trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 201 bài
  1 - 20 / 201 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
27.6.2008
Dương Nghiễm Mậu
Tuổi nước độc
(Truyện dài)
 1   2   3   4   5 
 
9.

Tôi tới bệnh viên khám vết thương lần cuối cùng, tôi được tháo băng, cả hai mắt đều nhìn được như trước, khi mới bỏ băng tôi choáng vàng rất lâu, gần như mất thăng bằng vì thói quen, vị bác sĩ nói với tôi:

"Thật may mắn cho ông rất nhiều, tôi vẫn lo con mắt có thể ảnh hưởng nhưng nay thì yên tâm rồi; có sẹo một chút thế này không sao. Đàn ông mà. Thấy mắt thế nào?"

"Dạ thưa như thường. Cám ơn bác sĩ".

Tôi ra khỏi bệnh viện, cô y tá nhìn tôi mỉm cười chừng như ái ngại, cô nhìn tôi rất lâu, cô nói:

"Ông rất may mắn, tôi vẫn lo con mắt của ông không được bình thường, nay thì không sao rồi, chút sẹo có hơi xấu trai một chút, thật tôi chưa bao giờ thấy một tai nạn như thế. Nó hung bạo quá".

Tôi nghe câu nói thương hại chừng như còn theo đuổi tôi, chợt tôi thấy có vẻ khác thường, mặt mũi tôi có vẻ gớm ghiếc lắm phải không. Tôi nhìn mọi người và chừng ai cũng chú ý đến tôi một cách đặc biệt, chừng như tôi được phân biệt với những người chung quanh, tôi lạ ra trong đám đông. Họ đang nghĩ gì về tôi, họ đang phỏng chừng gì, tự hỏi gì, bàn tán gì. Tôi muốn che mặt tôi đi cho không ai nhìn thấy. Trên xe điện, giữa đường phố, trong đám đông tôi tưởng tôi như một con vật lạ cho người ta ngắm nhìn, cùng tiếng nói cười chế nhạo của Hùng như vang lên, thằng khốn nạn, cho hết dấu vết tội lỗi đi, như đang cất lên trong đám đông vặn mình không ngừng.

Tôi vừa đi vừa như chạy khỏi những đường phố và về tới nhà còn tự hỏi có phải mình đã trở về đến nhà rồi không? Phải, mình đã trở về được đến nhà. Tôi bỏ mình xuống giường và khóc, tôi nghĩ thế, tại sao mình không thể khóc một chút cho đỡ buồn tủi.

Khi đứng trước gương, nhìn thẳng vào mặt, tôi mới thấy nỗi sợ hãi mà tôi tưởng tượng chưa thấm vào đâu, nửa mặt tôi bị đốt cháy, da co dúm lại như một mớ giẻ rách, những vết sẹo nhăn ngang dọc, một bên lông mày không còn, mắt bị kéo xếch lên và trở thành trơ trẽn.

Thuốc đỏ chưa hết như máu khô trên làn da non còn trắng, tôi sờ lên làn da những đường nhăn nổi cồn và không đủ can đảm để làm quen với khuôn mặt mình lâu hơn nữa.

Trong bữa ăn tôi không dám nhìn mặt ai, chị Huệ, người mẹ đều như ái ngại, mọi người nói những chuyện đâu đâu như để tôi nghe không nghĩ đến vết thương trên mặt. Quả là hắn đã trả thù tôi một cách đích đáng. Sau bữa tôi nằm vùi trên giường, chị Huệ hỏi:

"Em buồn chuyện gì?"

"Em nhớ Hiền".

Buổi tối tôi nằm nghe tiếng tụng kinh của người mẹ, tôi vuốt tay lên mặt, trong đêm tối tôi thấy khuôn mặt tôi thay đổi từng lúc, nó trôi nổi như một khuôn mặt giả trong tay người phù thủy, khuôn mặt ấy khiến tôi sửng sốt, tôi lạ tôi quá lắm; tôi mong giấc ngủ đến, nhưng khuôn mặt tôi chập chờn nhảy múa khiến tôi không sao nhắm mắt được.

Trong đêm tôi nhớ đến chú tôi, tôi trở dậy viết thư cho chú.

"Thưa chú,

Sau cùng cháu không vâng theo những lời khuyên của chú cùng những điều chú trông mong nhờ cậy cháu trong khi chú đi xa. Hôm qua đây cháu đã mang đồ đạc rời khỏi căn nhà đầy những kỷ niệm thân yêu và những tai ương hãi hùng, cháu đã dọn xuống ở nơi nhà một người bạn, sau đó cháu sẽ nhận một công việc làm. Việc cháu làm chắc chắn không làm chú vui lòng nhưng cháu nghĩ chú cũng không phiền trách cháu. Làm sao để cháu có thể nói hết những buồn tủi của cháu trong ngày nay.

Chiều hôm cháu rời khỏi nhà, ông đã ngạc nhiên, chắc ông vẫn nghĩ không bao giờ cháu làm vậy vì cháu phải bám vào gia đình để sống, sau nữa cháu phải ở đây sau này hưởng cái gia tài do ông để lại. Không, những điều đó cháu không bận tâm đến. Cháu muốn tự cháu nuôi sống cháu, cháu nhờ cậy đến như vậy đã là quá nhiều và ngày nay cháu cảm thấy cần thiết hơn bao giờ hết phải thoát ra khỏi tâm trạng của một đứa trẻ yếu đuối, thụ động, tự ti, quanh quẩn trong một kỷ niệm không nguôi về sự bất hạnh của mình do cha mẹ mình để lại. Về cái gia tài của ông, cháu thấy cháu cũng không được quyền hưởng vì cha mẹ cháu cũng như cháu không làm một điều gì để giúp cho ông có được gia tài như hiện nay. Nhưng thái độ ngạc nhiên sững sờ của ông làm cháu xúc động, cháu vẫn tự hỏi tại sao cha cháu lại hoá điên? Tại sao ông lại lựa chọn cách sống như hiện nay? Quả thật cháu không xứng đáng là cháu của ông, nghĩ lại cũng làm cháu ân hận. Sống dưới mái nhà ấy đã bao lâu rồi mà cháu chẳng làm được điều gì gọi là vui lòng ông. Có phải nhiều lý do từ ngoài đưa đến đã phá hủy những gì gọi là thiêng liêng, và những giá trị luân lý bất biến? Cháu và nhiều người trẻ tuổi khác đã sống lên trong một hoàn cảnh lơ láo, biến loạn, những thông điệp tinh thần chỉ còn là những giáo điều chết cứng, chính nó làm cho cháu không còn gì để tuân theo, gìn giữ bảo vệ và sống với nó? Cháu nói với ông, ông hãy để cho thằng Hùng nó hưởng gia tài và nuôi ông, nó cũng là cháu của ông. Nhưng quả thật nhìn thím khóc, nhìn các em cháu đã không muốn rời đi. Như trước đây cháu đã có lần được thưa với chú: cháu muốn được sống dưới một mái nhà, trong một gia đình, cháu cũng như bất cứ một người nào khác không bao giờ muốn mình là một người mồ côi, một người khách lạ mặt trong một căn nhà, một gia đình có ông nội, có chú thím các em và ở đó có một người cha đã sống, một người mẹ hiền đã chết. Có một gia đình, có một mái nhà nhưng cháu lại không thể ở đó, bởi vì ở một chỗ khác để làm một người lạ, một người khách người ta có thể sống được còn ở trong một nơi được gọi là gia đình, một mái nhà mà người ta phải sống làm một người khách thì cháu không thể chịu đựng được. Chú đã khuyên cháu thì cháu không thể chịu được. Chú đã khuyên cháu nhiều lần, chấp nhận cuộc sống tầm thường với những xấu tốt chen lẫn, sự tình cờ đưa chúng ta đến đời sống như một định mệnh, dù chúng ta có tự do, tự do chúng ta tạo ra, chúng ta phải chấp nhận một hoàn cảnh cùng những liên đới nào đấy và sống với tấm lòng của mình. Vâng, cháu cũng nghĩ như thế. Đơn giản hơn, cháu nghĩ, gạt ra ngoài những gì gọi là giá trị, những giáo điều, những luận cứ, trước tiên con người phải được sống trong một bầu khí, một mái nhà, ở đó lớn lên với những gì gọi là tình người, chia xẻ những vui buồn, ước vọng với những kẻ chung quanh nhìn thấy nhau lúc sớm tối, ngồi ăn cùng mâm cơm. Con người sống ở đó làm điều quấy có người chê trách, làm điều phải được khen ngợi tán đồng. Trong bầu khí dưới mái nhà ấy hắn được cột chặt vào một sợi dây tinh thần. Hắn sống lên và chết ở đó. Cháu lại thiếu tất cả. Ngày thơ ấu thiếu mẹ hiền nuông chiều nuôi dạy, không tình thương, một người cha biến chứng hung bạo, uất ức không coi sóc đến. Kỷ niệm về một người mẹ không đủ nuôi sống cháu. Kỷ niệm về một người cha trong một lần giữ chặt lấy cháu, với đôi mắt đỏ ngầu hung hãn và tiếng cười phá lên làm cháu không nguôi kinh hoàng, ngày nay nhiều lúc cháu cũng cười lên như thế.

