trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 884 bài
  1 - 20 / 884 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
21.1.2008
Thế Uyên
Tiền đồn
 1   2   3   4   5   6   7 
 
Vũ tháo nốt đầu võng thứ hai, vo tròn tất cả nhét vào túi đeo lưng. Toán lính đã thu xếp xong trong những tiếng thì thào thật khẽ. Chàng đeo túi lên lưng, ngồi xuống thềm đất, lật ngửa mũ úp mặt vào châm thuốc. Ra tiến lại:

“Đi hướng nào, chuẩn uý?”

“Cho anh em ra sát lộ đợi tôi”.

Những người lính bước khẽ men sát vách tường, cố ẩn mình dưới khoảng bóng tối ngắn do mái hiên tạo ra. Chái nhà bắt đầu hoang vắng, hiệu thính viên ngồi xổm cạnh mái, nhẫn nại chờ đợi, hai cánh tay đặt trên đầu gối duỗi thẳng xuôi về phía trước. Hai người lính gác giặc phía sau xuất hiện, lần mò kiếm túi đeo lưng dựng ở một góc cột. Vũ nghiêng người về hiệu thính viên:

“Báo cho họ biết mình bắt đầu di chuyển. Sẽ băng qua lộ”.

Chàng đứng dậy, mở bi-đông đưa lên miệng uống một ngụm dài. Mặt lộ như không có một hạt bụi, chàng quỳ lên lắng nghe và quan sát một lần chót: Không có gì ngoài các ngôi chùa tối đen, ánh trăng và cây cỏ. Chàng vẫy tay, tiểu đội 1 chồm lên, các khối đen lăn khuất bên kia bờ đất. Hoàn toàn im lìm ngoài một phảng phất âm thanh địch đào đường thật xa. Chàng vẫy tay, tiểu đội còn lại leo vội lên mặt lộ, chạy lao người về trước. Khi tới gần sát lề đường bên kia, một luồng gió đêm ướp mùi đồng nội ào tới làm chàng dừng lại trong một khoảnh khắc, hít một hơi dài. Cơn buồn ngủ day dứt từ khi trời bắt đầu tối tan biến hẳn, chàng thoải mái và gần như vui vẻ khi cho quân đi sâu vào trong xã. Men theo bóng tối của mái hiên, của rặng cây, của bờ rào, đôi lúc xoạc chân bước qua một hàng rào quá cao, đôi khi dừng lại đứng im hay phân tán vào bờ bụi khi có tiếng động bất thường. Bóng tối, kiếm bóng tối, men theo bóng tối, chàng cố gắng giữ cho toán quân đừng quá xa đừng quá gần con lộ mặt nhựa thẫm màu. Tiếng cuốc bổ vào mặt đường cứng bắt đầu nghe rõ từng nhát, rồi tiếng người nói lao xao. Chàng giơ tay, toán quân đứng sững, tản mát vào các vũng tối chung quanh, khẩu trung liên thò một cái mũi ra ánh trăng rồi biến đi ngay. Trên lộ, đám người hỗn độn lập lờ đang như những con kiến đen bu quanh một cái mô đắp ngang đã cao gần đầu gối. Chàng ngồi dựa vào một thân cây, muốn mỉm cười khi thấy đã ước tính đúng: địch không đặt một tổ báo động nào phía này. Ra bò tới sát cạnh:

“Tụi chúng làm ăn hung quá ta! Kêu pháo binh thụt cho chúng mấy trái cho chừa đi. Bọn mình được phép mà...”

Vũ ngần ngại. Có quá nhiều đàn bà trong đám người kia. Nhưng Ra có lý của hắn, bắn vài trái đạn nổ vào đúng cái đám đen đang lúi húi kia, có thể cả chục người dân tan xác nhưng có lợi từ đó về sau, dân sẽ có cớ để từ chối với các cán bộ ẩn hiện về đêm. Dân sẽ có thể nói: “Đắp mô! Lính nguỵ chúng gọi phi pháo túi bụi ngay!”. Một tiếng đàn bà cất lên cao vút, chàng lắng nghe nhưng không hiểu rõ câu nói, nhưng chú tâm ấy làm chàng hết ngần ngừ: Chàng sẽ không gọi pháo binh dù để chỉ bắn trái khói hay chiếu sáng doạ nạt, cũng không gọi 81 của đồn. Chàng quyết định ngắn ngủi, sẽ bò lại thực gần, lựa cho được vài tên cán bộ cho một băng, kèm vài trái lựu đạn ném xa xa, rồi rút.

