trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 201 bài
  1 - 20 / 201 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
18.1.2007
Nguyễn Tường Thiết
Nhất Linh, cha tôi
 1   2   3   4   5   6   7   8   9 
 
Bà Cẩm Lợi

Một lần. Buổi trưa. Lâu rồi. Mẹ tôi ngồi nhặt cau trên sập gụ. Tôi nằm ngửa bên cạnh bà, hai tay cầm giơ trước mặt cuốn truyện Đoạn tuyệt của Nhất Linh. Đọc đến đoạn cảnh mẹ chồng ác nghiệt với con dâu, tôi nhỏm dậy hỏi mẹ tôi: "Mợ này, mợ có phải chịu cảnh mẹ chồng nàng dâu như cậu tả trong truyện không?". Mẹ tôi ngửng lên nhìn tôi nói: "Đấy là cậu viết tiểu thuyết... Bà nội con có khó tính thật nhưng đâu đến nỗi khắc nghiệt thế...". Rồi mẹ tôi tiếp tục nhặt cau. Lát sau, khi tôi đang đọc tiếp cuốn truyện thì có tiếng bà bên tai: "Khi bà nội con có chuyện gì không bằng lòng thì bà đổi cách gọi. Thường thì bà kêu mợ là bà Tam. Bà Tam ơi! Ra tôi bảo cái này... Gọi thế là âu yếm đấy. Nhưng khi bà đổi giọng gọi thế này thì mợ biết ngay là sắp sửa có gì to chuyện: Này! bà Cẩm Lợi! Nghe tôi nói đây!"

Bà Cẩm Lợi!

Tại sao bà nội tôi lại yêu bà Tam và ghét bà Cẩm Lợi nhỉ? Bởi vì với tôi, không bao giờ mẹ tôi là bà Tam, không bao giờ mẹ tôi là bà Nhất Linh. Với tôi, mẹ tôi luôn luôn là bà Cẩm Lợi, từ ngày tôi lọt lòng mẹ tôi cho đến ngày mẹ tôi qua đời. Cuộc đời của bà gắn liền với cái tên hiệu Cẩm Lợi và cái tên hiệu này gắn liền với những hạt cau khô, mặc dù đôi lúc Cẩm Lợi còn bán cả cá mắm, cá khô, thậm chí còn là tên của một tiệm may y phục phụ nữ...

Từ những ngày rất xa xưa ở Hà Nội ở căn nhà số 9 Hàng Bè trước khi tản cư và số 15 Hàng Bè sau khi tản cư về, tuổi thơ tôi lớn lên bên những bồ cau và mùi diêm sinh. Căn nhà rộng có nhiều phòng. Nguyên một phòng giữa chứa đầy những bồ cau, chất chồng lên nhau đến sát trần. Thuở bé chúng tôi thường chơi trò đi trốn và căn buồng đó, tối tăm và nhiều ngõ ngách giữa những bồ cau, là nơi đi trốn lý tưởng. Tôi thường trèo lên những bồ cau trên cao gần đụng trần, nằm áp mặt trên những bao tải, cảm thấy cái vải bố nháp in hằn trên má và thở cái mùi cau khô toát từ những bao bố. Mẹ tôi kinh hoảng khi khám phá ra cái trò chơi nguy hiểm này của chúng tôi: "Mấy cái bồ cau nó mà đổ xuống thì chúng bay cứ mà chết bẹp!" Mẹ tôi khi mắng chúng tôi hẳn là bà nghĩ tới cái tai nạn chết đuối đã giết chị Thanh tôi trong cái ao ở trại Cẩm Giàng.

Thuở ấy những người đàn ông hình như trốn tiêu đâu mất cả. Tôi lớn lên như người không cha. Chả ai hỏi tôi ông Tam đâu hay ông Nhất Linh đâu? Luôn luôn người ta gõ cửa rồi thò cái đầu vào hỏi: "Có bà Cẩm Lợi ở nhà không?" Chả bao giờ tôi thấy ông nội ông ngoại, bố tôi hoặc các bác các chú. Xúm lại quanh tôi toàn những đàn bà: bà nội, bà ngoại, bà mẹ, bà vú, và một đống bà cô bà thím... Không có ông Nhất Linh, ông Hoàng Đạo, ông Thạch Lam. Chỉ có bà Cẩm Lợi, thím Long, thím Sáu... như thể một bên là tiểu thuyết, một bên là đời thường.

Bà Cẩm Lợi ngồi nhặt cau trên sập gụ. Đó là hình ảnh quen thuộc đã ăn sâu trong ký ức tôi từ ngày tấm bé. Đầu vấn khăn, chiếc áo cánh trắng, chiếc quần lĩnh đen, mẹ tôi cúi xuống chà chà cho sạch những hạt cau khô ẩm bị xanh mốc. Trên chiếc sập gụ giang sơn riêng của bà, mẹ tôi vừa nhặt cau, vừa tiếp khách hàng, vừa đôn đốc đám người làm, vừa chơi rỡn nựng nịu con cháu. Đêm đến khi căn nhà đã chìm vào yên vắng bà trải trên sập đống giấy bạc kiếm được trong ngày, đếm từng tờ và xếp buộc thành bó dầy cộm rồi cất trong chiếc két sắt trước khi bà ngủ trên sập gụ ấy. Trong túi áo cánh của bà lúc nào cũng sệ xuống một chùm chìa khoá nặng trịch. Mẹ tôi hay dùng chùm chìa khoá này làm đồ chơi cho trẻ con, bà lắc lắc chùm chìa khoá kêu rộn ràng trước mặt đứa bé cho đến khi nào nó ngoẻn miệng cười mới thôi.

Người đàn bà già nhất sống gần tôi thuở nhỏ là bà ngoại. Bà chết lúc tôi còn bé nên tôi chả nhớ gì nhiều về bà. Hình như người bà gầy đét. Vấn khăn. Răng đen. Một bà già trầu điển hình. Kỷ niệm của tôi thời thơ ấu nếu có chừa một chỗ nhỏ cho bà thì lại là một kỷ niệm không mấy gì đẹp đẽ. Xấu hổ là đằng khác. Hồi đó tôi ngủ chung giường với bà ngoại. Trong một căn buồng trên gác của căn nhà số 15 Hàng Bè. Trước buồng là một hành lang hẹp trông ra phố. Có một đêm ăn phải cái gì mà tôi mót đi cầu quá. Nghĩ tới chuyện phải mò xuống cái cầu tiêu hôi thối ở mãi tít sau nhà dưới giữa đêm tối lại phải lần qua những bồ cau mà tôi lạnh cả người. Bước ra ngoài hành lang người đã bủn rủn. Tôi bèn nghĩ ra một cách giải quyết rất gọn là ngồi phịch xuống ở một góc làm một bãi tướng. Sáng hôm sau ngủ dậy tôi ra hành lang nhìn thì ô hay cái sàn sạch bóng! Mình có ngủ mơ không chứ? Buổi trưa ăn cơm tôi nghe hai người làm nói chuyện với nhau: "Rõ khổ! Cụ bây giờ già lẫn quá rồi... Cứ bạ đâu là ỉa đó!" Khám phá ra điều bí mật này, sau đó tôi còn làm thêm vài bãi nữa và đều bình an vô sự!

Bà nội tôi thì trái lại có tướng võ, người cao to. Dưới mắt tôi hồi nhỏ bà nội trông như đàn ông. Gương mặt bà có đường nét không thể lẫn với ai. Đôi mày rậm, mắt sâu, sống mũi cao. Cái tướng đó mà chui vào chiếc áo tu hành tôi thấy có vẻ lệch lạc. Từ một thuở xa nhất, hồi ở Cẩm Giàng lúc tôi mới lên năm, hình ảnh và tiếng tụng kinh của bà đã thấm sâu vào tuổi thơ tôi. Bà ngồi trên sập, khoác áo nâu xồng, một tay chắp trước ngực, một tay gõ mõ. Nam mô a di đà Phật... Nam mô á di đà Phật... Nam mô ạ di đà Phật... Tiếng tụng kinh đều đều tôi nghe cứ nhỏ dần đi như tiếng kêu rỉ rả của những con ve sầu. Tôi lại có cảm tưởng như bà vừa ngủ vừa tụng, lâu lâu chợt thức, tiếng tụng bỗng to lên như tiếng ve ran. Và như một giọng ru buồn nản Nam mô a di đà Phật đã trôi vào giấc ngủ ấu thơ của tôi.

Sau này biết rõ hơn về bà nội tôi thấy bà là người phi thường. Chồng chết khi bà mới 37 tuổi, một mình xây dựng và cai quản cả một dinh cơ Cẩm Giàng, lại nuôi bẩy con trở thành những người lỗi lạc. Một người đàn bà như thế "dễ có mấy tay" phải là người cứng rắn và độc đoán. Mẹ tôi vào làm dâu nhà bà, lại không phải đến từ một gia đình giầu có và danh vọng, chắc chắn phải chịu cảnh "mẹ chồng nàng dâu" nếu không quá quắt như bà Phán Lợi trong Đoạn tuyệt thì cũng khó sống cho yên.

Thế mà mỗi lần có gì không vừa ý bà nội Lê Thị Sâm chỉ lôi tên bà Cẩm Lợi ra nhiếc. Mẹ tôi quả là người may mắn! Gần đây đọc cuốn hồi ký của cô Năm tôi (Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường- Nguyễn Thị Thế) đoạn viết bà nội đối xử nghiêm khắc và độc đoán với người con gái duy nhất của bà, tôi hiểu là vì sao mẹ tôi may mắn hơn cô Năm. Bà nội tôi và mẹ tôi (và có lẽ phần lớn những bà mẹ của thế hệ ấy) có một điểm giống nhau. Đó là đối xử thiên lệch với con cái: con trai bao giờ cũng được cưng chiều và nể trọng hơn. Huống hồ trong số sáu người con trai, bà nội tôi hình như lại yêu và nể bố tôi nhất. Tôi nghĩ rằng khi bà nội gọi mẹ tôi bằng cái tên thân thương "bà Tam", bà đã gửi cái trìu mến về người con trai thứ ba của bà. Cộng thêm vào đó mẹ tôi lại là một người hết sức khéo léo trong cách ăn ở. Chả thế mà trong gia đình nội ngoại chúng tôi nói đùa là mẹ tôi đã tước cái chức bộ trưởng ngoại giao của bố tôi.