Cháu không có được một dẫn dắt tinh thần của cha mẹ, cháu không thể nói với chú những điều có thể quá tầm thường với chú nhưng lại lớn lao quan trọng với tầm mức của lứa tuổi cháu. Trong gia đình còn lại ông, có một điều cháu chưa bao giờ hỏi chú: Có phải vì ông mà cha cháu đã phát điên? Có phải vì ông mà chú đã không ở nhà? Một người ông đáng ra cháu phải kính mến thì cháu lại khinh lờn coi rẻ, điều này thật là quá tệ, cháu đã không nghĩ thế. Nhưng làm sao để kính yêu một người ông suốt ngày chửi bới, suốt ngày lo kiếm tiền bằng cách cho vay nặng lãi, trong lời ăn tiếng nói không bao giờ có được sự bao dung yêu thương. Trong hoàn cảnh, không khí lơ láo và khác thường đó cháu đã sống lên như một đứa con hoang.

Không có một nương tựa trong gia đình, cháu lại phải sống với một xã hội chiến tranh, một sinh hoạt tráo trở bấp bênh xáo trộn hết thảy những trật tự cũ đã mòn mỏi, ốm đau, liệt bại… Bao nhiêu điều hay lẽ phải trong sách toàn trái ngược trong thực tế. Bao nhiêu sự kiện mới nảy sinh, bao nhiêu lý thuyết đối chọi nhau, bao nhiêu giá trị tinh thần sụp đổ, bao nhiêu thần tượng bị nghi ngờ… Tất cả làm cháu quay cuồng không biết đâu mà sống cho yên được. Có lẽ chưa bao giờ con người lại phải sống trong hoàn cảnh khốc liệt như hiện nay. Tuổi hoa niên không có trong đời cháu, cháu không được thấy một cái gì còn nguyên vẹn tinh khôi, không được biết thế nào là hay là đẹp, là hạnh phúc, thưa chú như vậy làm sao để cháu tin tưởng mà sống? Và nhất là nghĩ đến một tương lai còn ở phía trước mặt? Trước hết cháu muốn cái thực tại này đã, nhưng thực tại thì, chú cũng thấy, làm sao để cháu sống yên và chấp nhận được nó? Cháu muốn lấp đầy cái thực tại này.

Bây giờ cháu đã rời đi, thoát ra khỏi một nơi cháu cho là tù túng nhưng rất yên hàn, để bắt đầu làm những gì mình muốn, và tất nhiên cháu sẽ thường trực ở một tình trạng mà cháu phải chịu đựng, những chịu đứng cháu tạo ra. Nhưng cháu yên tâm và tự tin hơn. Đó là một điều cháu chưa bao giờ có.

Cháu đang tự hỏi, chú có bao giờ tưởng tượng được khuôn mặt cháu sau khi đã cởi tấm băng ra không? Thật cháu cũng không ngờ đến như thế, thế là dấu vết của một tội lỗi khác trở thành rõ ràng, lớn hơn xưa kia, cháu, với một khuôn mặt bị tàn phá, một tâm não bị lay động, thật cháu không hiểu tại sao cháu phải chịu đựng để tiếp tục cuộc sống.

Bao giờ cháu còn có dịp trở về căn nhà xưa kia mẹ cháu đã chết, cha cháu đã sống để nhìn mặt một đứa em đã muốn giết cháu, cháu cũng không còn nơi để cúng giỗ mẹ cháu nữa. Tất cả những điều cháu thưa cùng chú chỉ để giải thích cùng chú phần nào việc cháu đã không còn ở lại căn nhà xưa nữa.

Khi nào chú trở về chú cho cháu biết tin để cháu về thăm chú. Mong chú hiểu cho cháu và tha thứ cho cháu vì cháu không thể làm gì khác được".

Mỗi buổi sáng thức dậy mua một tờ nhật báo đọc những tin tức, tôi đọc hết tờ báo không bỏ một mục nào kể cả những dòng quảng cáo, những cáo phó, hỉ tín, rồi ăn sáng với xôi lúa hoặc bánh tây chị Huệ đã mua sẵn. Tuyệt nhiên tôi không muốn ra đường. Tôi đọc lại những cuốn sách cũ. Tôi thấy nhớ trường học, nhớ bạn bè, bây giờ Vịnh đã đến đâu, Thu chết chưa?

Tôi mong có một người nào đến thăm, nhưng liên tiếp những buổi chiều tôi chỉ thấy Huệ gánh hàng trở về, chị vừa nấu ăn vừa nói với tôi những chuyện xảy ra ngoài chợ, chuyện kẻ cắp, đánh nhau, những tin đồn đại… Mỗi ngày tôi một thấy tôi già và tiều tụy đi, tôi thấy tôi như bị khoét rỗng bởi những điều trong trí não. Có thật tôi hư vô?

Chị Huệ nhìn tôi xanh gầy thì lo âu, chị nhắc tôi chuyện tôi định kiếm việc làm, chị nói tôi phải làm gì đấy và đi học trở lại. Chị nói trong niềm thân yêu che chở:

"Sao em buồn quá vậy, em đừng lo nghĩ nhiều hãy coi đây cũng như nhà em".

Không, tôi không muốn đây là nhà tôi như tôi đã bỏ đi, tôi muốn đây là nơi tôi tìm kiếm, tôi nói:

"Em buồn vì em thấy em khổ quá, em không còn ai".

"Em không nghĩ là còn chị sao?"

Tôi nhìn vào mắt chị, tôi chưa bao giờ xao xuyến như thế, đôi mắt chị sao hiền từ, có phải đôi mắt mẹ tôi xưa kia cũng như vậy.

Chị Huệ hơn tôi hai tuổi, nhưng đời sống vất vả, nỗi cơ cực trong những ngày tháng chiến tranh, cuộc sống cô đơn bên người mẹ già khiến chị già trước tuổi, tôi nghĩ chắc chị chưa bao giờ nghĩ đến hạnh phúc cho riêng chị.

Chị sống âm thầm như người góa phụ thương tiếc một dĩ vãng không bao giờ trở lại, tôi nhìn mắt chị mà muốn khóc, có lẽ chưa ai dành cho tôi nhiều yêu thương như chị và lo âu như chị. Nhiều tối tôi ngồi trên đầu giường kể chuyện Hiền cho chị nghe, tôi nhắc đến những lần dạo chơi, một lần đi chợ và lạc nhau, tình cảnh của Hiền, tôi nói những lo âu của tôi về Hiền và tôi bất lực không bảo vệ được nàng:

"Chắc em không bao giờ còn tìm thấy Hiền nữa, em không tìm thấy điều em mơ ước".

"Không, chị tin Hiền sẽ về, chị cũng tin Vịnh sẽ về".

"Em cũng cố tin, nhưng em sợ không được, em sợ khi Hiền về thì cũng không còn là Hiền ngày trước nữa. Thời buổi buồn quá phải không chị".

Tôi kể cho chị Huệ nghe về mẹ tôi, về bố tôi, tôi đọc cho chị nghe lá thư của chú tôi gửi cho tôi khuyên tôi ở nhà trông nom mấy đứa em, chịu đựng ông và lo gây dựng, học hành.

"Nhưng em không làm được như chú mong và dặn dò".

Nghe tôi nói chị Huệ như muốn khóc, có phải chị khóc cho tôi không.

Giữa khi tôi không còn trông ai nữa thì Trương đến, Trương nói tìm không ra nhà, tôi giới thiệu Trương với chị Huệ. Tôi hỏi tin Thu, Trương nói:

"Hắn bị thương và về điều trị ở nhà thương Đồn Thủy, mình khuyên nó bỏ lính. Còn Vịnh ra sao?"

Tôi nói không biết thế nào, không có cả tin về nhà. Trương ở lại tới chiều tối mới về, tôi thấy Trương băn khoăn chừng như muốn nói với tôi điều gì, tôi chờ đợi nhưng Trương không nói.

Tôi đã trở lại trường học, mượn bài vở và định dành tâm trí học hành, ai hỏi tôi về bộ mặt tôi mỉm cười nói một tai nạn. Chẳng bao lâu tôi cũng thấy quen và không thắc mắc đến nó nữa.

Hiền đã đi bao lâu, tôi không nghĩ đến việc trở về căn nhà cũ dù một lần, tôi thấy tôi tàn nhẫn quá lắm. Có khi ông tôi đã chết. Tôi vẫn tự hỏi sao tôi không có Hiền như chị Huệ. Tôi không còn gặp Hợp, có phải Hợp cũng đã đi.

Một buổi đi ở trường về tôi chợt thấy chú tôi, tôi ngạc nhiên chú đã về bao giờ sao chú không thư cho tôi hoặc tìm tôi, chú tôi cũng sửng sốt.

"Chú mới về?"

