trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 201 bài
  1 - 20 / 201 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
21.4.2007
 
Giai phẩm mùa đông 1956 - Tập I
 1   2   3   4 
 
Một cuộc kỳ ngộ của Mai-a-cop-ski ở thôn quê, mùa hè
Bản dịch của Trần Dần

Bài thơ viết năm 1920, tại Púc-ki-nô, ngoại ô Mạc-tư-khoa. Mùa hè, Mai-a ở đó, ngày ngày đi về Mạc-tư-khoa, làm việc tại Rosta (E.T.)

Púc-ki-nô, đồi A-cu-lo, biệt thự Ru-mi-ang-dốp, 27 cây số, đi đường xe hoả Y-a-rốt-láp

Hàng trăm mặt trời rũi lửa phương tây
tháng bẩy mùa hè lặn lội,
khí nóng thiêu
bơi ngửa lềnh bềnh
phong cảnh đồng quê.
Lưng Púc-ki-nô
đeo cái bướu dồi A-cu-la,
dưới xa kia,
một xóm vặn mình
những mái sùi da nhăn nhúm.
Sau nhóm này
là một hố sâu
nơi đó,
mặt trời hàng ngày rụng xuống
thong thả, uy nghi.
Nhưng mỗi sáng
mặt trời lại tự hố chui lên
đem mầu đỏ bao trùm thiên hạ.
Cứ vậy, ngày ngày,
làm tôi
phát cáu
nổi điên.
Mãi sau, tôi uất quá
đến nỗi mọi vật xung quanh tái mét mặt mày
tôi đứng đối mặt trời,
tôi hét:
“Xuống đây!
Cứ lê la trong than lửa mãi làm gì?”
Tôi hét:
“Đồ lười!
Cứ chảy nễ trên mây mãi thế?
hãy xem tôi – mặc trời nắng trời mưa
tôi hì hục vẽ tranh áp-phích”
Tôi hét:
“Một lát thôi mà!
Hỡi vầng trán lửa, nghe tôi
sao cứ đi vạ vật ở đâu
hãy xuống đây
thăm tôi một chút thôi mà”
Thực dại dột, sao tôi làm thế!
Nguy to rồi!
Mặt trời khoái trá
tiến thẳng về tôi
mặt trời đi trên các cánh đồng
cẳng-chân-ánh-nắng xoạc ra.
Tôi giấu nỗi sợ
định lùi đằng sau.
Mặt trời đã tới khu vườn,
lại đã qua vườn.
Từng đống mặt trời bước vào
qua cửa lớn
qua cửa con
qua mọi kẽ.
Mặt trời ngồi phịch xuống,
lấy hơi,
nói giọng trầm trầm:
“Tự thuở khai thiên lập địa
đây là buổi đầu tiên
tôi vác lửa về đây.
Anh gọi tôi à?
Tôi muốn uống nước trà,
nhà thơ nè,
tôi muốn ăn mứt kẹo”.
Nước mắt trào ra
khí nóng phát điên
tôi trỏ tay ấm nước:
“Được rồi,
mời anh ngồi, anh bạn hành tinh!”
Làm sao tôi định buông ra
những điều ngạo nghễ
bối rối,
tôi ngồi bên góc ghế
bụng còn e, lỡ xẩy điều gì.
Nhưng từ mặt trời bỗng chẩy ra
luồng ánh sáng trong trong kỳ lạ,
và lát sau
chẳng còn ý tứ ngại ngùng chi
hai chúng tôi trò chuyện ba hoa.
Tôi kể hết chuyện này
chuyện nọ, cả chuyện Rốt-sta
nó gậm nhấm mãi tôi,
mặt trời nói:
“Anh đừng tức tối!
Không nên nhiễu sự làm gì!
Việc tôi
chỉ là soi sáng,
anh tưởng rằng đơn giản lắm ư?
Anh thử làm một chút mà xem!
Nhưng đã hứa hẹn rồi
Nào bắt đầu
ta lấp lánh đi thôi!”
Chúng tôi cứ huyên thuyên mãi vậy
tới khi đêm, –
à quên xin lỗi, tới khi mà ta vẫn gọi là đêm.
Chứ ở đây làm gì còn bóng tối?
Bạn bạn, tôi tôi,
chúng tôi chẳng ngại ngần gì.
Mãi sau
tôi vỗ vai yêu
anh bạn mặt trời.
Mặt trời bảo:
“Có anh, có tôi,
bạn nhỉ, có đôi ta!
Hỡi nhà thơ, ta hãy bay lên
tận tầng không bay liệng cánh chim bằng,
ta ca hát
trong bụi đời xám ngắt.
Tôi sẽ tung ra ánh sáng mặt trời tôi
còn bạn, tung mặt trời của bạn
bằng thơ”.
Súng đại-bác-hai-nòng đôi mặt trời
sẽ bắn sụp bức tường bóng tối,
nhà tù ban đêm
Đôi mái chèo ánh sáng và thơ ca
hãy lấp lánh, sáng cho hết cỡ!
Nếu mặt trời kia mỏi mệt
ban đêm
bạn muốn đi nằm
ngủ như con sóc ngây thơ
thì đã có tôi,
đứng dậy tôi soi,
và khúc nhạc ồn ã ban ngày lại khua inh chiêng trống.
Soi sáng mãi
đâu đâu cũng lấp lánh,
cho tới khi tháng tận năm cùng,
soi sáng
mà không cần quảng cáo!
Đó là khẩu hiệu của tôi,