Đám đông người quần áo đen sẽ cuống quít chạy ùa tứ phía, những con kiến đen bu quanh miếng đường bị bất chợt lay động bởi một ngón tay của chàng hồi nhỏ. Vũ chợt nhận ra mình đang mỉm cười với một hình ảnh cũ và hình như thích thú với dự định sẽ làm. Ra trườn như một con thằn lằn không đuôi đầu ngóc lên khỏi bụi cây thấp ven con đường đất nhỏ. Cái đầu đội mũ sắt tròn nhô lên, cứng ngắc. Hắn sẽ trở lại đây bây giờ, hắn sẽ góp ý kiến và chàng chờ đợi cái giọng thì thào quen thuộc trong bao đêm. Ý thức phải chờ đợi làm bàn tay tự động đưa lên túi áo lấy thuốc. Chàng ngồi bệt xuống cỏ hai đầu gối giữ chiếc mũ, đưa bàn tay có bật lửa vào trong, bậm chặt môi kê đầu điếu thuốc lên vành bật lửa, mắt theo dõi một đường cuốc sáng loáng trên mặt lộ. Ánh lửa vụt loé lên đồng thời với tiếng ma sát bị chìm trong tiếng cuốc va mặt nhựa. Chàng hút mạnh vài hơi liền, nhìn vệt đỏ từ một góc lan dần đầu điếu thuốc trong lòng chiếc mũ. Giọng thì thào quen thuộc đã cất lên:

“Chỉ có bốn tên mang cạc-bin hay Mas 36 quanh chỗ đắp mô. Xa hơn chung quanh thì không biết, chuẩn uý tính sao?”

Chàng im lặng cúi đầu vào lòng mũ, hút một hơi dài. Khi hắn hỏi tính sao là hắn sắp đề nghị, chàng chờ đợi.

“Đừng gọi pháo binh, chuẩn uý. Lỡ gặp phải gà chết nó câu đúng một trái nổ vào giữa cái đám kia, chết cả đống! Rồi mai dân kéo lên quận mít-tinh tùm lum thì mình kẹt”.

“Anh quên Tư tưởng Kinh kỳ cho phép bắn”.

“Phép hay không phép cũng thế thôi. Cứ có mít-tinh khiếu nại là chuẩn uý lãnh củ. Lúc đó chẳng ông nào nhận đã ra cái lệnh đó đâu... Khẩu lệnh mà, lấy gì làm bằng...”

Chàng lại cúi đầu vào trong mũ, hút một hơi dài và một lần nữa chờ đợi cái giọng thì thào cũ kỹ.

“Tôi ở quân đội gần mười lăm năm rồi, chuẩn uý”.

Giọng nói nhỏ hơn trước nhưng không chứa đựng một mỉa mai hay chua xót. Nó chỉ là nhận định một sự kiện... thế thôi, kinh nghiệm hơn của mười năm quân ngũ. Chàng lẳng lặng đưa cả mũ lẫn điếu thuốc bên trong sang phía cái đầu tròn của con thằn lằn không đuôi. Mùi thuốc bốc lên, chàng cúi xuống toan nói nhưng vội ngừng khi bàn tay người hạ sĩ quan đập vội lên mũi giày. Một tiếng người đi nhẹ chân, chàng không kịp làm gì hơn là cầm khẩu súng lên, bóng người đã hiện ra ngay khúc quanh của con đường. Vòm lá cây che khuất ánh trăng làm chàng không nhìn thấy gì hơn là hình dạng một người mặc đồ đen, chàng tính toán rất nhanh, ngồi im phải ngồi im cho các đường nét lẫn vào bụi cây thấp chung quanh, hắn sẽ không thấy hắn sẽ đi qua. Nhưng bóng đen đã ngập ngừng dừng lại mặt hướng về phía trước có quãng đường không lá cây đầy ánh trăng. Hắn định làm gì đây, hắn biết rồi chăng, mũi súng đã hướng đúng chiều và ngón tay đặt hơi nặng lên cò. Bóng đen đứng hẳn lại quay về phía chàng, ngón tay toan siết cò vội vụt buông ra khi thấy bóng đen không vũ khí và hai bàn tay vừa lần xuống cạp quần vừa tiến lại. Con thằn lằn không đuôi bung người lên chụp lấy bóng đen vào lúc chàng nhận ra đó là một người đàn bà. Vài tiếng kêu ú ớ lọt qua kẽ ngón tay Ra úp chặt, nhưng hai bàn chân vung lên đập thình thịch xuống đất. Chàng rút vội lưỡi lê, nhào nắm đè lên hai đùi, ép chặt cứng xuống đất, một khoảng trắng nhỏ thoáng chiếu rõ đôi mắt sợ hãi. Lưỡi lê mài sáng đưa lên trước đôi mắt mở lớn, người đàn bà vụt ngưng kháng cự. Giọng Ra nghe rõ từng tiếng:

“Nằm im nghe không... Chúng tôi chỉ giữ chị tới sáng mai là cùng cho khỏi lộ vị trí. Bảo im là im, bảo gì làm nấy sẽ được về với chồng con. Số chị xui, đi tiểu không đúng chỗ... Năm! Kiếm cái dây mày”.