"Chú về hàng tháng rồi, chú không biết cháu ở đâu mà tìm, sao không thấy cháu về nhà một lần? Chú gặp nạn và thím cũng gặp nạn nữa, thím nằm nhà thương. Xuống dưới đó được ít lâu người ta vu cho chú liên can vào một vụ phá hoại dưới tàu, chú bị bắt, rồi mất việc, thím được tin chú vội xuống tìm, tàu đến Hải Dương thì gặp mìn, thím bị nặng lắm, hỏng cả mắt, gãy cả chân tay. Thật khổ quá, chú được tha ra để nhìn thấy thím tàn tật".

Chú nói cảm động gần như khóc. Lúc đứng trước giường thím, tôi cũng không giữ được nước mắt, thím đã khá, nhưng khuôn mặt còn bị tàn phá khủng khiếp hơn tôi nhiều, hai con mắt đã không còn thấy gì nữa, lòng trắng như lẫn cả vào tròng đen thím cố mở nhưng không bao giờ thím còn nhìn thấy gì nữa, hai tay bị cụt lên tận khuỷu, chân bị cưa, tôi tự hỏi làm sao thím lại có thể sống được với một thân thể như thế. Tôi nói:

"Thím còn nhận ra cháu không. Ngạc đây thím".

"Ngạc đấy à, sau lâu không thấy cháu về, cháu mạnh chứ?"

"Vâng".

"Thím khổ quá cháu ơi, giời hại thím".

Tôi nghĩ thế là thím không bao giờ còn nhìn thấy mặt thím.

"Bây giờ cháu thế nào, vẫn đi học chứ".

"Vâng, cháu đã đi học lại, cháu không thể ngờ được, cháu có lỗi quá".

"Cháu đừng nghĩ thế, chú thím biết và thương cháu, bây giờ chú về ở luôn nhà rồi…"

Tối về nhà tôi không sao ăn được cơm, mỗi ngày sau đó tôi đều về thăm thím, tôi đổ sữa, bón cơm ăn và chơi với mấy đứa em. Thím không còn là một người nữa, tôi nghĩ thế và tôi thấy thương thím cực độ. Tôi tự hỏi sao thím tôi phải chịu hình phạt đến như thế, đời nhẫn nại chịu đựng của thím có tội tình gì, chỉ mỗi ước vọng trông nom chăm sóc chồng con, mong con cái sau này lớn khôn thành người để cho cha mẹ an hưởng tuổi già. Tôi nghĩ chắc ngày nay thím cũng vẫn ước vọng như thế.

Nhưng tôi với thân thể vô dụng kia, tôi phải chết, vì sống như vậy cũng là chết rồi còn gì. Tôi nghĩ đến Tân trong bệnh viện, Tân có biết còn những người bất hạnh hơn Tân nhiều. Hồi này chú tôi xanh gầy võ vàng đi vì lo buồn.

Hơn hai tháng thím tôi mới về nhà, tôi ngại trở về căn nhà xưa, tôi thấy tôi không có ràng buộc gì với nó. Nghĩ đến thím tôi muốn về nhưng nghĩ đến ông tôi, đến thằng Hùng, tôi không muốn phải giáp mặt với những người đó nữa.

Một buổi sáng tôi thấy tôi muốn ghé về nhà, tôi đi ngay vì sợ tôi lại thay đổi ý kiến. Buổi sáng căn nhà yên lặng, ông tôi nằm co trên giường, những đứa em đi học, đứa bé nhất nằm bên cạnh thím, đứa ở đang làm cơm, nó cất tiếng chào, tôi vào ngồi bên cạnh giường thím tôi. Tôi nói:

"Cháu về thăm thím, thím có khá không?"

"Thím khá rồi, nhưng thực vô dụng, ăn không ăn được, đi không đi được, chẳng thấy gì. Sao thím không chết cho xong, cháu thử nghĩ xem. Chú thì bận, các em nó mãi chơi nhiều lúc khát khô cả cổ không có người rót cho ngụm được, ông thì gần như không muốn biết đến thím nữa, có phải thím là cái tội cho nhà này không chẳng biết được".

Đứa bé khóc, thím cúi xuống như muốn bế, cánh tay cụt đưa lên đưa xuống một cách bất lực, tôi đỡ đứa em dậy cho nó ngồi dựa lưng vào thím.

"Chả ai khổ như thím phải không cháu".

Thím tôi lại khóc, nước mắt chảy trên khuôn mặt tàn phá có phải những giọt nước mắt cũng sắp khô cạn trong thím, một đời người được bao nhiêu nước mắt để khóc. Nếu thím còn mắt để nhìn thấy mình, nhìn thấy khuôn mặt những người chung quanh, những khuôn mặt âu sầu, khi đó chắc thím tôi còn buồn hơn nhiều nữa.

Tôi ở lại đến bữa cơm cho thím ăn, Hùng về thấy tôi thì lẩn mặt lên gác xưa tôi ở, hắn không ăn cơm. Những đứa em thấy tôi về đều ngoan ngoãn ăn cơm không dám nghịch ngợm. Thím vừa ăn vừa nói:

"Thấy cháu ở nhà chúng nó mới thế đó, không chúng nghịch lắm, chú lại chiều chúng nữa".

Trong một lần khác trở về, tôi ngồi nghe thím kể những chuyện trong nhà, nói chuyện chú tôi đang lo kiếm việc làm, giọng thím buồn buồn lo âu. Tôi hỏi thím:

"Bây giờ thím ước gì?"

"Thím chỉ muốn chết. Thím sống làm khổ nhiều người quá, bây giờ thím không còn giúp gì được cho chú và trông nom các em nữa. Cháu thấy vậy không?"

Tôi đau đớn, ngồi yên nghe thím nói, thím không còn ước mong nhìn thấy những đứa con lớn khôn thành đạt để an hưởng tuổi già. Thím đã nghĩ đến cái chết. Tôi cũng nghĩ: thím chết còn sướng hơn phải sống.


10.

Trịnh viết được nhiều, Trịnh trình bày những thực tại về đất nước, thân phận những người còn phải sống. Trong một buổi tối chúng tôi đi dạo bên bờ Hồ, cơn mưa ập xuống khiến chúng tôi không kịp tìm chỗ trú, đứng run dưới một gốc cây tôi hỏi:

"Những ngày trước đây cậu ốm đau thì ai trông nom cho cậu?"

"Làm gì có chuyện hạnh phúc đó, một mình".

"Gia đình khi xưa bây giờ ra sao?"

"Mình có cảm tưởng mình sinh ra trong một cái thùng rác nào đó rồi người ta thấy ngọ ngoạy là một người nên lôi ra nuôi cầu may cho nó có vẻ làm phúc vậy chứ, lúc mình biết mình vẫn còn ở trong trại tế bần, rỗi mãi thầy mẹ mình hồi xưa đó vào xin mình ra làm con nuôi. Mình được sống sung sướng. Dù chỉ với cha mẹ nuôi, đến khi chạy tản cư về Hưng Yên, trong một trận dội bom cả hai cậu mợ mình đều chết. Thế là mình bắt đầu khổ trở lại. Mình chỉ còn giữ lại được chiếc nhẫn cưới tháo ra từ một bàn tay rời của mẹ mình. Khi trở về rồi người ta lại rủ đi, đi rồi về, lông bông không định".

"Tôi cũng chẳng khá gì".

"Quá khứ như một toà thành cổ, muốn nghĩ về ngày mai một chút nếu không thì đến có lúc tự tử".

"Tương lai có lẽ chúng ta không còn đủ bình tĩnh nữa. Đời sống chung quanh đây…"

Đêm đó tôi rủ Trịnh về nhà ngủ: nhiều lần tôi mơ gặp Hiền. Sau tôi lại lên kiếm nàng. Vừa bước chân vào ngưỡng cửa, mẹ Hiền nhìn thấy đã khóc, tôi nghĩ vì thấy tôi bà nghĩ đến Hiền mà khóc sao. Tôi cất tiếng hỏi:

"Bác có được tin gì của Hiền không?"

Mẹ Hiền cảm động, bà kéo vạt áo lên lau nước mắt nhìn tôi nghẹn ngào:

"Em nó về rồi cháu, nhưng… ai ngờ, thằng Lâm nó hại đời em nó, nó bắt…"

"Làm sao bác?"

"Lâm bạn cháu nữa đó, ai ngờ hỏi em không được nó làm liều. Nó đi làm công an ở bên Hải Dương, rồi nó làm bậy… Nó làm cho em nó có mang rồi dẫn về xin cưới. Khốn nạn quá".

Bà cụ khóc, tôi đứng như chôn chân xuống đất, tôi không biết mình tỉnh hay mê. Tôi nghe như có tiếng khóc của Hiền phía trong nhà. Thế là hết, tôi nhủ thầm. Không còn gì. Tôi mất Hiền. Tôi đi vào, Hiền đang ngồi nơi đầu giường, dáng rũ rượi, nước da xanh vàng, nàng cúi người tôi không thấy mặt, bụng nàng lớn chừng như đã có mang ba bốn tháng. Tôi bàng hoàng không biết nói sao, mãi sau tôi nghe thấy tiếng Hiền gọi:

"Anh… anh…"

Hiền ngẩng mặt lên nước mắt ràn rụa. Tôi có cảm tưởng người ngồi trước mặt tôi là một người không quen biết. Một người lạ mặt. Sự oan trái trong suốt lứa tuổi chúng tôi không sao kể siết. Phải thế không Thịnh, câu chuyện ngày đi, lời căn dặn, những hẹn ước tan biến như sáp loãng trong lò lửa. Tôi vịn tay vào thành giường nói:

"Em có nhận ra anh không?"