của mặt trời


*



Quảng cáo

Đang in: Vỡ đê, tiểu thuyết xã hội (tả những cuộc đấu tranh của nhân dân, thời Pháp thuộc) của Vũ Trọng Phụng, Giới thiệu của Trương Tửu, Minh hoạ của Sĩ Ngọc, Minh Đức xuất bản.


*




Trần Đức Thảo
Nội dung xã hội và hình thức tự do

Vấn đề tự do là tự do cho ai, tự do đối với ai, tự do để làm gì. Đứng về phương diện nhân dân, chế độ ta căn bản và thực sự là tự do. Với sự lãnh đạo của giai cấp và Đảng công nhân, nhân dân Việt Nam đã đánh đổ đế quốc và phong kiến, xây dựng chính quyền của mình ở miền Bắc: đây là thực tế vinh quang của lịch sử, lý do hãnh diện của mỗi người Việt Nam. Trong lúc ở miền Nam, bọn Ngô Đình Diệm làm tay sai cho đế quốc Mỹ, mở những cuộc khủng bố vô cùng tàn khốc chống nhân dân, phát triển một chế độ thực dân phát xít càng ngày càng đẩy nhân dân vào chỗ khốn cùng, thì ở miền Bắc nhân dân đã làm chủ đất nước, công nhân làm chủ nhà máy, nông dân làm chủ nông thôn, lao động trí óc có cơ sở hoạt động rộng rãi đặng phát triển văn hoá, xây dựng chuyên môn, tiểu tư sản và tư sản dân tộc đều có vai trò quan trọng và nhiệm vụ vẻ vang trong xã hội dân chủ nhân dân. Bọn Mỹ-Diệm nói đến tự do thì tự do của chúng cho bọn phong kiến mại bản phản động, bọn buôn thịt bán người hoành hành trên xương máu của nhân dân. Tự do của chúng là tự do cho nhân dân xây dựng đời sống hạnh phúc của mình.

