trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 13 / 13 bài
  1 - 13 / 13 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
12.9.2007
Richard Pipes
Chủ nghĩa cộng sản
Phạm Minh Ngọc dịch
 1   2   3   4   5   6 
 
III. Stalin và hậu Stalin

Lenin bị nhồi máu vào tháng 5 năm 1922, sức khoẻ của ông sa sút nghiêm trọng từ đấy. Mặc dù ông được một nhóm bác sĩ người Đức chạy chữa, nhưng tình hình vẫn không được cải thiện và ông đã phải giao bớt trách nhiệm cho người khác. Những ngày cuối đời ông bị ám ảnh bởi cảm giác thất bại: ông giận các chiến hữu và hơn nữa còn giận cả nhân dân Nga vì họ tỏ ra không xứng đáng với vai trò vĩ đại mà lịch sử đã trao cho họ.

Với tâm trạng như thế, ông ta cố gắng tìm cho bằng được kẻ thù, tức là những kẻ cố tình phá hoại các dự định của ông. Ông ta coi tầng lớp trí thức là một trong những kẻ thù như thế, dù không có các hoạt động phá hoại nhưng tầng lớp trí thức Nga đã dứt khoát bác bỏ nền chuyên chế của ông ta. Tháng 7 năm 1922 ông ta giao cho Stalin nhiệm vụ “kiên quyết đào tận gốc, trốc tận rễ tất cả bọn trí thức… Tống khứ tất cả bọn chúng khỏi nước Nga… Bắt vài trăm tên và không cần nói lí do – xin mời các ngài cút đi!”. Theo lệnh của ông ta, cảnh sát đã bắt hàng trăm nhà kinh tế, nhà triết học và các nhà khoa học vốn là đảng viên Menshevik, xã hội cách mạng và các đảng tự do khác rồi đưa họ lên tầu và buộc phải lưu vong sang Tây Âu.

Sau đó đến lượt nhà thờ Chính thống giáo. Mùa xuân năm 1922, khi nước Nga Xôviết đang bị nạn đói hoành hành thì cũng là lúc Lenin quyết định rằng ông ta có thể đạt được hai mục đích cùng một lúc: dựa vào danh nghĩa cứu đói sẽ tiến hành tịch thu tài sản của nhà thờ và nếu giới tăng lữ có hành động phản kháng thì sẽ cho nhân dân thấy rõ sự nhẫn tâm của họ. Trong một bản ghi nhớ gửi Bộ Chính trị, Lenin viết:

Lúc này và chỉ lúc này, khi mà tại các tỉnh đang bị đói người ta ăn cả thịt người và hàng trăm, nếu không nói là hàng ngàn xác người rải đầy đường, chúng ta có thể (nghĩa là cần) tiến hành tịch thu các tài sản của nhà thờ một cách kiên quyết nhất và thẳng tay nhất… để có một khối lượng tiền dự trữ là mấy trăm triệu rub vàng.” [1]

Như vậy nghĩa là tài sản tịch thu được không dành để cứu trợ những người đói khát mà để phục vụ nhu cầu của chính phủ.

Tháng 3 năm 1923 Lenin bị một cú nhồi máu rất nặng, ông ta không còn nói được và mười tháng sau thì mất. Đảng không hề quan tâm đến việc tìm người kế nhiệm. Vì không phải báo cáo cho các đảng viên, chỉ định là cách duy nhất để bảo đảm tính kế thừa. Stalin, Tổng Bí thư Đảng choán ngay chân không quyền lực vừa mới hình thành. Stalin, một người luôn tỏ ra dè dặt ở những nơi công cộng, linh hoạt trong giao tiếp, không có biểu hiện gì của một kẻ tàn nhẫn và tâm thần, được khá đông quần chúng đảng viên tín nhiệm. Theo kết quả bầu cử (bỏ phiếu kín) vào Ban Chấp hành Trung ương thì ông ta (cùng với Bukharin) là người nhận được nhiều phiếu nhất, chỉ thua Lenin, nhiều hơn Trotsky, một người nổi tiếng hơn và vẫn được coi là người kế tục Lenin.

Ban đầu, khi Lenin còn đang ốm, Stalin liên kết với Kamenev và Zinoviev, tạo ra một tam đầu chế nắm quyền lãnh đạo Đảng để chống lại kẻ thù chung của họ là Trotsky. Bằng cách vu cáo và đe doạ những người ủng hộ Trotsky, tam đầu chế này đã cách tất cả chức vụ của Trotsky rồi khai trừ ông ta ra khỏi Đảng, sau đó thì đày đi Trung Á, năm 1929 lại đày ra nước ngoài và năm 1940 thì thủ tiêu. Sau đó Stalin quay sang chống lại Kamenev và Zinoviev, khai trừ cả hai ra khỏi Bộ Chính trị. Vì trung thành với nguyên tắc “Đảng bao giờ cũng đúng”, các nạn nhân của ông ta không thể tự bảo vệ được mình, không thể phản bác đuợc các bản án bịa tạc mà người ta cố tình gán cho họ.

Mặc dù trong khi bị lưu đày, Trotsky luôn mô tả mình như một người được Lenin tín nhiệm còn Stalin thì bị Lenin khinh thường, trên thực tế Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương là học trò trung thành và là người kế vị hợp pháp của Lenin. Trong vòng hai năm sau khi Lenin qua đời, ông ta đã trở thành chủ nhân ông của Đảng: sau khi củng cố được quyền lực ông ta sẵn sàng khởi động lại con đường tiến lên chủ nghĩa cộng sản, vốn bị gián đoạn vào năm 1921 bởi Chính sách Kinh tế mới (NEP). Ông ta đưa ra ba mục tiêu liên quan mật thiết với nhau: xây dựng một cở sở công nghiệp vững mạnh, tập thể hoá nông nghiệp và làm cho đất nước phải tuyệt đối vâng lời. Các kế hoạch đầy tham vọng này đã đưa đất nước vừa thoát khỏi các đổ nát sau Chiến tranh Thế giới I, cách mạng và nội chiến, lâm vào khủng hoảng. Nhưng đấy không phải là điều Stalin quan tâm vì khủng hoảng luôn luôn là những hoàn cảnh trời cho của mọi chế độ cộng sản.

Chỉ có khủng hoảng mới cho phép đòi hỏi - và tước đoạt! - của công dân sự phục tùng tuyệt đối và sự hi sinh. Hệ thống đòi hỏi hi sinh – cho Mục đích, cho Hạnh phúc của các thế hệ tương lai – và bằng cách đó bắc cây cầu từ thế giới giả định, từ không tưởng sang thế giới hiện thực.” [2]

Sau khi Stalin chết, những người kế nhiệm ông ta cố gắng giữ cho được ổn định, một giai đoạn suy thoái bắt đầu vì người dân không còn thấy ý nghĩa của những hi sinh mà chế độ đòi hỏi nữa.


*


Chính sách Kinh tế mới bắt đầu bị đình chỉ từ tháng 12 năm 1925, đấy là lúc đại hội Đảng thông qua cương lĩnh đầy tham vọng tức là công nghiệp hoá bằng vũ lực. Mà công cuộc công nghiệp hoá này, vì những lí do sẽ được trình bày dưới đây, được hiểu là tập thể hoá nông nghiệp. Vì cả hai mục tiêu này đều có những khó khăn vô cùng to lớn cho nên phải bịt miệng những người bất mãn. Chủ nghĩa Stalin trở thành một lí thuyết nhất quán từ đó và chỉ đứng vững được khi không ai được động đến các thành phần cấu thành ra nó.

Xin bắt đầu từ công nghiệp hoá: chủ nghĩa Marx-Lenin nói rằng chủ nghĩa xã hội phải dựa trên nền tảng công nghiệp, nhưng vì nền công nghiệp Nga còn rất lạc hậu, phải xây dựng nó từ con số không theo đúng nghĩa đen của từ này. Khi những cố gắng như thế đơm hoa kết trái thì Liên Xô sẽ có một nền kinh tế phát triển ngang tầm thế giới, giai cấp công nhân sẽ rất hùng hậu, đất nước sẽ đủ sức đối đầu với các nước tư bản thù nghịch. Không ai nghi ngờ chuyện đó, nhưng tốc độ công nghiệp hoá đã gây ra một số bất đồng trong lãnh đạo Đảng. Stalin đã bịt miệng những người phản bác ông ta và buộc đất nước phải chấp nhận một kế hoạch phát triển đến chóng mặt, không cần biết đến những hi sinh mà dân chúng phải chịu đựng.

Còn một lí do nữa, lúc đó người ta gần như không bao giờ đề cập tới và sau này cũng ít khi nói, đấy là chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh thế giới mới. Tháng 12 năm 1927, Stalin tuyên bố rằng “bọn đế quốc” đang vũ trang, đang chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh và can thiệp mới chống Liên Xô. Để đáp trả mối đe doạ (tưởng tượng) đó, Liên Xô phải có một nền công nghiệp quốc phòng hùng hậu. Trên thực tế, toàn bộ nền công nghiệp Liên Xô ngay từ đầu đã được xây dựng phù hợp với nhu cầu của chiến tranh.

Kế hoạch năm năm lần thứ nhất, thông qua vào năm 1929, buộc nền kinh tế phải chịu sự quản lí từ trung ương, đặt trọng tâm vào việc phát triển công cụ sản xuất: sắt thép, than đá, dầu hoả, công nghiệp chế tạo máy. Ủy ban kế hoạch nhà nước đã đặt ra những mục tiêu hoàn toàn phi thực tế, thế mà năm 1931 Stalin còn hạ lệnh thực hiện kế hoạch năm năm trong vòng có ba năm. Đến năm 1932 các chỉ tiêu sản xuất lại được tăng lên hai lần. Số lượng công nhân công nghiệp cũng tăng lên tương ứng: từ 3 triệu đã tăng lên 6,4 triệu người.

Bằng những lời hứa hẹn rằng “xây dựng xong chủ nghĩa xã hội” thì đời sống sẽ được nâng cao, chính phủ đã động viên được nhiệt tình lao động. Nhưng đấy là chiếc bánh không dành cho những người dân thấp cổ bé miệng. Trên thực tế, mức sống ngày một thấp đi vì tiền đầu tư cho công nghiệp càng phình ra thì lương công nhân sẽ càng phải teo lại. Năm 1933 đồng lương thực tế của công nhân hạ xuống chỉ còn bằng một phần mười thời chưa chuyển sang công nghiệp hoá (1926-1927). Alec Nove, một chuyên gia về nền kinh tế Liên Xô, cho rằng “năm 1933 là điểm cực tiểu trên đồ thị đi xuống một cách đột ngột của mức sống từng được lịch sử biết tới trong thời bình”. [3]

Muốn đưa năng suất lao động lên, Stalin buộc phải quay lại với các phuơng pháp khuyến khích tư bản truyền thống. Năm 1931 ông ta phê phán quyết liệt nguyên tắc “bình quân”, mà theo lời ông ta là cực tả, tức là trả lương đồng đều cho công nhân bất chấp tay nghề cũng như đóng góp của người công nhân. Ông ta giải thích rằng làm như thế là không khuyến khích người ta rèn luyện để nâng cao tay nghề, còn người có tay nghề thì không được khuyến khích chuyển sang chỗ được trả lương xứng đáng hơn, cả hai hiện tượng đó đều có ảnh hưởng tiêu cực đối với năng suất lao động. Vì vậy bảng lương mới đặt ra khoảng cách rất lớn giữa mức lương của người có tay nghề thấp nhất và người có tay nghề cao nhất.