"Em khổ quá anh ơi, em muốn chết. Anh có giận em không?"

"Không, không, đâu phải tại em, đâu phải tại anh, anh cũng không bao giờ ngờ như thế".

"Hết cả rồi anh ơi, anh làm sao vậy?"

"Người ta cũng định giết anh nữa. Thôi em hãy cố chịu đựng. Thế thằng khốn nó đâu?"

"Thôi anh đừng nhắc đến nó nữa…"

Tôi thấy tôi xa lạ trôi đi, tôi không biết phải nói gì với nàng cả những lời an ủi. Tôi sợ tôi khóc trước mặt nàng, tôi vội vàng rời khỏi căn nhà, tôi nghĩ thế là tôi không bao giờ còn lý do để trở lại đó nữa. Tôi chào mẹ Hiền, tôi nghe tiếng Hiền gọi phía sau nhưng tôi không quay lại.

Tôi đi như chạy, thế là hết, tôi mất Hiền, không một niềm hy vọng, tôi không về nhà mà xuống tìm Trương. Trương nhìn tôi thiểu não hỏi, sao vậy; tôi nói không, Trương kêu trông cậu như người vừa chết sống dậy. Trương rủ tôi xuống nhà thương Đồn Thủy thăm Thu, hắn đã gần lành rồi. Trương nói:

"Làm sao cho nó ra, mình không thể ngồi trông nó chết. Nó còn ít tuổi không chịu nghe mình. Nó bảo nó có lý. Nó làm sao mình không thể sống được".

"Từ trước đến giờ cậu vẫn sống thôi".

"Bây giờ mình chỉ còn một mình nó. Nó làm vậy là nó tự tử".

"Nó có ý kiến của nó, mình có ý kiến của mình. Thì thằng Vịnh đó. Tôi sợ nó không nghe cậu đâu, nó làm với những lý do có thật".

Trương lặng đi một lúc lo âu, chợt Trương nói:

"Có thư của thằng Vịnh, nó bảo hãy vứt bỏ hết đi, hãy lột xác đúng lúc nếu không hối chẳng kịp nữa, nó bảo hãy ra ngoài cùng nó xây dựng một thiên đàng…"

"Ý kiến thật hay, nhưng tôi ví dụ có thiên đàng thì máu xương cũng đủ sức xây dựng những cung điện để cho mọi người sống sót ở không hết".

"Mình nghĩ làm gì mà có được, nó còn ảo tưởng hơn bọn mình".

"Cứ tin là có, nhắm mắt làm đại đi".

Trương cau mặt không nói thêm. Ngày Chủ nhật ở nhà thương quân đội cũng không ồn ào, nhưng sinh hoạt có vẻ tấp nập, những người ra vào thường là quân nhân, tôi nghĩ chắc họ vào thăm bạn bè. Chúng tôi gặp Thu ở ngay dưới sân chơi. Thu đi dạo với một người bạn. Khi thấy chúng tôi người bạn cúi chào và chia tay Thu, cả ba chúng tôi ngồi xuống một chiếc ghế đá. Tôi hỏi Thu:

"Đã khỏi thực chưa?"

"Chỉ vài ngày nữa em trở lại đơn vị".

"Vẫn còn nhảy được sao?"

"Như thường, có sao đâu, bác sĩ cũng bảo vậy".

"Sao lại trở lại; em có thể xin ra mà, hôm trước em nói với anh vậy thôi. Bị gãy còn nhảy gì được nữa. Ra ngoài sống với anh".

"Em chưa nghĩ thế".

"Em chưa nghĩ, bây giờ anh chỉ còn có mình em, em nghĩ lại xem… Cũng sắp đến ngày giỗ thầy rồi, chắc em nhớ".

"Em nhớ hơn anh. Ngay cả cái chết của thầy. Cho nên em muốn đi đánh nhau nữa".

Trương gần như nổi xung, tôi xen vào:

"Vì thầy em chết mà em muốn vào lính đi trả thù? Ai cũng là người giết thầy em sao? Em có biết là em đang đi lính cho Tây không?"

"Không, đi lính cho Tây hay cho ai cũng được hết miễn là họ cùng đứng với mình về một phía giết bọn kẻ thù. Bọn nó như vậy mà không đáng giết sao? Các anh chỉ hỏi tại sao thế này, tại sao thế khác, cả đời chỉ hỏi tại sao mà không dám làm gì. Các anh ôm lấy câu hỏi và chết theo. Xuống dưới âm phủ có khi còn không hiểu tại sao mình chết. Hãy hoạt động đã và khi đó không nghĩ gì. Phải trải bày ra đó mà các anh có thế này thế khác".

"Em nên nghe lời anh Trương, làm vậy để rồi đi đến đâu, đi đến chết mà ích gì cho ai, kể cả người đã chết, anh nghĩ em nên ra ngoài sống với anh Trương vẫn hơn. Có kẻ đã giết thầy em, nhưng không phải tất cả những người ở ngoài đó đều nhúng tay, trong khi cầm súng thì em đã làm hai bao nhiêu người khác cùng giòng giống với mình. Đó là điều anh muốn em nghĩ".

Thu không nói nữa. Thu cầm từ trong túi ra một khẩu súng lục nhỏ như bao diêm nhấc nhấc trong tay, Thu có dáng băn khoăn suy nghĩ, Trương đứng lên đi loanh quanh gần bồn hoa. Tôi cầm lấy khẩu súng ở tay Thu xem, tôi nói:

"Vào bệnh viện mà còn mang súng theo làm gì, họ không cấm sao?"

"Họ cấm chứ, cấm ngặt nữa là khác, mới đây có một anh chàng mang súng theo, bị thương nặng khiến anh ta tự tử, người ta nói còn có anh chàng mổ bụng nữa. Khẩu súng này của một thằng bạn vào chơi nó cho. Nó thoát trong một trận ác liệt lắm. Đây là khí giới Trung cộng. Chỉ có hai viên đạn. Súng ở ngoài nên trong này không có đạn".

"Cho anh được không?"

"Để anh làm gì? Tây bắt được thì mất xác nếu không cũng mục xương trong tù".

"Anh thấy hay hay, giữ chơi làm kỷ niệm".

Tôi cầm khẩu súng nhấc nhấc, nài nỉ:

"Cho anh, khi ra mặt trận em kiếm khẩu khác. Thiếu quái gì ba thứ quỷ này".

Cuối cùng Thu bằng lòng, tôi cẩn thận dắt vào trong người. Những điều chúng tôi nói không làm Thu thay đổi ý kiến. Tôi ngầm hiểu Thu sẽ trở ra mặt trận và rồi hắn chết ở đâu đó trong vô số những người khác. Lúc về tôi bắt tay Thu rất chặt, tôi nói nhỏ với Thu như khuyến khích:

"Chúc may mắn".

Lúc về đến nhà tôi bảo Trương:

"Nó sẽ làm theo ý nó, chúng ta không còn quyền gì nữa".

Buổi tối tôi ở lại ngủ với Trương, chúng tôi nói đủ thứ chuyện. Tôi nói chuyện Hiền cho Trương nghe, tôi bảo cậu không yêu ai thực sao. Trương nói giọng đùa:

"Tôi yêu tôi".

Tôi nói:

"Thủ dâm hả?"

Nói xong tôi cười lớn. Trương bảo:

"Chỉ bậy, cậu yêu người ta thì cậu có được gì không, tôi trông cậu mỗi ngày một tệ đi".

Tôi nói có lẽ, tôi tệ hại đi. Tôi nhớ đến khuôn mặt Hiền, khuôn mặt chị Huệ: "Em đi đâu - Không, em ở lại đây".

Nhiều lần tôi mân mê khẩu súng trên tay, khẩu súng của Thu, và nghĩ nếu để lên mang tai nổ đạn thì sẽ như thế nào, có thể nổ lại lần thứ hai không. Chị Huệ trông thấy khẩu súng một lần bảo tôi:

"Sao em dại dột thế… có làm sao thì…"

"Không sao đâu chị, đồ trẻ con chơi đó…"

Tôi mỉm cười cho chị Huệ yên tâm. Tôi nghĩ đến thím tôi: thím chỉ muốn chết, hai cánh tay cụt, hai con mắt đục như ứa máu. Tôi nghĩ đến thằng Lâm - tên khốn kiếp. Tao muốn bắn vào giữa mặt mày cho tan ra. Tôi mong Trương nhưng không thấy đến, một tối Trịnh lại mang theo một lá thư của Trương. Tôi ngạc nhiên. Trịnh nói:

"Nó bỏ đi rồi".