Hai binh sĩ đã trườn người tới. Chàng ngồi dậy đút lưỡi lê vào bao, một bên tay còn hằn cảm giác êm của chiếc đùi rộng ấm. Các tiếng động trên phía lộ vẫn nguyên vẹn, đàn kiến đen vẫn tiếp tục bu quanh miếng mồi, chàng yên tâm đặt súng dựa vào một bên vai, tìm cách châm điếu thuốc mới. Một mùi khai nồng thoáng bốc lên đồng thời với ý thức một cảm giác ẩm ướt giữa một kẽ tay. Chàng tự dưng muốn ớn khi Ra trườn trở lại vị trí cũ, làu nhàu nho nhỏ:

“Mụ ta sợ quá đái đầm đìa cả ra... Khai quá sức! Chuẩn uý cho mồi điếu thuốc...”

Chàng chậm rãi chùi tay vào quần, xoay người lại. Người đàn bà hai tay kéo lên trên đầu đã bị trói xong, miệng bịt ngang bằng một chiếc khăn thẫm màu, chiếc quần vì vùng vẫy đã tụt trệ dưới rốn. Chàng ngắm khoảng da thịt để hở bồng bềnh trắng nhờ nhờ, và khi bắt gặp thân thể mình đang chịu tác động rõ rệt về tình dục, chàng toan quay đi. Nhưng một khoảng đen thẫm vuông vắn nằm áp cạnh sườn người đàn bà làm chàng chú ý và gọi Ra khe khẽ:

“Anh ra lấy cái túi kia. Coi có cái gì mà mụ ta cất kỹ quá”.

Người đàn bà vùng vẫy cố kháng cự nhưng một lưỡi lê đã giơ lên khua ngang đe doạ. Chiếc túi trút ra có một xấp giấy. Vũ cầm lên mở ra, lựa một khoảng trăng lớn lọt qua lá cây, đọc vội vàng những hàng chữ. Chàng đặt xấp giấy xuống cỏ, một cán bộ giao liên địch, chàng đã xét đoán lầm, không phải một người dân đi đào đường muốn đi cầu tình cờ tạt vào đây. Ra thì thào:

“Cái gì, chuẩn uý?”

“Một cán bộ giao liên”.

“À! Thảo nào nó kháng cự hung quá”.

“Anh hỏi nó xem tụi chủ lực đang ở đâu. May ra nó biết”.

“Phải hù nó mới được, chuẩn uý! Thứ này thứ dữ mà”.

“Cũng được...”

Câu trả lời sau cùng hạ thấp xuống miễn cưỡng. Chàng không ưa chứng kiến cảnh hù nó mới được, cái mà khi còn học trong quân trường, huấn luyện viên gọi là thẩm vấn tù binh tại chiến trường. Chàng biết như thế sau một lần thấy một tù binh không chịu khai bị bắt ngồi trên một vũng nước đã nẩy bắn người ngã ngửa ra phía sau khi một binh sĩ dí sợi dây điện có nối với một máy truyền tin. Luồng điện quá yếu không tạo một hậu quả gì hơn là một hoảng sợ cho một kẻ đang hoang mang sau khi đã chiến đấu, bị bắt và lo âu cho thân phận mình nằm trong chờ đợi nhiều bất trắc. Hù cho nó sợ, chàng không ưa chứng kiến và thường đi chỗ khác ngồi hút thuốc. Một cần thiết khó chịu như nhu cầu bài tiết nôn nao trong người. Nhưng bây giờ chàng không thể lảng tránh, đây không phải là sân đồn yên ổn có góc cho chàng ngồi hút thuốc. Không thể quay mặt đi khỏi vệt nhờ nhờ trắng và bồng bềnh khuất vào mép quần, không thể từ chối vai trò của mình bởi vì chính chàng đã tham dự vào việc bắt trói kẻ địch đồng thời là sinh vật cái có khoảng da thịt muốn loang trắng thêm trong bóng tối dưới lớp lá cây. Chiếc khăn bịt miệng bị giật tung sang một bên, một loáng lưỡi lê giơ lên, chậm chạp đặt nằm ngang tầm chiếc cổ người đàn bà hai tay bị trói kéo ngược lên phía trên.

“Nói đi! Đại đội của tên Hải hiện ở đâu? Muốn nói hay là muốn cắt tiết!”

Người cán bộ im lặng, chàng nhìn về phía lộ, đàn kiến đen cần cù, chàng cúi xuống lòng mũ hút một hơi thuốc.

“Nói mau! Tưởng bọn tui giỡn hả? Dân biệt kích đây, biệt kích không có hỏi tới câu thứ ba!”

Năm móc túi giơ lên trước mặt người cán bộ địch chiếc phù hiệu thêu hình chiếc sọ người hai xương trắng trên nền đen, phù hiệu hắn xin từ một toán biệt kích đã có lần tới giải vây cho đại đội chàng bằng một mũi dùi tiến quân có những ngôi nhà tranh bị đốt cháy.

