trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 201 bài
  1 - 20 / 201 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
23.4.2007
 
Giai phẩm mùa đông 1956 - Tập I
 1   2   3   4 
 
Sĩ Ngọc
Làm cho hoa nở bốn mùa

Hiện nay phong trào văn nghệ đang có những cuộc tranh luận sôi nổi đều có mục đích làm cho các hoa nghệ thuật đua nhau tươi đẹp tô điểm cho chế độ ở miền Bắc. Muốn như thế, không thể chỉ giải quyết những hiện tượng quan liêu, máy móc, hẹp hòi, độc đoán hay bè phái. Cũng không phải có thể giải quyết bằng những bài ôn tập chính trị phục vụ ai? lập trường nào? mà đa số anh em đã học trong kháng chiến. Chúng ta cứ lúng túng mãi, chúng ta cứ hẹp hòi mãi, quan liêu mãi, còn có thể như thế được nữa, hoặc hơn thế nữa nếu chúng ta không cùng nhau giải quyết vấn đề chính yếu: một chính sách nghệ thuật đúng đắn và cụ thể. Một đường lối lãnh đạo dân chủ thực sự.

Không có hai cái đó làm phương châm hoạt động thì dù có bỏ người này đi, thay người khác lên rồi cũng vẫn là rơi vào tình trạng như cũ mà thôi. Không có chính sách cụ thể và lãnh đạo dân chủ thì không thể có tác phẩm nhiều và tốt. Một phong trào nghệ thuật, không thể căn cứ vào nhận định của nghệ sĩ trên bài thu hoạch, trên báo chí, trong học tập phát biểu, mà phải chủ yếu căn cứ trên sáng tác của họ. Phải có sáng tác và nhiều sáng tác mới có thể có nhận định cho đúng đắn và tìm ra phương hướng mới. Ở đó đẻ ra lý luận, lý luận thực sự văn nghệ của xã hội.


Ai giồng hoa?

Tác phẩm nghệ thuật là hoa, nghệ sĩ là người trồng hoa, chế độ là đất. Ai đã từng sống qua chế độ phong kiến và thực dân ở nước ta, ai đã từng biết xã hội tư sản như ở châu Âu đều thấy rằng căn bản là chỉ có chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mới là nơi đất tốt cho nghệ thuật phát triển. Ở hai chế độ xã hội kia, hoa là một thứ nô lệ quỳ mọp xuống chân phong kiến và là một thứ bán buôn lăn trên tay của bọn tư bản có tiền mua mâm mà đâm cho thủng. Vì biết như vậy nên hầu hết nghệ sĩ nước ta đều theo cách mạng, và đã theo kháng chiến.

Nhưng không phải có đất rồi là ra lệnh cho hoa nở. Đất phải đập cho nhỏ, phân cho tốt, mưa nắng đều hoà, chọn giống tốt và ươm cho khéo. Phải có bàn tay của người trồng hoa có nhiều kinh nghiệm và kỹ thuật điêu luyện. Phải để cho người trồng hoa ươm hoa cho nở nhiều lên rồi hãy chọn. Đừng bẫm hoa ngay từ khi chưa mọc. Đừng chỉ thích hoa này hoa nọ. Đừng bắt người giồng hoa uốn cành, bẻ lá theo ý mình. Đừng để cho hoa héo sau khi đã nở. Đừng để các người giồng hoa đói, rét, không có hạt giống không có cuốc xới, không có nước tưới.

Đừng chỉ thúc hoa nở khi cần dùng nó tức thời. Hoa phải nở bốn mùa, lúc nào cũng nở.

Muốn sản xuất nông nghiệp tốt, đầu tiên là phải giải phóng nông dân ra khỏi ách phong kiến địa chủ, nông dân mới phát huy được hết khả năng sản xuất. Nhưng từ chỗ có ruộng đất mà không có trâu bò hay nông cụ thóc giống cải tiến kỹ thuật, lãnh đạo nông nghiệp thì nông dân cũng đành chịu bó tay, không thể có lúa được.

Cách mạng tháng Tám đã giải phóng nghệ sĩ ra khỏi ách thống trị của đế quốc và thực dân. Nghệ sĩ căn bản không còn phải nô lệ, không còn phải đem hàng của mình đem rao cho kẻ có tiền. Họ đã có trách nhiệm với xã hội. Đến nay trong công cuộc xây dựng một xã hội mới trong không khí hoà bình, họ lại càng có trách nhiệm cao hơn nữa.

Trước hết phải tạo cho nghệ sĩ một bộ óc và một con tim có đủ khả năng độc lập để có trách nhiệm với cuộc sống. Ít lâu nay cuộc tranh luận về văn nghệ và chính trị đã làm cho mọi người hiểu rõ vấn đề hơn. Nhưng vẫn còn một số người chưa thấu nổi vấn đề trách nhiệm của nghệ sĩ vẫn còn đem nhai lại một số lý luận mác-xít: văn nghệ phải phục vụ chính trị, văn nghệ phải có lãnh đạo, phải phục vụ công nông binh v.v… Và cụ Mao đã nói, cụ Lê-nin đã nói v.v… Chả nhẽ lại nhắc tới câu điển hình của một nhân vật của Vũ trọng Phụng là “Biết rồi khổ lắm nói mãi!”. Biết rồi từ bao năm nay những lý luận ấy, biết rồi từ bao năm nay nên hầu hết các văn nghệ sĩ mới tham gia kháng chiến, đã phục vụ công nông binh tự nguyện theo sự lãnh đạo của Đảng Lao động. Đề nghị xin nói cái khác. Đề nghị xin nói về cách lãnh đạo như thế nào cho văn nghệ phát triển tốt chứ không ai nói là xin thôi đừng có lãnh đạo nữa. Sự đòi hỏi hiện nay của nghệ sĩ để có một trách nhiệm với xã hội là vì đã có những quan niệm sai về chính trị lãnh đạo văn nghệ.