Tôi đọc thư, một lời báo tin. Tôi nói với Trịnh:

"Như thế cũng xong. Nhưng đi đâu?"

Tôi hoang mang buồn chán cực độ. Có những đêm nằm với Trịnh chúng tôi ôm lấy nhau ngủ, kể chuyện thời thơ ấu, có những điều chúng tôi chưa được sống, có một câu kết luận chúng tôi nói đi nói lại nhiều lần: thuở bé sướng nhỉ và tôi ứa nước mắt.

Có đêm chị Huệ thấy chúng tôi thức khuya trở dậy đốt đèn nhìn vào mặt.

Những ngày buồn nản, đêm tối bưng bít. Tại sao mình không bắn lên một phát súng trong thành phố này.

Nhưng tôi không có một chút can đảm nào để nhấn tay lên cò súng.

Những đêm nằm xoa tay lên mặt, da nhăn nhúm, sượng sần, tôi xao xuyến xót xa. Tôi mê sảng về Hiền, về Vịnh, về Trương, Thu… bây giờ họ ra sao. Tôi bỏ khẩu súng trong túi và đi chơi long rong, một lần gặp Hùng giữa đường, tôi chặn lại móc súng đưa ra trước mặt:
"Mày có chơi không tao cho".

Hùng tái mặt ù té chạy. Tôi cười lớn như một tên khùng giữa đường phố, những người đi qua ngó ngàng vẻ mặt ngạc nhiên. Tôi sẽ tới thăm Hiền trong gian nhà thiếu ánh sáng, ở đấy một khuôn mặt gầy buồn, một cái bụng mang thai, một mùi dầu nóng ốm đau và một thằng khốn nạn. Tôi muốn bắn vỡ mặt nó. Một đứa con sẽ ra đời. Nhiều lúc tôi mang cảm tưởng mặt trời quay trên đầu mình. Tôi muốn ghé lại thăm Hiền, nhiều khi lên gần đến nhà tôi lại quay trở về. Một buổi sáng tôi ngang qua nhà và ghé vào. Ông tôi ngồi khoác một cái chăn, chú tôi khuôn mặt gầy, đôi mắt sâu, mấy đứa em lê la chơi dưới đất. Chú tôi hỏi sao lâu không về, tôi không thấy thương nổi, tôi không biết nói sao. Ông tôi lặng lẽ đôi mắt như nhắm lại. Tôi thấy thương tuổi già cô đơn của ông. Mấy đứa nhỏ sợ sệt nhìn tôi im lặng. Tôi bế đứa em út lên tay, nó gầy xanh lèo nhèo như một con mèo ốm. Thím tôi không còn chăm sóc được cho chúng nữa. Tôi để đứa em xuống và đi vào buồng thím tôi. Thím ngồi nơi đầu giường im lặng, mắt ngước lên như theo dõi gì trên trần nhà. Tôi cất tiếng hỏi, mặt thím tôi hơi động rồi thím hơi mỉm cười, môi thím run như muốn nói nhưng mãi tôi không nghe thấy tiếng. Tôi cất tiếng nói tiếp:

"Thím đã ăn điểm tâm chưa?"

"Rồi cháu. Em lớn nó cho ăn rồi nó mới đi học. Cháu cho thím xin ngụm được đi, hồi này cháu thế nào, sao không thấy về nhà, chú nhắc luôn".

Tôi đi lại chiếc bàn rót nước trà nơi chiếc ấm tích vào chiếc chén sành mang lại bưng lên môi cho thím uống. Tôi ngồi xuống bên:

"Thím thấy có khá không?"

"Thím mạnh rồi nhưng vô dụng, chỉ khổ những người chung quanh, sao thím không chết cho xong. Cháu thấy vậy không".

Tôi thò tay vào túi và gặp khẩu súng trong đó. Tôi nhìn vào đôi mắt đục lờ lờ của thím tôi, chừng như thím tôi lại đang khóc, tôi quay nhìn chung quanh gian phòng không đủ ánh sáng:

"Bây giờ thím muốn gì nhất?"

"Hình như đã có lần cháu hỏi và thím đã trả lời cháu. Thím khổ quá phải không cháu, thím chẳng giúp gì được ai, khổ cả những người chung quanh, mặt cháu có khá hơn không?"

"Thưa thím cũng đỡ hơn".

Thím tôi hơi cúi xuống, đôi mắt chớp chớp, hai cánh tay cụt như muốn cử động, thím cúi mặt dụi nước mắt xuống đầu xương tay.

Thím nói giọng mỏi mệt:

"Bây giờ thím chỉ muốn được chết".

Tôi cầm khẩu súng ra khỏi túi:

"Để cháu giúp thím".

Tôi để khẩu súng lên mang tai thím và nảy cò, tiếng nổ vang dội, thím tôi gục xuống không kêu thành tiếng, máu chảy đầy mặt loang xuống áo. Ông và chú tôi chạy vào, chú đến vội bên đỡ lấy thím tôi, chú lồng tay vào ngực, áp tai vào nghe, lúc sau lắc đầu rồi đặt thím tôi nằm xuống giường, chú nhìn vào mặt tôi nói:

"Chết rồi".

Tôi thấy khô nơi cổ họng và nóng trên mắt, tôi cố gắng thè lưỡi ra liếm làn môi khô. Ông tôi túm lấy vai tôi nhìn vào mặt nói như quát:

"Mày điên sao mà giết thím mày".

Tôi nói đủ nghe:
"Tôi còn một viên đạn nữa".

Mọi người lo sợ nhìn tôi với khẩu súng trong tay. Tôi để khẩu súng lên mặt bàn rồi ngồi trên một chiếc ghế bên giường thím. Tôi nhớ những ngày cũ, tôi chảy nước mắt ràn rụa. Tôi nói cho mọi người nghe:

"Như vậy thím sướng hơn là phải sống".

Khi khâm liệm tôi bỏ khẩu súng vào quan tài và giữ lấy viên đạn chì. Tôi ở lại hai ngày tới khi chôn thím xong. Buổi tối khi trở về ngõ Yên Thái, bên ánh lửa chị Huệ đang nấu ăn, tôi đến đứng bên chị.

"Kìa, em đi đâu hai ngày vậy, chị lo quá".

"Chị Huệ…"

Đôi mắt chị mở lớn, tôi cầm tay chị để vào đó viên đạn chì, tay chị Huệ run lên, miệng tôi khô cứng mãi sau mới nói được:

"Chị có nghĩ là em yêu chị không?"


11.

