trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
12.10.2007
Bình Nguyên Lộc
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam
 

Biểu số 27

Việt Nam: Sạch

Mạ: Sạt

Cao Miên: Soạt

Biểu số 28

Việt Nam: Cây, gậy

Giarai: Gaai

Chàm: Gaai

Rađê: Giê

Mã Lai Célèbes: Gaai

Biểu số 29

Việt Nam: Hút

Bà Na: Huuc

Kơyong: Huut

Uống nước bằng ống. Người Thượng dùng ống trúc nhỏ hoặc ống sậy để uống rượu cần.

Biểu số 30

Việt Nam: Tro

Jêh: Blô

Kơ Yong: Loo

Sơ Đăng: Plo

Biểu số 31

Việt Nam: Sắn (Nam kỳ: Báng)

Bà Na: Blang

Thái: Parăng

Sơ Đăng: Loong

Giarai: Ploom

Khả Lá Vàng: Bluôn

Giarai + Radê (Pleiku): Bblaang

Biểu số 32

Việt Nam: Tru (chó)

Mường: Tlu

Bà Na: Klu

Sơ Đăng: Klu

Giarai: Lu

Biểu số 33

Việt Nam: Chết

Sơ Đăng: Chết

Mường: Chết

Mạ: Sớt

Khả Lá Vàng: Kết

Biểu đối chiếu này và bao nhiêu biểu khác cho thấy rõ ràng Thượng Việt không phải là Cao Miên như các ông Tây nói. Chết, Cao Miên gọi là Ngợp. Biểu về Trăng, Cá, v.v. đều có mặt người Thượng mà không có mặt người Cao Miên ở đâu cả.

Biểu số 34

Việt Nam: Bét (Toét mắt)

Bà Na: Peek

Giarai: Peek

Hadrông: Peek

Cu-Ti: Piơ

Biểu số 35

Việt Nam: Mới

Thái: Mai

Cao Miên: Thơmây

Mạ: Mhê

Biểu số 36

Việt Nam: Bước

Bà Na: Bôôk

Giarai: Rơ bành trướng

Mã Lai Célèbes: Bơlak

Biểu số 37

Việt Nam: Bửa (củi)

Mạ: Pả

Bà Na: Pả

Biểu số 38

Việt Nam: Bọn, bạn

Cao Miên: Pôut, Bòn

Bà Na: Buơl, Pụng

Giarai: Pout

Khả Lá Vàng: Bang

Mã Lai: Mbang

Biểu số 39

Việt Nam: Sâu (không cạn)

Cao Miên: Chrau

Mạ: Zirâu

Bà Na: Jrâu

Biểu số 40

Việt Nam: Ruột

Mạ: Proit

Cao Miên: Pốt (Viên)

Giarai: Porooi

Rađê: Prooe

Mã Lai: Prụt

Mã Lai Nam Dương, Mã Lai Á và Phi Luật Tân chỉ có một danh từ Prụt để chỉ Ruột, Bụng và Dạ dày. Về mặt cơ thể và mặt thủy vận thì Mã Lai đợt I giàu danh từ hơn Mã Lai đợt II, mặc dầu Mã Lai đợt II ở biển.

Thí dụ Mã Lai đợt I là Môn và Khơ Me có danh từ Prek mà Nam Kỳ biến thành Rạch để chỉ phụ lưu, Thái có danh từ Honei mà Bắc Việt biến thành Suối, trong khi đó thì Mã Lai Nam Dương chỉ có Sôngai. Suối, họ nói là Sông con nít. Còn nguồn thì họ nói là Con mắt của nước. Nhưng một chuyện cổ tích cho biết rằng người Nam Dương từ Hòa Bình của ta mà di cư xuống đó, sau khi chung sống với ta khá lâu. Thế mà họ lại không học được những danh từ của đợt I.

Biểu số 41

Việt Nam: Lưng

Thái: Lâng

Bà Na: Roong

Sơ Đăng: Roong

Giarai: Roong

Biểu số 42

Việt Nam: Xương

Cao Miên: Chxoâng

Thái: Sân

Sơ Đăng: Ksing

Mạ: Ting

Bà Na: Kting

Cổ ngữ Ba Thục: Xoong

Khả Lá Vàng: K’tương

Mã Lai: Tulang

Ta thấy sự biến dạng hữu lý của những danh từ chỉ Xương, danh từ chung cho cả hai đợt Mã Lai, mà ông Lê Ngọc Trụ cho là Xương do Khang của Tàu mà ra. Cả hai nhóm đều không có chịu ảnh hưởng Tàu khi di cư, mà khi đó thì họ phải đã có danh từ Xương rồi vì họ ăn cá, mắc xương cá, họ chế tạo dụng cụ bằng xương thú, không làm sao mà đợi học với Tàu mới có được danh từ để chỉ món đó.

Biểu số 43

Việt Nam: Mắt

Bà Na: Mat

Sơ Đăng: Mat

Khả Lá Vàng: Mat

Mạ: Maht

Mã Lai: Mata

Tây Tạng: Mag

Mã Lai: Mata-Mata = Cảnh sát, tức kẻ có nhiều mắt ở khắp nơi

Biểu số 43 bis

Việt Nam: Mác

Xi Tiêng: Mata = Giáo cán dài

Mạ: Mata = Giáo cán dài

Hai danh từ Mata của Mã Lai trên đây, không phải là hai tiếng đồng âm. Danh từ thứ nhứt là danh từ chung của hai đợt Mã Lai (Mắt). Danh từ thứ nhì chỉ là danh từ riêng của Lạc bộ Trãi (Việt Nam và Thượng), có nghĩa khác hẳn, chẳng liên hệ gì đến con mắt hết.

Năm 1858, Pháp chiếm Saigon, với lính Pháp và Bạc Ti Dăng Phi do Tây Ban Nha cho thuê.

Chiếm Saigon xong Pháp cho bọn ấy ở lại làm cảnh sát mà Mata-Mata là tiếng Mã Lai có nghĩa là cảnh sát (có nhiều mắt). Saigon bỏ dấu gọi là Mã Tà.