Từ cách mạng cho đến nay, một số lớn các cán bộ chính trị đã cho rằng phần nội dung chính của một tác phẩm nghệ-thuật phải do họ đề ra và thể hiện nội dung ấy nghệ sĩ chỉ đem bàn tay khéo léo ra làm đúng như ý trên. Cán bộ chính trị đã tưởng rằng mỗi một cá nhân họ là bao gồm hết nội dung chính trị của xã hội. Người làm văn nghệ thì nghĩ rằng họ phục vụ chính trị là phục vụ chính trị của xã hội. Ấy là phục vụ cách mạng, phục vụ nhiệm vụ giải phóng dân tộc, phục vụ nhiệm vụ giải phóng nhân loại dưới lá cờ của Đảng tiền phong. Nghệ sĩ do vậy càng cần phải học tập, thấm nhuần hiểu biết xã hội sâu sắc, nắm vững chính sách của Đảng rồi thể hiện lên tác phẩm bằng cảm xúc của bản thân mình. Do vậy họ cũng phải có một nhận thức xã hội khá, bao quát thì mới nắm được vấn đề xã hội. Làm đúng hay làm chưa đúng, họ cũng như một cán bộ chính trị khi thể hiện chính sách do kinh nghiệm và thực tế công tác mà chỉnh đốn dần. Nghĩa là trên vị trí xã hội, phân công của xã hội, hai con người ấy không ai dưới ai cả và đều bình đẳng. Vì cả hai đều được sự giáo dục của Đảng của cuộc đấu tranh xã hội và cùng có nhiệm vụ như nhau, trình độ chính trị như nhau. Một tác phẩm nghệ thuật chỉ có kết quả khi nào nó là kết tinh của bộ óc, trái tim của một người nghệ sĩ. Nó không thể nào tốt và nảy nở khi nó bị chỉ huy bởi một bộ óc này một trái tim khác. Vấn đề là ở chỗ ấy. Thực tế là cán bộ chính trị đã bắt nghệ sĩ làm theo ý chủ quan của họ. Trong kháng chiến và đến nay, vẫn còn có tác phong vi phạm đến trách nhiệm của người làm nghệ thuật. Tôi đơn cử những thí dụ: làm một tấm tranh áp-phích hay một cái bìa sách thôi cũng phải qua sự duyệt của rất nhiều cấp bộ. Tôi hoàn toàn đồng ý với trách nhiệm chính trị của những người phụ trách của Đảng trên lĩnh vực duyệt tác phẩm có sai phạm về đường lối chính trị căn bản nghĩa là: nếu có lợi cho địch, phạm vào chính trị của chế độ ta. Có thể có những anh em nghệ sĩ chưa thấu suốt những nguyên tắc chính trị ấy như trình độ của chung cán bộ khác. Nhưng vấn đề duyệt đây đã từ điểm căn bản ấy lan sang địa phận khác: đem chủ quan của mình sắp xếp nghệ thuật. Sự tham gia ý kiến có tính chất quyết định và bắt buộc hoàn toàn do ý thích chủ quan cá nhân bắt chủ quan của nghệ sĩ phải thủ tiêu để theo họ. Cũng vẫn nói là tự do song thực tế, nghệ sĩ không làm theo thì khó mà công việc ấy tiến hành được. Một người bạn tôi có làm một bức áp-phích cho một cuộc triển lãm của một đoàn thể. Sau khi nhận được ý chỉ đạo, anh bạn bèn đem nhiệt tình và cảm xúc của mình với phong trào của đoàn thể ấy mà làm một cái phác thảo để đem cho ban phụ trách triển lãm xem. Ban triển lãm bèn đem cho bẩy cấp thường vụ duyệt. Anh A có ý kiến thêm cái này, anh B lại bảo bỏ và thêm cái khác, anh C bảo nên đổi mầu này thì hơn, anh Đ bảo nên vẽ theo cái ấy của Liên-xô, anh E bảo nên cho người này giơ tay cạnh người này, anh G bảo nên cho cười, anh H bảo phải thêm cương quyết. Anh bạn tôi thấy các dự kiến của mình đều bị đảo lộn. Phải làm lại phác thảo theo dự kiến của nhiều người khác. Làm như thế đến ba lần, đến khi phác thảo hoàn toàn minh hoạ cho ba bẩy hai mươi mốt lần ý kiến khác nhau kia. Còn dự kiến của hoạ sĩ thì hết sạch. Anh bạn thấy bực mình lắm định không làm nữa nhưng vì muốn phục vụ thì ít mà vợ con túng thiếu thì nhiều nên phải làm vậy. Ấy, đại thể cái lôi thôi của việc liên quan giữa chính trị và văn nghệ như thế. Đừng ai nói nữa rằng đó là chuyện tham gia ý kiến cá nhân mà thôi. Không, ý kiến ấy không hề tuyên bố là bắt buộc nhưng không làm theo thì khó mà làm nổi. Tôi đã phải thôi một số tranh đặt vì tôi không làm theo được thế nên người ta phải tìm người khác dễ bảo hơn. Những chuyện như vậy là nhiều lắm, thành tác phong phổ biến của cái mệnh danh là chính trị lãnh đạo văn nghệ. Nhưng thực ra chỉ là phải theo kiến thức chính trị có hạn định và ý thích chủ quan của một số cán bộ chính trị. Ở gần trung ương còn nhẹ, chứ ở các địa phương, còn lôi thôi hơn khi mà nghệ sĩ công tác ở một cơ quan đoàn thể nếu không triệt để theo ý kiến của phụ trách, nếu muốn có phần mình vào đó thì chỉ còn cách ngồi kiểm thảo về ý thức tổ chức, tư tưởng tự do vô chính phủ, muốn thoát ly lãnh đạo, bị ảnh hưởng nghệ thuật tư sản v.v… luôn có sẵn các loại mũ tiến bộ để bắt người nghệ sĩ phải nghe theo ý mình. Đó là còn rây rớt tác phong lãnh đạo nghệ thuật của giai cấp phong kiến khi chúng bắt nhân dân làm đền đài và tô điểm cho chúng.

Theo chủ quan, tôi chưa hề thấy những bạn đồng nghiệp nào của tôi có ý muốn không phục vụ chính trị, nhưng đều lên tiếng phàn nàn về sự áp chế nghệ thuật của những cán bộ phụ trách mình. Những cán bộ ấy tưởng lầm một cách ngây thơ là cứ bằng lập trường và quyết tâm của họ là cái gì cũng xong, cũng biết, cũng lãnh đạo được.

Muốn lãnh đạo cái gì cần phải biết cái đó. Đó là tác phong lãnh đạo cách mạng. Phải hiểu nông thôn mới lãnh đạo được nông nghiệp, phải hiểu thành thị mới lãnh đạo được công nghiệp, phải hiểu nghệ thuật mới lãnh đạo được văn nghệ. Quan điểm “thành phần chủ nghĩa” đã làm cho một số đông tưởng lầm rằng là thành phần công nông thì cái gì cũng làm được. Họ đã đánh giá sai sự giác ngộ chính trị của người nghệ sĩ và không biết thực tế của Việt Nam về nghệ thuật như thế nào?

Các nước ở châu Âu đã trải qua từ xã hội phong kiến sang xã hội tư sản lúc cực thịnh. Từ thế kỷ thứ 15, nghệ thuật đã chuyển qua ý thức hệ tư sản. Các nghệ sĩ cũng trong phong trào ấy mà tiến hành nghệ thuật. Nghệ sĩ các nước châu Âu đã từ lâu ra khỏi ách phong kiến và đi sâu vào tư tưởng của chủ nghĩa tư bản trong đó bước đầu con người được sống tự do. Nhưng họ lại bị rơi vào ý thức hệ của chủ nghĩa cá nhân, của thứ tự do tư sản đặc biệt là tư tưởng hưởng lạc và ý thức tự do vô chính phủ. Chủ nghĩa cá nhân được lên tới mức tột độ của nó, nên cũng đã mang dấu vết vào phong trào nghệ thuật ở châu Âu.

Ở nước ta, trước cách mạng, chúng ta hãy còn sống trầm trệ trong ý thức hệ phong kiến lạc hậu. Mỗi con người chưa được có quyền sống chính đáng của mình. Tất cả quyền hạn của con người đều bị thủ tiêu. Nghệ thuật của chúng ta cũng như vậy. Trước hồi Pháp thuộc, nghệ thuật phục vụ cho tôn giáo và phong kiến. Người làm những tác phẩm còn lại đều vô danh, đều là những nô lệ thực hiện ý kiến của chúa phong kiến trong ấy họ không có quyền có trách nhiệm. Thời Pháp thuộc, xã hội ta cũng còn ở trong kinh tế lạc hậu, tư bản thực dân sang đây cũng trở thành trùm phong kiến mới, kỹ nghệ nặng không phát triển, kỹ nghệ nhẹ bị kìm hãm, nông dân cơ cực dưới nanh vuốt của phong kiến địa chủ và quan lại tay sai của trùm thực dân. Nghệ thuật cũng như thế. Tên toàn quyền Decoux đã bắt một nghệ sĩ của ta phải vẽ sau cảnh chùa Sài Sơn một cảnh biển có thuyền và tàu. Chỉ vì y là đô đốc hải quân. Một sinh viên trường Mỹ thuật Đông dương đã phải vẽ cô Bạch Tuyết và bẩy chàng lùn vào một cái chuồng xí cho con tên thống sứ Grandjean. Còn nhiều chuyện khác mà bất cứ người nghệ sĩ nào đã phải kiếm sống ở thời Pháp thuộc đều nghĩ đến mà tủi nhục. Thực tế họ chưa được có quyền sống như ở xã hội tư sản. Họ chưa có những quyền ấy trước cách mạng. Người tiêu biểu nhất cho nghệ thuật của thời trước cách mạng là Tô Ngọc Vân và Gia Trí cũng chỉ là những nghệ sĩ “cỡ nhẹ” so với cái tự do của cá nhân của các nghệ sĩ châu Âu. Vì nói chung, đời sống nghệ thuật của họ tuy có bị ảnh hưởng của tư sản Âu châu song ảnh hưởng không thể nào sâu sắc vì thực tế xã hội chưa qua giai đoạn tư bản thực sự.