Cơn bệnh kéo đến như một cơn giông trong mùa mưa rươi tháng chín, mây đen kéo đến trong vẻ vội vàng hấp tấp rồi những hạt mưa ào xuống. Sau những cơn sốt thảng thốt ngừng lại tôi chợt thấy bên tôi chị Huệ dáng lo âu trên khuôn mặt những tàn nhan nhưng nhỏ li ti làm nước da như xám thêm trên tuổi trẻ đã qua; ngày con gái vượt qua tuổi dậy thì mà tình yêu không đến. Khoảng không ngắn cho tôi nhìn thấy những thảng thốt trên khuôn mặt ấy. Không, không, tiếng chị Huệ kêu lên nhỏ, yếu ớt như chống đỡ lấy nỗi kinh hoàng xiêu đổ của chính mình trong buổi chiều nhá nhem bên ánh lửa. Chị Huệ, chị có nghĩ là em yêu chị không. Không, không. Khuôn mặt tái đi rồi ửng đỏ, đôi mắt luống cuống, đôi tay như thừa thãi và đôi đũa cả trên tay chị như không biết để vào đâu. Không, không. Tôi như tắc cổ họng, tiếng nói biến mất. Chị Huệ bỏ chạy lại bên bếp cơm. Không, không. Khoảng không gần kề như xa đi, khoảng trống trải bao la những vòng xanh đỏ, những ngôi sao bay chạy cuống quýt. Không, không và tiếng nói như đặc cứng đưa tôi vào cảm giác mệt lả và cơn sốt ập xuống. Khuôn mặt bà mẹ già cằn đi trong từng giây phút, những nếp nhan như đường cày trên lần đất thịt rồi cơn mưa xối làm mòn. Đôi mắt những tia máu và những màng tráng chùm lấp lên nhau: Cháu thấy trong người ra sao, mấy hôm nay cháu đi đâu vậy, tội nghiệp. Cháu phải nói cho bác nghe để bác lo cho cháu chứ. Thôi để mai nói chị cho cháu ra bác sĩ họ coi cho - "Con chắc Ngạc nó cảm" - "Nếu đến mai con phải mua lá về xông cho nó, mấy hôm trước, từ sau khi nó đi cắt bỏ băng về nhìn thấy sẹo ở mặt chắc làm nó buồn, mẹ thấy nó mấy đêm liền không ngủ khiến cho nó gầy tọp hẳn đi, nó đau vì nó lo buồn nhiều quá. Không biết mấy hôm rồi nó đi đâu". "Chừng như Ngạc nó về đằng nhà chú. Ông chú nó chắc tệ lắm nếu không đâu nó không ở đằng nhà, người ta vẫn bảo sẩy cha còn chú sẩy mẹ bú dì nhưng có nhiều người đâu có biết thương ai bao giờ. Nó cũng là đứa ngoan ngoãn chứ đâu hoang toàng gì. Chắc nó mồ côi từ nhỏ. Con cũng không nghe thấy Ngạc nói bao giờ hoặc than vãn điều chi, chừng như Ngạc không muốn nhờ cậy mãi. Ngạc có ý tìm việc làm và đi học". Tiếng thở dài của người mẹ già. Có phải chị Huệ đang khóc. Đôi mắt đỏ. Không, không. Thím chết còn sướng hơn phải sống. Viên đạn chì còn lại đâu. Mày điên sao mà giết thím mày. Tôi còn một viên đạn nữa. Không, không. Cơn sốt rang thân thể tôi trong cảm giác nhức mỏi mỗi lúc một nhiều, cơn nước dâng lên thật cao rồi rút xuống từng hồi. Hiền ơi, Hiền ơi. Chợt trong giây phút tôi thấy nhẹ nhàng thoải mái. Một bầu trời xanh cao mở ra trước mặt những lọn mây trắng như những chùm bông gạo cơn gió thổi bay từ trên những ngọn cây cao trơ trụi như những cánh tay phơi khô quờ quạng trên nền trời. Có bao nhiêu bầu trời xanh. Dưới chân tôi là một cánh đồng mạ non chạy rất xa, những màu xanh ánh lên hơi vàng hoặc thẫm lại từng ô nhỏ, mùi mạ phảng phất và mùi đất bùn ngái ngái dễ chịu. Ai đã mang tôi đến đây. Tiếng Hiền: "Có lúc nào anh ước mong được về sống trong một vùng quê, em nhớ một vài lần ngang qua những cánh đồng lúa chín, những cánh đồng mạ non, những khu rừng cây xanh em thấy ở đấy những người làm ruộng lam lũ nhưng sao khoẻ mạnh và bình thản quá". Tôi cười, ở xa chúng ta chừng như ao ước một đời sống trong đồng ruộng nhưng thực tế đó chỉ là một điều ước mơ mà chúng ta không bao giờ trở nên thực hiện. Nếu em biết những người ở quê ước mơ làm sao thì em sẽ hiểu. Người ở quê ước mơ những ngôi nhà cao, những xe hơi, điện nước… và bây giờ người ta đang tìm cách bỏ những cánh đồng. Tiếng Hiền cười reo lên: "Nhưng bây giờ thì chúng ta ở lại đây không đi đâu cả, em ở lại đây, em hỏi anh, anh có ở lại đây không". Hiền chạy như một con chim lướt trên những ngọn mạ, cánh áo dài trắng như cánh bướm bay lượn trong ánh nắng như pha lê, chừng như một từng vết ánh sáng bị cắt ra từng tảng rơi lả tả như những hạt kim cương. "Anh Ngạc, anh Ngạc ơi… Nếu bây giờ em bay lên trời được, em bay lên trời anh có theo không… Em muốn được bay lên trời". Bóng Hiền như xa như gần từng lúc một thấp thoáng ẩn hiện, mái tóc dài bay rối. "Anh Ngạc ơi đố anh biết em ở đâu". Tiếng gọi của Hiền bay thoảng trong gió cùng tiếng sáo nhẹ lướt trên những ngọn mạ uốn mình rung rinh như mặt nước gợn sóng. Hiền tan biến trong đó. Tôi gọi: "Hiền ơi, Hiền ơi!" Tiếng gió thổi gây tiếng động mơ hồ. "Hiền ơi, Hiền ơi!" Gió cuốn tiếng gọi giật dờ có lúc trải ra, có lúc như vo tròn lại. "Hiền ơi, Hiền ơi!" Những ngọn mạ như đứng im, tiếng gọi mất tăm. Tôi chạy về phía Hiền vừa tới nhưng chân tôi nặng nề như bị chôn chặt xuống đất, tôi cố gắng vươn người và cất tiếng gọi, "Hiền ơi, Hiền ơi…" những tiếng gọi chừng như chỉ một mình tôi nghe thấy, không gian im vắng lặng lờ không một chút lay động. Tôi lao người lên nhưng không đủ sức mang mình chạy tới, đà người lả về phía trước khiến tôi ngã xuống, tôi vùng vẫy nhưng mỗi lúc một bị nhận chìm trong tối tăm.

"Ngạc, Ngạc…"

Tôi mở mắt và nhìn thấy đôi mắt đỏ long lanh yếu ớt, hàng mi ướt làm bết những sợi lông vào mi mắt, quầng mắt thâm quầng vẻ mệt nhọc:

"Ngạc, Ngạc em tỉnh chưa?"

Tôi nhắm mắt lại một lúc rồi mở ra. Những hàng nước mắt chảy xuống theo sống mũi, tôi cựa mình rồi gượng ngồi dậy, cơn sốt đã hạ xuống và tôi thấy nhẹ trên hai thái dương, tôi thấy tôi khô ráo, tôi dụi mắt và nhìn chị Huệ:

"Sao, em thấy người thế nào?"

"Em thấy đỡ rồi".

"Em ăn cháo nghe, ăn cháo hành cho ra mồ hôi".

Chị Huệ đưa tay lên trán tôi, một cảm giác mát dịu nằm đó:

"Trán thấy đỡ nóng rồi, em sốt gì mà mơ nhiều thế làm mẹ chị cứ lo em ốm thương hàn".

Tôi gượng nhếch mép cố làm một nụ cười nhưng tôi thấy môi khô và cứng, miệng đắng và chát khó chịu.

"Mấy hôm em đi đâu vậy?"

"Em về đằng nhà, thím em chết rồi".

"Hồi nào?"

"Ngay hôm em về".

"Sao vậy, tội nghiệp mấy đứa nhỏ".

"Em giết thím".

Chị Huệ mở lớn đôi mắt, khuôn mặt bất động một lúc, tôi có cảm tưởng chị sắp kêu thành tiếng, tôi nhắm mắt chờ đợi, khuôn mặt bị tàn phá, đôi mắt mù chớp như muốn mở ra của thím cùng đôi tay cụt cử động trước mắt làm tôi choáng váng:

"Em đã bắn thím một phát chết ngay, em giết thím, thím không kịp kêu một tiếng, nhưng thím chết sướng hơn sống, chị biết không, thím em bị mìn hư mắt, cụt cả chân tay, chị hãy tưởng tượng về một người như vậy mà phải sống. Em đã giúp thím chết như thím mong mỏi. Chị tin không? Em đã giết người… Còn viên đạn đâu chị".

"Chị không thể tưởng được một việc như vậy lại xảy ra, em không nói mê đấy chứ. Ngạc hãy nhìn chị coi".

Tôi mở mắt và nhìn thẳng vào mắt chị, nỗi xao xuyến như ập tới làm tôi nhói nơi ngực và choáng váng như cơn say. Những váng vất dâng lên từng đợt ngất ngư:

"Ngạc, Ngạc!"

Tiếng chị Huệ run rẩy yếu đuối như váng nước trên một mặt ao tù cơn gió thoảng qua xô dẩy làm gọn nhẹ, như những chiếc bong bóng xà phòng dần dần thành hình, lớn lên nơi đầu chiếc ống cỏ rồi bay là là hay vỡ ra vô tăm. Đôi mí mắt nặng nề của tôi chỉ muốn khép lại. Tôi cố gắng cử động mạnh và ngồi dậy, chân tay như tê dại, tôi lùi vào mặt tường và ngả đầu dựa vào, tôi đưa hay tay bưng lấy bát cháo:

"Chị đưa cho em, em tỉnh rồi mà".

Chị Huệ ngạc nhiên và chợt như vui mừng, bát cháo còn bốc hơi, tôi đưa lên miệng húp vội vàng, mùi hành hăng hăng xông lên ống mũi. Bỏ bát cháo ra chị Huệ đưa cho tôi chiếc khăn mặt rồi giục:

"Thôi em nằm xuống đi, kéo chăn đắp cho ra mồ hôi".

Tôi vâng lời ngoan ngoãn. Trong lần chăn kín tôi tỉnh lại dần trong một cảm giác ngột ngạt. Tôi chưa chết. Lúc sau tôi mở mắt nhìn ánh sáng lọt từ ngoài vào qua một lỗ chăn thủng bằng ngón tay. Tiếng động mơ hồ từ ngoài, tôi không đoán chừng được chị Huệ đang làm gì và mẹ Vịnh có nhà hay đi vắng, chừng như bà cụ ra khỏi nhà.