Biểu số 44

Việt Nam: Tóc

Cao Miên: Sóc

Bà Na: Sok

Khả Lá Vàng: Sok

Mạ: Soc

Sơ Đăng: Sok

Đây là danh từ của Mã Lai đợt I mà các ông Tây không biết, cứ nói là của Cao Miên

Mã Lai đợt II có danh từ khác, nhưng chúng tôi không trích, không đối chiếu. Chúng tôi chỉ nói đến những danh từ riêng của Mã Lai đợt II khi nào có gì cần phải nhận xét mà thôi, thí dụ về trường hợp Hari, đã nói rồi và sẽ nói nữa.

Biểu số 45

Việt Nam: Sấm (sét)

Bà Na: Grâm

Giarai: Grâm

Biểu số 46

Việt Nam: Trôn

Giarai: Klôôn

Rađê: Tlôôn

Biểu số 47

Việt Nam: Nem

Tơlô: Nyem (Thịt)

Bà Na: Sêm (Thịt)

Sơ Đăng: Nyam (Thịt)

Biểu số 48

Việt Nam: Ít

Mạ: Y hệt

Bà Na: Nyet

Giarai: Eet

Nam Ấn: Eet (Dravidien tức Mlech’a tức Malayalam)

Đối chiếu Nem với Thịt, tưởng như là vô lý, nhưng không. Đó là mượn danh từ rồi biến nghĩa đôi chút. Nhưng Mạ thì Puịt = Thịt, Khả Lá Vàng thì Plịt = Thịt.

Tiếng Nam Ấn Eet là Một mà cũng là Ít.

Chúng tôi đã nói người Nam Ấn gốc da vàng từ Tây Tạng sang Ấn, và họ là Mã Lai và đây là xác nhận của ông L. Renou trong quyển Les littératures de l’Inde, xác nhận riêng về ngôn ngữ Nam Phạn chớ không phải về chủng Dravidien, nhưng vẫn củng cố những gì chúng tôi đã nói về chủng tộc học: “Tiếng Nam Phạn cũng do Bắc Phạn mà ra. Nhưng nó bị các phương ngữ thổ dân Nam Ấn xâm nhập vào, do chính các giáo sĩ Bà La Môn khuyến khích sự xâm nhập đó để truyền giáo với các thứ dân khác chủng”.

Vậy Eet của Nam Phạn không phải đồng gốc với Bắc Phạn mà là danh từ Dravidien tức đồng gốc Mã Lai.

Có lẽ Nam Ấn có nhiều danh từ giống ta lắm, tại ta chưa thông ngôn ngữ Malayalam, Tamoul, v.v. nên trong các biểu đối chiếu này rất thiếu họ.

Biểu số 49

Việt Nam: Chơn, chưn, chân

Cao Miên: Chơn

Mạ: Zưn

Giarai: Jơng

Jêh: Yơng

Sơ Đăng: Yông

Bà Na: Yơng

Khả Lá Vàng: Yơng

Trên đây là danh từ của Mã Lai đợt I. Danh từ của Mã Lai đợt II là Kaki mà Chàm biến thành Teay và Việt biến thành Cẳng.

Thấy rõ là trong xã hội Việt Nam Mã Lai đợt I đa số nên Chơn chiếm địa vị sang trọng trong văn chương: Người ta không thể nói: Xây gạch Bát Tràng cho nàng rửa cẳng.

Trong khi đó thì Chàm và Mã Lai nói: Cẳng của nàng, và Chơn trời họ nói là Cẳng trời, và họ nghe rất là văn chương vì đó là động từ chánh của họ.

Trong xã hội Việt Nam còn có một danh từ nữa là danh từ Giò thấy trong tự điển Anh-Mê-la-nê có ghi. Vì đó là danh từ của một chủng kém cỏi, nên trong ngôn ngữ Việt Nam, danh từ đó chiếm hạng ba. Người ta nói giò gà, giò lợn, tướng học trò, giò ăn cướp.

Biểu số 50

Việt Nam: Đứng

Bà Na: Đớng

Giarai: Đóng

Biểu số 51

Việt Nam: Tay

Chàm: Tangưl

Mã Lai: Tangan

Bà Na: Tii

Khả Lá Vàng: Tai

Mạ: Ti

Sơ Đăng: Taai

Cao Miên: Đaai

Danh từ Chàm đã bị biến qua lịch sử của họ. Hồi cổ thời, họ vẫn nói Tangan y như Mã Lai, thay vì Tangưl như ngày nay.

Dấu vết còn thấy được ở địa danh mũi Batagan ở Quảng Ngãi mà các ông Tây viết dính lại, khiến cả người Chàm cũng không hiểu địa danh ấy có nghĩa gì, một là tại Tây viết dính, hai là nếu viết đúng là Ba tangan Chàm cũng không hiểu vì họ đọc là Tangưl.

Ba là Ngón tay. Đó là Mũi ngón tay.

Nhưng không chắc chắn lắm là người Chàm đã biến Tangan thành Tangưl.

Ngôn ngữ Chàm mà Tây và ta học được ngày nay chỉ là ngôn ngữ Chàm Ninh Thuận, còn ngôn ngữ Chàm miền Quảng Ngãi thì trên đời này, không ai biết nó sao cả, và rất có thể nó giống hệt ngôn ngữ Mã Lai, bằng chứng là địa danh Tangan.

Nhưng Chàm Ninh Thuận thật ra là Phù Nam đa số vì nước Phù Nam ăn lên tới tỉnh Khánh Hòa hồi cổ thời.

Có lẽ chính Phù Nam đã biến Tangan của Mã Lai thành Tangưl và Chàm Ninh Thuận bị thiểu số trong đại đa số Phù Nam nên phải nói theo Phù Nam.

Ta nên đặt ra câu hỏi này: Ai đã ghi ra trên dư đồ cái danh xưng Batangan ấy? Chắc chắn là các cố đạo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vì chính họ đã ghi Cửa Hàn ra Tour Han, rồi Pháp mới biến thành Tourane.