Vốn cho phát triển công nghiệp được lấy từ một số nguồn, kể cả từ máy in tiền, từ thuế lưu thông, từ xuất khẩu lương thực, kể cả việc bán các tác phẩm nghệ thuật.

Nhưng vốn này được lấy chủ yếu từ việc bóp nặn tầng lớp nông dân, trên thực tế, sau bảy mươi năm được giải phóng (ý nói giải phóng khỏi chế độ nông nô – ND), tầng lớp này lại rơi vào vòng nô lệ. Quyết định tiến hành “tập thể hoá đồng loạt” được đưa ra vào giữa năm 1929. Theo lời Stalin, phải dựa vào tích luỹ trong nước để tiến hành công nghiệp hoá. Nghĩa là nông dân phải cung cấp lương thực, thực phẩm cho giai cấp công nhân công nghiệp và lực lượng vũ trang theo giá thấp nhất. Nhưng trong chiến dịch tuyên truyền tiến hành song song với quá trình tập thể hoá người ta lại nhấn mạnh đến việc tiêu diệt “bọn bóc lột” để đánh lạc hướng sự chú ý vì phần lớn nạn nhân của công cuộc tập thể hoá chính là những người nông dân bình thường.

Tập thể hoá diễn ra theo hai quá trình. Thứ nhất, “xoá bỏ thành phần kulak”, nói cách khác là giết người; thứ hai, tiêu diệt các làng xã nông thôn và sự độc lập còn sót lại của nông dân. Nông dân bị lùa vào các tập thể sản xuất gọi là nông trang, người ta phải làm việc cho nhà nước chứ không còn cho mình nữa. Đây là cuộc cách mạng chưa từng có trong lịch sử, được áp đặt từ trên xuống, nó đã đưa ba phần tư dân số của đất nước vào tình trạng của những người nông nô của bộ máy nhà nước.

Kulak, tất cả những người nông dân có của ăn của để và cả những người chống hợp tác hoá đều bị gọi như thế, bị tịch thu hết tài sản và bị đưa vào các trại cải tạo lao động hoặc bị đầy đi Siberia cùng với gia đình. Theo các số liệu chính thức, trong các năm 1930-1931 đã có 1.803.392 người bị trừng phạt theo một trong hai hình thức trên. Người ta tính ra rằng 30% những người thoát án tử hình cũng đã chết vì đói và rét. Trong số những người thoát chết, có 400.000 người trốn tránh được và sau này đã tìm cách chạy vào các thành phố hoặc các trung tâm công nghiệp [4] .

“Trung nông” và “bần nông” cũng mất hết, kể cả công cụ lao động và gia súc vì người ta thà giết thịt gia súc chứ không chịu đem nộp, tất cả các tài sản đó đều bị công hữu hoá hết. Các nông trang viên phải làm đủ một số ngày công nhất định trong một năm, đổi lại họ được lĩnh một số tiền và một lượng lương thực tối thiểu. Đấy là cách họ thực hiện nghĩa vụ lương thực do nhà nước giao với giá rẻ mạt, trong khi nhà nước xuất khẩu bột và lúa mì, thu lợi gấp mấy lần. Người không hoàn thành chỉ tiêu sẽ bị đói. Những người tuyệt vọng vì đói mà ăn cắp sẽ bị coi là tội phạm nguy hiểm: theo nghị định ban hành tháng 8 năm 1932 “ăn cắp hay phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa (xin đọc là: của Đảng)”, nhiều khi chỉ là vài bông lúa mì, có thể bị kết án tử hình hoặc hàng chục năm lao động khổ sai. Trong mười sáu tháng sau đó đã có tất cả 125.000 nông dân bị kết án theo đạo luật này, trong đó 5.400 người bị tử hình [5] . Vì sản phẩm mà người nông dân được nhận chỉ là lúa mì cho nên từ năm 1935 chính phủ cho các nông trang viên được canh tác trên những mảnh ruộng riêng, trung bình một gia đình được một acre [6] , họ có thể trồng hoa quả và rau để tự sử dụng hoặc bán trên các chợ nông trường do nhà nước quản lí. Họ cũng được nuôi bò và các gia súc khác (trừ ngựa). Những mảnh ruộng riêng này đã cung cấp một lượng lương thực và thực phẩm đáng kể, vượt xa tỉ lệ của nó so với số ruộng đất đã tập thể hoá.

Sau khi tập thể hoá, tình cảnh người nông còn khốn cùng hơn cả dưới thời chế độ nông nô, vốn tồn tại ở Nga cho đến năm 1861, lúc đó, dù là nông nô nhưng người nông dân vẫn được quyền làm chủ (trên thực tế) mùa màng và gia súc của mình. Địa vị của họ bây giờ đã bị hạ xuống ngang hàng với nô lệ, chỉ có những phương tiện tối thiểu để duy trì sự sống của chính mình: năm 1935 một gia đình nông trang viên chỉ được cấp 247 rub, đủ mua một đôi giầy [7] .

Stalin thích nói rằng tập thể hoá được tiến hành trên cơ sở tự nguyện, nhưng trện thực tế chính phủ đã áp dụng những biện pháp cưỡng bách cực đoan nhất. Có lần ông ta đã nói với Churchill rằng công cuộc hợp tác hoá kéo dài ba năm, nhưng “nặng nề” hơn cả Chiến tranh Thế giới II. Nếu ông ta còn cảm thấy nặng nề thì số phận các nạn nhân của ông ta còn nặng nề đến mức nào. Nhằm bẻ gẫy sự chống đối của nông dân ở Ukraine, ở Bắc Kavkaz và ở Kazakhstan, Stalin đã cố tình gây ra nạn đói vào các năm 1932-1933 bằng cách tịch thu hết lương thực và cho quân đội bao vây để họ không thể đi tìm thức ăn ở các khu vực khác. Các số liệu cho thấy nạn đói nhân tạo này đã cướp đi sinh mạng của 6 đến 7 triệu người [8] . Chế độ cũng thi hành những biện pháp cực kì dã man đối với dân Côdắc du mục ở Trung Á, người ta cho rằng một phần ba sắc dân này đã chết trong quá trình tập thể hoá [9] .

Mục đích trực tiếp của tập thể hoá - tìm nguồn vốn cho công cuộc công nghiệp hoá – đã thành công, trên thực tế lương thực đã bị tịch thu rồi đem phân phối lại trong các thành phố và các trung tâm công nghiệp. Nhưng hậu quả thì thật là tai hại: nó đã phá vỡ nền nông nghiệp vì đã buộc những người nông dân cần cù chăm chỉ nhất phải đi lưu đầy và sau đó là tước đoạt đất đai và mùa màng của nông dân tập thể. Trước cách mạng, Nga là một trong những nước xuất khẩu lương thực hàng đầu thế giới, từ đây về sau phải chật vật lắm nước này mới sản xuất đủ lương thực tiêu dùng trong nước.

Đến năm 1934-1935, khi chế độ tem phiếu được bãi bỏ, Stalin tuyên bố rằng “cuộc sống trở nên nhẹ nhàng hơn, cuộc sống trở thành vui hơn”, thì những khó khăn dường như đã ở phía sau. Nhưng chế độ cần một cuộc khủng hoảng mới để biện hộ cho chính quyền độc tài. Chế độ cần một kẻ thù mới. Sau này Fidel Castro, lãnh tụ cộng sản Cuba, đã tuyên bố công khai điều mà các ông thày người Nga của ông ta cố tình che giấu: “Cách mạng cần có kẻ thù… Để phát triển thì cách mạng cần phản đề, cụ thể là cần có phản cách mạng.” [10] Nếu không có thì phải bịa ra kẻ thù.

Năm 1934 Sergey Kirov, một người Bolshevik nổi tiếng, bí thư đảng bộ thành phố Leningrad bị giết một cách bí ẩn, có những bằng chứng gián tiếp chứng tỏ rằng Stalin là kẻ chủ mưu vụ ám sát. Kirov là một người Stalinist cứng rắn, trước khi chết không lâu từng ca ngợi Stalin là “nhà chiến lược vĩ đại trong cuộc đấu tranh giải phóng nhân dân lao động nước ta và toàn thế giới”, ông ta rất được lòng quần chúng đảng viên và dĩ nhiên là Stalin chẳng thích thú gì. Vụ ám sát mang lại cho Stalin hai mối lợi: thứ nhất, trừ khử được một đối thủ tương lai; thứ hai, có lí do để phát động một chiến dịch rộng lớn nhằm chống lại những người được mệnh danh là những kẻ có âm mưu chống chính quyền Xôviết, ông ta sẽ tìm cách giết hết hàng ngũ lãnh đạo mà Lenin để lại. Phải gọi những cuộc thanh trừng hồi những năm ba mươi của thế kỉ trước là sự lộng hành của khủng bố, một cuộc khủng bố chưa từng có trong lịch sử cả về số nạn nhân lẫn sự tàn bạo bừa bãi của nó. Stalin theo dõi sát sao chiến dịch, trong các chỉ thị gửi cho chính quyền các địa phương, ông ta thường nhấn mạnh: đánh cho đến khi phạm nhân phải nhận những tội lỗi mà họ không hề phạm.

Bức thư của Vsevolod Meyerhold, một trong vô vàn nạn nhân của chiến dịch thanh trừng, gửi Molotov, chiến hữu thân cận của Stalin, sẽ cho chúng ta thấy mệnh lệnh đó được thi hành trên thực tế như thế nào. Meyerhold, một đạo diễn nổi tiếng, vào Đảng ngay từ những ngày đầu tiên sau khi chế độ được thành lập, bị tuyên bố là “kẻ thù của nhân dân” và bị bắt vào năm 1939. Ông viết như sau:

Khi các điều tra viên tra tấn (người ta đánh tôi, một lão già bệnh hoạn, đã 65 tuổi: họ đặt tôi nằm úp mặt xuống sàn rồi lấy roi bện bằng những sợi cao su đánh vào gót chân và sống lưng; khi tôi ngồi trên ghế thì họ đánh vào chân, từ trên xuống, đánh mạnh lắm. Những ngày sau, khi những chỗ bị đánh ở chân đã sưng lên vì xuất huyết bên trong thì họ lại dùng roi đánh vào những chỗ thâm tím đó, đau như là bị đổ nước sôi vào vậy, tôi phải kêu lên, khóc lên vì đau. Họ còn lấy roi đánh vào lưng tôi, lấy tay đánh vào mặt tôi…), rồi họ lại áp dụng cái gọi là ‘tấn công về tâm lí’ nữa, cả hai biện pháp đều làm tôi sợ đến nỗi bản tính của tôi bộc lộ ra hết… Tôi nằm, mặt úp xuống đất, vặn vẹo, co quắp, gào thét như con chó bị chủ đánh.