Cho nên khi đi với cách mạng đi tham gia kháng chiến, họ dễ vứt những yêu cầu cá nhân để thích ứng với tập thể. Vì đã có đâu mà vứt, hoặc có nhưng chỉ mới có một ít thôi. Cho nên, họ đi với cách mạng đi làm cách mạng để giành quyền sống đã bị cướp đoạt. Cho nên họ chịu đựng hết mọi thiếu thốn, kham khổ trong kháng chiến để có một lý tưởng cao quý kia: giải phóng con người của xã hội và bản thân họ. Không có cái ấy không thể nói chuyện làm nghệ thuật, và cũng không thể có nghệ thuật chân chính. Sự đòi hỏi quyền sống ấy thật là chính đáng rất phù hợp với nguyện vọng của toàn dân, rất phù hợp với mục tiêu đấu tranh của cách mạng do Đảng Lao động lãnh đạo.

Chuyển từ xã hội phong kiến không qua giai đoan xã hội tư sản như bên Âu châu, mà qua ngay xã hội chủ nghĩa về tự do dân chủ, lãnh đạo phải đặt vấn đề: hoàn thành nhiệm vụ giải phóng quyền sống cho con người trong đó có nghệ sĩ.

Riêng về nghệ thuật, lãnh đạo cũng phải hoàn thành và thực hiện nhiệm vụ: trao trách nhiệm xã hội cho người nghệ sĩ mà trước cách mạng họ chưa có. Đặt vấn đề ấy có hai mặt: sự đòi hỏi quyền tự do sáng tác này nhất thiết phải giải quyết nhưng cũng phải dè chừng tác phong sống kiểu tự do tư sản.

Ở điểm này nếu không phân biệt rõ tự do dân chủ tự do tư sản thì dễ có lầm lẫn là hễ có người đòi tự do là bị quy ngay là tự do tư sản. Hiện tượng này đã có trong phong trào văn nghệ hiện nay. Cũng cần sáng suốt phân biệt sự yêu cầu trách nhiệm chính đáng của nghệ sĩ khác với sự đòi thoát ly lãnh đạo. Cần hiểu kỹ hiện tượng không thì dễ rơi vào tình trạng quy kết vào là bất mãn, phản động không có lợi cho việc xây dựng chung.

Một số các nhà lãnh đạo chưa hiểu được thực tế của phong trào nên cứ lo xa anh em văn nghệ bị sa ngã. Những con người ăn ngô, ăn sắn, nằm rừng, đi bộ hàng ngàn cây số, được giáo dục trong chín năm kháng chiến dễ mà phút chốc ngã theo địch hay sao? Chúng ta không duy tâm, nhưng chúng ta cũng phải biết rằng rất nhiều người có thể chịu đựng được kham khổ về vật chất để có một tự do về tâm hồn. Gần một trăm năm bị nô lệ há chẳng làm cho người nghệ sĩ nhìn rõ con đường minh đi và tin tưởng ở cách mạng hay sao?

Nhiều bạn văn nghệ ngoại quốc đến Việt Nam rất ngạc nhiên vì thấy văn nghệ sĩ có thể sống tập thể với nhau trong kháng chiến và hiện tại. Cái đó chứng tỏ hiện tượng gì? Là chủ nghĩa cá nhân tư sản chưa sâu sắc ở thành phần nghệ sĩ, là lòng yêu nước, yêu chế độ sâu sắc của họ đã khiến cho họ có thể chung sống được như vậy, dưới một hình thức tập thể dù còn sống sượng và lệch lạc. Cái đó, lãnh đạo cần thấy rõ, biết sâu để đánh giá nghệ sĩ cho đúng và cũng để mạnh bạo trao trách nhiệm nghệ thuật của xã hội cho họ.


Cần thiết một chính sách cụ thể

Căn bản của hoạt động nghệ thuật xuất phát từ mỗi cá nhân nghệ sĩ. Một cuốn tiểu thuyết, một bức tranh, một bản nhạc không thể dễ dàng làm tập thể. Hiện nay, mỗi tác phẩm nghệ thuật đều do cá nhân nghệ sĩ đảm bảo. Mỗi cá nhân đó, được xã hội và chế độ đào tạo thành một cá tính. Nghệ thuật không thể sản xuất hàng loạt như máy, cho nên lại càng phải phát huy mỗi cá tính của mỗi nghệ sĩ. Từ trước tới nay trên lý luận chúng ta đều công nhận như thế, nhưng trên thực tế thì chúng ta đã khuôn ép vào một vài xu hướng một chiều. Tình trạng nghèo nàn của tiểu thuyết, của nhạc, của hoạ, sự sáng tác hấp tấp của chủ nghĩa thực tiễn, của đường lối phổ cập mà thiếu đề cao, chứng tỏ những thiếu sót lớn của phong trào. Đó là do lãnh đạo không thấu hiểu công việc nghệ thuật, thiếu dân chủ.

Sự lãnh đạo nghệ thuật yêu cầu một tầm mắt bao quát và sâu rộng, sự hiểu biết cần thiết của phong trào nghệ thuật trên thế giới và thực tế trong nước. Thiếu những kiến thức ấy, lại thiếu một chính sách về nghệ thuật nên lãnh đạo không vững tay, nhìn hẹp hòi, không tin ở quần chúng nghệ thuật, không khai thác hết khả năng chuyên môn của mọi người. Đầu óc hẹp hòi khiến cho lãnh đạo đã đánh giá khả năng nghệ thuật ở cấp bậc hiểu anh em qua những người ít thấu hiểu nghệ thuật, cuối cùng thu lại chỉ có tự tin mình và những người xung quanh mình, cùng tán thành với mình những chủ trương nghệ thuật một chiều. Các nhà văn lãnh đạo mỹ thuật, ca nhạc, vũ. Các cán bộ tuyên huấn, cán bộ chính trị lãnh đạo mỹ thuật, vũ, kịch, nhạc. Tình trạng bất hợp lý này hiện nay vẫn còn. Cho nên lãnh đạo đã dập tắt nhiều thử thách nghệ thuật. Hoặc nó có lỡ mà sinh ra thì được nằm trong một dư luận quần chúng không có lợi. Không phải ngày nay ông Lục Định Nhất nói “trăm hoa đua nở” thì mới có trăm hoa đua nở? Còn hoạ sĩ Tô Ngọc Vân, còn những anh em hoạ sĩ trong kháng chiến, đã có những đề nghị về đua nở trăm hoa với lãnh đạo. Năm 1951 Văn Cao vẽ tranh sản xuất khuynh hướng lập thể (hiện nay có mặt ở phòng triển lãm mỹ thuật Việt Nam ở các nước bạn) bị đập tơi bời, Nguyễn Sáng vẽ một bà cụ cầm một con cá cũng bị phê bình nặng. Tân Hội hoạ ở Âu châu bị xem như là thuốc độc và của quốc cấm. Khoá mỹ thuật kháng chiến cũng đã bị phê bình là tư sản hữu khuynh khi có một số anh em giảng về hoạ sĩ Van Gogh và Cézanne. Nhưng dù sao các nhà mỹ thuật cũng không học tập một cách nô lệ những kinh nghiệm được giới thiệu và coi là duy nhất về nghệ thuật.