Dưới mắt tôi mẹ tôi không bao giờ là người đàn bà đẹp. Đôi lúc tôi còn thấy xấu là đằng khác. Có thể là vì khi tôi được sinh ra đời mẹ tôi đã đẻ trên mười người con. "Đẻ như thế thì còn gì là người", tôi nghĩ. Hơn thế nữa qua hình ảnh bà Cẩm Lợi mẹ tôi lúc nào trông cũng lam lũ và luộm thuộm. Một hình ảnh và một nhan sắc như thế làm sao mê hoặc được bố tôi nhỉ? Cho đến mãi gần đây chị Thoa tôi từ bên Pháp gửi tôi một tấm ảnh rất cũ, chụp tám năm trước khi tôi lọt lòng mẹ, lần đầu tiên tôi mới thấy dung nhan của bà thời trẻ. Một người đàn bà đẹp. Bức ảnh chụp năm 1932, mẹ tôi 25 tuổi. Năm ấy mẹ tôi dẫn chị Thư tôi, lúc ấy 5 tuổi, đi dự thi trẻ em đẹp và chị tôi được chấm giải nhất. Tôi nhìn đôi mắt của bà trong ảnh và chợt nhớ tới đoạn viết của nữ sĩ Anh Thơ. Đôi mắt bà chớp chớp. Tôi chợt thấy đôi mắt bà đẹp quá! Một đôi mắt to mênh mông, có hàng mi dài óng ả. Rồi tôi chợt thấy thương mẹ tôi quá! Một lòng thương cũng mênh mông như đôi mắt to của bà. Nông nỗi nào mà người đàn bà trong ảnh bỗng trở thành bà Cẩm Lợi tiều tuỵ như thế trong tâm trí tôi?

Những năm tháng tôi sống ở Hà Nội phố Hàng Bè là thời gian tôi sống lêu lổng và làm buồn lòng mẹ tôi không ít. Bố tôi biến đâu mất ở bên Tàu, mẹ tôi suốt ngày đánh vật với các bồ cau, lũ chúng tôi lớn lên hoang như cây cỏ. Một bữa tôi thấy trên tủ chè có một chai nước màu đỏ đỏ, dán nhãn hiệu tiếng tây, lại có vẽ hình con mèo, tôi nhấp thử thấy nó ngọt ngọt ngon ngon, bèn rủ thằng Thái em tôi mỗi đứa nốc mấy ngụm. Mẹ tôi đi chợ về trông thấy hai đứa con của bà nằm lăn lóc, mặt đỏ tía, nói lảm nhảm thì biết ngay. Bà quát người làm lấy nước chanh cho chúng tôi uống và mắng họ là từ rầy rượu phải cất trong tủ chè khoá trái lại.

Thuở mẫu giáo tôi ở nội trú cùng với chị Thoa tôi trong trường bà xơ phố nhà Chung gần nhà thờ lớn Hà Nội. Trường có tường cao quét vôi vàng bao quanh nom như một nhà tù. Tôi sợ nhất là nhìn các bà xơ mặc áo đen cúi mặt đi lại trên hành lang. Họ lướt yên lặng như những bóng ma. Giờ ăn cũng không được nói chuyện. Tôi phải đứng nghiêm cùng với đám học trò mặc đồng phục đọc kinh. Lạy cha chúng tôi ở trên lời... Chúng tôi nguyện danh Cha cả sáng... Tuổi thơ của tôi hết nghe tiếng niệm Phật lại nghe tiếng cầu kinh. Lớn lên tôi chả biết tôn giáo nào để theo.

Lên tiểu học chị Thoa sang học trường Thanh Quan còn tôi học trường Hàng Vôi. Nhưng tôi thường trốn học đi xem xi nê tặc-dzăng ở rạp Lửa Hồng hoặc giao du với đám trẻ mất dậy ở ngõ Phát Lộc. Cầm đầu bọn quỷ sứ thời ấy là tay Đỗ Bá Viễn. Hắn hơn tôi mấy tuổi, lõi đời. Hắn bầy cách cho tôi lấy cắp tiền của mẹ tôi. Cách ấy thật là thần sầu. Chả là tôi cứ bị ám ảnh bởi cái túi áo cánh lúc nào cũng sệ xuống của mẹ tôi, trong đó là chùm chìa khoá. Trong chùm ấy cái chìa to nhất, không phải là chìa bẹt mà là chìa ống có khía ở đầu, dùng để mở cái két to tướng và nặng nề. Thằng Viễn bảo tôi phải đánh cắp cái chìa khoá ấy. Nhưng mẹ tôi lúc nào cũng ôm chìa khoá trong người ngay cả lúc bà ngủ. Thằng Viễn chờ mãi thấy tôi không lấy được chìa khoá nó bèn nghĩ cách khác. Nó cầu cứu thằng Đồng con ông thợ khoá ở phố Hàng Mắm. Thằng Đồng đưa tôi một miếng gì dẻo dẻo trông như ruột bánh mì, bảo tôi đút vào lỗ khoá, chờ cho khô thì rút ra. Rồi nó đem cái khuôn bánh mì ấy về cho bố nó đúc thành chìa. Mở được két tôi hoa cả mắt lên vì trong két nhiều tiền quá. Tôi vớ đại một bó. Mấy hôm sau tôi kinh hoảng thấy mẹ tôi la lối tra khảo người làm đã lấy cắp tiền của bà. Mẹ tôi cho là mình mất tiền trong lúc đếm bạc chứ không nghĩ là ai có thể mở được cái két chắc chắn kia. Tôi tiết lộ với Viễn. Nó bầy mưu khiến mẹ tôi không bao giờ biết là mình bị mất tiền. Mỗi lần mở két, thay vì lấy nguyên bó, tôi chỉ nhón mỗi bó một hai tờ. Những bó bạc này mẹ tôi giao cho khách hàng, thường thì họ không bao giờ đếm lại trước mặt mẹ tôi, và sau này nếu có đếm thấy hụt cũng không sao, chẳng kiện cáo gì. Mẹ tôi bán buôn, làm ăn lớn, khách có biết cũng bỏ qua, sá gì mấy tờ bạc mất lẻ tẻ.

Có tiền tôi ăn tiêu vung vít. Người bán hàng thấy tôi trả tiền bằng tờ giấy đỉnh thì trố mắt nhìn tôi kinh ngạc. Tiêu cho mình thì ít nhưng bao mấy thằng du côn thì nhiều. Tôi khoái nhất là bỏ tiền thuê bao xích lô nguyên ngày chở tôi và Viễn đi chơi cùng khắp Hà Nội trên những con đường rợp mát bóng cây trong tiếng ru râm ran của những con ve sầu. Hai đứa thủ hai khẩu súng cao su, bốc nhãn ăn thả dàn rồi dùng hạt nhãn làm đạn bắn lung tung lên ngọn cây. Nhưng cái thời "huy hoàng" của tôi không kéo được lâu. Một bữa mẹ tôi bắt gặp tại trận tôi đứng trước tủ két mở và tước cái chìa khoá của tôi. Bà sai anh tôi (hình như là anh Triệu) đè sấp tôi ra trên chiếc sập gụ của bà dùng đuôi chổi phất trần đét mấy cái vào mông. Tôi giả vờ khóc rống lên chứ tôi thấy anh tôi đánh cũng nhẹ tay lắm (chắc hẳn anh nghĩ trong bụng mình cũng chả gương mẫu gì hơn thằng em).

Dịp may đến với mẹ tôi. Năm 1951, lúc ấy bố tôi ở bên Tàu về Hà Nội đã được mấy tháng, ông quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp. Đầu tiên bố tôi chỉ cho chị cả tôi là chị Thư đi cùng. Nhưng mẹ tôi cứ bắt bố tôi phải mang theo tôi. Đến tận bây giờ, khi tôi viết những dòng này, trong gia đình không một ai biết là mẹ tôi đã cố ý "đuổi" tôi vào Nam. Tôi rất cám ơn mẹ tôi về quyết định rất sáng suốt này của bà. Bởi vì vào Nam tôi trở thành một con người hoàn toàn khác.

Năm đó tôi mười một tuổi. Lần đầu tiên trong đời tôi đi phi cơ. Lại là phi cơ của hãng Air France. Sang trọng quá! Máy bay đến phi trường Tân Sơn Nhứt, tôi lạ lẫm đọc cái chữ "Nhứt" và hỏi chị tôi họ viết như vậy có phải là sai không. Tôi trố mắt nhìn những căn nhà nhiều từng, những tên phố Tây Pellerin, Charner, Catinat, Pasteur, Richaud... và cứ nghĩ là mình đi Tây chứ không phải vào Nam. Cái gì tôi cũng thấy nó văn minh và lạ mắt. Sau này tôi nghe kể nhiều lần về những ông cán ngố ngoài Bắc sau năm 1975 vào Nam lần đầu nhìn thấy thành phố Sài Gòn, tôi nghĩ là họ chắc cũng chỉ ngố như tôi là cùng. Ba bố con tôi ở chung với gia đình bác Thuỵ trong một căn nhà lớn do chính phủ cấp cho nhân viên sở Bưu điện (mà bác tôi là giám đốc) số 12P đường Chasseloup Laubat (sau đổi là Hồng Thập Tự và bây giờ là Nguyễn Thị Minh Khai). Đối diện nhà bác Thuỵ là hai cái cao ốc 5 từng. Tôi thích trốn sang đó chỉ để chui vào cái lồng thang máy bấm nút cho nó thăng thiên lên lầu thượng rồi lại bấm nút cho nó tụt xuống... cứ thế... cho đến khi những ông Tây bà đầm trú ngụ trong cao ốc biết được la lối om sòm đuổi tôi đi. Nhà bác Thuỵ ngăn nắp và sạch sẽ quá, các anh chị họ tôi nói năng lịch sự, cư xử quý phái không chửi tục om sòm như đám "bạn" tôi ở ngõ Phát Lộc, họ học trường Tây, khoe tôi những cuốn sách màu đẹp đẽ Tin Tin, Spiroux, Quatre Frères Dalton... Xa rồi những bồ cau khô, mùi cá mắm, hơi diêm sinh và căn nhà, con phố bẩn thỉu nghèo nàn của thành phố Hà Nội. Xa rồi mẹ tôi, bà Cẩm Lợi. Xa rồi các anh tôi vẫn còn lối sống "lạc hậu" ở miền đất Bắc xa vợi kia...