Tự do của quảng đại quần chúng, đấy là nội dung chân chính mà chế độ ta đã thực hiện về căn bản, và có điều kiện để phát triển không ngừng. Trên cơ sở ấy chúng ta càng phải đẩy mạnh công tác đặng kiến thiết miền Bắc, tranh thủ miền Nam, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng đây tổ chức chúng ta, tuy xét về nội dung là dân chủ thực sự, nhưng lại bị lũng đoạn bởi những bệnh nặng nề: quan liêu, mệnh lệnh, giáo điều, bè phái, sùng bái cá nhân. Đó là những di tích đế quốc phong kiến, mà vì nó lợi dụng được uy thế của chính quyền và đoàn thể, nó có sức cản trở nghiêm trọng bước tiến của xã hội Việt Nam, cản trở tự do của nhân dân Việt Nam. Chính cái cản trở đó là đối tượng đấu tranh trong phong trào tự do dân chủ hiện tại, phong trào này nhằm phát triển thắng lợi cách mạng ở miền Bắc, tiếp tục giải phóng năng lực sáng tạo của nhân dân để mau chóng xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Đây là một cuộc đấu tranh cách mạng tiến hành trong nội bộ nhân dân bằng phê bình và tự phê bình, đặng tranh thủ cho mỗi công dân điều kiện hoạt động chính đáng và cần thiết để góp phần vào nhiệm vụ chung, chống sự kìm hãm và lấn áp của những phần tử lạc hậu: quan liêu, bè phái, sùng bái cá nhân ở mọi tầng lớp lãnh đạo. Phải nói rõ ở mọi cấp lãnh đạo, vì nếu xét đến cá nhân thì những bệnh ấy còn khá phổ biến với mức tiến triển của xã hội ta bây giờ, nhưng có ở cương vị lãnh đạo thì nó mới có điều kiện để gây tai hại lớn cho nhân dân. Những sai lầm nghiêm trọng phạm phải trong Cải cách ruộng đất, Chỉnh đốn tổ chức, kiến thiết kinh tế và văn hoá là những dẫn chứng hùng hồn. Những sai lầm ấy thì nhân dân ở mỗi địa phương và nhiều cán bộ cấp dưới, mỗi người trong phạm vi của mình, từ lâu đã trông thấy rõ, vì đã phải chịu đựng những tai hoạ gây ra cho bản thân mình hay chung quanh mình. Mà vì những sự việc đây có tính chất phổ biến, vấn đề rút kinh nghiệm cũng không đến nỗi khó lắm.

Cụ thể như trong Cải cách ruộng đất, đặc biệt là đợt 4 và đợt 5, nhân dân đã có nhiều ý kiến xác đáng, dựa vào những bài học hiển nhiên của lịch sử cách mạng Việt Nam, vào lý trí và đạo đức tự phát của người thường dân. Ví dụ như trước những nhận định từ trên đưa xuống về tình hình nông thôn, thổi phồng lực lượng của địch và mạt sát cơ sở của ta, thì quần chúng và cán bộ cấp dưới có nhiều thắc mắc. Ai cũng biết rằng kháng chiến ta đã lôi cuốn những tầng lớp hết sức rộng rãi kiên quyết đấu tranh giành độc lập dân tộc. Mà vì giai cấp phong kiến luôn luôn cấu kết với thực dân, công cuộc đấu tranh giải phóng tổ quốc đồng thời và tất nhiên là đấu tranh chống phong kiến. Những việc trừ gian diệt tề ở vùng địch, vận động cho thuế nông nghiệp, chống man khai ở vùng ta biểu lộ rõ ràng nội dung căn bản phản phong của công tác phản đế. Do quá trình thực tế phản đế phản phong, tổ chức kháng chiến của ta tất nhiên là một tổ chức của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, và nếu nó có bao gồm một số phần tử phức tạp thì những phần tử ấy nói chung cũng đã được giáo dục ít hay nhiều trong thực tiễn đấu tranh phục vụ nhân dân. Vậy cơ sở ta ở nông thôn trước Cải cách ruộng đất cũng không thể nào xấu đến thế. Nó cần được cải tạo, nhưng không đến nỗi phải đả kích hàng loạt. Mà theo lý trí thông thường của người thường dân thì nếu thực sự tổ chức của ta đã bị lũng đoạn nghiêm trọng, thậm chí nếu tổ chức của địch lại “lồng vào tổ chức của ta” lại càng quái gở. Cuối cùng, theo tình cảm tự phát và lòng thương yêu bạn đồng đội, không nói gì đến đạo đức và nhân sinh quan cách mạng, thì cũng không thể nào kết án cơ sở chiến đấu của ta một cách đơn giản chung chung, vô trách nhiệm và khinh con người đến mức ấy. Cụ thể ở mỗi địa phương mà đã đánh tràn lan, thì tính chất trái ngược, phản tình phản lý của cái nhận định chung về tình hình địch và ta đã phát hiện ngay trong việc làm. Nhưng vì cơ cấu của bộ máy lãnh đạo có hướng một chiều, rất nặng về tổ chức và phương tiện đả thông, cưỡng bách, mà những ý kiến phê bình của nhân dân hay cấp dưới thì lại hoàn toàn để cho cấp trên quyết định có nên xét đến và cho thảo luận hay không, cho nên những bệnh quan liêu, bè phái, sùng bái cá nhân trong tổ chức lãnh đạo đã có điều kiện khách quan để phát triển, đẩy mạnh tác phong đàn áp tư tưởng, phớt qua quy tắc dân chủ, biến những ý kiến chủ quan thành “lập trường” bất di bất dịch. Nhờ những sự kiện ấy mà những phần tử lạc hậu, bảo thủ, đã ngăn cản ý kiến của quần chúng, cản trở việc sửa chữa sai lầm, cho đến lúc tác hại lớn quá, cơ sở đã bị tổn thương nặng nề, chỉnh đốn tổ chức ở huyện và tỉnh phát triển theo một thứ chủ nghĩa nông dân lưu manh hoá. Rõ ràng những phần tử quan liêu bè phái đã lấy thành kiến của họ làm đường lối của lịch sử, biến những sai lầm của họ thành bánh xe vô tình của lịch sử. Một bộ máy hùng mạnh, xây dựng để diệt kẻ thù, đến lúc không thấy thù thì lại quay về bạn, lấy bạn làm thù mà đập phá bừa bãi.