“Nói mau! Không nói hả! Năm, mổ bụng nó ra mày”.

Mũi lưỡi lê nhọn thôi hướng vào cổ, quay chúc xuống lách dưới vải. Người cán bộ thốt kêu tiếng nhỏ nghẹn tắc dưới bàn tay Ra vụt úp lên miệng, chiếc áo đã bị rách đứt hết cúc, màu trắng vải vụt trải rộng như chói sáng.

“Hỏi lần chót, đại đội tên Hải hiện ở đâu? Còn bướng hả? Năm!”

Ngọn lưỡi lê lướt xuống phía dưới đe doạ. Người cán bộ giao liên hốt hoảng gật gật đầu. Ra cúi đầu xuống gần sát miệng người đàn bà thì thào liên tiếp. Vũ duỗi thẳng hai chân xua đuổi cảm giác gây gấy khó chịu dọc sống lưng, cảm giác của một âm thanh do lưỡi dao sắc cạo mạnh vào ống nứa xanh, của ước muốn như một sợ hãi đầu lưỡi lê sẽ chúc xuống thật sự xuyên qua lớp vải.

“Chuẩn uý! Nó bảo đại đội tên Hải đóng bên kia lộ cách chỗ đào đường chừng ba trăm thước”.

“Đóng thế nào? Định làm gì?”

“Nó không biết bởi vì được phép ghé qua thăm nhà từ chập tối. Rồi từ nhà đi liên lạc thẳng tới đây. Nó nói...”

Chàng chợt nhận rõ một bàn tay, không, nhiều bàn tay đang bò, những con vật đen thẫm bám trên ngực người đàn bà. Viên hạ sĩ quan ngừng thì thào, người đàn bà nằm im chịu đựng, không một cử động, không một âm thanh phản kháng. Cảm giác gây gấy lại xuất hiện, Ra im lặng chờ đợi, các con vật đen di chuyển mau hơn, vội vã. Chàng ngập ngừng, đó là một kẻ địch, đêm tối và tiếng súng, đêm tối hoả châu và những giọt mồ hôi những bất trắc của nỗi chết. Những con vật đen vụt ngưng di chuyển, những cái đầu binh sĩ hướng về chàng chờ đợi. Giới hạn chót đã đến, chàng biết rõ như thế, chàng chỉ cần ngồi im thêm một phút nữa, những bản năng sẽ được tung ra quanh khoảng ẩm ướt nước tiểu với chàng ngồi đó chứng kiến để rồi tan cuộc, họ cũng như chàng không còn gì hơn là nỗi tuyệt vọng với chính mình và một đam mê vớt vát với đời sống của những người lính.

Chàng chống báng súng quỳ một chân lên, các con vật đen biến mất. Chàng nói chậm chạp :

“Anh Ra mặc lại quần áo cho bả tử tế. Bịt miệng cho khỏi kêu rồi cho nằm sau bờ rào. Bảo đừng có chú nào lộn xộn nữa”.

Người hạ sĩ quan quỳ lên theo, hình như mỉm cười trước khi di chuyển thi hành lệnh. Chàng hiểu nụ cười phỏng đoán ấy. Chàng đã ra lệnh thừa, bây giờ không thể còn có lộn xộn nào nữa. Giới hạn chót chàng đã không vượt qua, người chỉ huy đã dừng lại bên tiền đồn của tuyệt vọng, tất cả sẽ dừng lại, chàng đã ngăn chặn mình ở lại bên này biên giới, một cưỡng ép tự ý không đạo lý trên thế gian nào hiện diện. Chàng trở lại ngồi vị trí cũ nhìn về phía lộ, đám người vẫn bao quanh mô đất đã cao hơn đầu gối. Khi đưa tay lên túi móc bao thuốc, chàng bắt đầu lại nghe thấy tiếng cuốc xẻng trộn vài tiếng nói và một con chó sủa ở một nơi xa phía sau. Khói thuốc toả trong miệng khô cứng, bàn tay kéo bi-đông thật nhẹ khỏi bao vải, dòng nước mát bám vào thành thực quản êm dịu, vài giọt chảy ra ngoài dọc cổ rồi mất hút ở một khoảng nào trên ngực. Chàng thoải mái nói nhỏ khi Ra và hiệu thính viên chúi đầu lại gần:

“Tôi sẽ đi với thằng Năm và Sao bò lại sát chỗ tụi nó đang đào. Sẽ tìm cách hạ vài tên kích rồi ném một lựu đạn cho dân sợ chạy. Anh cho cả trung đội dàn theo đường mương kia. Nếu tên Hải đóng đúng chỗ mụ cán bộ nói, chúng sẽ nhào sang làm mồi cho trung liên. Để kéo trung liên như thường lệ, khẩu của thằng Bảy để hẳn lên gốc cây dừa yểm trợ cho tôi rút”.