Lần đầu tiên trong đời tôi thực sự sống gần bố. Tôi luôn luôn nhìn ông như ngắm một người lạ. Bởi vì cho dẫu tôi có ở sát bên ông, sống cạnh ông nhiều năm sau này trong đời thì giữa ông và tôi, và giữa ông với gia đình, hình như luôn luôn có một khoảng cách. Tôi tự hỏi vì sao không bao giờ tôi có được cái cảm giác thật gần gũi với bố như tôi đã luôn luôn có với mẹ. Nếu có thấy chút nào gần ông thì cái gần ấy chỉ trên phương diện tâm hồn. Bố tôi có gương mặt Tây phương, mang nhiều nét đặc thù di truyền từ bà nội tôi. Ông có một phong thái hài hoà rất thanh nhã trong cách cư xử nó cho người ta biết, chỉ qua dáng ngoài, cái chiều sâu của con người ông. Bố tôi rất ít nói. Lúc nào cũng thấy ông lắng nghe với một cái nhìn sâu và đằm thắm. Ông lại rất chuộng sự yên tĩnh, ngăn nắp và sạch sẽ. Những gì tôi biết về ông khiến tôi hiểu vì sao ông sống được và thích hợp trong một gia đình như bác Thuỵ và không thể nào sống bên những bồ cau với mẹ tôi được.

Năm 1954, đất nước chia đôi, mẹ và các anh tôi lục tục vào Nam. Mẹ tôi mua căn nhà số 39 chợ An Đông để ở và lấy chỗ buôn bán. Vào Nam mẹ tôi chuyên bán sỉ cau khô chứ không bán cau khô lẫn cau tươi như ở ngoài Bắc. Nguồn cung cấp cau chính của hiệu Cẩm Lợi là tỉnh Quảng Nam vì cau là thổ sản của tỉnh này. Mẹ tôi tiếp tục giao dịch với các hiệu Phước Xuân, Phước Hiên ở Hội An, nơi mà bà đã mua bán từ những năm đầu của thập niên 1940. Vào Nam mẹ tôi lại thêm một thị trường cung cấp mới là tỉnh Bến Tre. Bà ít có dịp ra Trung nhiều như dạo còn ở Hà Nội trước khi di cư, nhưng bà lại thường xuyên liên lạc với các bạn hàng ở Bến Tre, đặc biệt là bà Thái Nguyên, có khi mẹ tôi xuống ở lại đó nhiều ngày. Nhà của các bạn hàng thường ở miệt vườn, cách xa thành phố, phải đi ghe xuồng mới tới. Sau này tình hình ở tỉnh Bến Tre mất an ninh, chúng tôi cảnh giác mẹ tôi là các bạn hàng cau ở tỉnh đó nằm sâu trong mật khu của Việt cộng nhưng mẹ tôi không bao giờ tỏ vẻ sợ hãi. Mẹ tôi không bán cau lẻ. Mua cau khô về, mẹ tôi sấy khô, đóng bao, và bán lại cho các đại lý, thường là những người Hoa ở trong Chợ Lớn. Một trong những đại lý mà mẹ tôi đã giao hảo tốt đẹp là ông Cơ Tấn. Chúng tôi xem ông Cơ Tấn như người nhà. Sự giao dịch với ông Cơ Tấn gắn liền với đời buôn cau của mẹ tôi, kéo dài từ thập niên 40 cho đến có lẽ sau cả biến cố tháng Tư năm 75.

Cái sập gụ, tủ chè, két bạc và cái cân được chở từ ngoài Bắc vào. Tôi trở về với những bồ cau và làm quen lại với mùi diêm sinh đã làm tôi ho sặc sụa trong những năm tháng cũ ở Hà Nội. Cau mốc được tẩy trắng bằng khói diêm sinh. Trong một vòng nan cuốn tròn, những cái sàng cau lớn xếp chồng nhau ủ trong vải bố, dưới là cái lò nhỏ đốt diêm sinh, khói xanh từ những kẽ vải bốc ra toả khí độc khắp nhà. Tôi thoát được mấy năm xa lánh cái không khí bụi bặm ồn ào của chợ An Đông khi tôi theo chân bố tôi lần thứ hai lên sống trên Đà Lạt. Mấy năm sống trên cao nguyên với bố tôi là thời gian thần tiên nhất trong đời tôi. Năm 1958 khi bố tôi quyết định "xuống núi" về Sài Gòn làm báo, tôi cũng theo chân ông về sống với mẹ tôi ở chợ An Đông cho đến tháng Tư năm 1975.

Nghĩ lại tôi thấy tội nghiệp mẹ tôi vô cùng. Những người con của bà, trừ anh cả tôi đã sang du học bên Pháp từ hồi còn ở Hà Nội, tuy ở gần bà nhưng không ai giúp bà đúng mức trong việc buôn bán. Nhà có thuê người làm cau nhưng họ chỉ cáng đáng những việc nặng như khuân vác, sấy cau, còn việc giấy tờ, sổ sách, thư từ, mẹ tôi rất cần người giúp. Mẹ tôi lại chiều con trai nên ngại nhờ con. Mà đôi lúc có nhờ thì chúng tôi lại làm với sự miễn cưỡng, thậm chí còn gắt gỏng. Đối với con gái, nhất là bà chị cả tôi, thì mẹ con không hợp tính. Cứ nói chuyện được dăm ba câu thì hai người lại cãi vã. Chị kế tôi hợp với mẹ tôi hơn thì sau này đi Pháp và ở luôn bên đó. May mắn cho mẹ tôi là trong những năm của thập niên 70 bà có hai người con dâu ở gần là chị Triệu và nhà tôi. Mẹ tôi tín nhiệm và cưng chiều hai người con dâu có lẽ còn hơn con đẻ. Chị Triệu và nhà tôi, ngoài việc giúp mẹ tôi trông coi sổ sách và các công việc buôn bán khác, lại thường ngồi rủ rỉ tâm tình với bà. Đây là điều hết sức quí đối với mẹ tôi vì bà rất ít có được những phút tâm tình thân mật như thế đối với những người con. Tháng Sáu năm 2005 vừa qua vợ chồng tôi qua bên Montreal dự đám cưới đứa con của anh Triệu tôi, một đêm thức giấc nửa khuya tôi nghe hai người con dâu của mẹ tôi ngồi trong bóng tối rù rì nói chuyện, hai người nhắc đến những kỷ niệm xa xưa với mẹ tôi hồi còn ở chợ An Đông trên ba mươi năm về trước. Tôi nghe được câu nói: "Mợ đối với con dâu thật không có một điểm gì để chê trách".

Trong những lần giúp mẹ tôi tính toán sổ sách tôi ngạc nhiên về trí thông minh của bà. Mẹ tôi thuộc thế hệ xưa không được đi học nhiều, trình độ có lẽ chỉ ngang mức tiểu học. Bà viết những câu văn không thành cú, chữ viết lại nghệch ngoạc như gà bới. Để tính tiền cau - những con số thành thường lớn đến mấy trăm ngàn - chúng tôi phải lấy giấy bút cặm cụi làm những con tính nhân chia. Thế mà chỉ liếc qua giá thành là bà đã gật gù đồng ý hoặc bà nói: Con tính sai rồi, tính lại đi! Trăm lần như một mẹ tôi nói đúng! Tôi tự hỏi với cái trí thông minh ấy cộng với sự lanh lẹ của bà nếu mẹ tôi ra sinh ra trong một hoàn cảnh khác hoặc một thế hệ khác được ăn học thì tôi không biết là bà sẽ tiến xa đến đâu.

Mẹ tôi viết thư cho những bạn hàng cau bao giờ cũng nhập đề bằng câu: "Tôi có lời hỏi thăm bà được mạnh khoẻ tôi mừng..." Biết như thế mỗi lần viết thư cho bà chúng tôi viết sẵn trước, khi bà vừa đọc xong câu đó thì chúng tôi nói ngay: "Con viết xong rồi, mợ đọc tiếp đi!" Người mà mẹ tôi viết thư giao dịch nhiều nhất ở Hội An là bà Phước Xuân mà chúng tôi còn gọi là cô Năm Dung. Trong ba mươi năm giao dịch buôn cau với hiệu Phước Xuân chúng tôi đã viết đến cả mấy trăm lần câu Kính gửi bà Phước Xuân... Tôi có lời hỏi thăm bà được mạnh khoẻ tôi mừng... Chính tôi đã dán không biết bao nhiêu con tem để gửi về địa chỉ hiệu Phước Xuân số 37 đường Nguyễn Thái Học ở Hội An. Những lá thư đưa tôi về một thành phố mà từ hồi tấm bé tôi đã nghe nói tới nhiều lần. Hội An. Làng Cẩm Phô. Họ Nguyễn Tường. Chốn ấy mơ hồ trong tâm tưởng tôi như một miền quê hương hư ảo.

Năm 1964, một năm sau khi bố tôi qua đời, lần đầu tiên tôi có dịp đến tỉnh Quảng Nam thăm thành phố Hội An. Cảm tưởng đầu tiên của tôi ra sao nhỉ? Khi đến một nơi đã được nhắc nhở hoài trong quá khứ? Thay vì bắt gặp một quê hương trong tâm tưởng, tôi bàng hoàng nhìn thấy một Hà Nội xưa cũ của tôi. Một Hà Nội lồng vào Hội An trong từng căn nhà, từng con phố. Từ căn nhà từ đường của dòng họ ở gần chùa Cầu tôi rảo bộ trên đường Nguyễn Thái Học để tìm hiệu Phước Xuân bỗng thấy mình lạc vào phố Mã Mây vào ngõ Phát Lộc vào những con phố cổ mà tôi đã lìa xa mười ba năm trước. Trên đường tôi đi qua chùa Cầu thằng bạn cũ Đỗ Bá Viễn vẫn nhỏ bé như ngày nào giơ tay chào tôi, tôi nhìn lại căn nhà xưa của mình ở phố Hàng Bè và tất cả Hà Nội từ từ hiện ra. Rưng rưng. Bé nhỏ. Thân thương. Tôi ra đi khi tôi còn là cậu học trò tiểu học, tôi trở về "Hà Nội" đã là một giáo sư. Mười ba năm đủ xa để Hà Nội trở thành kỷ niệm. Đất nước chia đôi càng khiến ngày về trở thành vọng tưởng, khiến đường về trở thành thiết tha.