Công việc nghệ thuật cần mạnh tay câm lái, có thể rất nhiều thất bại, nhưng chỉ ở những thử thách lớn và liên tục mới đẻ ra phát minh và sáng tạo. Nghệ thuật không chỉ là một bánh xe lăn mãi một con đường đã mòn, đã cũ. Phải dựa trên cơ sở cá tính độc đáo của từng nghệ sĩ mà phát huy và lãnh đạo. Nhất thiết cần tin và coi trọng nhân tài thì mới có tài năng cho chế độ.

Không thể cứ áp dụng mãi lề lối lãnh đạo nghệ thuật trong kháng chiến ở không khí kiến thiết xã hội trong hoà bình. Điểm thứ nhất là phải trả nghệ sĩ về cho nghệ thuật. Cần phải mạnh dạn giải phóng họ ra khỏi chế độ, công chức, ăn lương theo cấp bậc, ngày làm số giờ quy định. Cần phải giải phóng họ ra khỏi bộ máy nặng nề biến họ thành những người thư ký thạo công văn, điện văn, giải quyết các việc linh tinh, việc hủ hoá tham ô, việc lãnh đạo sinh hoạt. Cần giải phóng họ ra khỏi không khí của bốn bức tường quét vôi của cơ quan, sáng cắp mũ đến sở, tối cắp mũ về. Không thể xếp thì giờ công tác và sáng tác xé lẻ trong từng ngày, không thể mỗi năm chỉ đi sáng tác có hai tháng. Công tác của họ là ở cuộc sống, nằm giữa cuộc sống, thâm nhập cuộc sống. Không thể thỉnh thoảng mới tổ chức rầm rộ một đoàn đi nông thôn xí nghiệp, cơ xưởng v.v… có diễn văn khai mạc và tiễn biệt. Cần giải phóng họ ra khỏi đầu óc địa vị, cấp bậc quan cách của mọi thứ trưởng ban phó ban. Địa vị của họ ở tác phẩm, ở việc phụ vụ nhiều hay ít.

Cần phải có một chế độ riêng cho văn nghệ, phải cho họ sống bằng sáng tác của họ, cho họ phục vụ bằng sáng tác của họ, địa vị xã hội của họ phải được xác định – Ở xã hội cũ, mạnh ai nấy trội lên, ở xã hội của chế độ ta Chính phủ và Đảng phải bảo trợ cho văn nghệ sĩ. Không thể coi nhẹ việc Ban viện trợ Trung ương cho là viện trợ mỹ thuật (xin từ năm 1951) không phải là máy cho nên không gửi đi và đến đầu năm 1956 mới biết. Không thể coi nhẹ việc lãnh đạo mỹ nghệ giao cho Bộ Công thương biến những hàng mỹ nghệ của ta đến mức tồi bại. Không thể coi nhẹ đến mức nhà in quốc gia chỉ đặt vấn đề in tranh phổ biến vì nó bán được hay không bán được chứ không vì cần cho chính sách. Không thể coi nhẹ như Vụ Thời sự Chính sách không hề có in một tấm áp-phích cổ động cho các chính sách lớn của Chính phủ và Đảng.

Một quỹ nhất định cần được phê chuẩn cho hoạt động nghệ thuật. Hoạ sĩ, điêu khắc gia cần có dụng cụ tối thiểu, nơi làm việc tối thiểu, phải có xưởng làm việc riêng. Chúng ta không thể chỉ gậm nhấm một số thuốc vẽ thời còn kháng chiến. Cần phải chấm dứt tình trạng thương mại trong nghệ thuật. Một nghệ sĩ cần phải đặt hai chương trình làm việc: một cho cơ quan để phục vụ cần thiết, đề tài cần thiết, một cho bộ phận giao tế để có tiền chi phí về thuốc vẽ và nhu cầu sinh hoạt. Tình trạng ấy đang làm cho chúng ta chú ý. Nghệ sĩ không được tập trung vào hoạt động nghệ thuật chính yếu, còn mải lo về sinh kế, về gia đình. Họ cần được thảnh thơi hơn, tĩnh trí hơn, yên tâm làm nghiệp vụ của mình.

Công nhân làm cách mạng có xưởng máy, nông dân có đồng ruộng, trí thức có tự do tư tưởng thì nghệ sĩ làm cách mạng để có tác phẩm.

Cần làm cho phong trào nghệ thuật có nhiều tác phẩm, nghệ sĩ luôn luôn sáng tác, như vậy mới mong trăm hoa đua nở, như vậy mới mong trong vài năm nữa phong trào văn nghệ lớn mạnh hẳn lên.


Trúc Lâm
Ngọn đèn

Nhớ những ngày xưa,
Buổi đêm hè dạo chơi trên đường nhựa,
Đứng nhìn về Hà Nội,
Trong vòm trời đen tối
Toả lên ánh sáng rực hồng.
Hà Nội,
Trung tâm hoạt động,
Những con người ôm ghì cuộc sống
Chờ đợi
Ngày mai
Ngọn hải đăng giữa biển rộng đêm dài.

Bỗng một buổi
Có lệnh phòng không
Những ngọn đèn úp mặt xuống đường
Hắt tia yếu ớt
Như mặt người tái nhợt
Đợi giờ kèn trống lôi đi!

Cửa sổ,
Ánh sáng như mơ,
Đôi trai gái quàng vai nhau tình tự,
Vì đâu khép kín tâm tư?
Dán giấy đen trên ô cửa kính,
Bầu trời bỗng tối như bưng…
Ánh sáng hoà bình
Trả lại cho ngọn đèn
Sức mạnh quét sạch bóng đen.
Cửa sổ
Ánh sáng tràn dâng trong nhà, ngoài phố.
Từng đôi lại từng đôi,
Chụm đầu nhau lau bụi ngọn đèn,
Cho sức sáng lại càng thêm sáng,
Cho tình yêu càng thêm lai láng.

Gối đầu lên trang giấy trắng
Nét mực chưa khô
Những dòng máu đỏ
Viết chuyện hoa, chuyện bướm
Chuyện gió mát bên hồ.

Người nghệ sĩ ngẩng đầu lên
Ngọn đèn đã tắt tự bao giờ…


Quảng cáo

Tấm Cám, truyện cổ tích kể bằng thơ, áng văn kiệt tác của Tú Mỡ, minh hoạ tám màu của Tô Ngọc Vân, tranh bìa năm màu của Trần Văn Cẩn, ấn loát mỹ thuật do Lương Xuân Nhị trông nom. Minh Đức - Thời Đại xuất bản


Hữu Loan
Lộn sòng

Hôm nay Tuất nhất định làm cho xong hồ sơ để đưa lên ty giáo dục. Hắn cho là sở dĩ hắn bị biên chế ra khỏi trung đoàn cũng chỉ vì bản hồ sơ đã làm thật thà quá. Rút kinh nghiệm lần này hắn sẽ làm một tập hồ sơ có thể gọi là căn bản, có tính chất định đoạt đến địa vị công tác của hắn. Không phải mãi hôm nay khi cầm bút làm hắn mới nghĩ như vậy mà ngay từ khi mới bước chân vào trường hắn đã bận tâm đến việc này rất nhiều.