Khi nằm ngủ để sau đó một tiếng sẽ lại phải lên lấy cung, trước đó tôi đã phải trả lời suốt mười bảy tiếng đồng hồ, tôi lại bị đánh thức bởi những tiếng rên rỉ và người cứ giật bắn lên, hệt như người bệnh đang hấp hối vì sốt vậy.

‘Chết (ồ dĩ nhiên rồi), chết còn sướng hơn!’ - kẻ bị tình nghi tự nhủ. Tôi cũng tự nhủ như thế. Thế là tôi nhận bừa, hi vọng rằng họ sẽ đưa tôi lên đoạn đầu đài[11]

Sau khi ông đã nhận tội theo đúng kịch bản, chính quyền đã chiếu cố những lời cầu xin của Meyerhold và hoá kiếp cho ông ta.

Cuộc đại khủng bố ập lên đầu cả đảng viên lẫn người ngoài Đảng. Tại đỉnh điểm của nó, tức là trong các năm 1937-1938 đã có ít nhất một triệu rưỡi người, đa số không hề phạm bất cứ tội lỗi gì ngay cả theo các qui định của cộng sản, phải ra trước vành móng ngựa mà quan toà chỉ gồm ba người là bí thư chi bộ đảng, công tố viên và trưởng phòng an ninh khu vực. Phiên toà diễn ra nhanh chóng, có khi chỉ trong vài phút, phạm nhân bị kết án tử hình, khổ sai hoặc lưu đầy mà không có quyền kháng cáo. Bàng quan với chính trị, thậm chí tuyệt đối trung thành với chế độ cũng chưa phải đã được an thân. Trong giai đoạn cao trào, Bộ Chính trị còn phân bổ “hạn ngạch” cho cơ quan an ninh, trong đó ghi rõ bao nhiêu phần trăm dân số khu vực bị bắn, bao nhiêu phần trăm bị đưa vào trại giam. Thí dụ, hạn ngạch ngày 2 tháng 7 năm 1937 cho thành phố và tỉnh Moskva là 35 ngàn người, trong đó 5 ngàn bị xử bắn [12] . Một tháng sau đó Bộ Chính trị cấp hạn ngạch cho tất cả các tỉnh: 70 ngàn người bị bắn mà không cần xét xử [13] . Đa số nạn nhân của cuộc đại khủng bố là những người có bằng đại học, họ bị coi là thành phần bất trị và có xu hướng “phá hoại”.

Tầng lớp lãnh đạo cấp cao của Đảng cũng bị thanh trừng, 70% trong số 139 uỷ viên Trung ương và uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được bầu tại Đại hội lần thứ XVII vào năm 1934, đã bị tử hình [14] . Tất cả những người bạn chiến đấu của Lenin, trong đó có Zinoviev và Kamenev, đã bị bắt, bị tra tấn và sau khi bị đánh gục cả về thể xác lẫn tinh thần, đã buộc phải thú nhận trong những “phiên toà” giả mạo những tội lỗi không thể nào tưởng tượng nổi như hoạt động gián điệp, khủng bố và có ý định khôi phục “chủ nghĩa tư bản”; sau đó tất cả đều bị xử bắn hoặc lưu đầy, ít người sống sót. Trong Di chúc, Lenin nhắc đến sáu người có khả năng kế tục mình thì chỉ có một người sống sót, đó là Stalin. Dmitri Volkogonov, một viên tướng Liên Xô, sau này trở thành nhà sử học, đã kinh hoàng khi phát hiện ra trong hồ sơ lưu trữ ba mươi bản danh sách được ghi cùng một ngày, 12 tháng 12 năm 1938. Đây là danh sách 5 ngàn người bị kết án tử hình, Stalin đã kí các bản án trước khi toà chính thức xét xử, sau đó ông ta đi vào rạp chiếu phim riêng trong Điện Kremlin, hôm đó ông ta xem hai bộ phim, một bộ có tên Mấy anh chàng vui tính [15] .

Bằng cách này hay cách khác, đa số dân chúng đã buộc phải tham gia vào cuộc tắm máu đó, họ tố cáo bạn bè và người thân, không tố cáo những cuộc thảo luận về hoạt động “phá hoại” cũng bị coi là hoạt động phá hoại. Chẳng ai dám tin ai, cũng chẳng ai còn dám nói thật nữa.

Các cuộc thanh trừng trong những năm 1937-1938 đã làm cho hàng ngũ những người Bolshevik tiền bối trống vắng hẳn. Năm 1939, 80,5% cán bộ của Đảng Cộng sản Liên Xô là những người vào Đảng sau khi Lenin chết [16] . Các viên chức cao cấp của Đảng và chính phủ, vẫn thường được gọi là tầng lớp Nomenclatura, xuất phát từ đây; họ không chỉ độc chiếm các chức vụ có nhiều quyền lực mà còn có những đặc lợi không thể tưởng tượng nổi, đấy chính là một giai cấp bóc lột mới. Có chân trong tầng lớp này là được đảm bảo một địa vị xã hội vững chắc và trên thực tế địa vị của họ cũng mang tính cha truyền con nối. Khi Liên Xô sụp đổ, Nomenclatura có 750 ngàn người, nếu tính cả giai đình thì giai cấp này có tổng cộng 3 triệu người, nghĩa là 1,5% dân số, gần tương đương thành phần quí tộc phục vụ dưới thời các Sa hoàng thế kỉ XVIII. Họ cũng có bổng lộc y như các lãnh chúa thời xưa. Đây là lời của một người trong tầng lớp tinh hoa đó:

“… Nomenclatura sống như trên một hành tinh khác. Như trên sao hoả. Vấn đề không chỉ là những chiếc ô tô hay các căn hộ cao cấp. Đây là sự đáp ứng ngay lập tức những ước muốn đỏng đảnh của bạn, lúc nào cũng có một lũ nịnh thần, chúng tạo cho bạn khả năng làm việc mà chẳng phải lo nghĩ gì. Những viên chức cấp thấp trong bộ máy sẵn sàng làm bất cứ những gì bạn muốn. Tất cả các ước muốn của bạn đều được thực hiện. Bạn có thể vào rạp hát bất cứ lúc nào, có thể bay thẳng từ các khu săn bắn của bạn đến Nhật Bản. Cái gì cũng có mà lại chẳng phải khó nhọc gì… Giống như một vị hoàng đế: bạn chỉ cần giơ ngón tay lên là xong. [17]

Các đảng viên thường, “bọn nịnh thần”, ngay dưới thời Stalin cũng đã đông lắm, trở thành đầy tớ cho tầng lớp ưu tú.

Hồng quân cũng không tránh khỏi cuộc thanh trừng: ba trong năm nguyên soái bị “thủ tiêu”, mười ba trong số mười lăm viên tướng đã bị giết, trong số chín đô đốc thì chỉ có một người thoát chết. Nhiều đảng viên cộng sản ngoại quốc, những người được Liên Xô cho tị nạn chính trị, cũng trở thành nạn nhân của các vụ thanh trừng. Giới tăng lữ chịu nhiều tổn thất: trong các năm 1937-1938 có 165.200 tu sĩ bị bắt vì đã thực hành phận sự tôn giáo, trong đó 106.800 người bị bắn [18] . Gần như toàn bộ các cơ sở thờ phụng đã bị đóng cửa.

Bộ máy đàn áp không tha cả những kẻ từng giữ vô-lăng. Nikolai Yezhov, Dân uỷ Nội vụ, một kẻ được ví với Himmler của Stalin, chính hắn đã điều khiển những vụ giết người hàng loạt hồi những năm 1937-1938, vì lí do gì đó bị thất sủng. Stalin đã cách tuột mọi chức vụ, sau đó bắt giam và đẩy vào cỗ máy xay thịt do chính hắn dựng nên.

Người dân thường có thể bị bắt và biến mất chỉ vì một câu nói bâng quơ hay bị hàng xóm tố cáo. Sợ hãi và nghi ngờ bao trùm lên toàn xã hội, các cán bộ cao cấp cũng không phải là ngoại lệ. Có lần Nikolai Bulganin, từng là phó thủ tướng dưới thời Stalin, nói với Nikita Khrushchev rằng đôi khi một người nào đó được mời tới gặp Stalin như một người bạn, “nhưng khi ngồi cạnh Stalin, anh ta không thể biết rồi sẽ được đưa đi đâu, về nhà hay vào nhà đá”. Andrei Gromyko, một trợ tá đắc lực của Stalin, từng giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao, kể rằng dưới thời Stalin không bao giờ có chuyện hai uỷ viên Bộ Chính trị đi chung một xe vì sợ bị nghi ngờ mưu phản. Sợ hãi và ngờ vực tiếp tục tồn tại ngay cả sau khi Stalin đã chết và trở thành một phần không thể tách rời của cả hệ thống. Mikhail Gorbachev, lãnh tụ Xôviết cuối cùng, từng nói rằng khi ông ta mời Yuri Andropov, vừa là sư phụ, vừa là hàng xóm, đang là Chủ tịch KGB, đến nhà ăn cơm trưa thì Andropov khuyên rằng tốt nhất là đừng bao giờ làm như thế vì “nhất định sẽ có những chuyện ngồi lê đôi mách rằng ai nói, hắn đã nói gì và tại sao lại nói thế”.

Theo các tài liệu mật, được đưa ra công khai sau khi Liên Xô tan rã, thì trong các năm 1937-1938, tức là khi đại khủng bố đạt đỉnh cao, các cơ quan an ninh đã bắt 1.548.366 người vì cái gọi là “hoạt động bài Xô”, trong đó có 681.692 người bị xử bắn (nhiều chuyên gia cho rằng số liệu đã bị đánh tụt đi). Trung bình một ngày có 1.000 vụ hành quyết. Phần lớn những người thoát chết đều bị tống giam [19] . (Trong khi đó từ năm 1825 đến năm 1910 chính quyền Sa hoàng tử hình 3.932 chính trị phạm). Năm 1941, khi Đức tấn công Liên Xô, các nhà tù của GULAG đang giam giữ 2.350.000 người, tức là 1,4% dân số cả nước [20] . Các tù nhân-nô lệ này đã thực hiện nhiều nhiệm vụ kinh tế quan trọng, họ phải làm việc trên các công trường xây dựng lớn, phải đốn cây trên miền Bắc Cực xa xôi. Sau khi Liên Xô tan rã, những kẻ chịu trách nhiệm về những tội ác chống lại dân lành như thế đã không bị đưa ra toà; thậm chí họ còn không bị lên án, không bị kết án về mặt đạo đức và tiếp tục sống một cuộc đời bình thường.