Mấy ngày ở Hội An tôi ở nhà cô Năm Dung. Người con trai của cô tên là Tinh dẫn tôi đi chơi thành phố. Chúng tôi đạp xe đến cửa Đại tắm và ăn đồ biển trong những quán lá dưới bóng rợp lưa thưa của hàng cây thuỳ dương. Chiều đến chúng tôi ngồi trên sân thượng sau nhà nhìn con đường Bạch Đằng và dòng sông Thu Bồn lấp lánh ánh nắng. Bên kia sông nơi mà suốt đời tôi chưa từng đặt chân tới có làng Cẩm Phô. Nơi đó mới là chính quê của họ Nguyễn Tường. Nơi đó mới thực sự là miền quê hương hư ảo của tôi.


*


Tôi là con út trong nhà. Khi tôi lớn lên và bắt đầu ở tuổi hiểu biết, tức năm tôi lên mười, thì cha tôi ở bên Tàu về tuyên bố từ bỏ cuộc đời chính trị, trở về với đời văn. Vì thế những gì tôi nhớ được về mẹ tôi vẫn là một bà Cẩm Lợi, vợ nhà văn, có đời sống bình thản.

Cho mãi gần đây do muốn tìm hiểu thêm tôi hỏi anh Việt, người anh cả của chúng tôi, về những kỷ niệm mà anh còn nhớ với mẹ thì tôi được biết thêm một mẩu đời khác của bà Cẩm Lợi, đầy sóng gió, vợ của chính khách Nguyễn Tường Tam.

Sau đây là lời thuật của anh Việt. Về chuyện xẩy ra cho mẹ và anh mấy tháng sau khi bố tôi, bộ trưởng ngoại giao của chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, bỏ trốn sang Tàu vào tháng 5 năm 1946.

"Đây là một cái kỷ niệm nó đã ghi rất sâu vào trong óc anh. Khoảng tháng 12 năm 1946 gì đó bắt đầu đánh nhau với Pháp thì cả gia đình mợ và các em đi chuyến tàu cuối cùng từ ga Hà Nội về làng Phượng Vũ để tỵ nạn ở nhà bác cả Chi. Nhà bác cả rất lớn, bằng gạch hai từng. Về đó được một hôm thì đêm hôm sau quân du kích Việt Minh đến khám nhà. Họ kết tội những người trong nhà là Việt gian, bắt mọi người giải lên phủ Thường Tín xét xử. Đầu tiên họ khám nhà để xem có khí giới không. Anh rất lo vì lúc đó anh có một khẩu súng lục nhỏ, anh phải vội chạy ngay lên gác giấu khẩu súng dưới mái nhà, may mà tụi nó không tìm thấy".

"Dù không tìm được gì tụi nó cũng giải tất cả, mợ, bác Nguyễn Tường Cẩm, cậu Phạm Hoàng Tín và bác cả Chi xuống thuyền ngay đêm hôm đó. Anh nhớ là sáng hôm sau anh với mợ vào một căn phòng để họ tra tội, trong khi bác Cẩm và cả gia đình bị giam ở chỗ khác. Trong khi đang thẩm vấn thì máy bay bà già của Pháp ném bom. Quả bom đầu tiên nổ ngay cái trại lính ở phía ngoài nhà, khiến trần căn phòng rung rinh sắp sụp. Anh bộ đội thẩm vấn hô mọi người chạy đi ra hầm trú ẩn. Hắn chạy trước, mợ và anh chạy theo sau. Ở phía trước anh thấy nhà bên trái đổ sụp, một thanh gỗ đè lên chân anh bộ đội. Chẳng hiểu sao lúc ấy anh còn chạy đến tháo miếng gỗ để giải thoát cho anh ta".

"Anh và mợ chạy ra ngoài cánh đồng. Máy bay lúc đó cứ bay vòng vòng để bắn. Hai người ngồi sụp xuống nấp. Máy bay bắn một hồi rồi đi. Mợ và anh quay vào phủ Thường Tín vì cạnh phủ có hầm trú ẩn. Đúng lúc đó thì gặp bác Cẩm và cậu Tín. Anh thấy hai người bị xích tay vào nhau. Mợ nói: "Thôi! bác và cậu trốn đi chứ!" Lúc đó không hiểu là bác Cẩm hay cậu Tín nói là: "Thôi... thím... (chắc là bác Cẩm nói), chắc thím và cháu trốn đi vì hai người không bị trói. Chứ còn đây nó xích hai người với nhau thì có đi rồi cũng bị bắt lại".

"Thế là mợ và anh chạy trốn khỏi phủ Thường Tín. Bác Cẩm và cậu Tín ở lại, sau này bị giải đi và bị thủ tiêu".

"Không hiểu sao mợ lại tìm được đường đi từ phủ Thường Tín về làng Lê Dương, tức là làng của nhà anh Tý, anh Tý trước làm cau cho mợ. Khi vào làng tìm được nhà anh Tý may mà không gặp ai hết, mợ và anh vào thẳng sân, mợ nói với anh Tý là hai người bị bắt vừa trốn được. Anh Tý bảo hai mẹ con ở nhà anh. Trốn ở nhà anh Tý trong một căn phòng nhỏ khoảng một, hai tháng, ban ngày không ra ngoài, chờ đêm mới dám ló ra hành lang một chút. Lúc này máy bay bắn phá lắm nên anh Tý phải đào dưới giường một hầm trú ẩn. Mỗi khi có tiếng máy bay hai mẹ con lại chui vào hầm".

"Lúc đó anh bắt đầu học vài chữ tiếng Tàu vì mợ tính là từ từ sẽ đi lên mạn ngược để trốn sang Tàu".

Câu chuyện anh Việt kể còn dài. Trên đường đi lên mạn ngược mẹ tôi phải bỏ ý định đi sang Tàu vì đường đi xa quá và nghĩ là hai mẹ con thế nào cũng sẽ bị bắt trước khi đến biên giới. May mẹ tôi gặp được người quen tìm cách đưa mẹ và anh tôi về lại Hà Nội.

Nghe chuyện tôi xúc động. Hình ảnh hai mẹ con dắt díu nhau tìm đường bộ sang Tàu kiếm bố tôi là một hình ảnh thảm thương. Năm đó mẹ tôi 39 và anh tôi mới 15 tuổi. Sau khi bố bỏ sang Tàu, Việt Minh lùng bắt thân nhân bố ở trong nước. Gia đình tôi như mảnh ván gẫy đôi, tan tác trôi theo hai dòng khác nhau. Anh cả tôi hướng dẫn mẹ trên đường tìm bố. Chị cả tôi hướng dẫn bốn người em, trong số có tôi, về Phát Diệm lánh nạn.

Để sống còn bà Cẩm Lợi phải đổi tên trên căn cước: Phạm Thị Nguyên đổi thành Phạm Thị Liên.


*


Bốn mươi năm đã qua kể từ ngày tôi đặt chân lần đầu xuống đất Quảng Nam. Bốn mươi năm sau tôi trở về Hội An với một tâm cảnh khác. Đã bao nhiêu nước chẩy qua cầu. Từ dạo đó. Tôi trở về lần này trên chuyến tàu hoả mang theo ba bình tro của những người tôi yêu thương nhất. Đó là bố mẹ tôi và người chị cả. Nếu đường về quê cũ của bố tôi và người chị cả từ Sài Gòn đi Hội An tương đối gần thì con đường của mẹ tôi đi thật dài, dài đến nửa vòng trái đất. Tháng Tư năm 1981 anh Việt tôi từ bên Pháp trở về Việt Nam dìu mẹ tôi lên máy bay sang Pháp chữa bệnh. Mẹ tôi mất ở Paris, cùng năm. Hai mươi năm sau, năm 2001, cũng vào tháng Tư anh Việt lại ngồi trên máy bay trở về Sài Gòn nhưng lần này tay anh mang bình tro người mẹ. Bình tro của ba người được chôn cất ngày 28 tháng Tư năm 2001 tại nghĩa trang riêng của họ Nguyễn Tường ở Hội An.

Cả cuộc đời buôn cau của mẹ tôi, bà Cẩm Lợi, gắn liền với chiếc sập gụ. Bà sống trên nó. Bà ngủ trên nó. Đó là một cái sập quý làm bằng gỗ lim màu nâu bóng, rắn chắc và trạm trổ. Mặt sập cao hơn đầu gối của tôi bây giờ. Thuở ấu thơ ở Hà Nội bàn tay nhỏ bé của tôi thường mân mê bốn cái chân sập bóng loáng nổi phồng lên phía trên và eo thắt lại ở phía dưới. Ngón tay nhỏ bé của tôi thường sờ dọc theo con đường rãnh có trạm những hạt gỗ nổi trông như chuỗi tràng hạt gỗ màu nâu bóng của mẹ tôi. Cái sập gụ ấy từ Hà Nội theo mẹ tôi vào Nam. Rồi cái sập ấy lại từ Sài Gòn theo mẹ tôi sang Pháp. Nay mẹ tôi trở về Hội An. Cái sập để lại ở Paris được trưng như một cổ vật trong phòng khách của một người chị họ.

Mẹ tôi không cần chiếc sập gụ ấy nữa. Bà xa rời nó như xa rời cuộc đời nhọc nhằn. Bà Cẩm Lợi đã trả xong cái nghiệp mà chúng tôi kính cẩn ghi ơn. Bây giờ nằm vĩnh viễn bên chồng mẹ tôi mãi mãi là bà Tam của chúng tôi.

