trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Điểm nóng
Chính trị Việt Nam
  1 - 20 / 434 bài
  1 - 20 / 434 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Điểm nóngChính trị Việt Nam
3.12.2005
Phạm Phú Đức
Sĩ Phu Minh Chính Hưng Quốc
 
Hà Sĩ Phu, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Hưng Quốc là những tên tuổi lớn trong lý luận chính trị và phê bình văn học của Việt Nam. Tuy gốc gác của mỗi người khác nhau: người thuần khoa học, người thuần chính trị, người thuần văn học, nhưng bây giờ họ có một điểm chung là ngày càng được "những ông bà lớn" tận tình chiếu cố.

Hà Sĩ Phu, tên thật là Nguyễn Xuân Tụ, lấy bằng phó tiến sĩ về sinh học tại Tiệp Khắc, từng giữ trách nhiệm Viện phó Phân viện Đà Lạt của Viện Khoa học Việt Nam năm 1988. Nếu chế độ cộng sản tại Việt Nam cũng sụp đổ theo khối cộng sản tại Đông Âu và Liên Xô thì có lẽ người ta chỉ biết đến Hà Sĩ Phu qua tác phẩm “Dắt tay nhau đi dưới tấm bản chỉ đường của trí tuệ" (1988), và có thể sau đó ông trở lại con đường khoa học của mình chứ không phải bận tâm viết thêm "Đôi điều suy nghĩ của một công dân" (1993) và "Chia tay ý thức hệ" (1995). Nếu như thế thì thật là một đại may cho Việt Nam.

Nhưng, xui cho ông, và dân tộc Việt Nam, là triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam vẫn tồn tại cho dù hiện thực xã hội chủ nghĩa vào cuối thập niên 1980 đã thất bại rõ ràng trên thế giới. Cho nên ông Hà Sĩ Phu, một nhà khoa học, trở nên quan tâm khi thấy "Ta biết ơn chiếc thuyền đã đưa ta sang sông, nhưng sang bờ rồi mà cứ cắm cúi mang chiếc thuyền ‘Mácxít chỉ huy’ trên lưng như cái mai rùa thì tránh sao khỏi người ngoài đàm tiếu và người thân nghi ngờ rằng có sự che đậy hoặc cất giấu cái gì trong đó" [1] .

Người ta sợ cách lý luận, bày tỏ quan điểm, và phân tích vấn đề một cách khoa học và sâu sắc của Hà Sĩ Phu một phần, nhưng có lẽ sợ hơn nữa là cuộc vận động "dắt tay nhau bằng con đường trí tuệ", cho dù trên thực tế ông chưa làm được bao nhiêu. Vì thế nên kể từ năm 1995 đến nay, đời sống của ông và gia đình được Đảng và nhà nước can thiệp một cách tận tình. Cuối năm 2003, vì căn bệnh không thuyên giảm nên ông được vợ là bà Đặng Thị Thanh Biên đưa ra Hà Nội chữa bệnh. Trước khi đi ông bà đã báo cho tổ trưởng dân phố, khi về cũng vậy. Nhưng công an phường kêu hai ông bà lên định xử phạt vì không chấp hành đúng "thủ tục khai báo tạm vắng". Đại uý công an Hàn Văn Khanh cho biết: "Bất cứ công dân nào, đi khỏi nhà một ngày là phải có phép của công an, công an không cho phép, không ai được đi!..." [2]

10 năm qua, dù huy động hầu hết các lý thuyết gia hàng đầu của Đảng và sử dụng mọi phương tiện truyền thông trong tay để phản luận lại các bài viết của Hà Sĩ Phu (trong khi các bài viết của ông không được phổ biến), họ vẫn không bỏ tù được tư tưởng của ông và không đọ nổi lý luận sắc bén của ông. Vì thế cho nên mới sử dụng đến biện pháp hèn hạ như quản chế hay cho du côn đến ném đá, phá nhà và hăm doạ ông bà cũng như tịch thu các máy tính của ông. Biện pháp đó cũng không thành nên họ phải dùng đến quy định khai báo tạm vắng v.v... Nhưng càng loay hoay đối phó với ông thì họ chỉ càng làm cho mọi người thấy sức mạnh của trí tuệ, lý luận và lẽ phải không dễ gì bị dập tắt; vả lại càng làm nổi bật vai trò của Hà Sĩ Phu trong việc đánh đổ chủ nghĩa Mác-Lê tại Việt Nam.