Các cuộc điều tra dân số giữa những năm từ 1932 đến 1939, nói cách khác là sau tập thể hoá và trước chiến tranh, cho thấy dân số Liên Xô sụt giảm từ 9 đến 10 triệu người [21] .

Lí trí bình thường không thể nào hiểu nổi vụ tắm máu kinh hoàng này. Có một câu chuyện tiếu lâm như sau. Người ta hỏi một phạm nhân mới rằng anh ta bị bao nhiêu năm, anh ta đáp: “Hai mươi lăm năm”. “Tội gì?”. “Chẳng tội gì cả”. “Làm gì có chuyện đó”, mọi người nói, “không có tội gì thì chỉ mười năm thôi”.

Nếu ai đó còn băn khoăn là làm sao mà một chính phủ lại có thể gây ra tai hoạ lớn như thế đối với chính nhân dân nước mình thì xin thưa rằng những người cách mạng-những người cộng sản ở Nga cũng như ở các nước khác cho rằng con người với hình hài như hiện nay chỉ là bản sao không hoàn chỉnh của cái mà họ có thể và nhất định phải là trong tương lai. Quan niệm này bắt nguồn từ chủ nghĩa Marx. Marx viết:

Thế hệ hiện nay làm ta nhớ đến những người Do Thái được Moses dẫn qua sa mạc. Thế hệ này cần phải không chỉ chinh phục thế giới mà còn rút lui khỏi vũ đài để nhường chỗ cho những con người xứng đáng với cái thế giới mới đó. [22]

Mặc dù Marx và Engels không kêu gọi các đệ tử của mình tiến hành những vụ giết người hàng loạt nhưng họ sẵn sàng hi sinh những người đang sống cho các thế hệ tương lai.

Theo quan điểm của họ thì “con người mới” trong chế độ cộng sản sẽ khác hẳn với những con người đã từng tồn tại cho đến nay. Trotsky đã vẽ nên hình ảnh con nguời mới đó trong tác phẩm Văn học và cách mạng như sau:

Con người, cuối cùng, cũng bắt đầu tiến hành quá trình tự hoàn thiện một cách nghiêm túc… Con người muốn làm chủ các quá trình nửa-vô thức và sau đó là các quá trình vô thức trong chính cơ thể của mình: thở, tuần hoàn máu, tiêu hoá, thụ thai và buộc chúng phải tuân theo lí trí và ý chí của mình… Loài người, đã ngưng lại như một homo sapiens, lại bước vào một quá trình cải tạo triệt để và sẽ trở thành chủ thể của những phương pháp lựa chọn tự nhiên nhân tạo và luyện tập về mặt tâm sinh lí phức tạp nhất… Con người sẽ đặt cho mình nhiệm vụ… tạo ra một giống loài tiến bộ hơn về mặt sinh học cũng như xã hội, có thể nói là siêu nhân cũng được… Con người trở thành mạnh mẽ hơn, thông minh hơn và nhạy cảm hơn. Cơ thể anh ta cân đối hơn, vận động nhịp nhàng hơn, giọng nói êm dịu hơn… Một người trung bình cũng đứng ngang với Aristotle, Goethe, Marx. Trên những ngọn đồi đó sẽ nổi lên những đỉnh núi mới.”

Hi sinh những sinh linh khốn nạn trong cái thế giới tha hoá này cho lí tưởng tót vời như thế thì có gì phải đắn đo? Theo quan điểm đó thì nhân loại hiện nay chỉ là rác rưởi và cặn bã của cái thế giới nhất định sẽ bị diệt vong, thủ tiêu nó không phải là một cái gì quá nghiêm trọng vậy.

Những vụ giết người chưa từng có trong lịch sử được tiến hành song song với việc đàn áp tự do ngôn luận, họ đã tạo ra một sự thống nhất giả tạo như thế đấy: thể xác thì bị bắt và bị giết, còn lí trí thì bị xoá sổ. Lenin hoàn toàn không tôn trọng những quan niệm khác biệt với quan niệm của mình, nghị định đầu tiên mà ông ta ban hành ngay sau khi nắm được quyền lực đòi hỏi đóng cửa tất cả các cơ quan báo chí không nằm dưới quyền kiểm soát của Đảng Bolshevik. Lúc đó ông ta không đủ sức làm việc này, nhưng mùa hè năm 1918 ông ta đã cho đóng cửa không chỉ tất cả các tờ báo độc lập mà còn đóng cửa tất cả các tờ báo định kì phi đảng phái nữa. Năm 1922 ông ta cho thành lập cơ quan kiểm duyệt trung ương, gọi là Glavlit. Tất cả những gì xuất hiện trên báo chí hay sân khấu đều bị cơ quan này kiểm duyệt.

Nhưng trong những năm 1920 tư tưởng vẫn còn được hưởng một mức độ tự do nhất định. Thời kì đầu kiểm duyệt ở Liên Xô có tính cách phủ định, tương tự như dưới thời Sa hoàng, nghĩa là chỉ quyết định không được in cái gì chứ chưa có ý định buộc những người cầm bút phải viết cái gì. Trong những năm 1930 có sự thay đổi chính sách: kiểm duyệt mang tính khẳng định, nghĩa là chỉ thị cho người cầm bút phải viết cái gì và viết ra sao. Tất cả thông tin tiêu cực về hiện tình đất nước đều bị che giấu, đấy là nói khi chính quyền không yêu cầu đưa ra công khai một phần sự thật nào đó. Chẳng mấy người được ra nước ngoài, chỉ các quan chức nhà nước mới được xuất ngoại mà thôi, dân thường không được tiếp xúc với người ngoại quốc, mọi cuộc tiếp xúc như thế đều có thể bị coi là hoạt động gián điệp. Sách báo ngoại quốc, trừ sách báo cộng sản, đều bị cấm lưu hành.

Văn học Liên Xô là hiện thân của một sự đơn điệu không ai có thể tưởng tượng nổi. “Phương pháp hiện thực xã hội chũ nghĩa” trở thành lí luận mĩ học chính thức từ năm 1932, phương pháp này đòi hỏi nhà văn phải coi hiện thực “là không tồn tại, còn tương lai thì lại như đã hiện diện rồi [23] ”. Kết quả là tất cả những gì được in, được dựng trên sân khấu, được đưa lên phim ảnh hoặc phát trên sóng radio đều không phải là thực: đấy là chủ nghĩa siêu thực. Để thích ứng với hoàn cảnh như thế người ta buộc phải chia tách nhận thức và cá nhân con người mình thành hai mảnh, người ta buộc phải sống trong tình trạng tâm thần phân lập, nghĩa là người ta biết sự thật nhưng phải đè nén nhận thức và chỉ chia sẻ những hiểu biết đó với những người thân cận mà thôi, nhưng mặt khác người ta lại phải giả vờ tin bộ máy tuyên truyền chính thức. Tâm trí lúc nào cũng căng thẳng, cuộc sống ở Liên Xô trở thành năng nề, không thể chịu đựng nổi.

Di sản tâm lí đó còn tồn tại ngay cả sau khi chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung. Dối trá trở thành phương tiện sống, mà từ nói dối đến lừa đảo chỉ là một bước nhỏ. Không còn nền tảng đạo đức cho sự tồn tại của một xã hội dân sự và thế là cái chế độ đòi hỏi mọi người hi sinh quyền lợi cá nhân cho quyền lợi tập thể đã dẫn đến cái kết cục là tất cả mọi người chỉ còn biết lo cho mình vì họ không còn chỗ dựa nào khác.

Một khía cạnh nữa của cuộc đại khủng bố là “tệ sùng bái” Stalin, sau này người ta gọi như thế. Trên thực tế đấy là sự thần thánh hoá Stalin: ông ta là người cực kì mạnh mẽ, biết hết, hiện diện khắp nơi, không bao giờ sai và còn mãi như thế cho đến tận lúc chết vào năm 1953. Người nhạc sĩ phủ phục dưới chân khi ông ta phê bình một vở opera nào đó. Các nhà ngôn ngữ học ngậm miệng khi ông ta phát biểu về vấn đề ngôn ngữ học. Trên diễn đàn đại hội, các đại biểu thi nhau xem ai tài hơn trong việc tụng ca lãnh tụ, còn ông ta thì ngồi đó, khiêm tốn lắng nghe những lời ngợi ca chính mình.

Có thể một trong những lí do thần thánh hoá lãnh tụ, một hiện tượng chung cho đa số các chế độ cộng sản, là vì sức mạnh vô địch và biết tuốt là đặc trưng của thánh thần cho nên khi một người có những tính chất như thế thì ông ta cũng được người ta gán luôn cho các đặc điểm của thần thánh.

Dàn đồng ca đó đã làm cho Stalin càng ngày càng xa rời thực tế. Bị bao vây bởi một lũ nịnh thần, Stalin không còn nhận thức được tình hình thực tế của vương quốc nữa. Sợ bị ám sát, ông ta không bao giờ vi hành và chỉ thấy đời sống của đất nước qua những bộ phim được dàn dựng dành riêng cho ông ta, trong đó theo lời của Khrushchev, bộ hạ và sau này là người kế vị ông ta, thì các nông trang viên ngồi quanh bàn ăn “võng xuống vì ngỗng và gà tây”.

Chỉ có cảnh sát mật, mang những bí danh Cheka (1917-1922), GPU và OGPU (1922-1934), NKVD (1934-1954) và KGB (1954-1991), là nắm được được hiện tình đất nước mà thôi. Đây là công cụ đàn áp chủ yếu, nó có toàn quyền hành động, nó được tự do đàn áp tất cả các kẻ thù của chế độ, cả kẻ thù thật lẫn kẻ thù tiềm năng và kẻ thù do nó bịa ra. Cơ quan này còn điều hành một vương quốc các trại lao động khổ sai. Sau khi đã tiêu diệt mọi hình thức biểu hiện của dư luận, cảnh sát mật, thông qua mạng lưới nhân viên tình báo và chỉ điểm, làm nhiệm vụ báo cáo với chính phủ về tâm trạng của xã hội. Những năm cuối đời Stalin, các cơ quan an ninh đã thoán đoạt quyền lực trong nhiều lĩnh vực mà trước đó Lenin đã giao cho Đảng Cộng sản.