Mùa Hạ năm 2005


*



Ga Thạch Long

Thạch Long là tên một thị trấn ở bên Tàu, nằm bên con đường sắt Quảng Châu - Hồng Kông, nơi chú Long tôi, nhà văn Hoàng Đạo, đã gửi nắm xương.

Năm chú Long mất tôi còn bé. Tôi không có một kỷ niệm nào với chú. Tôi không biết gì về chú ngoài những kiến thức mà bất cứ một học sinh nào của miền Nam cũng phải biết khi học về Tự Lực Văn Đoàn. Ngay cả truyện của chú tôi cũng lười đọc. Đời chú thế nào tôi không mấy quan tâm. Thế nhưng cái chết và trường hợp xung quanh cái chết của chú thì khác. Nó ám ảnh tôi đã từ lâu, có lẽ từ những ngày tôi còn bé. Không hiểu vì sao mà cứ hễ nhắc đến chú Long thì óc tôi lại thoáng hiện lên hình ảnh ga Thạch Long. Trong trí tưởng tôi nó luôn luôn là một nhà ga buồn cô quạnh bên một con đường sắt ở một chốn nào rất là xa xôi.

Năm mươi năm trước ngày 22 tháng 7 năm 1948 chú tôi đã gục chết vì bệnh tim nghẽn trên một chuyến xe hoả đi từ Hồng Kông đến Quảng Châu. Khi con tàu ngừng ở một nhà ga sau đó xác chú tôi được mang xuống đặt tại nhà quàn và được chôn cất vài hôm sau trong một mộ địa gần ga. Tôi được nghe chú Bách tôi kể lại ngày chôn cất là một buổi chiều trời mây u ám một nhóm người lặng lẽ theo sau quan tài. Trong số có cha tôi, có chú Bách và ông Vũ Hồng Khanh.

Năm mươi năm sau ngày 18 tháng 9 năm 1998 trên một chuyến xe hoả đi từ Quảng Châu đến Hồng Kông tôi có dịp đi ngang qua cái ga Thạch Long ấy. Năm đó lần đầu tiên từ ở đất Mỹ chúng tôi đi thăm nước Tàu. Trước hôm cuối cùng của chuyến du ngoạn 16 ngày do một cơ quan du lịch tổ chức chúng tôi được hướng dẫn thăm viếng hai nơi là Quảng Châu và Hồng Kông. Để nối hai thành phố ấy tôi không ngờ là mình lại được di chuyển bằng tàu hoả. Như vậy là trên cùng một tuyến đường sắt dài 200 ki-lô-mét chú tôi và tôi đã đi trên hai chuyến xe lửa ngược chiều nhau. Hai chuyến tàu không bao giờ gặp. Bởi lẽ chúng cách nhau đúng một nửa thế kỷ. Nhưng ngày hôm ấy tôi đã để cho hai chuyến tàu giao nhau tại ga Thạch Long. Trong tâm tưởng.


*


Chuyến xe hoả vừa rời thành phố Quảng Châu. Nơi đến, Hồng Kông, sẽ là chặng chót của chuyến du ngoạn Trung Quốc, trước khi chúng tôi bay trở về Mỹ. Trên xe hoả đoàn du khách yên lặng. Tất cả hình như đều mệt mỏi sau một chuyến đi dài. Với bốn chuyến bay trong nội địa cộng thêm rất nhiều chuyến xe buýt và đoạn đường phải cuốc bộ chúng tôi đã đến thăm nhiều thắng cảnh và di tích lịch sử của nước Trung Hoa trải qua những thành phố Thượng Hải, Tô Châu, Hàng Châu, Nam Kinh, Bắc Kinh, Tây An, Quế Lâm.

Suốt chuyến đi tôi thưởng ngoạn cảnh trí nước Tàu trong tâm trạng thư thái của một du khách. Cho đến ngày hôm trước tâm trạng tôi bỗng đổi hẳn. Tôi trở nên trầm lặng, ít nói. Nhà tôi tưởng tôi mệt. Chả riêng tôi. Hình như cả đoàn du lịch mà đa số ở tuổi đã cao đều thấm mệt và cũng đều trầm ngâm như tôi. Nhưng trong thâm tâm tôi tự biết mình tư lự không phải vì mệt mỏi mà vì lẽ khác.

Ngày hôm trước đoàn du khách rời Quế Lâm bay đến Quảng Châu. Từ phi trường chiếc xe buýt chở phái đoàn về khách sạn chạy vào lòng thành phố qua những con đường nhỏ nhiều bóng rợp. Xe như chạy xuyên vào ruột hai hàng cây dài giao nhau. Đến một khu trông na ná một trại lính, cô hướng dẫn cầm micro nói với đám du khách dăm ba câu tiếng Tàu, tay cô chỉ về phía những căn nhà gạch hai từng quét vôi vàng nằm khuất sâu trong một khu rộng nhiều cây cối và có hàng rào sắt vây quanh. Khi xe chạy qua khỏi khu vực ấy tôi quay qua cô Mai - thông dịch viên tình nguyện của vợ chồng tôi vì cô là du khách người Việt gốc Hoa nói thành thạo ba thứ tiếng Việt, Hoa và Anh ngữ - hỏi cô toà nhà ấy là gì thì được cô trả lời:

"Đó là trường Võ bị Hoàng Phố".

Trường Võ bị Hoàng Phố! Cái trường tôi đã từng nghe nói đến nhiều lần trong đời không ngờ nay tôi lại được chính mắt nhìn thấy. Hoàng Phố nhắc tôi đến Việt Nam Quốc dân Đảng và những tranh chấp Quốc Cộng của cả một thời kỳ bi hùng. Bao nhiêu đồng chí của cha tôi đã từng xuất thân từ đấy. Ông Vũ Hồng Khanh. Anh Lê Hưng. Và bao người khác mà tôi không nhớ tên. Tôi nhớ tới hàng ghi chú sau đây được cha tôi viết trong bản thảo một tác phẩm dang dở mà tôi còn lưu giữ như một chứng tích có tầm lịch sử về những bước đi của cha tôi: Tháng 5-1946 sang Vân Nam. Tháng 12-1946 đi Thượng Hải. Tháng 2-1947 đi Quảng Châu. Tháng 7-1948 Long mất. Tháng 4-1949 ra Hồng Kông hẳn. Hoàng Phố còn nhắc nhở tôi rằng mình đang hiện diện ở thành phố Quảng Châu, vùng đất này năm mươi năm trước ghi dấu chân của ba người cật ruột: cha tôi, chú Long, chú Bách.

Kể từ giây phút ấy cho đến ngày về dưới mắt tôi nước Tàu bỗng đổi khác. Cũ kỹ hơn. Buồn bã hơn. Thành phố Quảng Châu bấy giờ chập chờn hình bóng những người đã khuất. Tôi nhìn cảnh vật bên đường nghĩ tới nơi này cha tôi đã từng đi qua, đã từng nhìn thấy. Tôi nghĩ tới thời gian hai mươi sáu tháng ông sống ở đây. Đó là một mảnh rất quan trọng trong đời ngắn ngủi của ông. Một mảnh đời tăm tối với tôi vì tôi không hề biết đến, nay đột nhiên hé ra như một cánh cửa vừa mở cho tôi thấy thêm chút ánh sáng. Và chú Bách của tôi đã sống 40 năm tại Phật Sơn, chỉ cách đây có 20 cây số, chắc chắn là rất quen thuộc với thành phố này, từ góc phố, từng lùm cây... tôi cố ghi nhớ những nơi tôi đi qua ở Quảng Châu để về Mỹ gặp chú sẽ kể chú nghe về những nơi tôi đã đến thăm và chú đã có nhiều kỷ niệm, chẳng hạn như Hoàng Hoa Cương, lăng mộ của 72 vị liệt sĩ Trung Quốc bị quân phiệt sát hại, nơi tôi và phái đoàn được hướng dẫn đi thăm chiều hôm ấy.

Qua một cái cổng lớn và trang nghiêm toán du lịch chúng tôi bước vào một sân gạch rất rộng hai bên trồng toàn một loại cây bách diệp, cuối sân bước lên mấy bực tam cấp, lại đến một cái sân bao la khác, ở cuối lại có bực tam cấp, cứ thế mà bước lên. Lăng nằm trên một đỉnh đồi thấp, xây xi-măng đồ sộ. Trước lăng là tứ trụ xây trên bốn góc vuông, giữa dựng một tháp cao khắc bẩy Hán tự thật lớn mà tôi chỉ biết đọc hai chữ "Thập nhị". Sau lăng là một bức tường lớn xi-măng hình tam giác, trên tường chia những ô nhỏ ghi tên tuổi những người trên khắp thế giới đã đóng góp hiện kim để xây dựng và trùng tu lăng này, trên đỉnh nhọn của bức tường có tạc một bức tượng nữ thần tự do. Tôi theo đám du khách bước vào trong lăng tham quan một lát rồi tôi tách ra. Một mình tôi đứng trên cao nhìn xuống.

Năm mươi năm trước. Trên nền sân rộng dưới kia có ba người đàn ông bước lên bực tam cấp. Mặt họ hướng về phía đỉnh đồi. Họ là ba anh em ruột. Hai người đi đầu tuổi xuýt soát nhau, khoảng tứ tuần. Người thứ ba trẻ hơn một thập niên. Trông họ chững chạc. Đó là ba chính khách lưu vong đến đây để viếng mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái, người đã ném tạc đạn định giết tên toàn quyền Merlin nhưng không thành đã phải nhẩy xuống sông Châu Giang tự vẫn, xác được chôn cất trước xế cổng Hoàng Hoa Cương. Họ cắm nén hương trên mộ và đứng lặng người rất lâu lòng bùi ngùi tưởng niệm vị anh hùng dân tộc. Còn hơn tình anh em ruột thịt họ gắn bó nhau trong lý tưởng tranh đấu giành độc lập cho nước nhà; họ sát cánh nhau như những bộ phận trong cùng một cơ thể. Có người ví người lớn nhất là trái tim người giữa là khối óc và người thứ ba là cánh tay.