Sai lầm trong Cải cách ruộng đất và Chỉnh đốn tổ chức là một trường hợp điển hình, nhưng thực ra thì trong mọi vấn đề khác, như kiến thiết kinh tế và văn hoá, cũng đã phải chờ cho có tai hại lớn lao, đồng thời cũng có ánh sáng của Đại hội XX phát động phong trào tự do dân chủ, mới thấy bắt đầu rút bài học kinh nghiệm. Rõ ràng rằng phương pháp phê bình thông thường trong nội bộ tổ chức không đủ để sửa chữa những sai lầm nghiêm trọng. Còn những sai lầm tương đối nhẹ hơn hoặc tác hại âm thầm hơn thì tất nhiên lại càng dễ xuý xoá. Cần phải có sự xây dựng tích cực của nhân dân mới ngăn ngừa được ảnh hưởng của những phần tử bảo thủ, lạc hậu, những ông Quan liêu, những ông Sĩ diện, những ông Bè phái luôn luôn cản trở đường lối quần chúng của Đảng. Nhưng vì chúng ta còn thiếu tập quán tự do, việc phê bình công khai tổ chức lãnh đạo thường dễ gây thắc mắc. Dù nội dung phê bình có đúng chăng nữa, dù kinh nghiệm có cho hay rằng không đặt vấn đề trước quần chúng thì không thể nào giải quyết kịp thời, nhiều anh em vẫn chỉ chú trọng nhận xét về “thái độ”, truy nguyên tư tưởng: thiếu tư tưởng, bất mãn, tự do tư sản, thoát ly lãnh đạo, thậm chí là bôi nhọ chế độ, để cho địch lợi dụng! Những anh em ấy không thấy rằng nhân dân được sự lãnh đạo của Đảng thì Đảng cũng phải được sự xây dựng của nhân dân, miễn là cuối cùng thì nhân dân thực hiện chủ trương chính sách của Đảng. Phê bình lãnh đạo không phải là thoát ly lãnh đạo mà là xây dựng lãnh đạo, và chính như thế mới là tin tưởng ở lãnh đạo. Mà nếu trong lời phê bình có phần “bất mãn”, thì có cái bất mãn ấy mới sửa chữa được sai lầm, có cái bất mãn ấy thì rồi lãnh đạo mới thoả mãn được nhân dân. Còn nói là “tự do tư sản”, thì thực là đánh giá qua cao giai cấp tư sản, làm hình như là chỉ có tư sản mới biết ăn nói, còn người lao động, chân tay hay trí óc, thì không có khả năng hay không có quyền tự do đặt trước nhân dân những vấn đề bị bưng bít trong tổ chức. Đến câu “bôi nhọ chế độ” hay “địch lợi dụng”, thì hãy hỏi: cái gì làm nhọ chế độ, những sai lầm phạm phải hay những ý kiến đề ra để sửa chữa những sai lầm ấy? Ví thử như chúng ta không nói đến sai lầm, thì có cấm được địch nêu ra không? Ai không biết rằng chúng ta có khuyết điểm? Giấu đi thì chỉ gây thêm cớ cho địch xuyên tạc, nhưng nếu nói ra mà thực sự sửa chữa được, thì cuối cùng làm sao mà địch lợi dụng được nữa?