Stalin là người cộng sản đầu tiên nhận thức được tiềm lực chính trị của chủ nghĩa dân tộc Nga và buộc nó phục vụ mình. Chủ nghĩa Marx coi tinh thần dân tộc, biểu hiện dưới bất kì hình thức nào, là vũ khí của giai cấp tư sản nhằm đánh lạc hướng quần chúng khỏi nhiệm vụ chính, khỏi cuộc đấu tranh giai cấp. Lenin cũng chẳng coi trọng tinh thần yêu nước. Nói đúng hơn, ông ta còn tỏ ra khinh bỉ chính nhân dân nước mình, trong một bức thư mật ông ta nhận xét về họ với những từ ngữ miệt thị như “lũ gian xảo và đê tiện”. Có lần ông còn nói với Maxim Gorki rằng “một người Nga thông minh thì gần như chắc chắn đấy là một người Do Thái hay trong huyết quản có máu Do Thái [24] ”.

Stalin thì lại khác. Qua tiếp xúc với cán bộ, ông ta nhận ra rằng chủ nghĩa dân tộc và tinh thần bài ngoại được ủng hộ nhiệt tình hơn là những lí tưởng mù mờ của chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy ông ta bắt đầu đồng nhất mình với chủ nghĩa sôvanh Nga, xoá bỏ dần mối ngờ vực thịnh hành ở Nga và ở nước ngoài rằng chủ nghĩa cộng sản phục vụ cho quyền lợi của người Do Thái trên toàn thế giới. Bản thân là một người bài Do Thái thô bạo, ông ta tìm cách loại bỏ dần tất cả người Do Thái khỏi các chức vụ trong bộ máy nhà nước. Trong thời kì liên minh với Hitler, ông ta đã hứa với Ribbentrop, Bộ trưởng Ngoại giao Đức, rằng sẽ cho tất cả người Do Thái nghỉ việc ngay khi ông ta tìm được người Nga phù hợp [25] . Trước khi chết không lâu ông ta đã có kế hoạch đầy tất cả người Do Thái đến vùng Siberia.

Năm 1934, sau khi Hitler nắm được chính quyền, Stalin đã cho rà soát lại toàn bộ đường lối của Đảng về vấn đề chủ nghĩa yêu nước. Tinh thần yêu nước, vốn bị lên án trước đây, được khuyến khích; việc giảng dạy lịch sử theo truyền thống Mác-xít vốn nhấn mạnh cuộc đấu tranh giai cấp thì nay chú trọng trước hết đến thắng lợi của nước Nga trong các cuộc chiến tranh cũng như xây dựng hoà bình. Cho đến khi Stalin chết thì chủ nghĩa cộng sản Liên Xô đã hoà nhập với chủ nghĩa dân tộc Nga: người ta tuyên truyền rằng uy tín của chế độ đã được xây dựng trên chiến thắng trong Thế chiến thứ II và những thành công sau đó, trong việc chế tạo ra tên lửa vượt đại châu và chương trình thám hiểm vũ trụ, trong việc giành được danh hiệu siêu cường ngang hàng với nước Mĩ. Người Nga hiện nay nhớ tiếc Liên Xô không phải vì họ yêu chế độ, tức là chủ nghĩa cộng sản, mà đấy là nỗi nhớ những ngày đã qua khi họ sung sướng, tự hào vì những người khác phải tôn trọng và phải sợ đất nước mình.

Đã đến lúc phải đặt câu hỏi rằng chế độ chuyên chế kéo dài hai mươi lăm lăm của Stalin có phải là một sự dĩ nhiên, nghĩa là hậu quả không thể tránh được của cái chế độ do Lenin sáng lập, hay một sự ngẫu nhiên nào đó đã cho phép một kẻ tâm thần lợi dụng các thành quả của cách mạng. Trong con người Stalin dĩ nhiên là có những biễu hiện của bệnh tâm thần, bệnh vĩ cuồng và thói hung bạo, một số cộng sự gần gũi của Stalin đã từng khẳng định như thế. Nhưng phải nhớ rằng ông ta kế tục Lenin không phải nhờ vào một cuộc đảo chính cung đình mà được sự ủng hộ của Đảng. Đảng đã lựa chọn ông ta. Các nhà sử học, khi khẳng định rằng sự nghiệp của Lenin nên được giao cho Trotsky hay Bukharin, đã bỏ qua sự kiện là tuy có cảm tình với hai người này nhưng Lenin không coi họ là những người kế tục xứng đáng của mình. Chính Lenin đã giao vào tay Stalin cái chế độ độc đoán đó. Chính Lenin đã cho áp dụng chế độ khủng bố hàng loạt, bắt cóc con tin và trại tập trung, chính Lenin đã coi luật pháp và toà án chỉ là “hiện thân và hợp pháp hoá” việc khủng bố, chính ông ta đã thông qua điều 57 và 58 Bộ luật hình sự với hàng loạt điều khoản mà sau này Stalin đã sử dụng để giết hại và bỏ tù hàng triệu người vô tội. Chính Lenin đã buộc Đảng phải thông qua nghị quyết cấm “hoạt động bè phái”, tạo điều kiện cho Stalin lấy cớ là “lệch lạc” để loại bỏ tất cả những người bất đồng chính kiến. Độc tài cá nhân là thuộc tính của chế độ do Lenin sáng lập, mặc dù chính ông thích tìm sự đồng thuận trong tập thể hơn. Từ câu “Đảng luôn luôn đúng” đến câu “Lãnh tụ luôn luôn đúng” khoảng cách chẳng là bao xa. Mà khi nguyên tắc này đã ăn sâu, bén rễ thì chế độ độc tài xuất hiện như thế nào chỉ còn là vấn đề của hoàn cảnh mà thôi.

Vyacheslav Molotov là người giữ những chức vụ quan trọng nhất trong thời gian lâu nhất cả dưới thời Lenin lẫn Stalin. Về già, khi được hỏi trong hai người đó ai “nghiêm khắc hơn” thì ông ta lập tức trả lời: “Dĩ nhiên là Lenin… Tôi còn nhớ ông đã phê phán Stalin là nhu nhược và dễ dãi [26] ”. Đấy chính là dấu chấm hết cho huyền thoại rằng dường như chủ nghĩa Stalin là sự xa rời tư tưởng của Lenin mà Trotsky rồi Khrushchev ra sức tuyên truyền.

Đức phát động Chiến tranh Thế giới thứ II nhằm mục đích báo thù thất bại vào năm 1918 và buộc châu Âu phải khuất phục. Nhưng Liên Xô, xuất phát từ quyền lợi riêng, đã tạo điều kiện và xúi giục Hitler tiến hành các kế hoạch xâm lược của hắn và như thế cũng phải chịu phần lớn trách nhiệm trong việc để xảy ra cuộc chiến tranh khủng khiếp nhất trong lịch sử.

Sau thảm bại trong cuộc chiến tranh chống Ba Lan cũng có nghĩa là những cố gắng nhằm thổi bùng ngọn lửa cách mạng ở châu Âu đã phá sản, ban lãnh đạo Liên Xô kết luận rằng nếu chiến tranh thế giới nổ ra thì việc xuất khẩu cách mạng sẽ dễ dàng hơn. Tháng giêng năm 1925 Stalin tuyên bố như sau: “Đấu tranh, xung đột và chiến tranh giữa các kẻ thù của chúng ta là… đồng minh vĩ đại của chúng ta”… “Đấy sẽ là một sự ủng hộ vĩ đại nhất đối với chính quyền và cuộc cách mạng của chúng ta”. Sau khi khẳng định rằng một cuộc xung đột thế giới mới nhất định sẽ xảy ra, ông ta nói thêm: “Nhưng nếu chiến tranh xảy ra thì chúng ta không được khoanh tay đứng nhìn, chúng ta nhất định phải tham chiến, nhưng sẽ tham chiến sau cùng. Chúng ta sẽ tham chiến để ném quả tạ quyết định lên bàn cân[27]

Với ý đồ như thế, từ năm 1920 đến năm 1933 Liên Xô đã bí mật hợp tác với giới chức quân sự Đức, giúp họ tránh né các hạn chế về việc cấm hoặc chỉ cho Đức sản xuất một số lượng hạn chế xe tăng, máy bay, tầu ngầm và khí độc được qui định trong Hiệp ước Versailles. Moskva cho Đức sản xuất và thử nghiệm vũ khí trên lãnh thổ của mình, còn Đức thì mời các sĩ quan Hồng quân theo học các khoá của Bộ tổng tham mưu, trong đó có cả chiến lược và chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh. (Liên Xô cũng hợp tác với nước Ý phát xít trong lĩnh vực hải quân.)

Vì có ý đồ như thế nên trong những năm 1932-1933 Stalin đã cấm những người cộng sản Đức hợp tác với Đảng Dân chủ Xã hội trong cuộc bầu cử quốc hội và bằng cách đó đã giúp Hitler giành được quyền lực (xem chương 4). Đảng Dân chủ Xã hội Đức lúc đó theo đường lối thân phương Tây. Stalin lại nghĩ rằng mặc dù Quốc xã là kẻ thù không đội trời chung của cộng sản nhưng chúng sẽ tấn công các nền dân chủ phương Tây trước và để cho Liên Xô được yên. Đấy chính là căn cứ để ông ta kí với Berlin vào tháng 8 năm 1939 hiệp ước không tấn công lẫn nhau kèm theo biên bản bí mật về việc chia Ba Lan giữa Đức và Liên Xô. Rõ ràng là ông ta cho rằng sẽ diễn ra cuộc chiến tranh hao người tốn của như thời kì 1914-1918, kết quả là cả hai phía “tư bản” tham chiến đều kiệt sức và Liên Xô sẽ dễ dàng chiếm được châu Âu. Sau khi đã tiến hành phân chia Ba Lan giữa Đức và Liên Xô, Molotov, một người thân cận với Stalin, lúc đó là Bộ trưởng Ngoại giao vừa kí xong hiệp định không tấn công lẫn nhau đã vội vã lên án Anh và Pháp vì hai nước này gây chiến với Đức. Molotov tuyên bố: “Hệ tư tưởng của chủ nghĩa Hitler, giống như mọi hệ tư tưởng khác, có thể được chấp nhận hay bác bỏ: đây là vấn đề chính trị”. Tất cả các đảng cộng sản trên thế giới đều được chi đạo phải coi Pháp và Anh là thế lực xâm lược và phản động. Chính sách này hoá ra là một sai lầm lớn.

Năm 1940, khi quân đội của Hitler đã đánh tan các lực lượng đồng minh ở Pháp và chiếm đóng phần lớn lãnh thổ châu Âu, Stalin trở thành đồng minh thực sự của nước Đức Quốc xã, ông ta cung cấp cho nước này lương thực, thực phẩm, sắt thép và các vật tư chiến lược khác. Ông ta còn giao cho Hitler một số đảng viên cộng sản Đức lưu vong ở Liên Xô. Cho rằng Hitler sẽ tiếp tục sự hợp tác béo bở đó với Moskva, Stalin đã phớt lờ mọi lời cảnh báo của phe đồng minh cũng như của cơ quan tình báo của chính ông ta rằng quân Đức đã tập trung ở Ba Lan nhằm tấn công Liên Xô.