Nhưng hôm nay đầu óc hắn căng thẳng như tất cả những cái căng thẳng hàng ngày trong gần một tháng nay cộng lại. Hắn biết là hắn sẽ làm một việc nói dối rất đê tiện đối với một đảng viên, nhưng hắn thấy rằng hắn cũng chỉ nói dối một phần nào chứ không hoàn toàn nói dối hẳn. Về tờ khai danh dự trình độ văn hoá hắn sẽ khai là đã học đệ nhất chuyên khoa. Khai là đâu đít-lôm thì lộ quá mà khai là mới học đệ tứ thì không oai. Về thành phần xuất thân hắn sẽ khai là công nhân. Hồi ở Đà Lạt hắn chẳng làm công nhân nhà máy gạch là gì. Một điểm nữa trong bản lý lịch cũng rất quan trọng là những công tác đã qua. Nếu anh kể toàn những công tác ở những cấp cao thì anh sẽ bị coi là một người thiếu công tác cơ sở, một người mất gốc và sẽ bị coi như là một người chưa vững về lập trường giai cấp. Nghĩ như thế nên hắn sẽ khai là sau cách mạng hắn làm chủ nhiệm Việt Minh xã.

Suy nghĩ đâu vào đấy cả, chỉ còn một việc viết vào giấy mà vẫn thấy khó quá. Những câu văn nó cứ lôi thôi không gọn một tí nào. Hắn viết viết xoá xoá hai ba lần. Bỗng nhiên hắn nghĩ đến chữ ký của hắn chưa được oai, thế là hắn xoay ra ký. Hắn ký đầy hàng trang giấy, cũng chưa tìm được một kiểu nào thật là vừa ý. Ký chán đến vẽ. Hắn vẽ những hình vuông, những hình tam giác béo, gầy, đủ kiểu đủ cỡ, những cặp môi, những đôi mắt của thiếu nữ đã gặp. Vẽ xong hắn lại viết những chữ q, chữ l, chữ c hoa quấn quít quanh chữ t hoa. Khi đã đầy một trang giấy lớn hắn lấy bút xoá đi xoá lại rất kỹ nhất là những hình tam giác và những cặp chữ hoa giao nhau. Xoá xong hắn úp tờ giấy xuống bàn xoa xoa và tiếp tục lại ký tên lên mặt còn trắng. Lần này hắn viết: “Bí thư chi bộ trường cấp II N.S.” hoặc “Hiệu trưởng trường cấp II N.S.” hay là “Bí thư kiêm hiệu trưởng…” rồi ký tên hắn xuống dưới. Hắn cố ý ngoặc chữ l sau cùng thành hình búa liềm và thay dấu ớ bằng hình sao năm cánh. Hắn ngắm đi ngắm lại và thấy rất hài lòng. Hắn nghĩ có lẽ mãi mãi hắn sẽ giữ kiểu chữ ký rất có lập trường này. Hắn ký tiếp cho quen tay khi kín hết trang giấy hắn lại xoá rất kỹ nhất là những chữ “bí thư”, “hiệu trưởng” và “bí thư kiêm hiệu trưởng”.

Tuất có giờ Việt buổi chiều ở lớp V. Họp ở huyện xong hắn đi thẳng về trường. Trên đường đi hắn vẫn còn nghĩ chuyện họp với huyện uỷ và hắn rút ra một kinh nghiệm là từ nay dù có viết báo cáo hẳn hoi hắn cũng phải trực tiếp với huyện uỷ thì bao giờ cũng hơn. Hôm nay nếu không có hắn giải thích từng điểm một, giải thích từng thắc mắc cho huyện uỷ bằng những hiện tượng cụ thể thì huyện uỷ còn mất cảnh giác, chưa chịu thấy rằng tất cả các giáo viên trong nhà trường đều có vấn đề cần phải theo dõi. Này nhé! Thân là bí thư kiêm hiệu trưởng là con địa chủ. Lâu là công an ở khu Hà Nội về nghỉ dài hạn. Chung là học sinh lục quân cũng được nghỉ vì thiếu sức khoẻ. Quang thì vẫn thư từ gửi đi gửi về với gia đình trong vùng địch và vẫn nhận đồng hồ, bút máy cả xe đạp cha mẹ gửi ra…

Giấy tờ hợp pháp, những giáo viên đó đều có cả, nhưng giấy tờ thì khó gì mà không bịa ra được. Lý do thì lại càng dễ bịa hơn…

Sau việc báo cáo này, hắn thấy huyện uỷ tin hắn hơn. Hắn sẽ làm cho huyện uỷ tin hắn hơn nữa. Trước kia hắn vẫn thành kiến với trường tư vì hắn thấy khó “tiến bộ” lắm, vì chưa có việc nên hắn phải làm tạm. Phải làm công tác quần chúng. Nếu được làm công tác Cải cách ruộng đất thì dễ “tiến bộ” nhất. Nhưng hôm nay hắn cảm thấy là nhất định hắn có cơ làm ăn được. Không gì hắn cũng có thể gây được cơ sở để làm đà vọt cho công tác của hắn sau này. Và hắn rút ra một định lý: “Dù ở đâu hễ khéo thì vẫn cứ làm ăn được”. Và ở đây hắn định sẽ làm ăn to…

Khi hắn đến trường, kẻng cũng vừa đánh. Học sinh vào lớp còn đang lôn xộn, ồn ào thì hắn đến. Hắn đi vào bàn đứng thẳng lừ mắt nhìn xuống toàn lớp. Học sinh bàn thì đứng lên bàn thì còn ngồi, có những chú đang thụi nhau tranh chỗ ngồi, giằng nhau sách vở.

Hắn cho là học sinh khinh hắn. Hắn đỏ mắt lên quát:

“Đứng lên! Học sinh gì đồ thiếu giáo dục.”

Vẫn còn những bộ phận lộn xộn. Hắn càng gào to:

“Đứng lên! Đồ mất dạy!”

Tiếng hắn như một nhát dao chém đứt mọi sự tranh chấp. Cả lớp đứng phắt dậy.

Hắn hỏi:

“Các thầy khác vào các chú có đứng dậy không?”

“Thưa có!”

Hắn càng tức:

“Sao tôi vào không đứng?”

“Thưa anh em chúng con không biết!”

Câu trả lời làm cho hắn dịu hẳn đi. Anh em giở vở ra chờ đợi.

Hắn hỏi anh em:

"Hôm trước tôi bận đi họp với huyện, giờ Việt ai dạy thay?"

"Thầy Quang ạ!"

"Thầy Quang dạy có dễ hiểu không?"

"Thưa dễ hiểu lắm ạ!"

Hắn lại thấy bực mình.

"Tôi dạy có dễ hiểu không?"

"Bẩm dễ ạ."

Hắn thấy thoả thuê trong người nhưng còn muốn biết hơn:

"Tôi và ông Quang ai dạy dễ hiểu hơn?"

"Bẩm ông Quang dạy dễ hiểu hơn."

Hắn gắt rinh:

"Làm sao lại như thế?"

Một học sinh đứng lên:

"Thưa thầy dạy từ đầu đến giờ ba bài rồi, con chả hiểu gì cả."

Hắn lại gắt:

"Sao lại không hiểu, còn thiếu bổ óc chú ra mà nhét chữ vào nữa à? Hở?"

Hắn lấy sổ tay ra ghi:

"Tên chú là gì?"

"Là Hiếu ạ."

"Ở đâu?"

"Thưa ở xã Xuân Hoà!"

Trong lớp xì xào lo lắng.

Anh học sinh tái mặt:

"Thưa thầy, thầy dạy cao quá, trình độ con chưa hiểu được!"

Hắn bảo chú học sinh:

"Cho chú ngồi xuống."

Và dõng dạc:

"Dạy mà học sinh dễ hiểu chưa chắc đã là giỏi, đã là đúng. Có khi vì hiểu biết nhiều nên dạy cao hơn, học sinh kém quá chưa hiểu nổi. Chú Hiếu khi nãy nói có đúng. Có những ông giáo gặp được đôi bài dễ hoặc đã học được ở đâu rồi thì dạy khá. Còn phải chờ những bài khác. Lại có khi dạy dễ hiểu nhưng mất lập trường. Như thế lại càng tai hại cho học sinh…"

Nói chán chê, hắn bắt học sinh đem bài cũ ra, rồi câu nào ông Quang đã dạy hắn đều đem bẻ lại từng câu, từng chữ.