Mà thuở các cố đạo Tây và Bồ đến thì người Chàm Quảng Ngãi vẫn còn, và họ đã ghi theo cái nghe tận tai của họ, tức người Chàm Quảng Ngãi vẫn nói Tangan chớ không nói Tangưl như Chàm Ninh Thuận.

Biểu số 52

Việt Nam: Nài (Quản tượng)

Giarai: Naai

Rađê: Naai

Chàm: Naai

Biểu số 53

Việt Nam: Gãi

Ghẻ

Giarai Phú Bổn: Gải

Kuaĩ

Bà Na: Kổi (Cạo, Nạo ghẻ)

Các ông Tây cứ cho Chàm là Mã Lai, mà không biết rằng Việt Nam còn Mã Lai hơn cả Chàm nữa vì bao nhiêu danh từ Mã Lai được ta giữ gìn đúng còn Chàm thì biến rất xa.

Mã Lai: Bônga
Việt Nam: Bông
Chàm: Bơngư
Mã Lai: Sôngai
Việt Nam: Sông
Chàm: Krong
Mã Lai: Tangan
Việt Nam: Tay
Chàm: Tangưl

Có nhiều danh từ Mã Lai bị Chàm bỏ mất luôn như Gunông và Phunông họ không biến thành Non thành Gò nổng như ta, mà nói là Chớ, một danh từ của chủng Mê-la-nê.

Không ai hiểu tại sao các ông Tây nhận diện được Chàm là Mã Lai, qua ngôn ngữ, mà không nhận diện được ta. Vâng, họ chỉ nhận diện được Chàm là Mã Lai, nhờ ngôn ngữ, chớ không nhờ chứng tích nào khác cả, trước cuộc đối chiếu kiến trúc Mã Lai và Chàm của ông Claeys.

Biểu số 54

Việt Nam: Mái (Giống cái của loài cầm)

Sơ Đăng: Maai (Vợ)

Cao Miên: Maai (Cung phi)

Giarai: Amaai (Chị cả)

Bà Na: Mmaai (Chị cả)

Bà Na: Maai (Cô dâu)

Khả Lá Vàng: Prmay (Con gái)

Chàm: Cà May (Đàn bà)

Trong xã hội Chàm, người Mã Lai đợt II chiếm đa số, nhưng danh từ Cà May lại là danh từ của Mã Lai đợt I chớ người Nam Dương, đàn bà họ nói là Wanita, còn người Đa Đảo nói là Wahinê.

Xin nhắc rằng ở Bắc Chiêm Thành, tức Lâm Ấp, Mã Lai đợt I đa số tuyệt đối, mặc dầu chính Mã Lai đợt II lập quốc.

Và Càmay là ngữ nguyên chánh của Mái và Cái với cái nghĩa là đàn bà mà giống cái mà chúng tôi hẹn trình ra trong lời chú thích dưới biểu số 26 khi nãy. (Cái của ta có hai nghĩa, một nghĩa do danh từ Mã Lai Lì Cáy mà ra và có nghĩa là đàn ông là lực lưỡng, là to lớn, là lãnh đạo. (Thí dụ Bố Cái đại vương, thợ cái, ngón tay cái). Nghĩa thứ nhì do danh từ Cà May này và có nghĩa là giống cái, là con mái).

Chỉ phiền là không tìm được nhóm Mã Lai nào nói Cà May như Chàm, hoặc nói Cái như Việt Nam. Chúng tôi chỉ tìm được có hai danh từ 1 wahita của Mã Lai và 1 wahinê của Đa Đảo mà thôi.

Và Chàm không hề là Mã Lai Đa Đảo bao giờ cả như các ông Tây cứ nói vì thấy trong ngôn ngữ của họ có vài yếu tố lạ.

Ngôn ngữ của Đa Đảo cũng đã được biết. Nó chỉ là Mã Lai ngữ, pha với Mê-la-nê ngữ, nhưng trong Chàm ngữ thì không có yếu tố Đa Đảo, như danh từ Cà May và Wahinê đã cho thấy là Chàm và Đa Đảo khác quá xa, Chàm chỉ là Mã Lai, chớ không có Đa Đảo gì hết.

Biểu số 55

Việt Nam: Mẹ (tức Mẫu thân)

Việt Bắc: Me

Việt Bình Trị, Thiên: Mạ

Mạ: Me

Bà Na: Me

Tàu Hải Nam gốc Lạc Lê: Mà

Cao Miên: Mê (Đàn bà trẻ tuổi)

Cao Miên: Ma đai (Mẹ, Má, đại danh từ chớ không là danh từ)

Thái: Maê

Cao Miên: Mê (Mẹ của thú vật)

Khả: Mè (Mẹ của người)

Mã Lai Java: Emak (Mẹ. Chữ E đọc nuốt phân nửa, chỉ còn nghe là Mak).

Biểu số 56

Việt Nam: Mợ (Vợ của cậu)

Giarai: Kmơi (Đàn bà)

Khả văn minh: Mơ (Mẹ)

Kơyong: Mơ (Mẹ)

Bà Na Gôlar: Mơ (Chị cả)

Bà Na Halong: Mơ (Chị cả)

Sơ Đăng: Moo (Mẹ)

Biểu số 57

Giarai: Mi (Mẹ). Đừng lầm với Mi là Mày của Bà Na và của Việt Nam.

Bà Na: Mi-i (Em dâu). Đừng lầm với Mi là Mày chỉ có một chữ I.

Biểu số 58

Việt Nam: Nạ (Mẹ có nhiều con: Chờ Nạ thì má đã sưng).