Hồng quân, đã mất rất nhiều sĩ quan dày dạn kinh nghiệm trong các cuộc thanh trừng, lại không được phép chuẩn bị chống lại cuộc xâm lược của Đức, đã chịu những tổn thất nặng nề về người và phương tiện ngay trong những tháng chiến tranh đầu tiên, hàng triệu chiến sĩ Hồng quân bị bắt làm tù binh.

Sau khi trấn tĩnh, Stalin tiếp tục lãnh đạo công việc phòng thủ. Việc giả vờ làm như đất nước đang chiến đấu vì lí tưởng cộng sản lập tức bị loại bỏ: người ta viện đến cả tôn giáo và những chiến công từ thời Sa hoàng để động viên nhân dân chiến đấu vì “Nước Nga Quang Vinh”. Cuộc kháng chiến, ban đầu tưởng như vô vọng, đã có thêm sức mạnh nhờ vào những sai lầm chiến lược của Hitler và sự dã man của đội quân xâm lược. Để tránh sai lầm đưa quân tiến thẳng vào Moskva của Napoléon, Hitler đưa một tập đoàn quân lên phía Bắc, tức là về phía Leningrad, còn tập đoàn quân thứ hai thì tiến xuống phía Nam nhằm chiếm Kiev. Kết quả là Bộ chỉ huy Đức bắt được rất nhiều tù binh, nhưng đã để mất một khoảng thời gian phải nói là vô giá vì khi mùa đông đến họ mới bắt đầu cho quân tiến về thủ đô, cuộc tấn công suy yếu hẳn. Ban đầu có nhiều người Nga và người Ukraine chào đón quân Đức, nhưng họ đã nhanh chóng nhận ra rằng bọn phát xít đến không phải để giải phóng họ khỏi những người cộng sản mà để thiết lập một chế độ nô lệ còn hà khắc hơn. Họ đã chiến đấu với quân thù vượt trội về vũ khí với lòng quả cảm và sự kiên cường. Cuối cùng cuộc chiến tranh trên mặt trận phía Đông đã bẻ gãy xương sống quân đội Đức và quyết định kết cục Chiến tranh Thế giới II. Giá phải trả là cực kì to lớn. Các cấp chỉ huy Hồng quân ném binh sĩ một cách không thương tiếc vào những trận đánh, không cần biết có bao nhiêu người sẽ hi sinh. Các trận đánh lớn thường có hàng trăm ngàn người chết. Trong những trận đánh bảo vệ Kiev vào mùa hè năm 1941 có 616.000 chiến sĩ hi sinh, cuộc tấn công Donbass hai năm sau đó lại thêm 661.000 chiến sĩ nữa hi sinh. Theo tính toán của các chuyên gia nước ngoài, Liên Xô đã mất tổng cộng 20 triệu người, trong đó có 8,7 triệu người hi sinh trong các trận đánh [28] . Thiệt hại về binh lực lớn gấp ba lần thiệt hại của Đức trên mặt trận phía Đông (2,6 triệu người). Khoảng 5 triệu quân nhân Liên Xô bị bắt làm tù binh, trong đó từ 1,6 đến 3,6 triệu người bị chết vì đói, vì bị bắn hay chết trong các lò hơi ngạt.

Các vùng lãnh thổ chiến được chính là chiến lợi phẩm của Stalin. Quân đội Liên Xô đã chiếm đóng gần như tất cả các nước Trung và Đông Âu với dân số khoảng 90 triệu người, lớn hơn Pháp và Tây Đức cộng lại, và thiết lập ở đó các chế độ cộng sản. Các nước Nam Tư và Albania cũng trở thành cộng sản.

Một điều còn đáng ngạc nhiên hơn nữa, đấy là việc những người cộng sản Trung Quốc, những người mà Moskva có tình cảm lẫn lộn, vừa yêu vừa ghét trong suốt 25 năm trước đó, đã giành chiến thắng trong cuộc nội chiến với quân Quốc dân Đảng được Mĩ ủng hộ và thiết lập quyền kiểm soát trên toàn bộ Hoa lục vào năm 1949. Việc truyền bá chủ nghĩa cộng sản sang phần còn lại của thế giới tưởng như chỉ còn là vấn đề thời gian.

Trong toàn bộ lịch sử Liên Xô, Chiến tranh Thế giới II là sự kiện duy nhất có tác dụng cố kết nhân dân với nhà nước: “Sau khi bị Đức tấn công vào tháng 6 nắm 1941, đây là lần đầu tiên trong lịch sử Liên Xô các tuyên bố chính thức phù hợp với sự thật: Đức là đội quân xâm lược tàn bạo và nhân dân phải chiến đấu cho sự sống còn của chính mình [29] ”. Chiến tranh đã tạo cho chế độ cộng sản tính chính danh của người bảo vệ nhân dân mà trước đó nó không có. Nhưng niềm hi vọng được mọi người lúc đó chia sẻ là nhờ sự đoàn kết như thế mà Stalin sẽ nới tay và cho nhân dân nhiều quyền tự do hơn đã không trở thành sự thật. Trong những năm cuối đời, ông ta cũng không hề nới lỏng quyền kiểm soát trong bất cứ lĩnh vực nào.

Cái chết của Stalin đặt những người kế vị ông ta vào hoàn cảnh khó khăn. Họ nhận thức được rằng dứt khoát phải đoạn tuyệt với nhà độc tài điên rồ và chính sách tự sát của ông ta, nhưng đồng thời họ lại cần bảo vệ cái hệ thống mà ông ta đã lãnh đạo trong gần ba mươi năm qua vì nó đã tạo cho họ đặc quyền đặc lợi. Họ giải quyết vấn đề bằng cách gắn chủ nghĩa cộng sản với tên tuổi của Lenin. Năm 1956, trong một Báo cáo mật đọc tại Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô, đại hội đầu tiên sau khi Stalin chết, Nikita Khrushchev, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đã tố cáo một số tội ác của Stalin đối với tầng lớp Nomenclatura cộng sản. Stalin lập tức trở thành kẻ vô danh: Xác ông ta, vốn nằm bên cạnh Lenin, bị đưa ra khỏi lăng, Stalingrad được đổi tên thành Volgograd, các bức ảnh, các bức tượng của ông ta nhanh chóng biến mất, các thành phố mang tên ông ta cũng được thay ngay lập tức. Tất cả đều chứng tỏ rằng ba mươi năm cầm quyền của Stalin là một sai lầm khủng khiếp, mặc dù chẳng có ai làm cái việc giải thích “sai lầm” ấy. Vì rằng chỉ có hai cách giải thích, mà cả hai đều không được chế độ chấp nhận: hoặc lí thuyết duy vật của Marx sai, lịch sử cuối cùng vẫn là do chính trị và các chính khách quyết định, hoặc là Liên Xô không phải là nhà nước được xây dựng theo những nguyên lí của chủ nghĩa Marx.

Chiến dịch chống Stalin là một bước đi dũng cảm và có thể là cần thiết, nhưng nó cũng làm cho cái chế độ từng thực hiện những vụ giết người hàng loạt mất tính chính danh: việc tố cáo của Khrushchev đã đặt nền móng cho quá trình, tuy chậm chạp nhưng liên tục, loại bỏ dần những lời biện hộ cho chủ nghĩa cộng sản.

Để tạo ra đối trọng với quá trình phi Stalin hoá và thổi vào chế độ luồng sinh khí mới, Khrushchev bắt đầu tiến hành việc thần thánh hoá Lenin, quá trình này vẫn còn sống ngay cả sau khi Liên Xô đã tan rã. Năm 1999, khi được đề nghị nêu tên mười người vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới, người Nga đã đặt Peter I vào vị trí đầu tiên, Lenin ở vị trí thứ ba, sau Pushkin. (Mặc cho những cố gắng của Khrushchev, Stalin vẫn giữ vị trí thứ tư.)

Thoát được sự khủng bố của Stalin, Nomenclatura lập tức tìm cho mình các nguồn lợi vật chất mà nó cho là xứng đáng với địa vị và trách nhiệm nặng nề của mình. Nó cũng nhanh chóng thoát khỏi sự kiểm soát của các cơ quan lãnh đạo của Đảng.

Khrushchev phần nào nới lỏng chế độ của nhà độc tài quá cố nhưng vẫn không thay đổi các thể chế hay các đạo luật nền tảng của nó: chế độ lãnh đạo độc đảng vẫn còn, bộ máy công an mật và kiểm duyệt vẫn hiện diện khắp nơi. Hàng triệu tù nhân được tha. Nhiều nạn nhân của các vụ đàn áp được phục hồi, số phận của họ dĩ nhiên là không thể thay đổi được nhưng thân nhân của họ thì rõ ràng là dễ chịu hơn. Những mối liên hệ hạn chế với nước ngoài lại được chấp nhận. Số người nước ngoài được vào Liên Xô cũng như số người Liên Xô ra nước ngoài cũng tăng lên. Việc ngăn chặn sóng phát thanh của các đài nước ngoài vẫn còn tiếp tục tuy không còn kĩ càng như trước, người Liên Xô đã có điều kiện nhận được các thông tin thực tế hơn về đời sống ở trong cũng như ngoài nước.

Kết quả là người ta đã nhận ra vấn đề. Trong những năm 1970, Mikhail Gorbachev, lúc đó đã giữ các chức vụ cao trong bộ máy quyền lực của Đảng Cộng sản Liên Xô đã có dịp thăm Italia, Pháp, Bỉ và Tây Đức. Ông ta vô cùng kinh ngạc, không chỉ vì mức sống rất cao của người dân phương Tây, mà chủ yếu là vì nền văn hoá công dân của các nước đó. Đây là điều đã làm lay chuyển “niềm tin vào tính ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đối với hệ thống tư bản”: “Chúng tôi kinh ngạc vì sợ cởi mở và thanh thản của những người mà chúng tôi gặp”, ông ta viết trong hồi kí như thế, “chúng tôi ngạc nhiên khi thấy họ thảo luận một cách tự do về tất cả mọi chuyện, kể cả hoạt động của chính phủ, lẫn các chính khách tầm khu vực cũng như quốc gia”. Chuyến thăm Mĩ vào năm 1989 cũng gây ấn tượng tương tự như thế đối với Boris Yeltsin, đối thủ tương lai của Gorbachev và Tổng thống dân cử đầu tiên của nước Nga độc lập. Chuyến thăm là “một loạt những sự đổ vỡ” các quan niệm cổ lỗ, sáo mòn. Khi thăm siêu thị ở Houston ông ta đã phải thốt lên: “Chúng còn lừa đồng bào tôi đến bao giờ nữa!”. Người đồng hành với Yeltsin nghĩ rằng những điều mắt thấy tai nghe đã đập tan niềm tin cộng sản còn sót lại của ông ta. Stalin đã nói đúng: Hệ thống này chỉ có thể tồn tại trong điều kiện cách li hoàn toàn dân chúng, kể cả các cán bộ cấp cao, với phần còn lại của thế giới.