Hoàng Minh Chính, tên thật là Trần Ngọc Nghiêm, được Đảng cử đi học ở Liên Xô từ năm 1957 đến 1960. Năm 1961, ông được cử giữ chức Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lê, và cũng từng giữ nhiều chức vụ quan trọng khác như Tổng Thư ký Đảng Dân chủ, Phó Chủ nhiệm Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, Bí thư "Đoàn thanh niên Việt Nam" [3] .

Khác với ông Hà Sĩ Phu, người tự nghiên cứu và phân tích chủ thuyết Mác-Lê, ông Hoàng Minh Chính được đào tạo một cách chính quy và đã trở thành một trong lý thuyết gia trụ cột của Đảng. Thế nhưng sau khi ông Nikita Khrushchev lên ghế Tổng Bí thư tại Liên Xô và hạ bệ "thần tượng" Joseph Stalin (năm 1956), thì vào giữa thập niên 1960, ông Hoàng Minh Chính cùng khoảng 200 người liên luỵ bị tố cáo theo khuynh hướng xét lại chống Đảng và bị trù dập (còn gọi là Vụ án Xét lại chống Đảng). Ông bị chế độ bỏ tù đến ba lần: Lần đầu ông bị bắt giam từ tháng 7 năm 1967 đến 1972; lần thứ hai từ 1981 đến 1987; lần thứ ba từ 1995 đến 1996. Thế nhưng ông vẫn không khuất phục mà luôn cùng với những nhà phản kháng tiếp tục lên tiếng tố cáo và vạch trần những sai trái của chế độ. Điểm chính ông nêu lên là chế độ cộng sản tại Việt Nam phải chấm dứt chính sách cai trị độc tài và chấp nhận quy luật sinh hoạt dân chủ. Với tuổi tác và quá trình hoạt động của ông, Hoàng Minh Chính được xem là một trong những người anh cả của phong trào dân chủ tại Việt Nam. Nhiều người nhìn ông vừa là điểm tựa vừa là sự kết hợp cần thiết giữa các nỗ lực đấu tranh trong và ngoài nước, nhất là qua chuyến đi sang Hoa Kỳ chữa bệnh vừa rồi.

Khi về lại Việt Nam và ở nhà người con gái của ông, có người đến gây chuyện, rồi ném trứng, rồi vác dao đến chém vào cổng, rồi tạt axít lên xe gắn máy và vào sân nhà, rồi đòi ông phải ra Hà Nội v.v... Dĩ nhiên mọi chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra một cách vô lý vô cớ như thế nếu không được sự chỉ đạo và bảo vệ từ cấp lãnh đạo. Trong lá thư vừa mới phổ biến, ông nói: "Trong thời gian tôi ở Hoa Kỳ (từ 31/8/2005 - 12/11/2005) thì các báo, đài trong nước đã phát động một đợt đả kích tôi, bắt đầu từ ngày 14/10/2005. Mục đích là bôi nhọ danh dự, vu khống, thóa mạ tôi, bịa đặt, chụp mũ tùy tiện, bất chấp đạo lý và pháp luật mà trong Đơn kiện ngày 31/10/2005 tôi đã trình bày. Khi tôi về nước cũng được bạn hữu cho biết là ở thành phố Biên Hòa, thuộc tỉnh Đồng Nai họ đã đem các bài báo đả kích tôi ra đọc trên các loa phóng thanh từ 2 đến 3 lần mỗi ngày, trong suốt cả tháng liền." [4]

Điều khó hiểu là nhà cầm quyền Việt Nam chấp nhận cho ông xuất ngoại nhưng khi ông về thì lại gây mọi khó khăn cho ông và gia đình. Nhưng nói cho cùng, trong chế độ này, nhiều chuyện bất thường lâu ngày cũng thành... bình thường. Kiểu như (Bộ Ngoại giao) cấp visa rồi khi về đến Việt Nam (Bộ Công an) lại không cho nhập cảnh. Điều này cho thấy rằng họ không còn thuần nhất, và rất lúng túng trong cách đối phó với ông cũng như nhiều người và nhiều vấn đề khác hiện nay.