Việt Nam Trung Cổ: Ang Nà (Tự điển Huỳnh Tịnh Của = Mẹ)

Giarai: Ina (Mẹ)

Chàm: Ina (Mẹ)

Rađê: Ana (Mẹ)

Cổ ngữ Tây Âu: Nả (Mẹ)

Nhựt Bổn: Onna (Đàn bà)

Mã Lai Sumatra: Jnang (Mẹ)

Bằng vào danh từ miền Nam Ang Ná của Tự vị Huỳnh Tịnh Của, ta biết chắc rằng cách đây một trăm năm, người Việt miền Nam chưa dùng danh từ Mẹ, Má, mà nói là Ang Ná, và chắc Bắc và Trung cũng thế, nhưng không có ai ghi chép như Huỳnh Tịnh Của, nên không ai biết rằng có. Riêng Bắc Việt có lẽ dùng song song Nạ và Ang Ná.

Và Việt Nam rất giống Nhựt Bổn là cho danh từ đó một nghĩa nữa là Đàn bà (gái nạ dòng) chớ không phải chỉ có nghĩa là Mẹ. Có lẽ gốc cũ chính là đàn bà, vì Nhựt Bổn rất thủ cựu ít biến nghĩa của danh từ cũ lắm.

Người Quảng Đông, hậu duệ của Tây Âu, vẫn viết Mẫu, đọc là Mụ, y theo Tàu, nhưng trong dân chúng, họ luôn luôn đọc chữ Mẫu là Nã hoặc Na. Họ có thành ngữ Chẩy Nã là Mẹ con. Họ lại chưởi Tiểu Na Má, tức như ta chưởi Đ… mẹ.

Từ ngữ Chẩy Nã (Tử Mẫu) cho thấy rõ rằng người Quảng Đông là Thái chớ không phải là Tàu, vì người Tàu luôn luôn để Mẹ đứng trước con, thế thì phải Nã Chẩy (Mẫu Tử) mới đúng luân lý Khổng Mạnh.

Nhưng người Thái biến thành Tàu không mê Khổng Mạnh bằng Việt Nam. Như đã nói, phong tục luyến ái của người Thái rất buông lơi và theo các bản thống kê quốc tế thì ở Quảng Đông, gái buôn hương đông nhứt nước Tàu, bịnh hoa liễu lại cao nhứt thế giới.

Sự kiện đó cũng xảy ra như vậy ở Chợ Lớn, mà gái Phúc Kiến không có làm kỹ nữ như gái Quảng Đông. Việc thay đổi vợ chồng cũng xảy ra trong cộng đồng Phúc Kiến ít hơn là trong cộng đồng Quảng Đông một cách rõ rệt.

*

Phụ chú về lời chú thích biểu đối chiếu danh từ Cái ở vài trang trước.

Về câu đầu của bài hát trẻ con ở miền Bắc “Bắt cái hồ khoan” ông Tàu Việt Điểu trong Văn hóa Nguyệt san số 56, năm 1960, đã bác lối giải thích của ông Ngô Quý Sơn trong tập kỷ yếu B.I.I.E.H. 1943. Ông Ngô giải thích rằng Bắt Cái có nghĩa là bắt thăm để làm nhà lãnh đạo, theo lối rút cọng rơm ngắn hay dài, một lối bắt thăm của ta.

Ông Tân Việt Điểu cho rằng Bắt cái = Bát, Cạy, tiếng Chàm mà ta học được ở miền Trung.

Nhưng theo chỗ chúng tôi biết thì Mã Lai Nam Dương và Chàm có động từ Kuak (Cạy) là chèo lệch sang một bên, còn Pối (Bát) là chèo một cách khó nhọc tức chèo từ trái sang phải, cực nhọc vì dân Việt Tả nhậm lấy bên trái làm bên thuận (Tư Mã Thiên). Bao nhiêu chim, nai đều bay và đi từ phải sang trái ở trống đồng, cực nhọc vì làm trái với thói quen của họ. Ta đã mượn của Chàm, nhưng chỉ biến thành Bát và Cạy mà thôi còn Bắt Cái là một câu hát tối cổ của ta ở đất Bắc thì ta phải vay mượn của đợt II bổ sung, tức của người Mường tại Bắc Việt, bởi cuộc Nam tiến thật sự chỉ xảy ra dưới trào Lý mà xem ra, bài hát đó cổ hơn nhiều.

Như thế thì từ Cái trong Bắt cái chỉ có thể là bắt thăm để làm Láky tức làm Lìcáy, tức làm nhà lãnh đạo trong một trò chơi, hoặc có nghĩa là Bắt lãnh tụ của địch, trong một trận thủy chiến. Ta đã có tiếng Cái ấy rồi từ thuở Bố Cái Đại Vương, chớ không đợi Việt Chiêm chiến sử mới có.

Cả ngày nay trong cờ bạc người ta vẫn còn dùng từ ngữ Bắt cái tức bắt thăm để làm cái, bằng cách rút phóng mạng một con bài, hễ ai nhiều nút thì Làm Cái.

Bắt Cái của ngày nay và của ngày xưa đều có nghĩa là bắt thăm để làm Xếp trong một trò chơi, nhứt là thi đua bơi chèo.

Đó là bài hát Chanson folklorique của một dân tộc thì không thể có chữ nho trong đó được. Như vậy Hồ khoan cũng phải là tiếng Mã Lai có nghĩa gì đó mà ta truy chưa ra, chớ không thể nào mà là chữ nho Hải Hồ Khoan như ông Tân Việt Điểu đã nói. Chúng tôi đang nỗ lực học thêm tiếng Mã Lai để đi sâu vào ngôn ngữ ấy hầu tìm biết những danh từ bí hiểm của ta có nghĩa là gì. Chúng tôi đã tìm được vô số danh từ như Tràm Lục, sông Trem với nghĩa đúng của nó trong ngôn ngữ Mã Lai, nên chúng tôi tin rằng chúng tôi sẽ biết được Hồ Khoan là gì, và chắc chắn không là chữ nho vì cái lẽ tự nhiên là Chanson folklorique phải có rất lâu đời, trước khi chịu ảnh hưởng ngoại lai, thì không thể là chữ nho được.