Không gian vụt tối hẳn đi, chàng ngừng nói nhìn lên, đám mây bay ngang mặt trăng có những viền một thứ màu xám trong. Chàng cúi đầu xuống nói với hiệu thính viên :

“Khi nghe thấy tiếng lựu đạn tôi ném, gọi về đồn báo cáo mình kích tụi đắp mả Hồ Chí Minh. Chỉ xin pháo binh bắn bên kia lộ một trăm khi nào anh thấy tụi nó tràn sang cả đại đội...”

Ra giọng lo ngại:

“Sao chuẩn uý không xin pháo binh ngay khi chúng nó bắt đầu xuất hiện? Đợi biết rõ là C. của chủ lực, đâu còn kịp”.

Chàng im lặng đưa chiếc mũ lên tận ngang mặt hút thuốc, Ra nhìn sang bên kia lộ, hắn hiểu chưa, những ngôi nhà tranh san sát nhiều lớp đến tận bìa rừng cao-su, Ra quay đầu lại không nói gì, hắn đã hiểu rồi, mọi sự phải là như thế, không còn cách nào hơn. Những người dân chỉ có thể chết trong lương tâm thanh thản của hắn, của chàng, của những người lính nằm từng vũng đen dưới ánh trăng nếu xác họ sẽ lẫn với xác địch. Còn chàng, hình như hắn vừa thở dài chịu đựng, còn những người lính của chàng có chết, bao giờ cũng là chết trong lương tâm thanh thản của mọi người, tất cả mọi người. Hai binh sĩ được chỉ định đi cùng đã tháo túi đeo lưng, bỏ mũ sắt, cài lựu đạn lên túi áo. Khi gỡ túi đeo lưng đưa cho hiệu thính viên, chàng cúi xuống, như một an ủi, nói thêm vào tai người phụ tá:

“Nếu không chặn nổi tụi chúng, anh cho trung đội phân tán vào các ruộng mía đợi sáng rút về đồn”.

“Còn ông Hy?”

“Ai biết được đại đội đóng chỗ nào lúc này”.

Chàng quỳ lên, cài hẳn lựu đạn vào phía sau lưng cho khỏi vướng khi bò.

“Chuẩn uý...”

“Cái gì nữa, anh Ra?”

Người hạ sĩ quan vụt im bặt, cúi mặt xuống. Chàng chợt hiểu, hắn không còn gì để nói thêm về chiến trận, hắn chỉ còn điều để nói riêng với chàng như những người lính nói với bạn thân nhất của mình, những lời giản dị như chúc mày may mắn, gặp hên nghe mày, liệu mà giữ nguyên bộ đồ nghề về cho vợ nó mừng nghe... Nhưng hắn không thể dùng những câu như thế, chàng đã giữ thái độ quá tách biệt từ quá lâu rồi và bây giờ thì đã quá muộn. Chàng để bàn tay lên vai Ra, hắn ngẩng đầu lên những nét mặt hiện rõ dưới ánh trăng, chàng toan nói một điều gì để hắn hiểu thứ tình tựa như lòng biết ơn và lưu luyến nho nhỏ, nhưng sau cùng chàng chỉ hỏi một câu trước khi lom khom cùng hai người lính băng qua con đường đất:

“Trăng còn ba tiếng nữa lặn phải không?...”