Nguyễn Hưng Quốc, tên thật là Nguyễn Ngọc Tuấn, lấy bằng tiến sĩ về lý thuyết và thực hành của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam. Ông là nhà phê bình văn học hàng đầu hiện nay, đặc biệt là khả năng thuyết phục rất cao trong cuốn Thơ v.v... và v.v... (1996) khi độc giả như bị lôi cuốn về tài nghệ độc đáo biến bài thơ con cóc thành bài thơ hay.

Nguyễn Hưng Quốc là một trong những người gây nhiều tranh luận nhất trong giới văn học nhiều năm qua, nhưng không mấy người biết đến ông. Ở Úc, ba thành phần chính biết đến ông là sinh viên của ông tại trường Victoria University, thính giả của SBS Radio khi thỉnh thoảng có chương trình ông cộng tác nói về thơ văn chữ nghĩa, và còn lại là giới thích văn chương văn học Việt Nam. Ở ngoài Úc, đa số biết đến ông qua văn chương văn học, nhất là trước đây ông là chủ bút tạp chí Việt và bây giờ đặc trách trang nhà Tiền Vệ.

Nếu chưa từng được nghe Nguyễn Hưng Quốc diễn thuyết thì thật là một điều thiếu sót. Ông có khả năng trình bày một chữ hay một vấn đề trong cả tiếng đồng hồ một cách lôi cuốn mà không bao giờ cầm giấy, và dữ kiện thì vô cùng phong phú và chính xác, nhất là thơ ông trích dẫn dường như bất tận. Sau cuốn Sống với chữ (tác phẩm thứ 8 của ông, được xem là hiền lành và ít gây tranh cãi nhất) thì ông mong muốn viết một tác phẩm chỉ về một chữ mà thôi. Không ai nghi ngờ khả năng của ông trong việc này, chỉ không biết ông sẽ chọn chữ nào đây!

Nhưng sự kiện 19/11/2005 mà ông không được nhập cảnh vào Việt Nam đã làm cho nhiều người thuộc mọi thành phần khắp thế giới biết đến ông hơn [5] . Truyền thông ở trong nước, không hiểu vì nguyên do gì, đã đưa tin này, nên một thính giả nghe xong bèn nói: "Thật là kỳ quái. Kêu gọi Việt kiều về nước mà lại không cho vào thì nghĩa lý gì!" Thật ra vị thính giả này không biết tiến sĩ Nguyễn Ngọc Tuấn là ai cả, nhưng lại bất bình với sự tuỳ tiện và bất nhất của những người cầm quyền.

Rất nhiều người ngạc nhiên với quyết định của nhà cầm quyền Việt Nam: Hết chuyện làm rồi hay sao mà không cho nhà phê bình văn học chưa bao giờ làm (hay có mục đích) chính trị vào Việt Nam trong khi ông đang dẫn một phái đoàn 11 người (tổng cộng là 14 sinh viên) sang Việt Nam du khảo? Ngạc nhiên đến độ sửng sốt nên một bạn sinh viên nhào đến mấy công an gào lên tại sao lại đối xử như vậy đối với thầy của họ, một người đã giảng bao nhiêu điều hay đẹp về văn hoá và xã hội Việt Nam? Chính Nguyễn Hưng Quốc cũng ngạc nhiên không kém vì lần "nắn gân" trước đây là 25/12/2002, sau đó là yên, và chuyến đi tháng 12 năm 2004 của ông diễn ra tốt đẹp, và từ đó đến nay ông xác nhận là viết rất ít và không viết về đề tài gì có tính "nhạy cảm" về chính trị. Hỏi nguyên do tại sao không được nhập cảnh thì... không ai trả lời được ngoại trừ câu trả lời nhàm chán với thái độ câm điếc: "chỉ làm theo lệnh từ Bộ Công an". Có thể hiểu một cách đơn giản nếu biết cách vận hành và lấy quyết định tại Việt Nam bao lâu nay. Không phải vì Bộ Công an có thẩm quyền hơn Bộ Ngoại giao trong thời đại khủng bố này mà vì quyết định này phải đến từ một vài nhân vật "miệng tao là pháp luật" trong Đảng hay nhà nước.