*

Biểu số 59

Việt Nam: Bu (Mẹ)

Cổ ngữ Mân Việt: Pô (Mẹ)

Các đảo Mã Lai: Ibu (Mẹ)

Mã Lai Johore: Papu (Nhủ mẫu)

Biểu số 60

Việt Nam: Bố (Cha)

Cổ ngữ Mân Việt: Pế

Tàu Hải Nam gốc Lạc Lê: Pe

Mã Lai: Phiên âm

Thái: Por

Cao Miên: Pút

Tamoul, tức Nam Ấn gốc Mã Lai: Babu

Đại danh từ U của Việt Nam, chúng tôi tìm không ra nguồn gốc, có lẽ nó chỉ là biến thể của Ibu của Mã Lai.

*

Người Việt miền Nam đã bắt chước Thất Mân dùng danh từ Tía, nhưng họ dùng sai giọng đọc lẫn cả nghĩa. Danh từ đó là Tia (không có dấu sắc) và đó là danh từ của Mã Lai đợt II. Thất Mân, Lạc bộ Mã, các đảo Mã Lai đều nói là Tưa và đó là Cha vợ chớ không phải là Cha như người Việt miền Nam đã dùng sai. Nam Dương và Thất Mân (Phúc Kiến) đều dùng đúng nghĩa là Cha vợ.

*

Quan Thoại có Pà Pá, nhưng đó là đại danh từ để xưng hô, chớ không phải là danh từ. Danh từ của họ là Fuá Tsil = Phụ thân.

Nhưng đó là trường hợp ngẫu nhiên vì Bắc Ấn Độ nói Pa, Pháp nói Papa, không hề có vấn đề Mã Lai vay mượn của Tàu hay của Pháp.

Biểu số 61

Việt Nam: Đẻ

Mạ: Đẻ

Bà Na: Kđẻ

Mường: Tể

Nói Mường gần ta hơn, nhưng ở đây thì thấy Mạ giống ta hơn Mường.

Biểu số 62

Việt Nam: Tỳ (chống tay)

Bà Na: Tiết

Giarai: Tít

Biểu số 63

Việt Nam: Già

Thái: Kà

Mạ: Krà

Bà Na: Kra

Bà Na: Ya (Bà già)

Giarai: Tla

Chàm: Tahaa

Mã Lai: Tu À

Cu Ti: Khaa

Khả Lá Vàng: K’rrà

N.B. Mạ và Khả Lá Vàng sống cách nhau hơn 1.000 cây số, nhưng lại rất giống nhau.

Biểu số 64

Việt Nam: Tre

Việt Nam Trung Cổ (A. de Rhodes): Ble

Bà Na: Plee

Giarai: Bu Le

Mạ: Gle

Mường: Tle

Biểu số 65

Việt Nam: Trăn (một thứ rắn to)

Mạ: Klan

Giarai: Tlan

Sơ Đăng: Klan

Bà Na: Klan

Biểu số 66

Việt Nam: Trẻ

Mường: Tlẻ

Khả Boloven: Plẻ

Biểu số 67

Việt Nam: Vải

Bà Na: Kpải

Giarai: Kpải

Cao Miên: Kpải

Khả Lá Vàng: Kpở

Mạ: Byải

Biểu số 68

Việt Nam: Chí, chấy (rận tóc)

Mạ: Chí

Sơ Đăng: Chí

Bà Na: Tzi

Cao Miên: Chaay

Biểu số 69

Việt Nam: Khố (quần)

Cao Miên: Kho

Mạ: Kho

Xi Tiêng: Kho

Biểu số 70

V

iệt Nam: Mùi (màu sắc). Nói theo Trung và Bắc.

Giarai: Bui

Cao Miên: Mau

Biểu số 71

Việt Nam: Mùi (vị). Huế cũng đọc là Màu.

Bà Na: Moou

Giarai: Bao

Mã Lai: Baou

Biểu số 72

Việt Nam: Há (miệng)

Bà Na: Haa

Giarai: Haa

Sơ Đăng: Haa

Mã Lai: Haa

Biểu số 73

Việt Nam: Lợi (Nướu răng)

Giarai: Lơni

P. Kli: Lươni

Ma: Lưng

Bà Na: Li in

Chàm: Liên

Mã Lai: Lơny

Biểu số 74

Việt Nam: Bú

Cao Miên: Bau

Mạ: Phản ứng (?)

Biểu số 75

Việt Nam kim: Trời

Việt Nam Trung Cổ: Blời và Tlời

Mường: Blời

Mạ: Trô

Bà Na: Blơny

Nhựt Bổn: Hara

Khả Boloven: H’ngày

Mã Lai Célèbes: Hơry

Mã Lai các đảo khác: Hari

Có lẽ lộ trình biến dạng là như thế này:

Hơri, Hari (Mã Lai) biến thành Hara (Nhựt Bổn)

Hơry – Hơny

Hơny – Blơny (của Bà Na)

Blơny – Blời (Việt Nam Trung Cổ)

Blời – Trời (Việt Nam hiện đại)

Blời – Trô (Mạ)

Nhưng trong xâu chuỗi này, chúng tôi chưa tìm ra cái khoen Hơny, có lẽ là của nhóm Mã Lai rừng rú nào đó ở Bornéo. Nhưng cái khoen Bà Na Blơny cho thấy quá rõ lộ trình biến dạng như thế đó. Sự biến dạng của danh từ Mã Lai Lơny thành Lợi của Việt Nam ở biểu số 74 trên đây cũng qua một lộ trình tương tợ như Hơry thành Trời. Chúng tôi để biểu Lợi và Trời cạnh nhau để cho thấy rõ cái luật biến dạng đó.

Trong biểu đối chiếu danh từ Ngày, chúng tôi đã nói khá nhiều về danh từ Hari của Mã Lai và Hara của Nhựt Bổn, nhưng nói chưa đủ.