*

Người đàn ông làm việc hối hả, lưng bị ép mạnh vào một nếp gấp của chiếu đau tê dần, chị toan nói toan di chuyển người sang phía bên nhưng những cử động bấu víu cương quyết của Hải là mọi ý định mềm rũ xuống, vô dụng. Chỉ còn cách chịu đựng, tiếp tục chịu đựng. Một giọt nước đọng kẽ mắt từ lúc nào bây giờ vì một cử động mạnh của người đàn ông, bật tung từ má chảy buồn buồn xuống thái dương. Hải thở hổn hển ngay sát cạnh làm những sợi tóc rung động phá vỡ giọt nước li ti bám vào vành tai, chị chợt nhận đồng thời cảm giác giọt nước vỡ tan và cơn khóc đã ngừng. Nỗi tuyệt vọng có từ lúc hoả châu bùng sáng không còn nữa, Hải đó rồi, Hải như bóng đêm, là bóng đêm đã tới và chị chẳng còn có thể làm gì hơn là theo đà đẩy mà nằm ngửa chịu đựng. Chị chậm chạp mở mắt, một chiếc lá nào đó theo gió lay động cho mặt trăng thấp thoáng trên kia. Hắn vội vã hơn, thế là sắp xong rồi. Chị toan nói, mong hắn nói nhưng không gian vẫn chỉ là tiếng gió và tiếng lá khô lạo xạo vỡ nát thêm dưới chiếu, chị muốn nghe cái gì khác hơn là tiếng thở mỗi lúc thêm đứt quãng. Mong ước đến tuyệt vọng, nhưng hắn không cần nói, Ba có nói, có hỏi han trong lúc... nhưng Ba là chồng, Ba có thương có yêu. Nhưng Ba đâu rồi, Ba ở đâu? Ý nghĩ rằng Ba đang hì hục đào đường, lưng trán đùi mồ hôi ướt bám dưới ánh trăng ngoài kia làm chị nghẹn ngào, muốn vùng lên. Nhưng Hải đã đến cực điểm, Hải không còn là gì hơn một áp lực tua tủa dồn chị xuống vết chiếu hằn đau cứng, hắn là một con vật dằng dai ngấu nghiến miếng mồi để không cần nói không cần phải thốt ra tiếng kêu, bất cứ tiếng kêu loại nào để chị bớt niềm tủi thân. Chị bắt đầu khóc thành tiếng nho nhỏ, giọt nước bám vào mi làm nhòe méo mó và rung rinh mặt trăng bên trên kia, sau lớp lá. Hải rũ liệt khoảnh khắc, lăn sang một bên ngồi dậy. Hắn không nói và chị tiếp tục để nước ứa ra làm mờ mắt mình. Hắn im lặng, hắn đang lục túi áo kiếm thuốc lá, chị không cần ngó cũng biết hắn sắp hút thuốc, đàn ông nào cũng đến thế, đàn ông nào cũng là mùi thuốc bốc lên khét lẹt, đàn ông nào cũng đến thế, cũng đến chỉ là cái thân thể uể oải dựa tường, dựa vách dựa cột dựa thành đất lạnh của chiếc hầm. Bây giờ chị hiểu thật rõ tại sao sau ngày bị Tây cưỡng, má hay khóc một mình với những giọt nước rớt trên tro nóng trong bếp. Cái hành động ấy chẳng nghĩa chi hết cho thân thể, một vài gáo nước là không còn dấu vết. Nhưng còn bên trong thì đầy thương tích, người đàn bà là đàn bà cho một người đàn ông, như thế mới thấy được là chính mình.

Tiếng trẻ khóc làm chị bừng tỉnh, toan ngồi dậy. Không phải tiếng thằng Bé. Người đàn ông giơ chân cản, chị gạt sang một bên:

“Để tui vô! Bấy nhiêu chưa đủ...”

“Đã ăn nhằm vào đâu”.

Tiếng nói của người đàn ông làm chị vụt tìm lại sức lực. Hắn đã nói, hắn không còn là khối đen tua tủa, không còn là tiếng thở hổn hển làm rũ liệt tan tành ý muốn chống cự. Bây giờ hắn là Hải, chính Hải. Chị không còn sợ hãi nhưng tự hỏi còn có thể làm được chi nữa không hay là để rồi và những lúc vắng người ngồi khóc cho nước mắt rớt trên tro tạo những tiếng xèo an ủi sau cùng. Bây giờ chị thấy ngại ngùng cho cả việc thực hiện dự định đã có lúc ngồi trên thềm hiên: cùng Ba lên tỉnh hay cùng Ba vượt sông vào sâu bên kia đều đòi hỏi những nỗ lực những cố gắng mà chị thấy không còn hy vọng có được. Thôi đành để chìm luôn, thôi thì Tía và quyền lực ban ngày phá ụ san đường mồ hôi chảy ròng dưới nắng, thôi thì Hải và vùng thầm lặng đe doạ tua tủa đau cứng người những giọt mồ hôi dán vào da đào đường đắp mộ ban đêm...


*

Vũ ngừng bò, lật nghiêng người thò tay vào túi quần lấy bật lửa bỏ vào túi áo cho khỏi vướng. Con lộ đã gần lắm rồi, tiếng cuốc nghe rõ từng nhát tách biệt. Chàng nhô đầu thật chậm khỏi bờ ruộng, đám kiến đen đã trở thành đám người hỗn độn làm việc với những vết sáng loang loáng của kim khí mài phản chiếu ánh trăng. Một vài câu nói đứt khúc tung tới, chàng quan sát tìm kiếm những du kích nhưng những cử động nhoà tất cả vào một khối đen hỗn độn, quều quào. Ánh trăng yếu đi, chàng ngẩng lên, đám mây xám đang bay tới che dần mặt trăng, chàng ước chừng chiều dài và tốc độ bay của đám mây rồi nhắm mắt lại, đếm thì thầm như bao đêm nằm thao thức trên chiếc võng treo dưới hàng hiên, trong rừng, bờ bụi, tẩn mẩn tính thời gian che khuất mặt trăng của từng đám mây lớn nhỏ. Chàng tiếp tục đếm, năm sáu, bảy, nên mua vải màu gì làm quà cho Bích ngày mai, ni-lông không nhàu nhưng bây giờ ít người mặc, tám chín, mười, đàn bà kỳ cục chỉ thích theo mốt, mười một mười hai mười ba, còn đẹp hay xấu không quan hệ, mười bốn mười lăm, xuống xe đi mua liền cho có vẻ quà, mười sáu mười bảy, đàn bà thích nhận quà dù là của chồng, mười tám mười chín hai mươi, đám mây chắc qua rồi, chàng mở mắt từ từ. Một kẻ cầm súng đứng bên này lộ, một người nữa đứng trên mặt đường đang đốc thúc đám dân này làm việc, một kẻ nữa đang vén quần đái trên bờ ruộng. Tên thứ tư đâu, tên du kích thứ tư đâu... Chàng cố quan sát, cố tìm. Hay Ra đã nhìn lầm một người dân nào. Chàng quay đầu lại, phía sau toàn ruộng phẳng và bờ cây gần nhất cũng tít phía xa. Nếu cần phải rút, chỉ còn cách chạy ngược trở lại con đường đất cũ, ven xã. Chàng thở dài trước khi trườn sang bên trái thì thào vào tai một người lính đi cùng:

“Hai anh cố hạ hai tên đứng phía này... Kia kìa, một đứa đứng gác gần phía này, một đứa vừa đi tiểu xong đang ngồi xuống hút thuốc đó, chếch ngay bên phải cái cây, thấy chưa? Còn tên đang thúc dân, để tôi lại gần thanh toán. Nhớ chỉ nhắm sẵn thôi, khi nào thấy tôi bắn hãy bắn. Hết kẹp là rút thật mau, đừng đợi tôi”.

Chàng lăn tròn người sang phía bên kia bờ ruộng, mùi rạ ẩm bốc lên thấp thoáng mùi bùn và mùi cỏ. Phải bò thật chậm, chúng có thể nhìn ra từ khoảng cách này, mắt chúng quen bóng tối. Một cục đất nào đó bị cùi chỏ chạm lăn đi mấy vòng, chàng bất động nín thở. Trên lộ, các hoạt động vẫn bình thường, chàng nghe rõ từng câu nói của đám đông nhưng không hiểu nghĩa, từ đây tới lộ còn hơn trăm thước, không hy vọng gì bắn trúng trong thứ ánh sáng này. Liệu còn có thể lại gần hơn nữa không, chàng ngần ngại nhìn khoảng trống trước mặt, nhìn đám đông. Hình như tên du kích vừa lớn tiếng, chàng vội lắng nghe nhưng không kịp. Những mẩu âm thanh bẻ vụn vì gió không sao chắp nối được trong trí. Chàng tự dưng thực sự muốn giết tên du kích, muốn như một ao ước, một nhu cầu không thực hiện ngay sẽ làm ray rứt khó chịu. Trăng hoàn toàn ra khỏi mây, chiếu sáng trước mặt một khoảng trũng có bụi cây nhỏ thấp chơ vơ. Chàng trườn thật từ từ, súng để ngang trên hai cánh tay, một đầu gối một cùi chỏ đưa lên, những âm thanh sột soạt khe khẽ dưới người, một đầu gối đưa lên nữa, mong chỗ trũng đừng có nước, nếu không... Gần lộ lắm rồi, chàng vòng tay ra phía sau lấy lựu đạn, vành chỗ trũng đã hiện rõ, tên du kích đã để lộ chiếc bao đựng đạn phồng căng nơi thắt lưng. Hắn không nghi ngờ, hắn khinh địch, nếu không đã phải nhìn ra. Chàng khẽ để thân hình tụt theo thành dốc chỗ trũng, mùi cỏ ẩm ướt bốc lên sực nức. Không có nước, may quá không có nước ở dưới... Mồ hôi đẫm đùi kéo vải quần dán vào da, chỗ nào cũng mồ hôi nhưng bây giờ chàng mới nhận thấy chúng. Áp sát người vào bờ cỏ, chàng nhận thấy tên du kích đang cúi xuống chỉ trỏ. Ở khoảng cách này, hắn sẽ chết chắc chắn. Không thể thoát được, không thể thoát nổi. Chàng đặt quả lựu đạn xuống, ngoáy mạnh trôn vào cỏ cho khỏi lăn, mở nút bao vải kéo bi-đông ra thật khẽ. Liệu chúng đã nghi ngờ gì chưa, tiếng nút nhựa xoay khẽ, chàng đưa bi-đông lên, thò lưỡi vào miệng bình dẫn nước vào miệng. Những giọt nước mát mẻ và một thoáng gió hạ thấp làm se mồ hôi thành những điểm lành lạnh. Mùi cỏ ngái ẩm ướt mỗi lúc thêm dày đặc làm ý chí nhão nát buông thả tứ chi, tâm hồn vào giấc ngủ. Chỗ trũng trở thành ấm cúng quen thuộc nhanh chóng và mùi cỏ như rủ rê vào một vùng an toàn. Mi mắt hơn cụp xuống, chàng nhận biết cái cử động nhỏ bé ấy của thân thể. Mình mệt rồi, mình mệt mất rồi, mùi cỏ quá dễ chịu, quá êm đềm. Nhưng còn nhiều việc phải làm, nhiều việc phải làm...