Tôi đứng đây trên đồi Hoàng Hoa Cương năm mươi năm sau mà lòng bồi hồi nhớ họ. Hai người đầu đã khuất bóng là cha tôi và chú Long. Người thứ ba còn tại thế là chú Bách hiện lưu lạc bên Mỹ. Trong một lần điện đàm với thím Bách, thím có nói với tôi và tỏ ý tiếc đã để mất một bức ảnh quý. Bức ảnh chụp ba người năm 1947 tại Hoàng Hoa Cương. Tôi nhìn xuống sườn đồi nhìn hàng cây bách diệp trồng thẳng tắp hai bên bờ sân gạch và tự hỏi ba người đã đứng ở đâu chụp bức ảnh này.

Sáng ngày hôm sau xe buýt đổ chúng tôi xuống ga Quảng Châu để đáp xe lửa đi Hồng Kông. Tôi không ngờ mình lại đối diện với một hàng rào công an dầy đặc đến thế. Hồng Kông năm trước đã được chuyển nhượng cho Trung Cộng từ tay người Anh. Nhưng sự đi lại giữa lục địa và Hồng Kông vẫn rất hạn chế và sự kiểm soát thật gắt gao. Trong sân ga rộng đông người tôi không nghe một giọng nói, một tiếng cười. Sau khung cửa sổ nhỏ là gương mặt trẻ và lạnh lùng của một anh công an trong bộ đồng phục màu xanh ve. Hắn ném tôi cái nhìn xoi mói rồi cúi xuống tấm thẻ thông hành lật qua lật lại xem hình tôi trong thẻ, lại ngửng lên ngó tôi với cặp mắt bén như dao. Rồi liếc sang bên cạnh (tôi đoán có màn máy vi tính), hắn ta cắn môi, cau mày, suy nghĩ. Tôi chờ đợi. Thật lâu. Thốt nhiên tôi đứng tim. Đúng lúc tôi có cảm giác hắn sắp sửa kêu người đến bắt tôi thì hắn lại vẫy tay cho tôi đi qua. Chưa hết. Tôi phải trải thêm hai lần như vậy nữa với hai tay công an khác. Tất cả đều cùng một tác phong, cùng một cái nhìn sắc lạnh. Tôi tự hỏi cái cách làm việc thái quá của họ có cần thiết không? Hay họ được huấn luyện với chủ đích để làm tôi sợ? Mà làm tôi sợ để làm gì không biết? Hay là đe doạ đã thành thói quen, đã ăn thành nếp sống trong chế độ cộng sản?

Bước lên toa xe lửa toán du khách chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Đám chúng tôi ngồi chụm gần nhau ở mấy hàng ghế cuối toa. Tiếng cười ròn vui vẻ của mấy cô gái trong bọn tôi làm tôi chợt chú ý tới sự tương phản giữa đám du lịch và những hành khách khác trong toa. Họ đều là đàn ông, vẻ mặt nghiêm nghị. Quần áo họ hầu như toàn một màu xám. Những người lớn tuổi bận áo bốn túi, đầu đội mũ Mao Trạch Đông, một số người trẻ mặc áo vét xám, tay cầm cặp samsonite, trông như thương gia. Tôi nghĩ họ phải có gốc lớn lắm mới được cấp giấy đặc biệt để vào Hồng Kông. Bọn chúng tôi thì khác hẳn. Áo quần xuề xoà đủ loại - jeans, shorts - màu sắc sặc sỡ. Đoàn du lịch hầu hết là Hoa kiều sống lâu năm bên Mỹ. Cả đoàn hai mươi người chỉ có một bà Mỹ trắng và bốn người Việt. Ngoài vợ chồng tôi hai người Việt kia là hai cô gái gốc Hoa đi cặp với nhau.

Theo nguyên tắc thì hướng dẫn viên phải sử dụng đồng đều cả hai ngôn ngữ là tiếng Anh và tiếng Hoa. Nhưng vì đoàn chỉ có một người Mỹ nên họ có khuynh hướng giới hạn tiếng Anh ở mức tối thiểu. Chúng tôi di chuyển phần lớn bằng xe buýt. Để giúp vui một vài anh hướng dẫn viên thích kể chuyện tiếu lâm. Họ kể bằng tiếng Tàu, cố nhiên. Mấy anh nói rất có duyên vì trong suốt chặng đường dài xe cứ rung lên với những tràng cười ròn rã. Chỉ trừ ba người là vợ chồng tôi và bà Mỹ ngồi im. Có lần bà Mỹ giơ tay phản đối yêu cầu anh ta kể bằng tiếng Anh. Anh ta lễ phép trả lời rất tiếc không thể dịch sang tiếng Anh được vì chuyện anh kể dùng rất nhiều cách chơi chữ của người Tàu không thể nào dịch ra bất cứ một thứ tiếng nào khác. Chúng tôi may mắn hơn bà Mỹ vì được cô Mai là một trong hai cô gái gốc Hoa sốt sắng dịch cho chúng tôi nghe. Chẳng hạn trong thời gian ở Hàng Châu trong khi phái đoàn leo lên một cái chùa tháp cao 12 từng, anh hướng dẫn chỉ xuống một con sông lớn trước mặt, nói líu lo. Cô Mai quay qua tôi nói:

"Anh Thiết ơi! Lấy máy ảnh chụp ngay con sông này đi!"

Tôi hỏi:

"Sông gì thế?"

"Quan Tien River!"

"Quan Tien là sông quái gì? "

Mai phất tay vào vai tôi:

"Sông Tiền Đường đó! Cô Thuý Kiều tự tử đó!"

Tối hôm ấy nằm trong khách sạn Hangzhou Continental trước khi ngủ tôi dại dột hỏi nhà tôi:

"Này! Em! Cô Mai và cô Ly có chồng hay chưa có chồng hả em?"

Nhà tôi đang nằm quay mặt phía trong vội xoay hẳn người lại:

"Ơ hay anh này vớ vẩn? Anh muốn tán hai cô ấy thì cứ hỏi thẳng chứ em làm sao biết được hai cô ấy có chồng hay chưa có chồng?"

Tôi thờ thẫn:

"Ờ nhỉ..."

Tôi nhìn ngoài cửa sổ. Con tàu vừa kéo một hồi còi dài. Bên ngoài là cánh đồng trống. Tàu hoả chạy song song một con đường đất đắp nhô cao khỏi mặt ruộng. Trên đường một chiếc xe cam-nhông nhà binh màu lá cây chạy tung bụi phía sau. Tôi nhìn những cột điện lướt qua. Những dây thép trũng xuống rồi vươn cao rồi lại trũng xuống nối tiếp... Rồi tiếng ru rập rình của con tầu làm mắt tôi nhíu lại. Tôi trôi đi trong vũng sâu của thời quá khứ trong khi vai tôi cứ nặng dần ở một bên. Mùi mái tóc của nhà tôi thoảng qua. Vài sợi tóc bay rối qua mặt. Rồi có tiếng nói thật nhỏ ngủ đây... em ngủ đây... như mơ hồ một đêm nào trong tuổi thơ mái tóc dài của mẹ tôi xổ xuống buông xoã. Bà cúi xuống trên bờ vai tôi thầm thì ngủ đi con ngủ đi con... Vừa ru mẹ tôi vừa khẽ cất tiếng hát. Giọng hát buồn bã. Trên sông Kinh Châu có con buồm trắng... Gió thu đưa người biệt ly về cung sầu đó chăng... Tôi khóc rống lên. Rồi nức nở. Tấm tức. Mẹ tôi xoa tay trên lưng tôi. Bàn tay mềm mại. Lưng tôi nổi rôm. Tôi khóc cả đêm trên chiếc sập gụ một đêm nào rất xa xưa của Hà Nội, một đêm trời hè nóng bức kinh hồn, tôi nổi rôm cùng khắp người. Tôi đưa bàn tay nhỏ bé cào cấu làn da nổi sần lên những hột li ti nhưng cơn ngứa như tăng thêm theo từng cơn gãi. Tôi gãi đến rướm máu. Mẹ tôi giữ rịt tay tôi lại. Bà rắc bột phấn lên khắp người tôi rồi bà xoa xoa rất nhẹ. Cơn ngứa không giảm. Tôi gào lên muốn mẹ tôi mạnh tay hơn. Nhưng bà chỉ hát. Làm như tiếng hát có thể dịu đi mọi nỗi thống khổ. Tôi thiếp đi trên sông Kinh Châu có con buồm trắng... Khi tôi tỉnh dậy trời vẫn tối. Nhưng tôi chợt linh cảm chiếc sập gụ rộng chỉ có mỗi mình tôi. Hoảng sợ bàn tay tôi trườn hai bên mò mẫm xem mẹ tôi còn nằm bên cạnh không. Tay tôi tụt xuống mép sập. Tôi lạnh người khóc gào lên. Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ đâu rồi?...

Sáng hôm sau tôi nghe nói mẹ đã bỏ chúng tôi đi thật. Bà bất thần phải sang gấp bên Tàu. Có tin chú Long vừa mất ở Quảng Châu.

Tàu chuyển qua thành phố. Loáng loáng qua khung cửa là những căn nhà gạch xây sát cạnh đường tàu. Tôi nhỏm dậy hốt hoảng. Tôi chợt nhớ ra là chú Long đã gục chết trên tuyến đường này...

Tôi rời ghế đi lên mấy băng phía trước. Rồi cúi xuống tôi nói với cô Mai:

"Nhờ Mai giúp tôi việc này. Hồi ở Việt Nam học về Tự Lực Văn Đoàn chắc Mai có biết nhà văn Hoàng Đạo?"

"Hoàng Đạo à? Mai biết chứ".

"Hoàng Đạo là chú ruột tôi. Năm mươi năm trước chú tôi chết ở trên một chuyến xe lửa đi từ Hồng Kông đến Quảng Châu. Xác chú chôn gần một nhà ga của thị trấn Thạch Long, nằm đâu đó giữa Quảng Châu và Hồng Kông. Tôi muốn nhìn cái nhà ga ấy. Những hành khách trong toa này chắc là phải biết Thạch Long. Nhờ Mai hỏi hộ tôi. Cứ nói là thị trấn có tên Con Rồng Đá, chắc họ hiểu".