Lãnh đạo theo đường lối quần chúng không phải chỉ là ngồi trên mà “tìm hiểu” quần chúng. Vì như thế vẫn là tự đặt mình trên nhân dân, mà người lãnh đạo không có quyền tự đặt mình trên nhân dân. Cương vị lãnh đạo chỉ là một vị trí phục vụ nhân dân, đấy là một chân lý căn bản, mà đã nhận cái chân lý ấy thì người lãnh đạo cũng phải tự thấy mình ở cùng một cấp với quần chúng, thực sự công nhận cái quyền bất khả xâm phạm của người công dân trong một nước dân chủ là công khai phê bình lãnh đạo trên báo chí, trước quần chúng. Lẽ cố nhiên trong khi thảo luận tự do, cũng phải có những ý kiến sai, những thái độ lệch, những chỗ quần chúng hiểu lầm, địch lợi dụng xuyên tạc. Nhưng những khuyết điểm của tự do chỉ có thể sửa chữa bằng phương pháp tự do. Chúng ta đấu tranh vì chính nghĩa, chúng ta phải tin tưởng rằng sau khi thảo luận rộng rãi, lẽ phải sẽ vỡ ra. Mà trước lẽ phải thì những lời xuyên tạc của địch sẽ quật lại về chúng, nhân dân ở vùng địch cũng như ở vùng ta sẽ càng tin tưởng ở chế độ dân chủ của chúng ta. Nghi ngờ khả năng nhận xét của nhân dân, coi nhân dân như còn ấu trĩ, hơi có gì khác thường đã nghi rằng “quần chúng hiểu lầm, địch lợi dụng”, rồi kết án mọi biểu hiện tự do ăn nói, chính đấy là khinh quần chúng, khinh nhân dân, thổi phồng kẻ thù mà gạt bỏ sự giúp đỡ của bạn, cuối cùng thì đẩy bạn về thù. Chính như thế mới là làm cho quần chúng hiểu lầm, tạo điều kiện cho địch lợi dụng.

Ở những nước đế quốc thống trị, kẻ thù của nhân dân nắm hết quyền hành, dùng hết thủ đoạn đàn áp, mê hoặc nhân dân, mua chuộc từng bộ phận để chia rẽ toàn bộ, thế mà quần chúng vẫn luôn luôn đấu tranh, có thể có sai lầm về một vài chi tiết, nhưng về căn bản thì phân biệt bạn thù; trắng đen rõ ràng. Ở nước ta, trên đất miền Bắc, chúng ta đã đánh đổ quân địch bên ngoài và kẻ thù bên trong, chính quyền là chính quyền của nhân dân, luôn luôn mưu hạnh phúc cho dân, giai cấp và Đảng công nhân lãnh đạo đã biểu hiện anh dũng và sáng suốt qua bao nhiêu năm cách mạng và kháng chiến, nhân dân kiên quyết xây dựng miền Bắc thành một cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh ở miền Nam, đường lối cách mạng từ đầu đã rõ, tương lai dân tộc sáng rực như vầng thái dương, Đảng và Chính phủ lại có đủ phương tiện tuyên truyền giáo dục để lãnh đạo tư tưởng, biến chính sách thành hành động tự giác của quần chúng. Không có lý do gì mà không tin tưởng ở nhân dân, không tin tưởng rằng những thắc mắc đề ra, những ý kiến phê bình căn bản là nhằm phục vụ mục đích chung, lấy kinh nghiệm thực tiễn mà góp phần sửa chữa sai lầm, chấn chỉnh tổ chức, cải tiến chính sách. Những ý kiến ấy phát biểu tự do có thể phạm vào địa vị, thành kiến hoặc thói quen của một số người trong tổ chức lãnh đạo, nhưng nhất định đấy không phải là thoát ly lãnh đạo, mà chính là củng cố lãnh đạo. Vì lãnh đạo là lãnh đạo nhân dân, là giai cấp và Đảng công nhân mở đường cho nhân dân cùng nhau thực hiện lý tưởng vinh quang và hạnh phúc của dân tộc và của nhân loại, vậy lãnh đạo vững chắc không phải là ở phương tiện đả thông hay cưỡng bách, mà chính là ở tính chất sáng suốt, mà lãnh đạo sáng suốt là do nhân dân xây dựng. Củng cố lãnh đạo không phải đơn thuần là tăng cường tổ chức chỉ huy, mà căn bản là phát triển tự do cho nhân dân xây dựng lãnh đạo. Có thể là lãnh đạo rất yếu với một tổ chức rất mạnh. Kinh nghiệm Cải cách ruộng đất là một bằng chứng điển hình. Không công tác nào đã tập trung chừng ấy phương tiện đả thông và cưỡng bách, bộ máy tổ chức được rèn dũa như một động cơ hiện đại kiên cố, nhưng cũng vì thế mà không nghe thấy ý kiến phê bình của nhân dân rồi đi đến chỗ làm ngược hẳn đường lối chính sách cách mạng, tấn công bừa bãi, phá huỷ cơ sở. Chính lúc Trung ương tin tưởng rằng nhờ tổ chức chặt chẽ mà nắm được hết thì biện chứng pháp của lịch sử đã quay lại vấn đề: tổ chức thoát ly quần chúng, lãnh đạo rất yếu, chỉ đạo lung tung.