Trong lĩnh vực đối ngoại, những người kế nhiệm Stalin đã đánh giá lại và vứt bỏ chiến lược đối đầu, họ kết luận rằng dù sao thì chủ nghĩa tư bản cũng không đứng bên bờ vực của sự phá sản: Bộ Chính trị đã chấp nhận luận điểm mà E. Bernstein đưa ra cách đó những sáu mươi năm. Luận điểm này nói rằng chủ nghĩa xã hội thành công không phải bằng con đường cách mạng, không phải bằng chiến tranh mà bằng các biện pháp hoà bình. “Cùng tồn tại hoà bình” trở thành khẩu hiệu của giai đoạn đó. Các đảng cộng sản nước ngoài nhận được chỉ thị phải liên kết không chỉ với giai cấp tư sản dân tộc của thế giới thứ ba mà phải liên kết với cả các đảng xã hội mà Lenin từng coi là kẻ thù không đội trời chung của chủ nghĩa cộng sản.

Đồng thời chế độ hậu Stalin tập trung giải quyết hai nhiệm vụ chiến lược: tăng cường lực lượng vũ trang và thâm nhập vào thế giới thứ ba.

Mặc dù vẫn có một đội quân hùng hậu, ban lãnh đạo mới kết luận rằng tên lửa trang bị đầu đạn hạt nhân sẽ đóng vai trò quyết định trong cuộc chiến tranh tương lai. Họ buộc phải đi đến kết luận như thế một phần là do nhu cầu cắt giảm ngân sách quân sự mà phần lớn là để chi tiêu cho các lực lượng vũ trang thông thường. Người ta cũng đã thiết lập được cơ sở lí luận cho quan điểm như thế. Trong khi phương Tây cho rằng vũ khí nguyên tử chỉ nhằm một mục đích duy nhất là ngăn chặn thì Moskva lại dành tất cả nỗ lực cho việc chế tạo các loại tên lửa xuyên lục địa. Việc phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên vào năm 1957 chứng tỏ sự tiến bộ của Liên Xô trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ và là mối đe doạ đối với lãnh thổ Mĩ. Trong suốt ba mươi năm sau, chính phủ Liên Xô đã chi cho ngân sách quốc phòng một số tiền khổng lồ, theo các tính toán gần đây thì ngân sách quốc phòng chiếm khoảng 25 đến 30 mà cũng có thể đến 40 phần trăm thu nhập quốc dân. Sức mạnh quân sự, đặc biệt là vũ khí hạt nhân và các chương trình vũ trụ đã đưa Liên Xô lên vị trí “siêu cường”. Nhưng đấy là vị trí giả tạo vì nó chỉ dựa trên khả năng đe doạ các nước khác bằng kho vũ khí hạt nhân của mình, việc sử dụng kho vũ khí đó có thể dẫn đến việc xoá sổ ngay chính Liên Xô; hơn nữa chính sách đó đã làm cho nền kinh tế quốc gia kiệt quệ và đấy cũng là nguyên nhân đưa chế độ đến chỗ sụp đổ hoàn toàn.

Chính sách thâm nhập vào thế giới thứ ba có mục đích bao vây và tấn công các thuộc địa cũ mà phương Tây vẫn có các mối quan hệ kinh tế chặt chẽ. Nhưng đồng thời nó cũng góp phần nâng cao tinh thần của người dân: việc xuất hiện các chế độ cộng sản và thân cộng mà hạt nhân của chúng là Liên Xô lại tạo ra ảo tưởng mới rằng không ai có thể ngăn chặn được bước tiến của chủ nghĩa cộng sản. Hậu quả là mọi sự chống đối chế độ từ bên trong đều có vẻ như là việc làm vô ích. Nhưng họ đã phải trả giá quá đắt vì ủng hộ các nước thuộc thế giới thứ ba đòi hỏi phải chi một số tiền rất lớn dưới dạng viện trợ và cho vay mà chẳng thể có hi vọng được hoàn trả. Những khoản đầu tư này còn rất đáng ngờ vì như chúng ta sẽ thấy sau đây: các đồng minh mua chuộc được bằng cách đó vốn là những kẻ rất không đáng tin.

Năm 1964 Khrushchev bị lật đổ: theo lời con trai ông ta thì những hoạt động không ngừng nghỉ của ông đã làm giới tinh hoa nắm quyền mệt mỏi, họ thích “ổn định và thanh bình” hơn. Leonid Brezhnev lên thay, ông ta nắm giữ chức Tổng Bí thư suốt mười tám năm, mặc dù những năm cuối đời ai cũng thấy đấy là một người mắc bệnh lão suy: bộ máy tiếp tục hoạt động một cách trục trặc.

Chế độ Xôviết ngày càng suy đồi. Kinh tế trì trệ, khoảng cách với các nước công nghiệp ngày càng tăng dần. Nỗi sợ hãi bị trừng phạt biến mất, người công nhân không còn nhiệt tình lao động nữa; tinh thần lao động thể hiện rõ trong câu chuyện như tiếu lâm sau đây: “Người ta giả vờ trả lương cho chúng tôi, còn chúng tôi giả vờ làm việc cho họ”. Những người tích cực lao động bị bạn bè coi là bọn khiêu khích và bị đánh đập thậm tệ. Ủy ban kế hoạch nhà nước tiếp tục làm những việc mà họ vẫn thường làm, tức là sản xuất ra các sản phẩm quen thuộc, bỏ qua một bên các tiến bộ công nghệ, trong đó có nhựa, sợi tổng hợp và nhất là máy tính. Việc duy trì sự kiểm soát chặt chẽ thông tin đã dẫn đến hậu quả là Liên Xô đã đứng bên ngoài quá trình phát triển công nghệ thông tin, mà chính công nghệ này đã tạo ra một cuộc cách mạng mới trong nền kinh tế phương Tây. Mặc dù đời sống của các công dân bình thường đã được nâng lên so với thời Stalin, nhưng vẫn thấp hơn mức tối thiểu do chính phủ qui định: cuối những năm 1980 gần một nửa dân chúng Liên Xô có thu nhập dưới mười dollar một tháng. Nghiện rượu trở thành hiên tượng phổ biến: lượng rượu tiêu thụ trên đầu người cũng như số người chết vì rượu ở Liên Xô là cao nhất thế giới. Tỉ lệ giữa sinh suất và tử suất ở Nga (và cả ở Ukraine) ngày càng giảm đi, đây là chỉ số rõ ràng nhất về sự suy giảm sức sống của nhân dân ở một đất nước mà dưới thời Sa hoàng từng tự hào là nước có tỉ lệ tăng dân số cao nhất châu Âu.

Tham nhũng lan tràn khắp nơi: phải đút lót cho những người làm nhiệm vụ phân phối thì mới mong nhận được hàng hoá hay dịch vụ. Muốn leo lên cao thì phải có nhiều tiền. Các số liệu hiện có về nước Cộng hoà Azerbaycan cho thấy ở đây mọi chức vụ, kể cả chức vụ Đảng, đều có giá xác định, cao nhất là các chức vụ dễ dàng nhận hối lộ và ăn cắp tài sản xã hội. Người Nga đã quen với tệ hối lộ đến nỗi họ sẵn sàng đút lót ngay cả khi không thực sự tin vào hiệu quả của món tiền họ đưa.

Người ta kể rằng một thời tại một cái chợ nọ ở Moskva có một lão già tàn tật ngồi bán đủ thứ tạp nham. Chỉ cần trả một ít tiền là ông ta sẵn sàng nhận sắp xếp cho một chỗ trong trường đại học. Với khả năng mở tất cả cánh cửa các trường đại học một cách thần kì như thế dĩ nhiên là lão già này có thu nhập rất cao, đấy là tiền mà các phụ huynh giầu có sẵn sàng chi cho những cậu ấm, cô chiêu của mình. Lão già là người tuân thủ tuyệt đối đạo đức kinh doanh và luôn nói rằng ông ta không phải là người toàn năng, ông ta sẽ làm tất cả mọi việc trong khả năng của mình nhưng không phải lúc nào cũng thành công và còn hứa sẽ hoàn lại tiền nếu con cái khách hàng không vào được đại học. Trên thực tế các phụ huynh bao giờ cũng được nhận lại tiền nếu ông ta thất bại. Nhưng thành công cũng nhiều và lượng khách hàng sẵn sàng trả tiền ngày một tăng thêm.

Ông ta đã làm những gì? Chẳng làm gì hết! Ông ta chẳng tìm ai, cũng chẳng nói chuyện với ai, ông ta không quen biết một giáo sư nào hay một ban giám hiệu nào. Nhưng ông ta đã tính đúng rằng, thứ nhất, những ông bố bà mẹ mong cho con được ngồi vào ghế giảng đường đại học chắc chắn không nhờ vả có một mình ông ta, họ sẽ tìm những kênh khác nữa, cao hơn. Chỉ cần một trong những đòn bẩy ấy hoạt động là thành công rồi, cụ thể cái nào thì ông ta không cần biết. Thứ hai, có khả năng là chàng trai hay cô gái kia do áp lực của cha mẹ mà chăm học, chuẩn bị kĩ cho kì thi và vượt qua được trở ngại. Còn nếu vạn nhất mà thất bại thì trả tiền lại cho khổ chủ là xong [30] .

Ăn cắp tài sản nhà nước đã không còn là việc phải áy náy lương tâm nữa. Một câu nói đùa đã trở thành thông dụng: “Nếu không ăn cắp của nhà nước thì anh phải ăn cắp của gia đình mình đấy”. Cách suy nghĩ như thế đã đưa cả nước đến tình trạng tha hoá.

Sự suy nhược như thế đã tạo điều kiện cho những người dũng cảm thách thức chế độ, đấy chính là phong trào mang tên “Bất đồng chính kiến”. Những người bất đồng chính kiến dĩ nhiên là bị đàn áp như các thế hệ trước đây từng bị, nhưng người đứng đầu ngành an ninh dưới thời Brezhnev là Yuri Andropov còn phát minh ra một biện pháp mới là cho vào nhà thương điên, ở đây những người bất đồng chính kiến không chỉ bị tra tấn mà còn bị tiêm các loại thuốc để làm cho thành người điên thực sự. Người ta đã tính được rằng vào cuối những năm 1980, KGB có tổng cộng 480.000 nhân viên, trong đó khoảng 250.000 người và hàng chục triệu chỉ điểm viên chuyên làm công tác phản gián và theo dõi các công dân trong nước [31] . Nhưng phong trào chống đối tiếp tục phát triển và mặc dù không đông họ vẫn tiếp tục làm cho nhà nước ngày càng mất uy tín thêm.