Đến chỗ ông Quang giải thích chữ “Huân chương quân công” hắn không giải thích lại nhưng hắn nhất định quân công là sai, phải là quận công mới đúng.

Khi ra về học sinh cãi nhau suốt dọc đường về hai chữ này:

“Quân công đúng!”

“Quận công là cái đếch gì.”

“Thầy Tuất đúng.”

“Thầy Quang đúng.”

Có chú dẫn chứng cụ thể:

“Có lẽ thầy Tuất đúng vì làng tớ có đền thờ quan quận công đấy!”

Một chú khác góp ý:

“Thầy Tuất không giỏi sao chuyện gì tỉnh huyện cũng giao cho thầy Tuất. Khai giảng, sơ kết thi đua, sơ kết học tập, đều là thầy Tuất. Các thầy khác chả thấy làm được việc gì.”

Những chú khác cãi lại:

“Đậu tú tài lại không hơn mới học đệ nhị à?”

“Giỏi mà dạy lung tung chả ai hiểu cái gì!”

Học sinh về hết thì bốn học sinh Cẩn, Thanh, Cúc, Lai lại gặp Tuất ngay ở lớp. Buổi tối có cuộc họp bất thường do Tuất triệu tập. Đúng nguyên tắc ra thì bất cứ cuộc họp nào cũng phải thông qua chi bộ. Nhưng Tuất lấy tư cách là chi uỷ viên phụ trách hiệu đoàn, tự ý triệu tập một số anh em thân tín để làm một việc mà hắn cho là có tính chất “cách mạng” trong nhà trường có tính chất “ăn to”. Hắn kéo bốn anh em chị em vào trụ sở hiệu đoàn trong xóm.

Hắn hỏi han như lo lắng đến anh em lắm:

“Ăn uống gì chưa?”

“Chưa.”

“Tôi cũng chưa, họp xong ta ra chợ ăn cũng được chứ?”

Bắt đầu họp hắn tuyên bố:

“Trước khi vào vấn đề, tôi muốn nêu lên hoàn cảnh của anh Thanh và anh Cẩn. Hai anh là hai học sinh khá trong trường nhưng cả hai đều là bần cố nông. Ngày nào hai chú cũng phải đi cắt bổi hoặc vào rừng lấy củi bán, buổi sáng để có thể ăn đi học buổi chiều”, và hắn hỏi:

“Chúng ta nghĩ sao?”

Như sợ có người trả lời mất nên vừa nói xong hắn nói luôn:

“Theo tôi thì nên trích quỹ nhà trường ra phụ cấp cho hai chú đủ ăn, còn hai chú thì từ mai phải lên đây làm việc cho hiệu đoàn. Việc này tôi sẽ chịu trách nhiệm đưa ra chi bộ và hứa là thế nào cũng xong. Ta phải đề cao tình yêu giai cấp chúng ta.”

Cúc và Lai đều lấy làm kính phục lập trường cao độ của Tuất và thấy tràn trề trong lòng một thứ tình cảm giống như là ái tình.

Cẩn và Thanh đều rơm rớm nước mắt.

Hắn hỏi mọi người:

“Anh chị em thấy thế nào?”

Cúc và Lai đồng thanh:

“Đồng ý nhất rồi còn gì!”

Cẩn và Thanh nghẹn ngào:

“Theo ý chúng em thì không nên. Làm như thế sợ anh em nói cho.”

Tuất gạt đi:

“Các chú gàn lắm. Có tôi, không lo. Vả lại nhà trường có chế độ học bổng. Có thể coi đó là học bổng thôi.”

Hắn nói sang cuộc họp:

“Việc chính hôm nay là việc này…”

“Việc gì đấy anh?”

“Bây giờ các anh em làm thế nào thu thập hộ cho những sổ sách ghi danh học sinh của toàn trường ta hai năm trước đây.”

“Dễ lắm, cứ lấy ở anh Thân là đủ cả. Anh Thân vừa bí thư vừa hiệu trưởng…”

Tuất lắc đầu:

“Không được, nhất thiết không được lấy, không nên lấy ở anh Thân.”

Anh em không ai hiểu gì.

Hắn tiếp:

“Cần lấy cả sổ sách thu học phí của quản trị nữa.”

Thanh phát biểu:

“Cái này hơi khó. Vì trong hai năm trước đây nhà trường thay đổi đến 4 người quản trị.”

Tuất giơ tay xua xua:

“Không khó gì hết. Chỉ việc phân công nhau ra đến nhà từng người chơi hay là giả có công việc gì đó tuỳ cá nhân phát triển sáng kiến.”

Hắn sực nhớ lại:

“À quên, còn việc này quan trọng nữa, nghĩa là cần ăn cắp cho được những sổ tay của những anh quản trị nữa…”

Anh em hơi tò mò muốn hỏi rõ.

Hắn bảo:

“Cứ làm đi, sau sẽ biết.”

Hắn nhấn mạnh:

“Cần nhất là phải giữ bí mật! Không thể nào cho một người thứ 6 biết được.”

Xong đó 5 người quay vào bàn kế hoạch và phân công phụ trách, vạch chương trình làm việc, vạch thời khoá biểu và địa điểm để gặp nhau hội ý. Muốn giữ bí mật triệt để, địa điểm không định trước, cứ xong cuộc này sẽ định chỗ họp cuộc khác trong huyện. Thời hạn là trong hai tháng phải làm xong, vừa đi học vừa tranh thủ làm.

Tan hội nghị đã muộn lắm. Cẩn và Thanh ở gần ra về. Tuất Cúc và Lai ngủ lại trụ sở. Tuất ngủ giường bên này, Cúc và Lai ngủ giường bên kia.

Hai bên nằm nói chuyện chõ sang nhau.

Đầu tiên là chuyện tình duyên.

Hai cô kể trước.

Cô nào cũng kể là mình rất đào hoa, hồi làm cán bộ phụ nữ tỉnh, anh nào cũng để ý chết mệt, nhưng hai cô thì cứ phớt lạnh. Các cậu đâm tuyệt vọng người thì xin đi công tác Bình Trị Thiên, người thì vào bộ đội, người xung phong đi Việt Bắc.

Cúc hỏi Tuất:

“Anh Tuất có biết Vinh không nhỉ? Vinh ở địch vận ấy mà?”

Giọng Cúc như mến tiếc:

“Ba năm rồi!”

Lai cũng hỏi Tuất:

“Anh Tuất có biết Dũng ở tỉnh đội không nhỉ? Dũng cao cao da thật trắng ấy?”