Hậu quả của quyết định này chắc chắn sẽ làm mất mặt nhà cầm quyền Việt Nam, là điều những người/nhóm người lấy quyết định này biết rõ, và họ cũng thừa biết rằng sai lầm này không thể giải thích quanh co trong khi kêu gọi Việt kiều "quên đi quá khứ, hướng tới tương lai". Tất cả chính sách đối với Việt kiều trở thành vô nghĩa, và vô hiệu, nếu xem nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc là nguy hiểm không được nhập cảnh. Chỉ vì xem ông là nguy hiểm nên mới không cho vào, và sẵn sàng đánh đổi cả mối lợi của Việt kiều và mối bang giao với nước Úc hay sao? (Hay rồi với thời gian, mọi chuyện sẽ qua, sẽ quen và sẽ quên!)

Nhưng tại sao nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc là nguy hiểm đối với họ?

Đọc tác phẩm Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản [6] , chúng ta thấy ông thẳng thừng phê phán và vạch trần những cái phản khoa học và phi nghệ thuật của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, và những bức tường tù bao vây chủ nghĩa và văn hoá. Ông cho biết trong những lần về Việt Nam, ông thỉnh thoảng bị công an văn hoá chất vấn, nhất là về cuốn VHVNDCĐCS. Họ thù ông là phải vì tất cả những chính sách chỉ đạo và kiểm soát giới văn nghệ một cách cực kỳ gắt gao từ năm 1954, đặc biệt là từ năm 1958 sau vụ Nhân văn-Giai phẩm, được ông phơi bày trong tác phẩm này một cách tinh tế và chính xác mà cho đến nay chưa ai bắt bẻ gì được. Trong phần kết luận của tác phẩm VHVNDCĐCS, ông nhận định: "Cộng sản chỉ có thể tập họp, động viên tinh thần của giới cầm bút trong hoàn cảnh có chiến tranh; đến lúc tiếng súng đã tắt, hoà bình trở lại, ngọn cờ đấu tranh giải phóng dân tộc hoặc thống nhất đất nước rơi xuống, cộng sản hiện nguyên hình là một bạo chính, giới cầm bút lại trở thành kẻ phản kháng, ào ạt lên tiếng đòi hỏi tự do và dân chủ". Cho nên: "Suốt mất chục năm qua, nhà cầm quyền cộng sản không ngừng can thiệp để, một là, ngăn chặn dòng văn học thể hiện khát vọng tự do, dân chủ; hai là, làm lệch hướng dòng văn học thể hiện lòng yêu nước bằng cách gắn liền khái niệm yêu nước với khái niệm yêu chủ nghĩa xã hội".