Chúng ta có thể nhận định: vấn đề tự do của nhân dân miền Bắc hiện nay cụ thể trước mắt là tự do đối với những phần tử lạc hậu, bảo thủ, mang nặng di tích đế quốc phong kiến: quan liêu, giáo điều, bè phái, sùng bái cá nhân nằm ở mọi cấp lãnh đạo mà cản trở sự phát triển của chế độ dân chủ nhân dân, làm lệch công tác lãnh đạo của Đảng, đã gây ra nhiều tổn thất nghiêm trọng cho tổ chức, nói chung làm kìm hãm công cuộc kiến thiết miền Bắc, tranh thủ miền Nam. Nhiệm vụ chống những phần tử ấy căn bản là nhiệm vụ đấu tranh với bạn, tiến hành bằng phê bình và tự phê bình. Mà vì trong nội bộ tổ chức, vũ khí phê bình chỉ có tác dụng tương đối khá từ trên xuống dưới, và phần nào ở cùng một cấp, chứ còn từ dưới lên trên thì luôn luôn bị ngăn cản bằng cách này hay bằng cách khác, cho nên nhiệm vụ xây dựng lãnh đạo phải tiến hành tự do trên báo chí, trước quần chúng, tức là trong nội bộ nhân dân. Lẽ cố nhiên, nếu xét đến cá nhân từng người thì việc sửa chữa là trường kỳ, nhất là những bệnh trên đây đã ăn sâu và rộng. Nhưng để bảo đảm trực tiếp lợi ích của nhân dân, về phương diện tổ chức chúng ta cũng có mục tiêu thiết thực, là ngăn ngừa ảnh hưởng của những bệnh ấy ở mọi cấp lãnh đạo. Mà vì những bệnh ấy là di tích của chế độ cũ, đế quốc phong kiến, ngăn ngừa ảnh hưởng của nó ở mọi cấp lãnh đạo bằng cách phát biểu tự do phê bình công khai chính là hoàn thành thắng lợi cách mạng phản đế phản phong, kiện toàn chế độ dân chủ nhân dân, thực sự củng cố sự lãnh đạo của giai cấp và Đảng công nhân, tạo điều kiện thuận lợi đặng kiến thiết miền Bắc, tranh thủ miền Nam.

Trong bản tham luận đọc trước Đại hội thứ VIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đồng chí Đặng Tiểu Bình, hiện giờ Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nói: “Trái với chính đảng của giai cấp tư sản, chính đảng của giai cấp công nhân không coi quần chúng nhân dân như công cụ của mình; mà tự giác nhận rằng mình là công cụ của nhân dân để hoàn thành một nhiệm vụ lịch sử nhất định… Xác nhận quan niệm về Đảng như vậy là xác nhận rằng Đảng không có quyền vượt lên trên quần chúng nhân dân, tức là Đảng không có quyền ban ơn, cưỡng bách, mệnh lệnh đối với quần chúng nhân dân, Đảng không có quyền xưng vương xưng bá trên đầu nhân dân”.