Chàng đặt trái lựu đạn đứng thẳng bên trái bụi cây. Tên Năm hẳn đã đưa nòng súng theo từng di chuyển của gã du kích phía trái, nhưng hắn và Sao đều mang tiểu liên khó chính xác ngay từ những viên đạn đầu với khoảng cách ấy. Chàng quyết định sẽ ném lựu đạn vào phía đó ngay sát lộ, vừa không chết dân vừa hạ tên du kích. Ném bằng tay trái để có đủ năm giây cho tay phải bắn hạ tên chỉ huy trên lộ. Năm giây là đủ ngắm và bóp cò, chàng thì thào ý nghĩ của mình như để tự nhắc nhở. Năm giây trước khi mọi sự tan hoang với tiếng lựu đạn. Chàng cố suy nghĩ, cố ước tính xem cái gì sẽ xảy ra sau khi bóp cò và đàn kiến chạy tứ tung. Hy đóng đâu, gần phía đồn hay xa hơn, cách lộ ba trăm hay năm trăm, đại đội tên Hải hiện làm gì, rình mò nơi đâu, chàng không biết những điều ấy, không thể biết gì thêm, hiệu thính viên có nhận thêm tin tức cũng đến thế thôi bởi vì chỗ trũng là không gian cách biệt, khoảnh khắc an bình giả tạo mà chiều dài chiều ngắn tuỳ thuộc chính mình, chàng ngẩng đầu lên nhìn bao quát tìm một đám mây thấp, nó kia rồi, không lớn lắm, đang bay lừ lừ. Lớn chừng đó đủ rồi, đủ che khuất ánh trăng cho chàng chạy ngược trở lại chỗ trung đội nằm trong ven con đường đất. Đám mây gần hơn rồi, gần hơn nữa rồi, một thoáng mỏng đã đi ngang phía dưới mặt trăng. Chàng đặt khẩu súng nằm dài trên cỏ, rút chốt an toàn lựu đạn, mắt theo dõi hình dáng người du kích trên lộ. Hắn đang đi dọc mô đất, trà trộn vào dân, làm sao bắn được, trăng sắp bị che khuất, ra đi mày ra khỏi đám dân đi mày, đám mấy sắp tới ra đi mày... Hắn đứng lại, làm gì thế này, được rồi đó, đi nhanh lên chút nữa, còn ba người dân nữa, còn hai người... Chàng đột nhiên nghe rõ một tiếng cười, một câu nói: “Ba! Mần đi cho rồi còn về... mần vợ”. Bóng đen tên Ba quay đầu văng tục, chàng nheo mắt cố tìm đường ngắm đúng, đầu ruồi lờ mờ làm mỏi mắt nhưng mũi súng đã vào giữa bụng tên du kích. Bây giờ chỉ còn chờ đám mây, nó còn bao nhiêu đường phải đi tới trăng, bàn tay phải đã hơi cứng lại vì ghì chặt đúng vị trí, mây tới chưa... Không gian vụt u ám, chàng ném lựu đạn không nhìn theo nó đi tới đâu, cúi vội xuống cầm súng. Trước khi bóp cò một thời gian vô nghĩa, chàng thoáng nhận ra người dân tên Ba lao người vào đánh một kẻ kế bên làm che khuất tên du kích. Nhưng ngón tay đã bóp cò, Ba lảo đảo, chàng rủa một tiếng quỳ lên, tên du kích nghiêng người về phía trước lấy đà chạy, chạy đâu, chàng bóp cò liên tiếp, chạy đâu cho kịp mày... Tiếng lựu đạn nổ vang dội, chạy đâu nổi, chàng bóp cò, cái gã Ba nào đó đã đổ xuống, tên du kích gắng gượng ôm bụng, lắc lư cố bước, ngã chúi xuống. Trước khi xoay người nhảy ra khỏi chỗ trũng, chàng còn kịp thấy hắn đổ sấp xuống lộ và những người dân nhốn nháo. Đàn kiến đen, chàng co chân nhảy qua một bờ ruộng, đúng đàn kiến bị ngón tay chọc vào mồi đang xôn xao, con đường đất kia rồi...
Nguồn: Thế Uyên, Tiền đồn. In tại Nhà in Phạm Ngũ Lão, 293 Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn. Thời Mới in lần thứ nhất, ngoài các bản thường có in thêm 30 bản đặc biệt. Giấy phép xuất bản số 174/BTLC/BC3/XB ngày 21.2.1967. Tác giả giữ bản quyền. Bản điện tử do talawas thực hiện.