khôi vẫn được đãi ngộ ăn lương nhân sĩ, không phải làm gì cả, viết hay dịch sách thì hưởng tiền nhuận bút... " Dẫn theo "Trăm hoa đua nở trên đất Bắc", trang 89-96, Hoàng Văn Chí sưu tập.