Thoạt kỳ thỉ, các nhà ngôn ngữ học Âu Mỹ ngỡ rằng Mã Lai đã vay mượn danh từ đó của Phạn ngữ là Surya. Nhưng xét ra thì Nhựt Bổn không có tiếp xúc với Ấn Độ trước Tây lịch mà họ đã có Hara trước Tây lịch rồi, thì sự hơi giống nhau giữa Hari, Hara và Surya chỉ là một cuộc trùng hợp ngẫu nhiên như trường hợp danh từ Cái Đầu của Việt Nam ngẫu nhiên trùng hợp với Tàu.

Ngày nay thì Mã Lai Nam Dương chỉ còn dùng danh từ Hari trong hai trường hợp:

Hari = Ngày

Hari = Ông Thiên

Muốn chỉ vòm trời, họ nói Langít, Chàm cũng nói thế. Người Thái thì biến thành Ngèn, còn người Cao Miên không biến nhưng lại cho nó một nghĩa hơi khác là Trời chiều.

Khi mà Cao Miên và Thái đều có Langít (biến dạng, biến nghĩa chút đỉnh) thì ta cũng phải có vì cả hai đợt đều có hai danh từ chỉ trời với hai nghĩa khác nhau:

Vòm trời (vật chất)

Ông Thiên (thiêng liêng)

Việt Nam đã đánh mất Langít, chớ không phải là không có, bằng chứng là các nhóm đợt I khác đều có.

Xin chú ý: Tất cả mọi nhóm đều dùng danh từ Hari với ý nghĩa thiêng liêng, người Mã Lai Nam Dương gọi mặt trời là Mata Hari, tức Mắt của vòm trời.

Tàu thì chỉ có độc một danh từ Thiên để chỉ hai ý niệm Thiêng liêng và Vật chất, tức chỉ ông Thiên và vòm trời.

Danh từ Nhựt của Tàu tuy chỉ mặt trời, nhưng không mang ý niệm ông Thiên hay vòm trời nữa.

*

Danh từ Trời thì biến dạng lung tung như thế đó, nhưng danh từ Trăng thì rất là đồng nhứt trong tất cả mọi nhóm.

Biểu số 76

Việt Nam: Mặt trăng

Mạ: Maht Kan

Thái: Jăng

Khả Lá Vàng: Mặt Kai

Bà Na: Mat Tlang

Cổ ngữ Ba Thục: Chắng

Giarai: Blăang

Chàm: Blăang

Miến Điện: Blăang

Tây Tạng: Blăang

Mã Lai: Bulăng

Thái, trên biểu này là Thái Lan, gốc Vân Nam. Nhưng Thái thượng du Bắc Việt Nam thì gọi Trăng là Bưông. Đó là một danh từ kỳ dị không giống danh từ của đợt I, cũng chẳng giống danh từ của đợt II.

Danh từ Trăng là danh từ may mắn nhứt có đủ mặt tất cả các dân tộc gốc Mã Lai, thế mà Thái thượng du Bắc Việt lại đi chơi riêng thì quả thật đáng buồn. Không biết là họ vay mượn của ai, chúng tôi truy mãi mà không ra. Họ cũng chỉ là Thái Vân Nam và Thái Lưỡng Quảng di cư xuống chớ không phải là Thái bí mật nào. Nhưng cho đến cả Ba Thục còn nói là Chắng thì không lẽ Tây Âu lại nói Bưông vì Ba Thục và Tây Âu đồng ngôn y như Nam Việt và Bắc Việt.

Chú ý: Một quyển tự điển Anh – Thái Lan mà chúng tôi mua từ Thái Lan về để kiểm soát lại sự hiểu biết về tiếng Thái của chúng tôi, lại viết rằng trong ngôn ngữ Thái Lan, Trăng nói là Đuăng. Thế thì không còn ăn khớp với Jăng ở trên đây nữa mà chúng tôi học với Việt kiều ở Thái hồi hương. Nhưng dầu cho jăng hay Đuăng gì, nó cứ đồng gốc tổ với Blăng của Tây Tạng.

Nhưng người Chàm thường thêm danh từ EA trước Blăng; tức có nghĩa là Bà Trăng, cũng như Việt nói Ông Trăng vậy.

Danh từ Chàm EA là Nước không phải biến thể của tiếng Mã Lai Ayer. Đó là tiếng Lưỡng Hà có nghĩa là Nữ thần nước, thế nên nó mới đứng trước danh từ Blăng và có nghĩa thật đúng là Bà Trăng, Nữ thần Trăng.

Ta lại thấy rằng kẻ đến đất Chàm, không phải là Ấn Độ như các ông Tây tiền chiến đã viết. Theo khám phá mới thì đó là người Ba Tư gốc Nhục Chi.

Nhưng bọn Ba Tư Nhục Chi này lại có thể là gốc Lưỡng Hà, theo khám phá của riêng chúng tôi, chính vì danh từ EA là Nước của người Chàm, bởi đó là danh từ Lưỡng Hà không thể chối cãi. Dân Ba Tư lại thờ Mặt Trăng.

Nhưng tôi tìm được hai ba chứng tích rằng Chàm do Lưỡng Hà khai hóa chớ không phải Ấn Độ (sẽ nói rõ ở chương Chàm).

*

Trong quyển Atlas ethnographique du globe, Paris, 1821, thấy ghi rằng vào năm đó, Việt Nam gọi Trăng là Blăng, tức giống hệt Giarai, Chàm, Miến Điện, Tây Tạng. Và tiếng Việt rời xa gốc tổ không lâu lắm như ai cũng đã ngộ nhận.

Biểu số 77

Việt Nam kim: Trái

Việt Trung Cổ: Blái

Mường: Blái

Khả Lá Vàng: Plái

Bà Na: Plây

Mạ: Plái

Cao Miên: Ph’le

Thái: Pho-la

Chú ý: Trong ngôn ngữ Chàm thì Plây có nghĩa là Xứ, là Vùng. Ở Ninh Thuận có làng Chàm Plây Râm, tức Vùng rậm rạp, đã được Việt hóa thành làng Văn Lâm.