"Vâng, Mai sẽ hỏi hộ anh".

Bỗng cô ta nhìn tôi:

"Vậy thế Nhất Linh là thế nào với anh?"

"Tôi là con".

Mai lại nhìn tôi. Một nét ngạc nhiên thoáng trong ánh mắt cô:

"Thế à? Mai rất hân hạnh được biết anh".

Tôi trở về chỗ ngồi. Nhà tôi hỏi tôi:

"Anh hỏi cô Mai cái gì thế?"

"À, anh nhờ Mai hỏi hộ thị trấn Thạch Long ở đâu, anh muốn xem cái ga ấy. Chú Long chôn ở đó, em biết rồi".

"Ừ, em cũng muốn xem..."

Một lát sau tôi thấy Mai đứng lên hỏi một thanh niên trẻ mặc áo vét. Anh ta lắc đầu. Cô gượng hỏi thêm. Anh ta lại lắc đầu, tay chỉ vào một ông già ngồi ở băng trước. Mai tiến đến hỏi ông già đội chiếc mũ Mao Trạch Đông màu ka-ki. Hai người nói chuyện khá lâu. Lát sau cô trở lại cúi xuống nói với nhà tôi:

"Chị Thái Vân này! Mai hỏi được rồi. Còn khoảng hai mươi cây số nữa. Qua một cái tỉnh nhỏ nữa thì đến Thạch Long. Ông ta nghĩ Mai hỏi để xuống ga đó nên cứ nhắc mãi tàu này là tàu tốc hành đi Hồng Kông không có ngừng ở ga nào hết".

Mai về lại chỗ ngồi. Tôi cố nhớ lại tất cả những gì có liên quan đến chú Long.

Tại sao tiếng hát ru buồn bã của mẹ cái đêm xa xưa ấy lại khiến tôi liên tưởng ngay đến cái chết của chú? À phải rồi... cái đêm nóng kinh hồn đó là mùa hè của năm 1948.

Năm đó tôi lên tám. Tôi học trường tiểu học Hàng Vôi số 25 đường Lý Thái Tổ Hà Nội. Nhà của chú Long ở xéo bên kia đường, số 18 bis. Ngôi nhà xinh đẹp hai từng có cây bàng trước sân. Thuở bé tôi đến đó một hai lần. Không bao giờ tôi gặp chú Long. Từ phố Hàng Bè đến phố Hàng Vôi không xa. Nhưng đến nhà chú tôi thấy mình lạc vào thế giới khác. Hôm tôi đến thì Nguyễn Tường Ánh, con trai của chú thím, từ ngoài bước vào phòng khóc tấm tức, vừa khóc vừa giơ một ngón tay bị chẩy máu. Thím Long mắng đứa con của bà, bằng một giọng êm và quý phái. Tôi thấy giọng của bà lạ. Cách xưng hô cũng lạ. Không phải "mợ" như chúng tôi thường gọi mẹ. Mà là "me". Tiếng "me" nhỏ nhẹ phát từ cửa miệng hai mẹ con tôi nghe lạ tai quá, nó tây tây làm sao, vừa quý phái vừa có lẫn chút gì mềm yếu. Bầu không khí êm trôi của gia đình chú Long như thế đó. Nó tương phản với những gì tôi được nghe kể về chú sau này.

Trí nhớ tôi về mùa hè năm ấy có hình ảnh trường Hàng Vôi. Trường là hai dẫy nhà gạch hai từng ở hai bên, giữa là sân. Giờ ra chơi trời nóng bức đám học trò túa ra tụ trước cổng trường ngón tay kẹp đồng bạc tranh nhau thò qua chấn song sắt. Tiếng rao lao nhao ngoài cổng. Kem đây! Kem đây! Kem cam, kem bạc hà đây! Chiếc nắp bấc mở phịch. Hơi mát toả phà lòng bàn tay. Tôi rút ra trong phích một cây kem còn thở khói. Trong trí nhớ hình như sân trường có một tăng-xê trú ẩn hay là một cái lô cốt đổ nát còn để lại tôi không rõ. Một lần giữa giờ học tôi nghe có tiếng vọng sang từ một căn nhà gạch hai từng ở sát cạnh trường, ngăn bởi một bức tường cao có hàng rào kẽm gai cuộn tròn phía trên. Tôi nghe không rõ nhưng dường như đó là một tiếng hét đau đớn. Có ai bảo tôi căn nhà đó là Sở Mật thám. Tây đã tra tấn Việt Minh trong đó. Sau này cũng có ai bảo tôi chú Long bị Tây bắt và bị tra tấn. Họ còn nói thím Long mỗi lần thăm chú ở nhà giam về nhà lại mang theo một chiếc áo đẫm máu!

Vào trong Nam tôi ít liên lạc với gia đình thím Long. Ánh lớn hơn tôi mấy tuổi nên tôi ít thân. Chúng tôi gặp nhau vài lần một năm là nhiều và thường là những dịp giỗ tết. Lần cuối tôi gặp thím Long vào dịp Tết đầu thập niên 70. Nhà thím ở Gia Định, Ngã Năm Bình Hoà, trong một cái ngõ có nhiều cây xung quanh. Tôi dựng xe gắn máy trước nhà. Vào phòng khách tôi thấy vắng không có ai. Lát sau có tiếng dép bước ra từ buồng trong. Bao nhiêu năm không gặp thím tôi thấy thím già đi, xanh xao, mệt mỏi. Duy có tiếng nói của thím vẫn thế, vẫn là giọng nói của thím Long ngày nào ở Hà Nội: êm nhẹ, quý phái. Chỉ khác bây giờ giọng thím nhỏ yếu hơn nhiều. Tôi nghe nói thím bị bịnh ung thư bên cánh tay trái, nhưng lần ấy tôi gặp thì cánh tay chưa bị cắt. Trong suốt câu chuyện với thím hôm đó tôi chỉ còn nhớ một câu thím nói. Thím nhìn lên cây vú sữa của căn nhà bên kia ngõ như thả hồn theo những ngày xưa cũ và giọng của thím nhẹ như hơi thở:

"Cuộc đời của các anh phẳng lặng quá. Cuộc đời của chúng tôi sóng gió hơn nhiều..."

Câu nói làm tôi nghĩ đến cuộc đời gian truân của mẹ tôi, của thím Long và của bà Khái Hưng. Tôi nghĩ đến thân phận làm vợ của ba nhân vật nòng cốt Tự Lực Văn Đoàn đã chọn con đường tranh đấu chông gai. Riêng với thím tôi thấy xót xa hơn cả bởi thím xuất thân từ một gia đình quyền quý, lại là con một, khi lấy chú tôi thím không hề được sửa soạn để ứng phó với cuộc đời bất trắc. Sau lần gặp ấy cho đến ngày thím mất tôi không gặp lại thím. Nhưng tôi được nghe kể về diễn tiến của căn bệnh quái ác ấy. Cánh tay của thím phải cưa đến hai lần. Sau cùng ung thư đã lan vào tuỷ sống làm bà hôn mê suốt 24 tiếng đồng hồ trước khi từ giã cõi đời.

Từ tiếng hét bên bờ tường kẽm gai trường Hàng Vôi, đến chiếc áo đẫm máu của chú Long và sau này cánh tay cưa của thím, những hình ảnh đó là những ấn tượng đau đớn nó luôn luôn thoáng hiện trong tôi mỗi lần tôi nghĩ về chú thím.

Từ ngày vào Nam hình như những kỷ niệm đau buồn cũ đã được để lại bên bờ kia của dòng Bến Hải. Họ Nguyễn Tường chúng tôi bắt đầu cuộc sống mới ở miền Nam. Không ai buồn nhắc nhở đến cái chết đau thương của chú Long.

Nhưng có một lần trong đêm khuya khoắt tên chú Long được nói đến làm tôi rúng động. Nó cho tôi biết được một điều thầm kín. Đó là trong lúc cái chết của chú đã chìm trong quên lãng thì vẫn có một người âm thầm đau khổ, người đó là cha tôi. "Thuở ấy ở Sài Gòn cha tôi thường viết văn trong đêm khuya khoắt. Những khi giật mình thức giấc nửa đêm tôi thường thấy, qua khe cửa, đèn trong phòng ông còn bật sáng. Có đêm lũ chúng tôi lồm còm bò dậy vì có tiếng khóc trong phòng cha tôi. Tiếng khóc lúc đầu còn nhỏ sau lớn dần không kìm hãm được. Lũ chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau. Một người anh họ lớn tuổi hơn, ra dáng hiểu biết, giải thích: Chú Tam khóc vì chú nhớ chú Long đấy! Sau này tôi biết ông đã khóc âm thầm nhiều đêm vào những dịp khác. Không ai có thể đoán biết ông khóc cái gì, ngay cả mẹ tôi cũng không thể nào biết được. Nhưng sự khám phá này đã gieo vào tuổi thơ tôi một ấn tượng mạnh mẽ, rằng cha tôi là một người cô đơn và đau khổ" (Nhất Linh, cha tôi - NTT - 1985).

Tôi biết gần như chắc chắn cái chết của chú Long, người em và cũng là đồng chí, đã ảnh hưởng mạnh đến cuộc đời của cha tôi. Năm 1951, khi từ Hồng Kông về Hà Nội, cha tôi tuyên bố với báo chí rằng ông từ bỏ chính trị. Quyết định này của ông tôi nghĩ là sẽ không có nếu chú Long còn sống. Cha tôi có hai con người trong ông. Con người nghệ sĩ ông gần Thạch Lam. Con người cách mạng ông gần Hoàng Đạo. Sự mất mát của hai người em, nhất là Hoàng Đạo, đưa đến khủng hoảng trong tâm thần ông.

Ngay sau ngày cha tôi chết một nhân vật xuất hiện: Như Phong. Đeo kính trắng gọng to, chiếc pipe trên miệng, khuôn mặt vuông, dáng trí thức lịch lãm, người mà chúng tôi vẫn gọi bằng cái tên thân mật: "cậu Tiến". Tôi chưa từng gặp Như Phong trước đó. Nhưng tên cậu đã là huyền thoại. Là đàn em của Hoàng Đạo, đời cậu dính chặt với gia đình chú Long. Luôn luôn là một nhân vật bí mật và chỉ xuất hiện trong những dịp thật đặc biệt, với tôi cậu Tiến là hiện thân của một người chú tôi chưa từng biết.