*


Quảng cáo

Đón đọc Giai phẩm mùa Xuân 1957, Phụ bản "Thiếu nữ đi sắm Tết" của Lương Xuân Nhị, tranh bì Tết của Sĩ Ngọc, Minh Đức xuất bản


*




Tử Phác
Lời bàn thêm nhân bài "Qua cầu gió bay"



Thưởng thức dân ca là thưởng thức cái thẩm mỹ của người xưa. Đề cao dân ca tức là làm sao cho bật lên được những nét tiêu biểu của thẩm mỹ đó. Phát triển dân ca tức là am hiểu thẩm mỹ đó, tiếp tục phát huy nó để góp phần tạo nên một quan niệm thẩm mỹ của người thời nay.

Không nên bắt chước dân ca, dựa dẫm vào dân ca để bịa ra nét nhạc na ná như dân ca. Không nên gán ghép lời mới vào nhạc điệu của dân ca. Bình cũ rượu mới, nếu hiểu và làm theo nghĩa đen của nó, là một điều rất lố bịch. Vì một bài không thể nào chứa đựng được một lúc cả 2 thứ thẩm mỹ khác xa nhau hàng thế kỷ. Muốn biểu lộ tình ý mới, phải sáng tạo tác phẩm mới.

Trong giới nhạc sĩ ta, cho tới nay vẫn còn có người bắt chước dân ca (tôi cho đó là một hiện tượng nghèo cảm hứng và tính sáng tạo), vẫn còn có người áp dụng lối bình cũ rượu mới (tôi đó là chỉ mới nhặt nhạnh, ghi chép được mấy điệu dân ca mà đã vội chế biến ẩu đi, chứ chưa có nghiên cứu, suy nghĩ, và chưa hiểu gì về dân ca).

Hàng trăm năm trước thời đại chúng ta, nhiều nhạc sĩ Tây phương cũng đã từng nghiên cứu dân ca, như Debussy (Pháp), Glinka (Nga), Bela Bartok (Hung)… Cách làm của các nhạc sĩ bậc thầy đó không giống nhau. Người thì soạn hoà thanh cho dân ca như xây một chiếc bệ đẹp để làm tôn giá trị của một pho tượng cổ. Người thì nhân cảm hứng về một bài dân ca hay mà sáng tạo ra một tác phẩm mới chứa đầy tâm hồn của bài ca gợi cảm. Và còn nhiều cách làm khác nữa, ở đây chưa phải chỗ để kể ra tất cả. Nhưng có điều rõ rệt nhất là: các nhạc sĩ bậc thầy đó đều giống nhau ở chỗ hoàn toàn phân biệt việc đề cao dân ca (giới thiệu thẩm mỹ của người xưa) với việc phát triển dân ca (tiếp tục truyền thống cũ để xây dựng thẩm mỹ mới). Họ cũng không hề tự bó buộc một cách hẹp hòi trong phạm vi một dân tộc, một ngôn ngữ âm nhạc, một quan niệm thẩm mỹ.

Hiện nay, để giới thiệu dân ca của chúng ta một cách đúng đắn, trong giới nhạc sĩ ta đã có người chú trọng dùng nguyên điệu nguyên lời, có người soạn hoà thanh thích hợp cho dân ca, có người đem tổng hợp nhiều bài thành một tổ khúc (suite) để giá trị thẩm mỹ của nó được tập trung hơn. Tôi xin nói qua về trường hợp tôi nghiên cứu Quan họ và soạn bài tổ khúc “Qua cầu gió bay” này.

Khúc điệu A (Tử Phác ghi) có lẽ là khúc điệu nguyên bản cả về nhạc lẫn về lời của chủ đề Qua cầu gió bay, vì nó ý nhị mà sâu sắc, gọn gàng mà đầy đủ. Dù sao, điều đó cũng chỉ mới là giả thuyết mà thôi. Cho nên, xin gọi nó (cho đúng hơn) là khúc điệu được lưu truyền nhất về chủ đề này.

B và C là 2 nét nhạc của khúc điệu Gieo cải cấy cần (Tử Phác ghi). So với lời ca của khúc điệu A thì ý lời ca trong đoạn này đã khác hẳn đi, nhưng nét nhạc chủ yếu vẫn thế. Ở đây không sử dụng tới nét nhạc chủ yếu (vì giống khúc điệu A) mà chỉ rút ra lấy 2 nét nhạc đã biến đổi về điệu và nhịp để làm câu chuyển đoạn trong tổ khúc, đồng thời cũng có sắp xếp, biến chế lại. Về lời ca, không dùng ý của bài này, mà chỉ rút ra lấy mấy lời của nó, láy đi láy lại để sử dụng trong tổ khúc cho thích hợp mà thôi.