Hai hôm liền tôi nằm trong trạng thái hôn mê, sang ngày thứ ba tôi tỉnh dần lại. Trong những giấc ngủ mệt nhọc kéo dài liên miên và những thức dậy không rõ ràng tôi từ những giấc mê này sang giấc mê khác không sao phân biệt được. Có lúc tôi thấy ở trên cánh đồng cỏ với Hiền, có lúc tôi thấy tôi cuồng trên một con đường đá dăm không biết đưa tới tận đâu về phía chân trời; tôi chạy, tôi chạy, ngực ran, hơi thở nóng, tôi chạy với đôi chân nặng và cảm giác nhức buốt vì những hòn đá nhỏ mới được trải trên mặt đường, tôi chạy như thế một cách vô ích cho tới khi gục xuống, cũng có lúc tôi gặp Hiền, gặp Trương, gặp Vịnh, gặp Hợp, nhưng những khuôn mặt lúc xanh lúc đỏ lúc tím lúc vàng. Tôi còn gặp vô vàn những người lạ mặt tôi chưa bao giờ thấy. Tôi ngạc nhiên gặp thím tôi mặc chiếc áo dài màu gụ xách làn đi chợ, thím vừa bước đi vừa nhai trầu bỏm bẻm, đôi môi cắn chỉ hé ra làn lợi đỏ tươi, thím gặp tôi tươi cười nhưng không nói, tôi hỏi thím đi chợ sao, thím lặng thinh rồi mặt cau lại ra vẻ khó chịu, tôi hỏi thím hết đau rồi sao, thím tôi bỏ chạy cuống cuồng, tôi đuổi theo như bị một sức hút kéo về phía trước không sao cưỡng lại được, tôi la lên thím đợi cháu với, chợt thím tôi dừng lại, tôi tiến lên và gặp một người lạ, bà ta kêu cái gì, cái gì, tôi đứng cứng không nhúc nhích thoát cái người lạ đó tôi nhận ra là cô y tá trong bệnh viện, tôi mừng rỡ và muốn tới gần để nói thì có một cái bao bố từ đâu chụp vào đầu tôi rồi chừng như có một người nào bế tôi lên và chạy, tôi nghe tiếng gió ào ào, tiếng sấm chớp vây phủ và tôi bị ném vào một khu ồn ào đầy tiếng động như một khu chợ, tôi ngó ngàng chung quanh không biết bao nhiêu là người, ai cũng ăn mặc đẹp đẽ, vui cười chừng như là một đám hội thì phải, tiếng cười nói, tiếng âm nhạc rộn ràng. Tôi thấy tất cả những người quen, Hiền, Vịnh, Lâm, Thân, Hùng, Trương, Thu, tôi vẫy tay cười với họ, nhưng ai cũng lước qua bên tôi như một người lạ hoàn toàn, chừng như ai cũng vui chơi không nhận ra tôi. Tôi la lên và đám người tan loãng biến mất. Trong đêm tôi lạc vào một nơi không có chút ánh sáng nào. Tôi nghe tiếng một người đàn bà hay con gái đang kể chuyện với một người nào đó, tôi lắng nghe tiếng nói nhẹ nhàng âu yếm có những lúc dừng lại, tôi nghe như có tiếng thở dài của người thứ hai, người thứ hai là một người thân hay một người tình, lúc đầu tiếng nói nhỏ không rõ, tôi phải lắng nghe rất lâu mới nhận ra, tôi di động rất nhẹ, lo âu tiếng nói sẽ biến mất, phải rồi, tôi nhận ra tiếng tâm sự của một cặp tình nhân: em nhớ anh ấy lúc anh ấy chưa đi, anh ấy hẹn rồi anh ấy sẽ trở về, em tin anh ấy sẽ trở về, anh có tin anh ấy sẽ trở về không, những này nào em cùng anh ấy đi chơi, chia nhau những kỷ niệm, rồi thời gian xa cách, lâu lâu nhận được của anh ấy một lá thư, những lá thư anh ấy vỗ về em chờ đợi, anh ấy nói mất em, không có em anh ấy lấy gì để sống, để hy vọng, em đọc những lá thư ấy rồi ôm vào ngực mà khóc, và rồi em khóc, khóc mãi khi nghe tin anh ấy đã lập gia đình với một người khác, phải rồi anh ấy đã lấy một người khác không có em, anh ấy vẫn sống, anh ấy vẫn hy vọng, chỉ có mình em một mình trong tuyệt vọng và tuổi trẻ lướt trôi tàn nhẫn, thôi ngày thanh xuân không bao giờ trở lại, không bao giờ anh ấy trở lại nữa, và em chỉ còn giấc mộng không bao giờ được sống, em già rồi phải không anh, anh thì còn trẻ, có phải anh đến với em vì thương hại em. Anh nói thật đi, có phải anh thương hại em, như em yêu anh, em yêu anh hơn là yêu anh ấy, chúng ta sẽ gây dựng một cuộc đời mà em tin là đẹp, anh hãy thề với em đi; anh hãy thề không bao giờ xa em; không bao giờ bỏ em một mình, anh hãy thề với em đi; anh sẽ mang đến cho em hạnh phúc như tuổi thơ đã mất. Anh thấy tay em bây giờ đã khô khan gầy guộc đi phải không, những đốt xương như lớn ra nhô cao, anh đâu còn được thấy đôi bàn tay nhỏ nhắn trắng mịn những ngón tay búp măng trắng muốt và hồng lên ở đầu ngón và những đầu móng tay trong như cánh hoa chanh trắng ngần. Mắt em đã thâm quầng và sâu vào, hai gò má cũng nhô cao, đôi má hồng đã biến mất nhường lại cho những chiếc mụn nhỏ mọc lên rồi thâm đi, tóc em đâu còn mượt óng… Em đã già rồi phải không anh, anh hãy nói cho em nghe đi; em đã già và anh thương hại em, mọi người đều thương hại em, cả mẹ em, không hiểu anh ấy ở một nơi nào đó rất xa có bao giờ thương hại em, có bao giờ nhớ lại những ngày xưa của em, chắc anh ấy không còn nhớ, mọi người đã quên, tất cả mọi người đã quên, trừ một mình em còn nhớ. Anh làm sao đó; có phải anh đang khóc, anh khóc vì tình yêu của chúng ta, anh khóc vì thương em hay anh khóc vì hối hận anh trả lời em đi anh; sao nước mắt của anh nóng thế, phải rồi em đã già, anh như một người em mới đúng, vậy sao anh đã nói yêu em, tại sao vậy anh? Anh đã yêu bao nhiêu người rồi, anh nói đi anh, em muốn nghe thấy tiếng anh nói, anh nói đi anh, nói anh chưa bao giờ yêu ai, phải rồi không bao giờ, chưa bao giờ anh yêu ai; anh yêu em là mối tình đầu. Anh hãy cứ nói dối, em biết anh yêu em không phải là mối tình đầu trong đời anh, anh đã yêu rất nhiều người, những người anh đã gặp có ai giống em không, chắc không. Có phải anh đã khổ vì những tình yêu đó và anh tìm về với em làm nơi trú ẩn. Không. Không, em không muốn em là một hầm trú ẩn trong thời gian cho anh nương nhờ, em không muốn em là nơi cho anh lấp đầy khoảng trống đời anh trong giây phút, không bao giờ, không bao giờ em tự lừa dối nữa, em muốn biết chắc anh đã trải qua và sống với em như chưa bắt đầu. Người ta có thể bắt đầu lại không người anh hùng. Anh nói đi, anh nói cho em nghe. Em có cảm tưởng anh đã im lặng không biết bao nhiêu ngày tháng, vậy những ngày ấy anh nghĩ gì, anh nghĩ về bố, mẹ, anh em… anh mơ mộng và hy vọng. Nhưng anh không thấy mơ mộng là thực tế, không thấy hy vọng thành đạt, anh đã thất bại, phải không. Anh không có những ngày ấu thơ, anh không được sống trong tình thương yêu của mọi người, anh lớn lên trong lơ láo lạ mặt, anh hít thở không khí pháo xiết, độc dược của cô đơn, khói súng, máu tanh và da thịt thiêu đốt trong ngọn lửa kinh hoàng tàn bạo. Phải không. Anh có bao giờ chạy đổi trong bãi sông, chăn trâu trong những cánh đồng, có bao giờ ngồi nghe ông bà kể chuyện cổ tích, ngồi trước cửa nhà chờ mẹ đi chợ mang quà bánh về. Anh nói đi. Có phải anh không có gì để nhớ. Môi miệng anh đâu. Mắt mũi anh đâu. Chân tay anh đâu. Sao bây giờ chúng ta không được ngồi trong một sân đất trước cửa nhà, ánh trăng chan hoà như sữa chảy trên những mái lá, ngọn cây, tiếng côn trùng rì rào như tâm sự trong bóng tối. Em nhớ, em có tuổi thơ nhưng em không có tuổi con gái và thành tựu một hạnh phúc. Anh ơi, anh ơi… Tiếng gọi hoảng hốt và xa dần như tan vào trong khoảng không. Tiếng gió rít lên, tiếng chân chạy. Tôi nhủ thầm: đây là đâu. Tiếng nói lại trở lại. Anh, anh có nghe thấy gì không, anh là cục đá sao. Chúng ta sẽ có hạnh phúc, em sẽ cho anh một và rồi những đứa con. Anh có chịu vậy không. Anh nói đi, em chờ anh nói, chỉ chờ anh nói, em không đòi gì cả, em yêu anh, phải rồi em yêu anh. Tôi lắng nghe nhưng tiếng lại mất tăm, tiếng gió thổi cào cấu lạnh buốt cơ thể, rồi tiếng khóc thê thiết nhỏ lớn dần như ào vỡ trong cổ họng, tiếng khóc phá loãng tiếng gió rít, trong không gian như vô vàn những thỏi kim khí và mảnh thủy tinh đổ xuống, âm thanh chát chúa đau mỏi làm tôi không đủ kiên nhẫn đứng vững, tôi vùng chạy nhưng tiếng động kinh hoàng vẫn đuổi theo bám sát và trong bóng tối bao la dày đặc không sao tìm ra phương hướng, tôi va đầu vào những chướng ngại không biết là gì, sau chót tôi va đầu vào một cái gì cứng nhọn và đầu tôi cắm vào đấy không rút ra được, chừng như máu chảy chan hoà, tôi thấy lạnh ở cổ, rồi ngực, rồi bụng, mùi tanh nồng nặc. Tôi nhủ thầm: tôi sắp chết đây.