Không khí thật căng thẳng sau ngày cha tôi tự sát. Công an mật vụ theo dõi chúng tôi. Hôm đó ngày thứ hai mồng 8 tháng 7 năm 1963. Giờ này theo như trát đòi đáng lý cha tôi phải có mặt trong phòng xử của Toà án Quân sự Đặc biệt tại số 131 đường Công Lý Sài Gòn nhưng hôm trước ông đã uống độc dược tự vẫn, để lại tờ di chúc chính trị: "Đời tôi để lịch sử xử..." Đúng lúc chúng tôi đang bối rối tìm cách phổ biến tờ di chúc ra ngoại quốc trước khi nó có thể bị tước đoạt bởi những bàn tay mật vụ thì Như Phong xuất hiện. Cậu giải quyết vụ này nhanh chóng. Tôi nhớ mãi thái độ của cậu hôm đó. Trong bầu khí bất an đe doạ khắp nơi, trong khi chúng tôi bấn loạn thì cậu bình tĩnh như không. Cậu còn khôi hài dí dỏm làm như thể mọi chuyện trên cõi đời này không có gì đáng phải lo âu. Trên đường chở cậu trên chiếc Vespa của tôi đến số 19 đường Ngô Đức Kế để đưa tờ di chúc đến cơ quan thông tấn xã UPI cậu bảo tôi dừng lại ở một kiosk đầu đường Nguyễn Huệ làm photocopy. Đấy là lần đầu tiên tôi biết mặt mũi cái máy sao giấy tờ này. Sau này gặp lại cậu Tiến cứ mỗi lần chúng tôi trao đổi nhau bất cứ một thứ giấy tờ gì, dù chỉ là mảnh giấy rất thường, cậu đều ghé vào tai tôi, nói thầm ra vẻ bí mật: "Nhớ photocopy!" Cả hai đều bật cười nhớ ngay đến lần hai cậu cháu làm phóng ảnh cái tờ di chúc lịch sử kia. Năm 1974 tôi dự tính in một cuốn sách "Di cảo Nhất Linh Nguyễn Tường Tam" và đang thu thập tài liệu thì Như Phong đến gặp tôi trao cho tôi một tờ giấy nhỏ. Lần này cậu không nói đùa "nhớ photocopy!" như mọi lần mà chỉ nói: "Tài liệu quý! Nhớ giữ!" Đó là lần cuối cùng tôi gặp cậu. Đúng hai mươi năm sau, ngay khi đặt chân đến Mỹ, cậu gọi điện thoại cho tôi và câu đầu tiên cậu hỏi là tôi còn giữ được tài liệu đó không. Tôi nói tôi còn giữ. Lặng đi một lát. Tôi cảm được mối xúc động của cậu ở đầu dây bên kia. Rồi cậu nói: "Tốt! Photocopy gửi cậu một bản. Nhớ in màu. Làm sao lên được màu mực tím của vạch kẻ!". Tôi mang tài liệu này đến Kingko để in. Bỗng tôi giật mình. Tôi đã giữ tài liệu này mấy chục năm nay đọc nó không biết bao nhiêu lần có bao giờ để ý cái chi tiết vạch kẻ có màu tím. Mấy chục năm mà cậu còn nhớ được cái chi tiết nhỏ nhặt này. Thì ra cậu Tiến, tôi đoán thế, trong suốt bao năm tháng dài đã nghiền ngẫm tài liệu này trong trí nhớ, đã nhìn thấy màu mực tím đó trong bóng tối âm u của những trại lao tù cộng sản. Tài liệu đó do chính cha tôi viết tay dài hai trang chữ rất nhỏ mang tên Ký trình nội dung báo cáo về việc thống nhất các đảng phái quốc gia và tổ chức đảng. Ký tên Hải ngoại Chấp hành Bộ: Nguyễn Tường Tam, Nghiêm Kế Tổ, Vũ Hồng Khanh, Lý Đông A (và một nhân vật nữa) cùng ký tên tắt. Tài liệu này không đề ngày. Nhưng câu "Ngày giờ đã khẩn cấp!" trong tài liệu cho tôi phỏng đoán là nó được viết cùng thời với Bức thư ngỏ gửi các bạn chiến đấu của cha tôi ký ngày 17-1-1945 trong đó có một câu tương tự: Thời giờ thật là khẩn cấp...

Nhà tôi đập vào vai tôi chỉ về phía trước. Cách mấy hàng ghế Mai quay người phía sau miệng nói mấy câu nhưng tiếng nói bị át đi trong tiếng còi tàu. Tay cô chỉ chỉ ra ngoài ra dấu xe hoả đã vào ga Thạch Long.

Tất cả xẩy ra rất nhanh chóng khi con tàu tốc hành vùn vụt chạy lướt qua ga.

Tôi rướn người nhìn ra bên ngoài. Khung cảnh ga Thạch Long hoàn toàn không giống như trong trí tưởng tôi. Trong một khoảnh khắc rất ngắn khi tôi vừa ý thức là nắm xương của chú Long tôi phải nằm ở quanh quất đâu đây thì con tàu đã rầm rộ vượt qua, bỏ lại nấm mộ trong trí tôi lùi xa lùi xa... Trong tiếng nghiến của những bánh xe hoả rung lên trên một cây cầu sắt tôi nhìn thấy chú Long đang dõi mắt nhìn tôi... cái nhìn lãng đãng, thắm thiết mà buồn bã... cái nhìn mòn mỏi đợi chờ những người thân... đã từ năm mươi năm... Sự tưởng tượng không ngờ làm tôi thật sự xúc động. Mối xúc động át đi trong tiếng còi kéo dài khi chuyến tàu rời khỏi thị trấn. Đó là khoảnh khắc duy nhất trong đời tôi đã trọn vẹn dành cho chú, một người chú bao năm như kẻ xa lạ bỗng dưng trở về... gần gũi thân thương như một người trong nhà.

Chú tôi sinh ra và lớn lên ở phố huyện Cẩm Giàng. Gần một cái nhà ga bên con đường sắt Hà Nội - Hải Phòng. Nơi quê nhà. Bốn mươi mốt năm sau chú chết lại gửi xác ở thị trấn Thạch Long. Cũng gần một cái ga bên con đường sắt Quảng Châu-Hồng Kông. Nơi quê người.

Nông nỗi nào thế hở chú Long?


*


Mới đó mà đã bẩy năm qua.

Bốn năm trước Như Phong mất ở Virginia vào ngày 18 tháng 12 năm 2001. Tôi sửng sốt ghe tin cậu mất. Thật quá bất ngờ. Tôi tự trách mình cứ chần chờ gặp cậu để nghe cậu kể và nếu cần sẽ thu băng làm tài liệu sau này viết về một đoạn đời của cha tôi và của chú Long, một đoạn với tôi còn ngập đầy bóng tối, mà tôi tin rằng cậu là người biết rõ nhất. Sau khi cậu Tiến mất tôi cũng thắc mắc tại sao cậu không viết hồi ký? Cả cuộc đời cậu luôn luôn đứng trong hậu trường chính trị, là người biết rõ nhất cái hậu trường ấy, của rất nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau.

Một ngày kia tôi sực nhớ tới cái hôm cậu giúp tôi phổ biến tờ di chúc của cha tôi, một việc làm đã góp phần cho sự sụp đổ của một chế độ. Ngày ấy với tôi là trọng đại. Nhưng với cậu lại như đùa bỡn. Tôi hiểu ra. Hôm đó chỉ là một ngày trong đời cậu. Những ngày khác của cậu cũng thế. Cuộc đời cũng thế. Viết làm gì? Có gì quan trọng đâu...

Đêm nay.

Một đêm thu trong và lạnh của miền Tây Bắc lại đến.

Tôi thức giấc nửa khuya thấy mình đối diện với ánh trăng tràn qua cửa sổ. Ánh trăng làm tôi xao xuyến. Nằm trằn trọc mãi không ngủ được tôi suy nghĩ về bài tôi đang viết về Hoàng Đạo rồi bỗng sực nhớ ra là mình có lưu giữ một chút gì của chú Long, tôi thức dậy bước ra ngoài phòng khách. Từ trên trần nhà lọt qua khung skylight ánh trăng trải xuống một khoảng sáng mờ hình chữ nhật, một nửa nằm trên thảm, một nửa gác lên tủ kính là chỗ tôi cất giữ di cảo của cha tôi. Tôi mở cửa kính tủ, bật một cái đèn con rồi lấy ra một bức tranh hoa cúc do cha tôi vẽ. Cạnh bức tranh là thủ bút của cha tôi ghi rõ "chậu cúc này do chính tay Hoàng Đạo mua về để bày tết, trang hoàng một gian nhà tiều tuỵ ở một làng hẻo lánh Quảng Đông". Ở một góc của bức hoạ có chữ ký Nhất Linh, 1948, đúng năm Hoàng Đạo mất.

Trên bức vẽ là màu thời gian gần sáu mươi năm. Vài cánh hoa cúc do cha tôi cắt và dán đã long ra ở đầu mép. Tôi nhìn cái phông màu mực đỏ tươi của bức tranh loang sau những cánh hoa vàng và liên tưởng đến vệt máu đẫm trên chiếc áo chú Long.

Cầm bức tranh trên tay, tôi lặng đi. Bức tranh là tiếp cảm đằm thắm nhất giữa tôi và hai người thân yêu đã khuất. Thoáng trong một giây tôi hình dung cả ba người là chú Long, cha tôi và tôi đều cùng nhìn vào một chậu cúc xưa. Tôi nghĩ đến sự hữu hạn của đời người và bức tranh này cùng với ánh trăng kia sẽ còn lưu lại mãi mãi.

Kim nhân bất kiến cổ thời nguyệt
Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân
(Lý Bạch)

Nguồn: Văn Mới xuất bản, 2006. Bản đăng trên talawas với sự đồng ý của tác giả.