Danh từ Trái trên đây là của Mã Lai lưỡi rìu tay cầm đợt I, tức Lạc bộ Trãi. Dạng từ của Lạc bộ Mã là Bu Ả. Nhưng không phải là do Quò, Quó, Quả của Tàu vì khoa khảo tiền sử cho biết rằng lúc di cư thì Lạc bộ Mã thuần Mã Lai, không có hợp chủng, không có chịu ảnh hưởng Tàu.

Biểu số 78

Việt Nam: Về, Vìa (Nam kỳ)

Bà Na: Wia

Nam Giarai: Wit

Rađê: Wit

Mường: Vê

Chàm: Vơk

Cao Miên: Vil

Kơ Yong: Val

Một điều lạ lùng hết sức là người Bà Na với người Việt miền Nam đọc các danh từ quá giống nhau, sáng tác danh từ mới cũng quá giống nhau như Jông, Nhồng (Yểng) chẳng hạn, mà họ thì không hề có liên lạc với Bà Na trước năm 1954.

Nếu đọc quá giống một danh từ chung, ta có thể nghĩ rằng qua khỏi vĩ tuyến nào đó, dân Lạc phải đọc khác, và mọi người mọi nhóm đều đọc khác như nhau. Nhưng vấn đề sáng tác thì đã khác. Có lẽ hồi xưa, Bà Na và Việt miền Trung không sống riêng rẽ như ngày nay, và chính những người Việt miền Trung ấy đưa giọng đọc và danh từ vào Nam.

Biểu số 79

Việt Nam: Khạc

Bà Na: Kơhak

Cao Miên: Khac

Khả Lá Vàng: Khé

Biểu số 80

Việt Nam: Nhổ (Khạc nhổ)

Sơ Đăng: Kơ cổ

Bà Na: Kơ sỏ

Biểu số 81

Việt Nam: Rừng, Rừng rậm, Rừng rú

Mạ: Pri, Prưng

Cao Miên: Prây

Thái: Sây và Rú

Khả Lá Vàng: Brây, Bru

Chàm: Râm

Chàm: Rố (glai)

Chuỗi biến dạng có thể là từ cái gốc Ri của ai đó, ta truy chưa ra.

Ri biến thành Ru, Rú, Rố (glai) và Pri.

Pri biến thành Prưng, Prây và Rừng.

Ta thiếu mất cái khoen Ri không biết của dân tộc nào.

Tới Rừng thì có sự trở về nguồn. Việt Nam nhập Rừng với Rú để làm Rừng Rú, rồi lại nhập Rừng với Rậm để làm Rừng Rậm.

Nhưng Rú thì chỉ có hai tỉnh là Nghệ An và Hà Tĩnh là dùng mà thôi. Tại sao vậy? Có lẽ đó là ảnh hưởng Lào ở gần đấy. Ở quê hương của Nguyễn Du thì danh từ Rú được dùng gần như đơn độc, ít có dùng Rừng lắm.

Ông H. Maspéro lại cho rằng chánh gốc là Rú của Thái. Ông không biết Pri, Bru và Prưng để thấy được sợi dây chuyền của danh từ Rừng của ta.

Bác sĩ Reynaud ghi là Brai thì sai. Phải ghi là Prei trong Pháp văn mới đúng.

Ở đây có một sự kiện giống nhau lạ lùng giữa Mạ và Việt.

(Mạ) Prưng = (Việt Nam) Rừng

Dân Mạ quá nhỏ trong các bộ lạc khác, ở quá xa gốc chánh Việt Nam, cớ sao có sự kiện kỳ lạ như thế?

Mà đừng tưởng là họ biến Rừng của ta thành Prưng của họ. Họ có hai danh từ mà họ dùng khác nhau, tức họ đã có từ lâu nên mới được ghi sâu vào văn phạm của họ như vậy.

Thú rừng = Pom tahm pri

Gà rừng = Yhr prưng

Với thú thì Pri còn với cầm thì Prưng, họ cũng đã dùng khác nhau, trong nhiều trường hợp, và đó là bằng chứng không phải họ mới học với ta sau này. Vả lại họ học làm gì, khi họ đã có danh từ Pri rồi?

Rố và Râm đều là danh từ của Mã Lai đợt I của Chàm miền Bắc du nhập xuống Ninh Thuận, chớ danh từ của Mã Lai đợt II là Hu Tăng mà người Pháp biến thành Outang trong danh từ Orang-Outang (người vượn rừng).

Có thuyết cho rằng Lâm Ấp là tên mà Tàu phiên âm của Chàm miền Bắc là Râm Iếp, tức vùng Rậm rạp (Thừa thiên cổ thời).

Thuyết này có vẻ đúng hơn thuyết Lâm Ấp là sự co rút của Tượng Lâm Ấp.

Lâm Ấp là danh tự xưng thì phải là ngôn ngữ của Lạc Lồi, hoặc Lạc bộ Mã, của bọn Khu Liên, chớ không thể nào mà là tiếng Tàu được.

Vả lại Tàu gọi nơi ấy là Tượng Lâm, huyện chớ không bao giờ gọi là Tượng Lâm ấp. Trong ngôn ngữ Trung Hoa, danh từ ấp chỉ một vùng đất rất lớn, lớn bằng cả nước Việt Nam của ta, thí dụ An ấp, Lạc ấp đều là những vùng mà vua nhà Hạ, nhà Chu để dành cho họ đủ ăn, còn các ấp khác thì họ phong cho chư hầu. Huyện Tượng Lâm chỉ bằng một tỉnh Việt Nam nay thì không xứng đáng với danh từ Ấp của Trung Hoa đời Hán.

Cũng nên nhớ rằng Tàu luôn luôn thay âm R mà họ thiếu bằng âm L khi nào phải phiên âm danh xưng ngoại quốc. Vậy thì Râm biến thành Lâm là đúng. Ta cũng đã biết Plây râm thành Văn Lâm.

Thế thì còn danh từ Ngàn của Việt Nam do đâu mà ra? Chúng tôi hồ nghi nó do Utang của Mã Lai Nam Dương mà Pháp biến thành Outang, trong Orang-Outang.