Tác phẩm Văn hoá văn chương Việt Nam [7] như các chương “Chủ nghĩa mình-thì-khác”, “Nhà văn... không là ai?” cũng mang những quan điểm phê bình thẳng thừng của Nguyễn Hưng Quốc. Ông cho rằng những giá trị được nhìn nhận ở những nơi khác, chẳng hạn, dân chủ thì bao giờ cũng tốt hơn độc tài, thì dù được đồng ý và ngưỡng mộ, nhưng khi có ai đó đề nghị áp dụng các giá trị ấy vào Việt Nam thì người ta lắc đầu nguầy nguậy: mình-thì-khác!... Cho nên ông mới ưu tư: "Như thế thì không những không theo kịp các quốc gia Á Châu khác mà còn chưa chắc gì vượt qua thế hệ đàn anh đàn chú của chúng ta ngày trước." Theo ông, những âm mưu hành chánh hoá và chính trị hoá văn học, biến văn học thành một bộ phận trong guồng máy nhà nước mà ở đó mỗi người cầm bút được trả lương và có nhiệm vụ phải chấp hành mọi mệnh lệnh từ giới lãnh đạo, thì giá trị không còn là tinh thần sáng tạo mà là sự vâng phục; xem việc trung thành đối với các quan điểm và chính sách của Đảng là một yêu cầu đạo đức, cũng như xem tính hiệu quả trong việc phục vụ cho các quan điểm và chính sách ấy là thức đo tài năng... Ông kết luận: "Là những tù nhân lâu đời của quá khứ, chúng ta không hy vọng sẽ có được bất cứ thứ gì, kể cả một thứ chủ nghĩa hậu hiện đại khập khễnh, nếu trước hết, chúng ta không chịu phá đổ các bức tường vây quanh mình. Và ngay chính bản thân mình. Những bức tường được duy trì bằng vô thức tập thể của cả một dân tộc. Từ những thời rất đỗi xa xôi."

Là người chủ trương văn học vị nghệ thuật (tách rời chính trị khỏi văn học), ông đã bị phê phán bởi những người cộng sản và cả những người chống cộng sản. Nhưng nếu xét cho cùng thì ở những nước tự do, những người/nhóm người muốn dùng văn hoá văn học cho mục tiêu chính trị hay thuần tuý văn hoá đều có quyền tự do làm việc đó mà không bị bất cứ ai cấm cản. Chỉ có trong thể chế độc tài, văn hoá văn học mới bị chính trị hoá để làm công cụ tuyên truyền cho chế độ. Nhìn như thế thì mới thấy lập trường hay chủ trương của ông mang tích cách phá vỡ nguyên trạng, là lời giải cho gốc rễ mọi vấn đề, cho nên đó là cái gai đối với chế độ độc tài.

Nguyễn Hưng Quốc không bao giờ làm chính trị: "Tôi không hề làm chính trị. Tôi chỉ viết về văn học và văn hoá; và luôn luôn viết với tư cách một nhà phê bình. Mọi ý nghĩ của tôi đều được trình bày một cách thẳng thắn, công khai, chả có gì phải giấu giếm cả." Có khi thái độ phi chính trị của ông rất dứt khoát và nhất quán, là điều mà những người chống cộng lại khó hiểu vì biết ông là tác giả cuốn VHVNDCĐCS. Nhưng cần phải hiểu rằng phê bình văn học, nhất là văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, thì ông không thể không nêu ra mối tương quan chằng chịt giữa chính trị và văn hoá, văn học; giữa quá khứ, hiện tại và tương lai; giữa chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại, hậu cộng sản v.v... Mà đã nêu ra thì ông phải nói cho tận gốc vấn đề, dù có đụng chạm chế độ độc tài hay "văn hoá dân tộc". Có lẽ vì thế nên những người phê bình văn học như Nguyễn Hưng Quốc, tuy chủ trương tách rời chính trị khỏi văn học, nhưng phải thường xuyên đề cập đến chính trị khi phê bình văn học.

Có lẽ nỗi ám ảnh thường xuyên của cộng sản là không thể "làm chủ" tư tưởng của những người như Hà Sĩ Phu, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Hưng Quốc v.v... Khi không thể thắng lý luận và cũng không thể bịt miệng được những người như vậy nữa thì chỉ còn cách chơi xấu, hoặc cho đỡ tức hoặc để giải quyết vá víu tạm thời rồi hạ hồi phân giải. Vì thế cho nên chúng ta mới thấy những trò bẩn thỉu như ném đá, tạt axít, hay trục xuất (bắt tự mua vé về lại Úc) như đã xảy ra đối với các nhà trí thức này.