Khúc điệu D (Nguyễn Đình Tấn ghi) có thể được coi là một khúc điệu biến thể khúc điệu A (theo giả thuyết A là nguyên điệu). Bài D này có tính cách kể lể khúc nhôi, vụ lời chứ không vụ nhạc, nên cách điệp khúc có bề rối rắm, lằng nhằng. Ở đây chỉ giữ lấy sự diễn biến của nét nhạc chuyển thể chứ không khép toàn bài vào tổ khúc. Câu nhạc “nón để ới a làm tin” là câu kết của bài D, nhưng ở đây lại sắp xếp vào chỗ khác để giữ cho các câu nhạc kết trong đoạn được thống nhất trong toàn tổ khúc.

Lời ca của bài D cũng giống như bài A, tả đôi tình nhân ngả nón ra ngồi, cởi áo cho nhau, tháo nhẫn cho nhau... Duy, trong bài D thì người con trai không nhủ bạn tình về nhà dối cha dối mẹ… mà lại nhủ rằng nếu về nhà anh hai có hỏi thì chị hai về nói dối anh hai rằng… Đây tôi chưa bàn về mặt luân lý, đạo đức. Xét về mặt thẩm mỹ thì thấy trong cả hai bài, tình người vẫn chỉ là một, ý tứ cũng vẫn thế, cho nên không cần thiết phải thay đổi tình ý của chủ đề.

Tôi nghĩ rằng hình thức tổ khúc có thể dùng vào việc đề cao dân ca (giới thiệu thẩm mỹ của người xưa) mà cũng có thể dùng vào việc phát triển dân ca được (nhân cảm hứng về một bài dân ca nào đó mà sáng tác mới để biểu lộ quan niệm của mình). Ở đây tôi chỉ làm việc đề cao mà thôi. Trong việc này, người soạn dân ca không chỉ biết có nô lệ vào dân ca, mà tất nhiên phải có một quan niệm thẩm mỹ nhất định nào đó rồi, để đánh giá và phân tích các khúc điệu mà tổng hợp lại thành tổ khúc. Chọn lấy khúc điệu hay nhất, rồi đem những câu, những đoạn hay của các khúc điệu khác mà bổ sung thêm vào. Tuy rằng lời ca rất quan trọng trong bài hát, nhưng bao giờ giai điệu cũng là chính chứ không phải là lời ca. Chỉ cần giữ đúng chủ đề của nguyên điệu và giữ được tính chất thẩm mỹ cho thống nhất là có thể sưu tầm lời ca của điệu khác hoặc có thể sưu tầm ca dao cổ mà thay thế vào được. Nếu bịa thêm vào những nét nhạc lố lăng và lời ca thô kệch của thời nay thì có khác gì đem quét sơn dầu lên một pho tượng cổ sơn son thếp vàng.

Một vài ý kiến sơ bộ và thí nghiệm đầu tiên, mong các bạn tham khảo để tìm tòi thêm nữa.


*


Thông báo
Cùng các bạn gửi bài đăng Giai phẩm
  • Đề nghị bài nên viết một mặt giấy.
  • Đề nghị ghi địa chỉ rõ ràng.
  • Bài không đăng, không gửi lại bản thảo.

Giai phẩm
Nguồn: Giai phẩm mùa Đông Tập I, in tại nhà in Sông Lô, 18, Trường Thi, Hà Nội xong ngày 28-11-56 – do nhà Minh Đức xuất bản. Bìa sách do nhà Quảng Nghi và Minh Đức in, họa sĩ Sĩ Ngọc trình bầy và do hai ông Nguyễn Viết Thưởng và Ngô Quang Thịnh trông nom – Bản khắc của Trần Tiến Mỹ. Số sách in 3100 cuốn – khổ 16×24 – 72 trang. Số xuất bản 53, số in 414 nộp lưu chiểu tháng 12-56. Bản điện tử do talawas thực hiện, với sự giúp đỡ của NTT.