Nhưng chúng tôi chỉ nói qua vậy mà thôi, muốn nối kết hai danh từ khác nhau, phải có đủ cả xâu chuỗi biến dạng, điển hình là danh từ Lợi của Việt Nam.

Danh từ Trời tuy thiếu mất một cái khoen của xâu chuỗi nhưng vẫn có xâu chuỗi đó. Còn với Utang và Ngàn thì chúng tôi tìm những khoen trung gian chưa ra. Nhưng nó vẫn phải có ở đâu đó, vì có đến 2.000 phương ngữ Mã Lai Nam Dương mà chúng tôi học đến bạc đầu cũng chưa xong.

Vậy xin nhường lại cho thế hệ sau để truy nguyên nguồn gốc của danh từ Ngàn mà không có nhóm nào có cả, trong các nhóm mà tôi đã học ngôn ngữ, kể cả bao nhiêu nhóm Thượng Cao nguyên vốn cũng đông vô số kể rồi.

Biểu số 82

Việt Nam: Rức

Giarai: Ruac

Bà Na: Rố

Rađê: Rứ

Chàm: Ruik

Mã Lai: Ruak

Biểu số 83

Việt Nam: Bay (lên trời)

Bà Na: Par

Giarai: Poor

Biểu số 84

Việt Nam: Ngáp

Cao Miên: Sngap

Bà Na: Sơ ngap

Giarai, Chàm: Hơap

Mã Lai Á: Kuap

Mã Lai Johore: Sa ngap

Biểu số 85

Việt Nam: Lột (vỏ)

Bà Na: Lok

Giarai: Lỏ

Biểu số 86

Việt Nam: Rét

Giarai: Rơot

Jêh: Root

Bà Na: Hrơt

Khả Lá Vàng: Dèt

Biểu số 87

Việt Nam: Sán (xơ mít)

Bà Na: Klan

Giarai: Tlaan

Biểu số 88

Việt Nam: Quăng, Quẳng

Sơ Đăng: Hoang

Jêh: Toual

Bà Na: Hoang

Biểu số 89

Việt Nam: Mây (Rotin)

Giarai: Hwây

Chàm: Hwây

Mặc dầu Chàm có danh từ này, nhưng đó là danh từ của Mã Lai đợt I do bọn Lâm Ấp đưa xuống. Tiếng Mã Lai đợt II mà đáng lý Chàm phải dùng là Rô Tăng (mà Pháp vay mượn, biến thành Rotin).

Biểu số 90

Việt Nam: Môi

Giarai: Boai

Cao Miên: Bobôô

Khả Lá Vàng: Bưa (Âm M của cổ Việt là B)

Biểu số 91

Việt Nam: La (hét)

Giarai: Laa

Cao Miên: Lôla

Biểu số 92

Việt Nam: Cành

Sơ Đăng Koirap: Kâng

Bà Na: To kơng

Sơ Đăng Tổng quát: Tkhơng

Cổ ngữ Ba Thục: Chảnh

Khả Boloven: Kưng

Biểu số 93

Việt Nam: Một

Mường: Môt

Cao Miên: Mui

Bà Na: Môny

Sơ Đăng: Môi

Khả Nam Om: Moy

Khả Boloven: Muôi

Biểu số 94

Việt Nam: Hai

Mường: Hai

Kơyong: Haai

Khả Nam Om: Hai

Biểu số 95

Việt Nam: Nhị

Khả Boloven: Bư

Cao Miên: Phải

Cổ ngữ Mân Việt: Ni, Nò

Bà Na: Nyi

Cổ ngữ Ba Thục: Nhi

Cổ ngữ Tây Âu: Dzi

Quảng Đông: Dzi

Tây Tạng: Ngi

Chữ Nhị này là một hình thức đề kháng của người Tây Âu khi họ bị đồng hóa thành Trung Hoa ở Quảng Đông. Đó cũng là danh từ chung của Mã Lai gốc Tây Tạng song song với danh từ Hai. Riêng Việt Nam, ta vừa dùng Nhị vừa dùng Hai. Đồng thời về Hán Việt ta cũng đề kháng mà nói Nhị chớ không nói theo Trung Hoa là Ơl.

Tất cả các nhóm Trung Hoa đều nói Ơn, Ờn, Ớn, chỉ trừ Mân Việt và Quảng Đông vì bị đồng hóa sau hết nên còn giữ được Ni, Dzi. Riêng nhóm Khách Gia tức Hakka, tức Hẹ, là Ba Thục, bị đồng hóa trước khi Tần Thỉ Hoàng lên ngôi, nhưng đây là nhóm chạy xuống lánh thân ở Quảng Đông nên cũng cứ giữ được Nhi của họ.

Biểu số 96

Việt Nam: Ba

Mường: Pa

Mạ: Pê

Sơ Đăng: Pii

Cao Miên: Pee

Khả Nam Om: Pa

Khả Boloven: Pê

Biểu số 97

Việt Nam: Bốn

Mường: Pươn

Khả Nam Om: Pon

Khả Boloven: Puôn

Bà Na: Pươn

Sơ Đăng: Puôn

Cao Miên: Puôn

Mạ: Puôn

Biểu số 98

Việt Nam: Năm

Mường: Kam

Bà Na: Pơđđm (ĐĐ Bà Na = NN của Việt Nam)

Cao Miên: Pram

Mạ: Prahm

Khả Nam Om: Đam

Biểu số 99

Việt Nam: Sáu

Mạ: Prao

Bà Na: Tdruao

Khả Boloven: Trau

Tất cả các nhóm Thượng đều có từ số 6 đến số 10, chỉ có Cao Miên là không có. Thế mà các ông Tây lại nói rằng tiếng Thượng là một phương ngữ phụ của Miên ngữ.

Biểu số 100

Việt Nam: Bảy

Mường: Pai

Khả Nam Om: Pay

Khả Boloven: Po

Mạ: Pỏ

Sơ Đăng: Pải

Bà Na: Pải

Jêh: Pải

 
© talawas 2026