Tôi thức dậy sau những giấc mơ kinh hoàng như vậy. Bao giờ tôi nhớ không rõ ràng, nhưng những giấc mơ khiến tôi lả đi khi tỉnh thức và hồi tưởng để rồi một giấc mơ khác kéo đến như khúc phim không dứt.

Tôi chợp đi một lúc rồi thức dậy tỉnh táo, mồ hôi ướt đầm đìa, bết cả tóc, tôi mở chăn ngồi lên và bước xuống khỏi giường buổi chiều đang xuống, ánh nắng yếu nhạt leo ngoài cửa sổ, khói từ phía sau nhà bay luồn ra ngoài tạo thành vệt sáng di chuyển và đổi màu. Tôi bỏ chân vào đôi dép cao su rồi xuống nhà dưới, chị Huệ nhặt thóc và sạn trong giá gạo. Tôi nói:

"Mồ hôi ra nhiều em thấy dễ chịu rồi".

"Em thay quần áo đi, đừng ra gió có khi phải lại thì khổ".

Tôi nói vâng, chị nói:

"Bị cảm ăn cháo hành tốt lắm, để sáng mai chị làm cháo trứng cho ăn, em đau dễ sợ quá - giọng chị buồn - không biết Vịnh đi ra ngoài có ai chăm sóc cho không. Vịnh đâu có khoẻ gì, hôm trước lại mới bị như vậy".

Một buổi tối tôi đã khoẻ trở lại, tôi kể cho chị Huệ nghe về cái chết của thím tôi, chị hỏi:
"Em có thương thím không?"

"Em thương và quý thím, em vẫn nghĩ tại sao ông em không chết mà lại là thím em, em không biết mẹ em ra sao nhưng có lẽ mẹ em cũng gần như thím, và những người đó đều đã chết, bây giờ chú em phải lo tất cả, năm đứa em, một đứa mới biết chạy đi. Em thương chú thím nhưng em không làm gì được cho chú thím, đó là điều vẫn làm em khổ tâm. Em muốn về ở với chú, nhưng ngay đó em biết rằng em không giúp gì được cho chú cả. Ông em giàu, nhiều của nhưng em vẫn không hiểu tại sao ông chỉ thích có tiền để cất đi hay làm giàu nữa. Giàu để làm gì. Mà ông còn sống bao lâu nữa. Nếu còn bố em… Nhưng không được nữa. Chị có nghĩ là em tệ với gia đình không?"

"Chị cũng không biết nữa, hình như em cũng như Vịnh, đều muốn thoát khỏi gia đình. Tại sao vậy?"

Tôi thấy tôi nhỏ bé và tàn nhẫn, tại sao vậy, có phải chúng tôi bị một thứ ma lực nào quyến rũ, tại sao mình không thể làm những gì nhỏ bé trong cuộc sống riêng tư của mình, có phải chúng tôi mang một thứ bệnh ảo tưởng trong người, và chúng tôi chết đi trong niềm ảo tưởng và bất lực đó. Tôi dò tìm tôi như một kẻ lạ mặt và không tìm ra điều chi khác những mâu thuẫn trong tâm tư mình. Chiến tranh đang diễn ra, chúng tôi đứng trước những thảm trạng lớn lao của cả một dân tộc, chúng tôi muốn làm một cái gì đó có ích cho mọi người, nhưng ngay đó chúng tôi lại biết ngay rằng chúng tôi không làm được gì với sự nhỏ bé của mình. Chúng tôi vô vọng trong cuộc sống. Chúng tôi nhỏ bé và yếu hèn, chúng tôi biết thế nhưng chúng tôi không dám nhận và sống với thực tế đó, chúng tôi không dám chấp nhận sự vô ích của mình và sự vô nghĩa của cuộc sống bao quanh, chúng tôi tìm cách bào chữa, trốn tránh. Có điều tôi nghe thấy những lẽ phải tầm thường kêu gọi trong lương tâm mình. Tôi nói:

"Trước khi Vịnh đi em đã nói với Vịnh như thế. Em không hiểu Vịnh nghĩ như thế nào; phần em, em hiểu, em muốn sống trong gia đình, nhưng em không có gia đình như em nghĩ cho em sống, em không có một mái nhà… Chị thấy vậy không? Làm sao để người ta sống trong một gia đình mà người ta thấy mình như một người xa lạ. Em phải làm việc trở lại. Em đã không nghĩ được từ trước là không phải mọi người đều tốt, cái gì cũng đẹp. Thím em đã chết vô lý nhưng cho đến lúc này em vẫn nghĩ rằng thím chết sướng hơn là phải sống. Nhưng nếu hôm đó em gặp Lâm, sự việc sẽ xảy ra như thế nào.

"Thôi em đừng nghĩ quẩn. Em hãy lo cho lành bệnh rồi em tìm một việc gì đó làm và đi học, em phải bình thường đã, em hãy tội nghiệp cho Lâm và thương Hiền. Chuyện đã rồi - giọng chị Huệ run run - em thương Hiền mà em còn làm khổ Hiền nữa sao".

Chị Huệ vừa nói vừa quay đi. Có phải chị nhớ lại. Chị có nghĩ là em yêu chị không. Tôi quay nhìn vào ngọn đèn.

"Chị Huệ…"

"Gì em".

Tôi thấy mình lo âu vô cớ, có thực tôi yêu chị Huệ, có thực tôi thương thím tôi. Khuôn mặt Hiền xanh xao thoáng hiện.

"Nếu không loạn chắc mọi người đều sung sướng, Vịnh ở nhà, chị sống ở nhà quê. Em không buồn. Nhiều lúc chị chỉ biết khóc".

Tôi với tay giữ lấy tay chị, chị Huệ lặng im:

"Em cần có chị".

Không khí im lặng vây quanh, chừng như đã khuya lắm, bà mẹ đã nằm ngủ im trong màn, tôi kéo chị Huệ lại gần, chị yếu ớt không chống lại, chị kêu nhỏ: "Đừng Ngạc, đừng Ngạc…" Tôi ôm chặt lấy chị, người chị run lên, hơi thở dồn dập ngắt quảng: "Huệ, Huệ…" Tôi bâng khuâng một cách rời rã. Có thực tôi thương thím tôi, có thực tôi yêu chị Huệ. Tôi vội buông chị Huệ ra và chạy vào phòng, đóng cửa lại và gieo người xuống giường. Bóng tối dày đặc vây quanh, tôi lắng nghe tiếng muỗi kêu vo ve, chị Huệ vẫn ngồi? Chị Huệ đang khóc? Tại sao chị chưa có gia đình? Giấc mơ trong cơn bệnh hôm nào chợt ập đến. Lúc sau tôi nghe thấy tiếng chân bước rời rã, tiếng động phía nhà sau, rồi đèn tắt.

Tôi nằm im trong bóng tối, tôi thấy tôi yếu đuối và nhỏ bé. Tôi có nên trở về với chú tôi, về đó tôi có thể giúp được gì cho chú tôi. Khuôn mặt Hùng hiện ra, thằng đó lại cười nữa, cho hết dấu vết tội lỗi đi, hắn nói như thế, có phải hắn làm vậy cũng như tôi đã làm với thím tôi. Nếu Vịnh có mặt ở nhà, nếu Vịnh biết tôi yêu chị Huệ, Vịnh sẽ làm gì. Tôi thấy tôi lả đi trong cơn váng vất triền miên nặng nề.
Nguồn: Tuổi nước độc. Truyện dài của Dương Nghiễm Mậu, mẫu bìa của Văn Thanh, do tập san Văn xuất bản lần thứ nhất. In tại nhà in riêng của Văn, xong ngày 28-01-1966. Ngoài ấn bản thường, có in riêng 50 cuốn đặc biệt trên giấy trắng mịn dành cho tác giả và nhà xuất bản. Giấy phép xuất bản số 4809/LCBC3/XB, Sài Gòn ngày 15-11-1965. Giá 20đ. Bản điện tử do talawas thực hiện dưới sự cho phép của tác giả.