Những hiện tượng tương tự như thế cũng diễn ra trong các nước Đông Âu. Năm 1956, khi người Hung đứng lên khởi nghĩa để đòi độc lập, Moskva đã mang quân đàn áp. Họ cũng làm như thế khi những người cộng sản Tiệp Khắc định thực hiện quá trình dân chủ hoá chủ nghĩa xã hội. Nhưng vào những năm 1970 khi ở Ba Lan hình thành phong trào “Đoàn kết”, một phong trào thách thức ngay sự tồn tại của chế độ cộng sản thì Moskva đã không còn can thiệp nữa. Lo sợ rằng “Đoàn kết” sẽ lan truyền ảnh hưởng sang các công nhân Liên Xô, Moskva yêu cầu cộng sản Ba Lan phải tự dẹp bỏ phong trào này. Sau nhiều lần trì hoãn, tháng 12 năm 1981 chính phủ Ba Lan hạ lệnh thiết quân luật và bắt giam hầu hết các lãnh tụ của phong trào.

Giữa những năm 1980, Liên Xô phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng, khủng hoảng thật sự chứ không phải cố tình dựng lên để biện hộ cho chế độ chuyên chế. Nó là hậu quả của một căn bệnh tương tự như bệnh teo cơ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là lần đầu tiên chế độ cộng sản vấp phải một vấn đề mà họ không thể giải quyết được bằng bạo lực. Cần phải có những cải cách sâu rộng, nói cách khác: họ buộc phải lùi.

Việc giải quyết cứ bị trì hoãn vì các Tổng Bí thư được bầu là những kẻ già nua, ốm yếu, không dám làm con thuyền chòng chành thêm. Nhưng đến năm 1985 thì không thể nào trì hoãn thêm được nữa. Khối cộng sản đã rơi vào, theo định nghĩa của Lenin, “hoàn cảnh cách mạng”: Chính phủ các nước trong khối không thể cai trị như cũ được nữa, mà nhân dân cũng không chấp nhận cách cai trị như thế nữa. Để thoát khỏi mối nguy hiểm đó, năm 1985 Bộ Chính trị đã bầu một người còn tương đối trẻ là Mikhail Gorbachev lên làm Tổng bí thư. Ông ta có nhiệm vụ phục hồi hệ thống nhưng không được động tới nền tảng của nó. Đây là nhiệm vụ bất khả thi vì tất cả các cố gắng cải cách đều vấp phải sự chống đối của tầng lớp Nomenclatura đã ăn sâu, bến rễ bên trong. Đến năm 1988 Gorbachev và các cộng sự của ông mới nhận ra rằng cộng sản là chế độ không thể cải cách được và họ bắt đầu tiến hành việc cải tạo Liên Xô thành nhà nước xã hội chủ nghĩa dân chủ.

Đầi tiên là công khai (glasnost), nghĩa là chấm dứt việc coi tất cả mọi thứ đều là bí mật quốc gia và nới lỏng kiểm duyệt. Chính quyền đứng trước nan đề: tiếp tục bịt miệng dư luận xã hội và như thế là bóp cổ đất nước một cách từ từ hay để cho người ta được quyền tự do phát biểu ý kiến, việc này có thể dẫn đến những vụ bùng nổ đầy tính chất phá hoại. Gorbachev lựa chọn biện pháp bùng nổ có kiểm soát, ông ta hi vọng thế. Nhưng hoá ra đây lại là bước đi cực kì nguy hiểm. Andropov, người kế nhiệm Brezhnev và trước đó đã lãnh đạo KGB trong nhiều năm, từng cảnh báo rằng việc nới lỏng kiểm soát dư luận xã hội có thể đưa toàn bộ xã hội đến chỗ diệt vong:

Ở nước ta có rất nhiều nhóm (dân chúng) bị áp bức… Nếu chúng ta mở ngay tất cả các van chặn và dân chúng bắt đầu nói về những nỗi khổ đau của mình thì sẽ có một cuộc đại hồng thuỷ mà ta không thể nào ngăn chặn nổi. [32]

Khổ đau tích tụ trong nhiều năm quả nhiên đã bùng lên, nhấn chìm mọi huyền thoại của bộ máy tuyên truyền chính thức và cả cái xã hội siêu thực vẫn sống bám vào các huyền thoại đó.

Gorbachev không chỉ dừng lại ở tính công khai, ông ta còn cho triệu tập Đại hội Đại biểu Nhân dân, trong đó có một số đại biểu được bầu trực tiếp và bằng cách đó đã chấm dứt sự độc quyền của Đảng Cộng sản. Kể từ năm 1917, đây là lần đầu tiên người ta có quyền bầu những người lãnh đạo. Nhiều người không phải đảng viên, thậm chí chống cộng đã được bầu, trong đó có Boris Yeltsin, một người cộng sản phi chính thống lúc đó giữa chức bí thư đảng uỷ thành phố Moskva, người đã giành được tín nhiệm thông qua cuộc đấu tranh chống đặc quyền đặc lợi của tầng lớp Nomenclatura. Sau đó các sự kiện diễn ra nhanh đến chóng mặt. Năm 1989, Bức tường Berlin, biểu tượng của sự chia rẽ tưởng như không bao giờ vượt qua được giữa Đông và Tây, sụp đổ vì Moskva từ chối đưa quân giúp đỡ chính phủ Đông Đức. Các nước chư hầu lần lượt tuyên bố độc lập với Moskva. Mọi cố gắng nhằm giữ các nước cộng hoà trong liên bang cũng đều trở thành vô ích. Tháng 12 năm 1991, sau cuộc nổi loạn bất thành của những người cộng sản cứng rắn nhằm ngăn chặn sự tan rã Liên Xô, Yeltsin, trước đó được bầu làm Tổng thống Nga, tuyên bố Nga là nước cộng hoà độc lập. Việc tan rã Liên Xô trở thành sự kiện đã rồi. Một trong những nghị định đầu tiên của Yeltsin là đặt Đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Chính phủ mới cho áp dụng chế độ dân chủ và thị trường tự do. Tầng lớp Nomenclatura, tức là những kẻ có thể đảo ngược được tiến trình lịch sử, đã bị mua chuộc bằng cách tạo cho họ điều kiện chiếm đoạt phần lớn số tài sản nhà nước mà họ quản lí.

Các sự kiện diễn ra với tốc độ chóng mặt như thế chứng tỏ sự yếu kém của cái đế chế mà có thời đã tưởng là không thể nào suy suyển được, sự tan rã của nó làm người ta nhớ lại sự cáo chung của vương quốc trước đó ba phần tư thế kỉ. Trong cả hai trường hợp, sự cứng rắn của chế độ và thiếu mối liên kết chặt chẽ với quần chúng đã đưa các chế độ đó vào hoàn cảnh tứ cố vô thân trong những giờ phút nguy nan.

Chủ nghĩa cộng sản ở Nga là một thể chế đã lỗi thời. Nó đòi hỏi người ta quá nhiều trong khi lại cho người ta quá ít, trong khi chỉ cho quần chúng những niềm vui nho nhỏ thì nó lại tước đi của người ta tất cả mọi hi vọng có một cuộc sống tốt đẹp hơn trong tương lai. Đến khoảng những năm 1980, ngay cả tầng lớp thượng lưu Xôviết cũng đã không còn tin vào lí tưởng cộng sản nữa, họ đã nhận ra rằng phần còn lại của thế giới xung quanh đã vượt qua họ về mọi phương diện, trừ chi phí quốc phòng và nhu cầu về rượu. Mất niềm tin, tầng lớp chóp bu đã phản ứng một cách yếu ớt và trong khi giang tay thu vén cho mình phần lớn tài sản quốc gia, họ bình thản chấp nhận sự sụp đổ của chế độ.


Bản tiếng Việt © 2007 talawas



[1]V. I. Lenin, Những tài liệu chưa được biết đến, trang 545
[2]Mikhail Geller, Aleksander Nekrich. Không tưởng cầm quyền. Lịch sử Liên Xô từ năm 1917 đến nay (London, 1986) trang 213
[3]Alec Nove, An Economic History of the USSR. London, 1988, p. 208
[4]Nicolas Werth, in Stéphane Cuortois, ed. The Black Book of Communism (Cambridge, Mass. 1999) p. 155
[5]Sdd, trang 162
[6]Khoảng 4000 m2 (ND)
[7]Nove, Economic History, p. 243
[8]Nicolas Werth, in Stephane Cuortois, ed. The Black Book of Communism (Cambridge, Mass. 1999) p. 159, 167
[9]M. B. Olcott in Russian Review, vol XL, Nò (1981), p. 122, 136
[10]Hoy (Havana), February 24, 1963, cited in Theodore Draper, Castroism: Theory and Pratice (New York, 1965), 217-218
[11]Alfred Mirek, Ảo ảnh đỏ (Moskva, 2000), p. 265-266
[12]Vladimir Naumov in William Taubman at al., eds, Nikita Khrushchev (New Haven, Conn., 2000), 90
[13]Sheila Fitzpatrick, Every Stalinism (New York, 1993), 127
[14]Bertram D. Wolfe, ed., Khrushchev and Stalin's Ghost (New York, 1957), 124
[15]David Remnick, Lenin's Tomb (New York, 1993), 406
[16]Michael Voslensky, Nomenclature: The Soviet Rulling Class (Garden City, N. Y., 1984), 61
[17]David Remnick, Lenin's Tomb (New York, 1993), 172-173
[18]The New York Times, August 15, 2000, p. A7.
[19]P. G. Pikhoia, Liên Xô: Lịch sử chính quyền, 1945-1961 (Moskva, 1998), p. 140.
[20]Hệ thống trại lao động cải tạo ở Liên Xô, 1923-1960 (Moskva 1998), p. 48
[21]Nove, Economic History, tr. 180
[22]Karl Marx, Đấu tranh giai cấp ở Pháp (K. Marx, F. Engels, Toàn tập, tập 7), p. 80
[23]Louis Fisher in Richard Crossman, ed., The God that Failed (New York, 1949), 205
[24]M. Gorki, Lenin et le Paysan Russe (Paris, 1924), tr. 64
[25]Henry Picker, ed., Hitlers Tischgespräche im Führerhauptquartier, 1941-1942 (Bonn, 1951), tr. 133
[26]Một trăm bốn mươi câu chuyện với Molotov: Nhật kí Truev F. (Moskva, 1991), p. 184
[27]I. V. Stalin, Toàn tập (Moskva, 1952) Tập 7, trang 27 và 14
[28]John Erickson and David Dilks, eds., Barbarossa: The Axis and the Allies (Edinburgh, 1994), tr. 261
[29]Leonard Schapiro in George Urban, ed., Stalinism (New York, 1982), 423
[30]Andrey Sinjawskij, Der Traum vom neuen Menschen oder die Sowjetzivilisation (Frankfurt, 1989), 262-263
[31]Robert W. Pringle in International Journal of Intelligence and Counterintelligence, Summer 2000, 195
[32]Markus Wolf, The Man without a Face (London, 1997), 218-219