Câu chuyện tình duyên làm hắn nghĩ tới đời riêng hắn. Suốt mấy năm trong bộ đội, nhất là trong phong trào nhận đỡ đầu bộ đội, anh em được các mẹ nuôi xây dựng gia đình cho rất nhiều. Còn về hắn thì ngay cô Chén, con gái bà mẹ đỡ đầu hắn cũng nhất định không chịu lấy hắn mà chỉ nhoen nhoẻn cái mồm nhận là em gái. Rõ thật là sốt ruột. Nhiều người cho là hắn “khô” lắm. Nhưng thật ra hắn chả khô chút nào. Hàng đêm, hàng ngày không mấy lúc là hắn không nghĩ đến chuyện đàn bà. Chỉ có ngoài mặt là hắn hay làm ra vẻ tinh thần cao. Ai hỏi hắn sao không lấy vợ thì hắn bảo: “Độc lập xong! Cả toàn dân đang kháng chiến, mình nghĩ đến chuyện riêng sao đang!” Và khi hắn làm tổ trưởng ở đơn vị vô phúc có cậu nào xin phép về hỏi hay là cưới vợ, nhất định hắn không cho. Trong cuộc họp hắn còn quy cho một cô là “thiếu chịu đựng trường kỳ gian khổ”, “cầu an hưởng lạc”. Nhưng khi bị biến chế trong thâm tâm hắn cũng có phần vui là hắn sẽ có dịp về nhà lấy vợ mà không bị ai quy gì cho hắn như hắn đã quy cho người khác. Lúc mới vào dạy, hắn định sẽ kiếm một nữ sinh nào trong nhà trường có đủ những điều kiện tối thiểu là đẹp, có văn hoá lại tự túc được thì hắn sẽ xây dựng. Nhưng từ khi về trông ngong ngóng hàng ngày cũng chả thêm được cô nào khác ngoài Cúc và Lai. Hai cô này phải cái vừa lùn vừa xấu. Được cái hai cô đều con phú nông có ruộng và bò riêng cả. Lấy hai cô này thì tha hồ mà đi công tác. Lại có hy vọng thỉnh thoảng được tiếp tế tiền, đồng hồ hoặc bút máy. Hắn cũng nghĩ đến cả cô Quý, cô Quyền trong xóm, Quý thì đẹp nhưng lại đã có một đời chồng, không lẽ trai tân lại lấy thừa. Quyền còn con gái, có gánh hàng xén nhỏ nhưng lại kém văn hoá…

Hắn nghĩ liên miên.

Cúc hỏi hắn:

"Còn anh Tuất từ trước giờ đã có đám nào chưa?"

Hắn cũng kể cho hai cô nghe chuyện tình duyên của hắn. Đại để giống như chuyện hai cô. Nghĩa là hắn đi đến đâu tất cả con gái đều chú mục đều ve vãn hắn. Có cô tán hắn sát sạt nhưng hắn cũng phớt đều.

Hắn nhỏm dậy, đánh diêm đốt đèn đưa bức thư của Chén cho hai cô xem. Hai cô tò mò xúm vào đọc: “… Khi nào đi công tác, mời anh ghé vào chơi, mẹ em và em mong anh lắm…”

Khi hai cô đọc xong hắn chậm rãi:

"Chén mới mười chín tuổi, xinh và ngoan lắm, một hai xây dựng với mình, nhưng phải cai xa quá. Mãi phủ Thiệu!…"

Sau chuyện tình duyên họ chuyển sang chuyện các giáo viên. Hắn hay nhờ hai cô này đi lấy tình hình giáo viên qua miệng gần 300 học sinh trong nhà trường. Tất cả những chuyện đời tư của mấy ông giáo hắn đều rõ hết. Đến chỗ nào hắn cho là có vấn đề hắn lại vùng dậy đốt đèn ghi vào sổ tay…

Quá nửa đêm lâu, ba người mới đi ngủ. Người nào ngáy cũng to, cũng đều nhưng không ai ngủ cả. Tuất đưa tay rờ hai bên giường. Thấy rộng quá và lạnh quá. Bỗng hắn nhớ một hôm hội nghị ở xóm Quyết Thắng, trời bức, Lai xắn quần để ra một cái đùi rất to và rất trắng. Thể khối và mầu trắng của chiếc đùi ám ảnh hắn suốt đêm. Mấy lần hắn định dậy làm một chuyện thật thà với hắn trong đêm nhưng rồi lại thôi. Sáng mai thức dậy người hắn nhọc phờ.

Hắn tự chửi là đồ ngu. Nhưng rồi lại tự an ủi:

"Còn chán dịp!"

Chiều thứ bảy nào Tuất cũng bắt các giáo viên tự phê. Lần này không khí có vẻ găng nhất. Suýt nữa xẩy ra đánh nhau. Khi tan họp ra về, các giáo viên ông nào ông nấy còn tức sôi sùng sục và tiếp tục trao đổi như cãi nhau trên đường về:

"Dạy mà ức như thế này thì thôi mẹ nó đi còn hơn!"

"Từ hồi nó về cái nhà trường này thật là bét như tương."

"Kiểm thảo gì mà lắm kiểm thảo với! Thà là kiểm thảo về chuyên môn, về tác phong giáo viên đối với học sinh nó lại đi một lẽ, chuyện gia đình người ta, chuyện bếp núc của từng người từ đời cố kiếp cũng móc máy ra để kiểm thảo. Vợ chồng người ta chửi nhau, vợ chồng người ta ly dị, người ta to tiếng với bố vợ thì động kệ gì đến nó."

"Bà mẹ tao không cho đồng bào tản cư mượn thùng gánh nước chính tao cũng không biết mà sao nó biết. Kiểm thảo tao thì kiểm cái gì?"

"Chuyện riêng của tao hắn đem đi nói xuyên tạc giữa anh em học sinh, hôm nay tao tha giã cho là may!"

"Thằng ấy chuyên môn nói xấu anh em để đề cao nó."

"Bất cứ lúc nào có thể tự đề cao được, nó đều không bỏ qua."

Một người lên tiếng:

“A! A! Để tao kể chuyện thằng Tuất tự đề cao! Chúng mày nhớ hôm hắn phụ trách đem học sinh lớp bẩy chuyển thóc thuế lên xã Quyết Thắng đấy chứ.”

"Nhớ! Nhớ! Thế nào?"

“Tuất về nói rầm nhà rầm xóm là tỉnh và huyện chỉ định hắn chỉ huy nhà trường đi dân công. Thế là cả gia đình hắn cứ tíu tít cả lên làm cơm rượu mời anh em trong xóm đến dự để cho hắn lên đường đi phục vụ.”

Họ nhảy lên cười ha hả:

"Trời ơi là trời! Đi bẩy cây số mà cũng tiễn với chả tiễn chân!"

“Ăn xong hắn đội mũ, lên ba-lô bắt tay mọi người. Ai cũng chúc hắn đi cho ‘chân cứng đá mềm’. Mẹ hắn nhìn theo rơm rớm nước mắt”.

Họ lại cười rú lên:

"Đúng rồi! Đúng rồi! Hồi ấy hắn trọ lại nửa tháng thật! Mình lại cứ tưởng…"

"À ra thế! Kể cũng lắm công đấy chứ!"

Họ kể cả những chuyện hắn dạy dốt quân công thành quận công; đến chuyện hắn bê nguyên văn sử Trần Trọng Kim ra dạy: đến chuyện hắn đi hỏi mỗi người một ít để về soạn những bài sử không có sẵn trong sách Trần Trọng Kim.

Họ biết cả những chuyện hắn khai gian lý lịch: học đệ nhị khai là tú tài hỏng; làm nhà máy gạch có hai ngày phỏng tay không chịu được phải xin ra khai là thành phần công nhân; mẹ lấy tiền địa chủ về buôn nợ giầu sụ thì khai là buôn thúng bán mẹt…

"Thằng ấy vừa ngu vừa khốn nạn. Hắn khéo ton hót với huyện uỷ đến nỗi, huyện chỉ nghe hắn. Thằng Thân đấu tranh rất nhiều với huyện nhưng cũng chưa đâu vào đâu."

"Phải cái Thân liên quan nên nói huyện nào tin."

Họ chạy từ chuyện Tuất sang chuyện Cúc và Lai:

"Lại còn hai cái con trời đánh Cúc và Lai nữa! Hai đứa tính tình giống thằng Tuất cứ như đổ khuôn, cứ hơi tý là lập trường tư tưởng là lập trường giai cấp. Tất cả mọi chuyện đều do cái bộ ba ấy phát ra hết."

Một ý kiến đề nghị:

"Phải cho thằng Tuất lấy một trong hai đứa ấy!"

"Ấy một hôm thằng Tuất nó hỏi tao: ‘Giữa Cúc và Lai theo cậu thì ai hơn?’...”