Những nhận định sâu sắc của Nguyễn Hưng Quốc về văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản từ năm 1945-1990, 15 năm sau vẫn còn giá trị, ít nhất là đối với chính bản thân ông, một nhà phê bình văn học thuần tuý. Những ai yêu nước mà không yêu xã hội chủ nghĩa, tức không chịu phục tùng lãnh đạo cộng sản, thì sẽ không có chỗ đứng nào dưới chế độ này. Ông nói: "Nắm bắt điều này, chúng ta hiểu tại sao cộng sản cố đẩy vào bóng tối những tài năng cao ngất và những tấm lòng sáng vằng vặc như Hồ Dzếnh, như Quang Dũng, như Văn Cao... Những người không chống lại cộng sản cũng không chịu đồng nhất tổ quốc với một thể chế chính trị nào".

60 năm qua có nhiều thay đổi, nhưng bản chất cộng sản thì... không thay đổi.

Dù hiểu rõ bản chất như thế nhưng ông vẫn không khỏi ngạc nhiên khi năm 2002 về thì bị chất vấn, năm 2004 thì không hề gì cả (và cứ tưởng như đã thoát nạn cái thời kỳ bị phiền phức), và tự coi như "vô tội" trong vòng một năm qua, mà rồi vẫn bị đối xử như có "vô số tội" trong chuyến về Việt Nam vừa rồi [8] .

Năm 1990, Nguyễn Hưng Quốc viết: "Là một chế độ chuyên chính, cộng sản không những không dung hợp mà còn, hơn nữa, thù nghịch với tất cả những khát vọng tự do, dân chủ. Là một ý thức hệ đặt căn bản trên tinh thần giai cấp và tinh thần quốc tế vô sản, cộng sản chỉ coi lòng yêu nước là một chiêu bài, dần dần sẽ bị triệt tiêu." Nếu nhìn kỹ thì 15 năm sau đó vẫn như không có gì thay đổi. Nhà cầm quyền Việt Nam vẫn có khả năng biến những nhà khoa học, tôn giáo, văn học…, vốn bản chất là phi chính trị, trăn trở và viết về chính trị cốt làm sao phi chính trị hoá. Vậy những sĩ phu muốn hưng quốc một cách minh chính chắc biết mình phải làm gì trước hiện trạng đất nước hôm nay.

Melbourne 30/11/2005

© 2005 talawas



[1]Phỏng vấn của Nguyệt Như trong tiết mục “Người Việt đó đây” của chương trình Chân trời mới. "Trò chuyện với ông Hà Sĩ Phu". 10/08/2004.
[2]Đặng Thị Thanh Biên. "Thư khiếu nại luật pháp về quyền tự do đi lại". Xem trang nhà của LMVNTD http://www.lmvntd.org. 16/02/2005.
[3]Minh Võ. "Hoàng Minh Chính và Chủ nghĩa xét lại Việt Nam". Xem trang nhà của báo Người Việt Online http://www.nguoi-viet.com. 15/09/2005.
[4]Hoàng Minh Chính. "Đơn tường trình khẩn cấp số 1 của công dân Hoàng Minh Chính." 21/11/2005.
[5]Nguyễn Hưng Quốc. "Không được nhập cảnh vào Việt Nam". Xem trang nhà của talawas http://www.talawas.org. 23/11/2005.
[6]Nguyễn Hưng Quốc. Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản 1945-1990. In lại lần thứ nhất. Văn Nghệ. 1996.
[7]Nguyễn Hưng Quốc. Văn hoá văn chương Việt Nam. Văn Mới. 2002.
[8]Khi viết xong bài này và đưa một bạn trẻ đọc, cô hỏi: "Phải chăng vì cộng sản thù dai hay vì họ chậm tiêu (ý nói giờ mới nhìn ra cuộc vận động tư tưởng không chỉ trong chính trị mà còn văn hoá văn học có thể là mối nguy lớn cho họ)?". Tôi suy nghĩ, rồi nói: "Thù dai là bản chất, còn chậm tiêu là đặc tính, nhưng họ có sở trường bẻ chữ thành hai, thành ba bằng một hệ thống đã xây dựng từ nhiều thập niên nay. Cho nên, chỉ có thể nghĩ rằng, phải chăng chỉ là bản chất tuỳ tiện trong những lúc cùng quẫn mà thôi!"