Cẩn, Thanh, Cúc, Lai, dưới sự lãnh đạo của Tuất làm việc và họp hành liên miên. Sau hai tháng, Tuất đưa vấn đề ra trước toàn thể chi bộ. Hắn lấy làm mãn nguyện kết quả đã thu được và trước khi vào họp hắn đã tuyên bố với anh em chắc nình nịch như đinh đóng cột: “chuyến này, ngoài chuyện phải đền hai triệu rưỡi cho nhà trường, Thân còn phải tù là đằng khác”. Câu chuyện nổ như quả bom. Anh em ai nghe cũng hoảng. Từ trước, chưa ai hề nghĩ rằng trong nhà trường lại có thể có một vụ án lớn đến như vậy.

Ai nấy đều chờ đợi chưa hiểu đầu đuôi ra sao. Thân lại càng hoang mang.

Bắt đầu Tuất đưa ra hai điểm:

Điểm thứ nhất là suốt trong hai năm, Thân hoặc vì đi dạy muộn, hoặc về trước giờ, hoăc bỏ giờ không dạy (vì Thân đau dạ dầy nặng, ốm luôn, nhất là về mùa rét) trung bình mỗi ngày bỏ một tiếng, một tháng 24 tiếng, một năm 210 tiếng, hai năm 480 tiếng. Mỗi giờ dạy, học sinh phải trả cho một lô gạo. Như thế là trong hai năm 480 lô gạo học sinh phải trả không cho Thân.

Điểm thứ hai là Thân khi cần tiền tiêu vẫn lấy quỹ nhà trường tiêu hàng tháng, khi nào lĩnh lương mới trả lại.

Tuất để hội nghị góp ý kiến đưa thêm hiện tượng rồi dõng dạc sơ kết:

"Hai hiện tượng này chứng tỏ là đồng chí Thân đã tham ô của học sinh, của quỹ nhà trường, nói chung là đã tham ô."

Hắn hất hàm hỏi Thân:

"Đồng chí Thân nghĩ thế nào?"

Anh Thân đứng lên nhận là đúng.

Tuất nêu lên điểm thứ ba mà hắn cho là mấu chốt của vấn đề. Hắn dẫn chứng tổng số học sinh trong hai năm, số tiền học phí là bao nhiêu, tiền chi tiêu hết bao nhiêu, còn lại bao nhiêu và tuyên bố:

"Số học sinh là thế, thu là thế, chi là thế, vậy thì vì lẽ gì mà quỹ hụt hai triệu rưỡi? Hai triệu rưỡi đi đâu?"

Sau khi anh em thảo luận, Thân phát biểu:

"Đồng chí Tuất mới dạy trường tư lần đầu, đồng chí chưa hiểu một số quy luật của nó. Đồng chí không biết rằng mới khai giảng học sinh bao giờ cũng đông nhưng càng ngày càng ít đi, cuối niên khoá có lớp không còn học sinh nào; đồng chỉ tưởng cứ có bao nhiêu học sinh là cả bấy nhiêu đều đóng tiền sòng phẳng."

Tuất cắt ngang:

"Hai điểm trên đồng chí đã nhận là tham ô, không một lý do gì điểm thứ ba đồng chí lại không nhận."

Cúc và Lai đều phụ hoạ ý kiến của Tuất.

Thân cười khẩy:

"Không có một luật lệ nào lại bắt rằng cứ hễ nhận 2 điểm trên là phải nhận điểm dưới."

Tuất văng tục.

"Tôi khinh hẳn đồng chí. Tôi muốn nhổ vào mặt đồng chí. Bao nhiêu anh em làm việc suốt hai tháng nay, lấy tài liệu đã đủ, không lý là đa số sai mà một mình đồng chí lại đúng."

Thân vẫn cười khẩy:

"Thường thường đa số đúng, nhưng cũng không phải là đa số lúc nào cũng đúng."

Hắn đuối lý:

"Hai điểm trên đã nhận thì điểm thứ 3 phải nhận. Không phải một mình tôi. Đồng chí Cúc và Lai cũng đồng ý như tôi."

Hắn lừ mắt nhìn mọi người, nhất là Cẩn và Thanh.

Hắn như mở cờ trong ruột khi Cẩn giơ tay nói:

"Trong 2 tháng, anh Tuất bảo em với anh Thanh thu thập tài liệu về vụ này, nhưng em thấy đồng chí Thân nói đúng. Nói gì ai, ngay như em mà 4 tháng nay chưa đóng học phí."

Tuất ức lên đến cổ.

Thanh giơ tay xin nói. Tuất nóng lòng chờ đợi.

Nhưng Thanh chỉ nói vẻn vẹn:

“Em cũng đồng ý với đồng chí Cẩn.”

Tuất như muốn ứa máu mồm. Thân thì thấy rằng ở đời cũng còn nhiều người tốt.

Hội nghị bàn cãi xôn xao, rất lâu. Sau cùng phía Tuất vẫn là thiểu số. Hắn rất bất bình nhưng khi đề ra kỷ luật: “đồng chí Thân thấy mình đã phạm hai khuyết điểm trên đề nghị hạ tầng từ bí thư xuống đồng chí thường” thì hắn đã thoả mãn vì như thế là cái điểm căn bản hắn đã đạt được. Dù sao hắn thấy còn cần tranh đấu để đưa vụ này ra công khai tuyên bố cho toàn thể học sinh biết. Và hắn đề nghị như thế.

Huyện uỷ tạm chỉ định Tuất làm bí thư chi bộ. Công việc đầu tiên của hắn, sau khi nhận chức này là bỏ phụ cấp của Cẩn và Thanh. Hai anh phải thôi học. Một thời gian ngắn sau hắn lại được điều đi Cải cách ruộng đất. Hắn cảm thấy rằng số hắn toàn gặp thời. Nguyện vọng của hắn là được đi Cải cách ruộng đất, một công tác quan trọng số một, chỉ có ở đó mới dễ lên cấp, lên chức. Hắn chắc thế nào cũng làm ăn được to hơn. Và hắn thấy trong thời gian ở trường hắn đã chuẩn bị khá tốt cho công tác sắp tới. Nay mai hắn sẽ thêm vào lý lịch hắn, chỗ cột công tác đã qua, công tác bí thư C.B., một công tác cơ sở giá trị vào bậc nhất. Hắn chỉ còn mỗi một điều hận là thời gian ở trường hắn chưa xây dựng được gia đình. Nhưng hắn có một ý nghĩ đúng lập trường. “Sau Cải cách ruộng đất vàng thau không còn lẫn lộn. Khối chị em bần cố. Nhất định thế nào cũng xong”.

Trước khi đi hắn lên chào huyện uỷ và nhấn mạnh với huyện uỷ nên đặc biết chú ý theo dõi các giáo viên; đề cao cảnh giác.

Hắn nói:

“Tôi chắc chắn thế nào bọn chúng cũng là một tổ địch. Đấy rồi các đồng chí xem. Tôi mà còn ở nhà một thời gian nữa thì thế nào cũng ra chuyện.”
Nguồn: Giai phẩm mùa Đông Tập I, in tại nhà in Sông Lô, 18, Trường Thi, Hà Nội xong ngày 28-11-56 – do nhà Minh Đức xuất bản. Bìa sách do nhà Quảng Nghi và Minh Đức in, họa sĩ Sĩ Ngọc trình bầy và do hai ông Nguyễn Viết Thưởng và Ngô Quang Thịnh trông nom – Bản khắc của Trần Tiến Mỹ. Số sách in 3100 cuốn – khổ 16×24 – 72 trang. Số xuất bản 53, số in 414 nộp lưu chiểu tháng 12-56. Bản điện tử do talawas thực hiện, với sự giúp đỡ của NTT.